Bài Giảng Ngày 10/4/2006

11 Tháng Mười 20178:59 CH(Xem: 3670)
Bài Giảng Ngày 10/4/2006

DharmaTalk_1A

Bốn Bài Giảng Về Niệm Hơi Thở Của Ngài Pa-Auk
Tại Khóa Thiền Florida Tháng 4/2006
Tác giả: Pa-Auk Tawya Sayadaw, Thiền Viện Pa-Auk, Myanmar 
Nghe, chuyển ngữ và đánh máy: Tu nữ Minh Duyên
Nguồn: phatphapchanthat.blogspot.com

 ___________________

 

BÀI GIẢNG NGÀY 10 THÁNG 4 NĂM 2006

 

Xin vui lòng đảnh lễ đến Đức Phật bằng cách tụng Namo Tassa 3 lần.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa (3 lần)

Hôm nay, tôi sẽ tiếp tục hướng dẫn Thiền Niệm Hơi Thở.

Trong thiền Niệm hơi thở, có 4 bước, những buổi dạy Pháp trước, tôi cũng đã thảo luận. Hôm nay tôi sẽ lặp lại.

Có 4 giai đoạn trong Thiền niệm hơi thở:

“Dīghaṁ vā assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāti,

dīghaṁ vā passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti pajānāti.”

“Hít vào một hơi thở dài, vị ấy biết tôi hít vào một hơi thở dài,

Thở ra một hơi thở dài, vị ấy biết tôi thở ra một hơi thở dài”

“Rassaṁ vā assasanto ‘rassaṁ assasāmī’ti pajānāti,

rassaṁ vā passasanto ‘rassaṁ passasāmī’ti pajānāti.”

“Hít vào một hơi thở ngắn, vị ấy biết tôi hít vào một hơi thở ngắn,

Thở ra một hơi thở ngắn, vị ấy biết tôi thở ra một hơi thở ngắn”.

Đây là giai đoạn hai.

Trong khi bạn đang thực hành Niệm hơi thở, nếu bạn tập trung vào hơi thở tại điểm xúc chạm, lúc đó quý vị nên gắng biết rõ: khi nó dài, quý vị nên biết rõ đây là hơi thở dài; khi nó ngắn, quý vị nên biết rõ: đây là hơi thở ngắn. Đừng nên cố ý khiến hơi thở dài hay ngắn, quý vị nên để hơi thở tự nhiên. Việc ghi nhận hơi thở dài và hơi thở ngắn là rất quan trọng. Không cần thiết phải làm cho hơi thở dài hay ngắn. Nếu quý vị không thể tập trung tốt vào hơi thở, Chú Giải khuyên nên đếm hơi thở. Trong khi đang đếm hơi thở, lúc ấy quý vị cũng nên gắng biết rõ: khi nó dài, quý vị nên gắng biết rõ hơi thở dài; khi nó ngắn, quý vị nên gắng biết rõ hơi thở ngắn. Chỉ việc biết là được rồi, nhưng xin hãy thực hành đếm hơi thở. Nếu có nhiều phóng tâm, tốt hơn hãy niệm: khi hít vào, quý vị nên niệm hít vào, khi thở ra, quý vị nên niệm thở ra, hít vào, thở ra đếm 1, hít vào, thở ra đếm 2,... cho đến 8, rồi lặp lại từ 1 cho đến 8 và tiếp tục lặp lại.. . Trong khi đang đếm và niệm, quý vị nên gắng biết rõ hơi thở dài và ngắn. Nếu quý vị có thể tập trung vào hơi thở được nữa giờ hay một giờ đồng hồ trong 2 hay 3 thời ngồi, vậy quý vị có thể ngưng đếm hơi thở được rồi.

Nếu ngưng đếm hơi thở, quý vị nên thử bước kế tiếp:

‘Sabbakāyapaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati,

‘Sabbakāyapaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati

“Kinh nghiệm trọn vẹn thân hơi thở, tôi sẽ thở vào, như thế vị ấy luyện tập;

Kinh nghiệm trọn vẹn thân hơi thở, tôi sẽ thở ra, như thế vị ấy luyện tập.

Ở giai đoạn này, quý vị nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở của mình (toàn bộ thân hơi thở). Trọn vẹn thân hơi thở là gì? Từ lúc bắt đầu cho đến lúc kết thúc của hơi thở quý vị nên gắng biết rõ. Bắt đầu tại đâu, kết thúc tại đâu? Chỉ tại điểm xúc chạm thôi, nếu quý vị cố định điểm xúc chạm quanh lỗ mũi hay trên đỉnh môi trên, thì chỉ tại đấy, quý vị nên chờ và thấy từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc của mỗi hơi thở. Khi hít vào, quý vị nên hiểu rõ trọn vẹn từ đầu cho đến cuối thân hơi thở vào. Khi thở ra, quý vị nên gắng biết rõ trọn vẹn từ đầu cho đến cuối thân hơi thở ra, chỉ tại một điểm. Không cần thiết phải theo hơi thở vào bên trong hay đi ra ngoài. Lúc ấy, có lúc quý vị có thể hít vào chậm, hơi thở chậm này được gọi là hơi thở dài. Khi nó dài, quý vị chỉ nên gắng biết rõ trọn vẹn hơi thở dài này. Có lúc quý vị thở nhanh, hơi thở nhanh này được gọi là hơi thở ngắn. Khi nó ngắn, quý vị chỉ nên gắng biết rõ trọn vẹn hơi thở ngắn này. Vậy 3 giai đoạn này được kết hợp cùng nhau: hơi thở dài, hơi thở ngắn và trọn vẹn hơi thở.

Sau đó, nếu quý vị có thể tập trung vào đối tượng hơi thở hơn 1 giờ hay 2 giờ, .. từ từ hơi thở của quý vị sẽ trở nên vi tế, rất nhẹ và rất mảnh. Khi hơi thở trở nên vi tế, lúc ấy quý vị nên gắng biết rõ hơi thở vi tế ấy mà thôi. Quý vị không nên làm cho hơi thở rõ ràng trở lại, xin hãy chấp nhận hơi thở vi tế ấy. Việc ghi nhận hơi thở vi tế này rất là quan trọng lúc này.

Nếu hơi thở của quý vị chưa vi tế, lúc ấy quý vị nên có Định Hướng đến (ābhoga) hay quyết định. Quyết định là gì? Sau khi ngồi xuống, trước khi chú ý đến hơi thở, quý vị nên quyết định: “Hơi thở của tôi phải trở nên an tịnh”, theo cách này quý vị nên quyết định.

Lúc ấy, quý vị đang bước vào giai đoạn thứ tư. Gì là giai đoạn thứ tư?

“ ‘Passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ assasissāmī’ti sikkhati,

Passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ passasissāmī’ti sikkhati”

“An tịnh toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở vào, như thế vị ấy luyện tập;

An tịnh toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở ra, như thế vị ấy luyện tập.”

Đây là giai đoạn thứ tư. Vào giai đoạn này hơi thở trở nên rất rất vi tế và không bao lâu Nimitta sẽ xuất hiện.

Nimitta là gì? Thông thường với nhiều hành giả, hơi thở đi ra ngoài lỗ mũi trở thành màu khói xám, có thể có cả những màu khác. Màu gì không quan trọng lắm. Hơi thở đi ra từ lỗ mũi trở nên màu khói xám, màu khói xám này khi hợp nhất với hơi thở được gọi là Nimitta (tức là tướng hơi thở). Nhưng nếu nó chưa hợp nhất với hơi thở, quý vị không thể gọi nó là Nimitta được. Nimitta là định tướng. Do có tâm định mà Nimitta này xuất hiện, vì thế nó là định tướng. Lúc đó, quý vị có thể nói là định đang phát triển.

Nếu có thể tập trung vào Nimitta ấy, định của quý vị còn có thể phát triển tốt hơn nữa. Bởi nguyên nhân này, Nimitta này còn là nhân của định. Khi tập trung vào Nimitta, quý vị nên chắc chắnhơi thở của mình và Nimitta hợp nhất với nhau : hơi thở là Nimitta, Nimitta là hơi thở, Nimitta và hơi thở là một thứ.

Lúc ấy, quý vị chỉ nên tập trung vào một mình Nimitta. Khi tập trung vào Nimitta, quý vị nên quên đi hơi thở của mình, bởi vì nếu quý vị thỉnh thoảng chú ý đến hơi thở, vậy có thể có 2 đối tượng: có lúc là Nimitta, lúc thì hơi thở. Nếu có 2 đối tượng, định không thể phát triển thêm. Vì nguyên nhân này, khi hơi thở trở nên vi tế, là rất tốt. Tại sao? Khi Nimitta xuất hiện, lúc ấy quý vị cần tập trung vào Nimitta. Khi đang tập trung vào Nimitta, lúc đó nếu hơi thở còn thô, có khi quý vị chú ý đến hơi thở, có lúc chú ý đến Nimitta. Vậy lúc có hai đối tượng, định không thể phát triển cao hơn, vì không phải có một đối tượng mà đến hai đối tượng. Bởi vậy, khi hơi thở trở nên vi tế, rất tốt.

Nếu quý vị có thể định trên hơi thể vi tế ấy, không lâu sau Nimitta sẽ xuất hiện. Nhưng nếu quý vị cố tình thở cho vi tế, rồi quý vị sẽ bị mệt, quý vị không thể thở hoàn chỉnh. Vì nguyên nhân này, quý vị không nên cố tình ráng làm cho hơi thở vi tế. Nhưng trước khi chú ý đến hơi thở, quý vị nên quyết định: “Hơi thở của tôi phải an tịnh”. Quyết định ấy là đủ. Đây được gọi là ābhoga, quyết định.

Nhưng khi đang thở vào, đang thở ra, quý vị không nên cố tình làm cho hơi thở an tịnh hay vi tế. Nếu quý vị làm vậy, quý vị sẽ bị mệt và định sẽ không thể phát triển. Hơi thở chỉ thực sự an tĩnh khi quý vị đạt đến giai đoạn tứ thiền, lúc ấy, hơi thở của quý vị sẽ hoàn toàn dừng lại. Hơi thở sẽ ngưng bặt khi quý vị đạt đến tứ thiền. Nhưng trước giai đoạn tứ thiền, ở sơ thiền, hơi thở cũng trở nên nhẹ nhàng, rất vi tế. Khi quý vị đạt đến nhị thiền, hơi thở lúc ấy cũng rất rất vi tế. Khi quý vị đạt đến tam thiền, hơi thở lúc ấy cũng rất rất vi tế. Nhưng khi đạt đến tứ thiền, hơi thở lúc ấy hoàn toàn dừng lại, chỉ mỗi Nimitta là còn hiện diện.

Vì vậy, khi tập trung vào Nimitta, quý vị chỉ nên chú ý tới một mình Nimitta mà thôi. Nếu quý vị có thể định trên Nimitta được hơn 1 giờ hay 2 giờ, khi định của quý vị phát triển thêm nữa, rồi thì màu khói xám sẽ đổi sang màu trắng, như bông gòn. Nhưng khi tập trung vào Nimitta, quý vị không nên để ý đến màu, không nên chú ý đến hình thù, không nên chú ý đến các đặc tính của tứ đại. Nếu chú ý đến màu sắc, thì màu sẽ luôn thay đổi khi tâm của quý vị thay đổi. Ví dụ như, nếu quý vị muốn là màu vàng, Nimitta sẽ trở thành màu vàng, nếu quý vị muốn là màu đỏ, Nimitta sẽ là màu đỏ. Nếu màu luôn thay đổi, định của quý vị không thể sâu, vì tâm của quý vị luôn thay đổi những đối tượng khác nhau, những màu khác nhau. Theo cách tương tự, quý vị không nên chú ý đến hình thù, hình dạng : nếu quý vị muốn dài, Nimitta sẽ trở nên dài; nếu quý vị muốn trắng, nimitta sẽ trở nên trắng; nếu quý vị muốn tròn, Nimitta sẽ trở nên tròn. Theo cách này, hình thù sẽ luôn thay đổi theo tưởng của quý vị, thế là Nimitta cũng luôn thay đổi. Vì thế, nếu nimitta luôn thay đổi, định không thể phát triển sâu hơn. Bởi nguyên nhân này, quý vị cũng không nên chú ý đến hình thù. Rồi nữa, các đặc tính: cứng, nhám, nặng, mềm, trơn, nhẹ, chúng là các đặc tính của đất; chảy kết dính, chúng là đặc tính của nước; nóng, lạnh, chúng là đặc tính của lửa; nâng đỡ, đẩy, chúng là đặc tính của gió. Cứng, nhám, nặng, mềm, trơn, nhẹ, chảy, kết dính, nóng, lạnh, nâng đỡ, đẩy là tứ đại. Quý vị không nên chú ý đến các đặc tính này khi đang hành Niệm hơi thở. Nếu chú ý đến các đặc tính này, nó không thể là Thiền niệm hơi thở, nó chỉ là Thiền tứ đại. Vì vậy, nếu quý vị muốn thực hành Thiền niệm hơi thở, quý vị cũng không nên chú ý đến các đặc tính này của tứ đại.

Do vậy khi đang tập trung vào Nimitta, lúc ấy, khi định của quý vị phát triển sâu thêm, rồi thì Nimitta sẽ trở nên trong và sáng, nimitta màu trắng sẽ đổi sang Nimitta trong suốt. Màu khói xám được gọi là parikamma nimitta - sơ tướng (preliminery sign). Nimitta màu trắng được gọi là uggaha nimitta – học tướng (learning sign). Nimitta trong và sáng được gọi là Paṭibhāganimitta – tợ tướng (counterpart sign).

Có 3 giai đoạn:

Tợ tướng này là đối tượng của cận định và cũng là đối tượng của an chỉ định, định của bậc thiền. Khi nimitta trở nên trong sáng, quý vị nên tập trung chỉ mỗi mình nimitta thôi. Khi định của quý vị trở nên sâu hơn và sâu hơn, thì an chỉ định (hay full absorption) sẽ xuất hiện. An chỉ định nghĩa là tâm của quý vị chìm sâu vào bên trong nimitta không lay động. Quý vị nên duy trì an chỉ định của mình cho được hơn 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ.... Nếu quý vị có thể duy trì an chỉ định được hơn 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ mỗi thời ngồi, trong 2 hay 3 ngày, vậy quý vị có thể trực nhận các thiền chi.

Nếu muốn trực nhận các thiền chi, trước tiên quý vị nên thiết lập lại an chỉ định của sơ thiền cho được 1 giờ. Ngay khi vừa xuất ra khỏi bậc thiền, quý vị nên chú ý vào bên trong trái tim, nhưng quý vị chỉ nên chú ý trong vài giây thôi, 1 hay 2 giây, quý vị không nên chú ý lâu. Nếu chú ý lâu, tim của quý vị sẽ đau. Quý vị sẽ thấy Bhavaṅga (ý căn).

Bhavaṅga (ý căn) này đối với người mới bắt đầu hơi khó hiểu. Nếu hiểu Vi Diệu Pháp, lúc đó quý vị sẽ hiểu Bhavaṅga ý căn rõ ràng, nhưng nếu không hiểu Vi Diệu Pháp, để giải thích Bhavaṅga hơi khó khăn. ( chú thích của người dịch: Bhavaṅga có 2 nghĩa: một là hữu phần tâm và nghĩa kia là ý căn)

Theo nghiệp đời trước, ngũ uẩn luôn sinh lên và diệt đi. Trong các ngũ uẩn này, có bốn uẩn thuộc danh được gọi là Tâm hay Danh. Tâm này, có 2 loại : tâm thuộc tiến trình nhận thức và tâm ngoài tiến trình nhận thức. Tiến trình nhận thức nghĩa là, như bây giờ, quý vị đang nghe tôi giảng Pháp. Khi đang nghe Pháp, tiến trình nhận thức qua nhĩ môn và tiến trình nhận thức qua ý môn sinh và diệt liên tục trong một thời gian. Nhưng có lúc chú ý, quý vị có thể thấy tôi, lúc ấy tiến trình nhận thức qua nhãn môn sinh khởi cũng như tiến trình nhận thức qua ý môn. Vậy tiến trình nhận thức này được gọi là lộ trình tâm. Lộ trình tâm chấm dứt, lúc ấy hữu phần tâm Bhavaṅga xuất hiện. Và khi lộ trình tâm xuất hiện thì hữu phần tâm dừng lại. Khi lộ trình tâm dừng lại thì hữu phần tâm xuất hiện bởi nghiệp đời trước, để không dừng lại dòng tương tục tâm. Nếu dòng tương tục tâm dừng lại, đây được gọi là chết. Để không dừng lại dòng tương tục tâm giữa hai lộ trình tâm, các hữu phần tâm này sinh lên và diệt đi liên tục trong một thời gian dài.

Hữu phần tâm này cũng sinh ra các tổng hợp sắc (THS) do tâm sanh. Nếu chúng ta phân tích các THS này, trong mỗi THS, có 8 sắc, trong số 8 loại này, có màu. Màu đó cũng trong và sáng. Một hữu phần tâm có thể sản sinh ra vô số các THS. Trong vài giây, vô số hữu phần tâm có thể sanh lên và diệt đi. Tương tự vậy với lộ trình tâm, trong vài giây, vô số lần chúng sanh lên rồi mất đi. Mỗi sát-na tâm khi sinh lên nương nơi sắc ý căn (heart-base) có thể sanh ra các THS theo cùng cách. Vì thế các hữu phần tâm cũng tạo ra các THS. Nếu chúng ta phân tích các THS, trong mỗi THS, có 8 sắc, trong số 8 sắc này, có màu, màu này trong và sáng. Màu của THS này và màu của THS kia kết hợp lại và chúng trở thành sắc trong suốt ở đây, giống như tấm gương.

Và trong các THS do tâm sanh ấy, có yếu tố lửa. Lửa này còn được gọi là nhiệt, nhiệt này còn có thể tạo ra các THS mới, thế hệ các hạt mới. Nếu quý vị phân tích các THS này, trong mỗi THS có 8 sắc. Trong số 8 sắc này, lại có màu, màu này lại trong và sáng. Tùy vào tuệ căn kết hợp với sát-na tâm hữu phần (Bhavaṅga mind moment) mà độ trong và sáng này khác nhau. Nếu tuệ căn, tương ưng với hữu phần tâm (Bhavaṅga), trở nên mạnh mẽ thì ánh sáng sẽ rất mạnh.

Vì thế có thể có những khác nhau giữa các thiền sinh. Một số thiền sinh, Bhavaṅga này sáng hơn, một vài thiền sinh thì Bhavaṅga có thể sản sinh ra độ sáng cao hơn, nhưng số khác thì không như vậy, tùy vào tuệ căn mỗi người. Vì nguyên nhân này nên khi quý vị đang để ý đến Bhavaṅga, quý vị có thể chỉ thấy sắc sáng trong này thôi. Bằng phép ẩn dụ, sắc sáng trong này được gọi là Bhaganva, hữu phần hay ý căn, chỉ bằng phép ẩn dụ.

Quý vị trước tiên nên gắng hiểu rõ Bhavaṅga, ý căn hay này. Nếu quý vị có thể trực nhận được Bhavaṅga ý căn này, là được rồi. Nếu trong vòng 2 hay 3 giây mà có thể trực nhận được rồi, quý vị nên quay lại với Tợ tướng hơi thở Ānāpānapaṭibhāga nimitta và hãy thiết lập lại định sơ thiền cho được 5 hay 10 phút. Ngay khi rời khỏi sơ thiền ấy, quý vị nên trực nhận ý môn lần nữa. Nếu lặp đi lặp lại theo cách này, quý vị có thể hiểu được Bhavaṅga ý căn. Nếu có thể hiểu rõ Bhaganva ý căn, quý vị nên gắng biết rõ bên trong bhaganva ý căn, tấm gương trong, xuất hiện tợ tướng hơi thở Ānāpānapaṭibhāga nimitta.


Ví dụ như khi đang đứng trước gương soi, quý vị có thể thấy gương mặt mình bên trong tấm gương. Vậy tấm gương là khác, gương mặt quý vị bên trong tấm gương lại khác nữa, chúng là 2 đối tượng khác nhau. Tương tự vậy, vùng sáng ý căn là khác và tợ tướng hơi thở Ānāpānapaṭibhāga nimitta xuất hiện bên trong vùng sáng ý căn, lại khác nữa.

Khi có thể phân biệt được 2 đối tượng này, quý vị có thể trực nhận được các thiền chi:

Tầm, Vitakka là hướng tâm đến đối tượng tợ tướng

Tứ, Vicāra, là trụ tâm trên đối tượng tợ tướng.

Hỷ, Pīti là trạng thái thích thú đối tượng

Lạc, Sukha là sự hài lòng về đối tượng.

Nhất tâm, Ekaggatā, sự nhất tâm này được gọi là Định.

Quý vị nên trực nhận từng thiền chi một. Nếu muốn trực nhận thiền chi, quý vị nên lập lại sơ thiền cho được 5 hay 10 phút. Khi xuất khỏi sơ thiền, quý vị nên trực nhận Bhavaṅga ý căn tợ tướng hơi thở Ānāpānapaṭibhāga nimitta bên trong ý căn.

Lúc ấy, hãy trực nhận Tầm, sự hướng tâm đến đối tượng tợ tướng. Rồi hãy lập lại sơ thiền. Xuất khỏi sơ thiền, cùng cách trên trực nhận Bhaganva ý căn và tợ tướng hơi thở, rồi hãy trực nhận Tứ, trạng thái trụ tâm trên đối tượng. Cứ cách như vậy, mỗi lần vào sơ thiền, xuất khỏi sơ thiền, quý vị hãy trực nhận một thiền chi. Theo cách này nếu cố gắng, quý vị có thể phân biệt được các thiền chi, từng thiền chi một. Nếu có thể trực nhận được 5 thiền chi rồi, quý vị hãy thiết lập lại sơ thiền cho được 5 hay 10 phút, Ngay khi xuất khỏi sơ thiền ấy, quý vị nên trực nhận Bhavaṅga ý căn và tợ tướng hơi thở cùng nhau và rồi hãy trực nhận 5 thiền chi cùng nhau. Lúc ấy quý vị có thể trực nhận được 5 thiền chi cùng lúc.

Ví dụ, đây, 5 ngón tay, quý vị có thể chú ý đến ngón này trước, ngón này, ngón này, ngón này, ngón này. Khi trực nhận từng ngón thuần thục, nếu chú ý 5 ngón cùng lúc, quý vị có thể thấy rõ ràng cả 5 ngón cùng lúc, cùng cách như vậy.

Sau đó quý vị nên cố gắng thực hành luyện 5 Thiện Xảo (5 Masteries) trong sơ thiền:

Bất kỳ lúc nào muốn nhập sơ thiền, quý vị nên cố gắng nhập thiền trong vòng vài phút hay vài giây.

Bất kỳ lúc nào muốn xả thiền, quý vị nên cố gắng xuất khỏi thiền.

Một Thiện Xảo khác là Adhiṭṭhāna, nguyện thiền. Nếu muốn trú trong sơ thiền cho được 1 tiếng, vậy là quý vị nguyện: “Nguyện cho sơ thiền của tôi kéo dài 1 tiếng!” v.v..Nếu có thể thực hiện nguyện thiền trong 1 giờ rồi, quý vị nên gia tăng thời gian nguyện thiền lên bao lâu mình có thể.

Một Thiện Xảo khác nữa là “Thiện Xảo trực nhận các thiền chi”. Trong khi đang trực nhận các thiền chi, nếu quý vị có thể trực nhận (discern) các thiền chi rất rất nhanh, đây được gọi là “Phản xạ ghi nhận các thiền chi”(āvajjana vasī) hay “Thiện Xảo suy xét các thiền chi”(paccavekkhana vasī). Gì là sự khác nhau? Sự khác nhau giữa 2 trí suy xét. Đến lúc trực nhận danh nghiệp xứ, quý vị sẽ hiểu rõ chúng. Theo Chú giải, trong khi quý vị trực nhận các thiền chi, có một lộ trình tâm ý môn. Tâm số một là ý môn hướng tâm, và rồi đến 7 hay 5 hay 6 javana, javana này họ dịch là tốc hành tâm, javana này có thể hiểu rõ 5 thiền chi. Theo cùng cách, ý môn hướng tâm cũng có thể hiểu rõ được 5 thiền chi này. Nếu ý môn hướng tâm này suy xét được 5 thiền chi, đây được gọi là “Phản xạ ghi nhận các thiền chi”(āvajjana vasī). Nếu các sát na tâm javana có thể suy xét được các thiền chi này, đấy được gọi là Thiện xảo suy xét các thiền chi paccavekkhana vasī. Nhưng với người mới bắt đầu, không cần thiết phải phân biệt hai Thiện Xảo này. Nếu quý vị có thể trực nhận được các thiền chi rất rất nhanh là đủ rồi.

Tôi sẽ dừng lại ở đây, quý vị có thể thảo luận về việc thực hành của mình.

Giọng nam: Con có câu hỏi. Với Ānāpānasati, thiền niệm hơi thở, Ngài lấy thở vàothở ra làm đối tượng. Vậy Ngài có thể phân biệt nó với phương pháp của Hòa Thượng Mahasi, vì Ngài có thể đã hành cả hai cách rồi, cả cách để ý hơi thở tại đây và cách để ý hơi thở vào và hơi thở ra. Vậy kính thưa Ngài có thể phân biệt sự khác nhau giữa 2 phương pháp này trên con đường đến Niết Bàn, và gì là ưu điểm của phương pháp mà Ngài đang dạy ạ?

Sayadaw: (cười) Có lẽ câu hỏi này không hay. Chúng ta không nên điều tra về các phương pháp khác. Nhưng theo Thanh Tịnh Đạo và các Chú giải khác, quý vị nên tập trung vào chỉ vào đối tượng hơi thở mà thôi, hơi thở đó phải ở nơi lỗ mũi hay trên đỉnh môi trên. “Nāsikāka” và “mukha nimitta”, đây được ấn định trong Chú giải. “Nāsikāka” là lỗ mũi, “mukha nimitta” là đỉnh môi trên, chỉ tại điểm này thôi, quý vị nên chờ và thấy đối tượng hơi thở của mình. Lúc ấy, với người mới bắt đầu, lỗ mũi được gọi là Nimitta, đỉnh môi trên cũng được gọi là Nimitta, đây là đối với người mới bắt đầu trước khi họ có thể thấy màu khói xám. Tại Nimitta này, quý vị nên đợi và thấy hơi thở. Khi tập trung vào đối tượng hơi thở, lúc ấy quý vị có thể đạt đến các bậc thiền của niệm hơi thở. Còn khi tập trung ở vùng bụng, quý vị không thể thấy được hơi thở, quý vị chỉ có thể chỉ thấy sự chuyển động, hoặc có thể là sự chuyển động hoặc khi quý vị chú tâm vào tứ đại, quý vị có thể thấy vùng này toàn tứ đại. Quý vị không thể thấy hơi thở ở đây. Quý vị có thấy không? Không?

Đúng vậy, nếu không thể thấy hơi thở, quý vị không thể đạt đến bậc thiền của Niệm hơi thở. Quý vị có thể thấy ở đây toàn tứ đại. Nếu thực hành thiền tứ đại, quý vị không chỉ nên gắng biết rõ tứ đại tại một chỗ mà phải khắp toàn thân. Đấy là hệ thống thiền tứ đại. Vì nếu thực hành thiền tứ đại một cách có hệ thống, quý vị có thể chứng ngộ Niết Bàn. Nhưng nếu thực hành thiền tứ đại theo cách sai lầm, không đúng phương pháp, quý vị không thể chứng ngộ Niết Bàn được. Nhưng khi thực hành thiền niệm hơi thở, nếu tập trung vào đối tượng hơi thở trên lỗ mũi hay trên đỉnh môi trên, lúc Nimitta xuất hiện, quý vị có thể đạt đến sơ thiền, nhị thiền, tam, tứ thiền. Dựa vào thiền này, nếu thực hành thiền tứ đại, quý vị có thể biết rõ tứ đại khắp thân mình. Tại sao? Vì tâm định như thế có thể sinh ra ánh sáng cực mạnh. Ví dụ như, sáng nay có một hành giả cũng hỏi tôi về điều này. Không có thiền chứng, vào thời Đức Phật, rất nhiều trưởng lão hay nhiều vị tỳ kheo vẫn chứng ngộ NB, người đã trở thành các vị A-la-hán, chúng ta gọi là các vị A-la-hán theo thuần quán thừa, Suddhavipassaka Arahat;. Suddhavipassaka có nơi dịch sang là Thuần Quán hay Quán Khô.

Nếu vậy tại sao chúng ta lại thực hành Ānāpāna để đạt đến tứ thiền? (cười). Sơ thiền cũng có thể, nhị thiền cũng có thể, tam thiền, tứ thiền cũng có thể là nhân hổ trợ, nhân hỗ trợ cho Vipassanā, thiền Minh Sát. Sơ thiền cũng có thể là nhân hỗ trợ cho Vipassanā, nhị thiền cũng có thể là nhân hỗ trợ cho Vipassanā, tam thiền, tứ thiền cũng có thể là nhân hỗ trợ cho Vipassanā.

Nhân hỗ trợ là gì? Định của bậc thiền (an chỉ định) có thể sinh ra một thứ ánh sáng cực mạnh: sơ thiền cũng có thể sinh ra ánh sáng cực mạnh, nhị thiền cũng có thể sinh ra một ánh sáng cực mạnh, nhưng độ sáng khác nhau, ví dụ: mặt trời có thể chiếu sáng, mặt trăng cũng có thể chiếu sáng, ngôi sao cũng sáng, nến sáng và bóng đèn cũng tạo ra ánh sáng, nhưng độ sáng không giống nhau. Vào ban ngày, khi mặt trời chói chang, quý vị có thể thấy mọi vật rõ hơn, nhưng khi ban đêm, khi có trăng, nếu quý vị để ý xung quanh, quý vị không thể thấy rõ ràng như ban ngày, không rõ ràng lắm. Cũng tương tự vậy, sơ thiền có thể sinh ra ánh sáng, điều này là đúng. Nhưng định tứ thiền, ánh sáng của tứ thiền rất mạnh và rất sáng. Vì nguyên nhân này, thời xưa họ thường thực hành đến tứ thiền.

Dựa vào tứ thiền hay có thể bát thiền, nếu thực hành thiền tứ đại một cách hệ thống, họ có thể biết rõ được danh và sắc chân đế, cả bên trong lẫn bên ngoài. Nếu có thể biết rõ được danh và sắc chân đế, cả bên trong lẫn bên ngoài, lúc ấy nếu trực nhận duyên khởi (paticca samudaya), họ có thể hiểu rõ ràng về duyên khởi. Bởi vì khi thực hành phần duyên khởi, họ phải tìm các nhân quá khứ. Các nhân quá khứ cho các quả hiện tại, các nhân hiện tại cho các quả tương lai. Khi họ tìm các nhân quá khứ, lúc ấy ánh sáng trí tuệ rất cần thiết. Khi ánh sáng trí tuệ không đủ, họ không thể thấy được các nhân quá khứ, cũng vậy với các nhân tương lai. Vì nguyên nhân này, thông thường chúng tôi dạy thiền chứng đến tứ thiền hay bát thiền. Dựa vào thiền chứng này, nếu thực hành thiền tứ đại một cách có hệ thống, họ có thể thấy rõ danh và sắc chân đế và các nhân của chúng.

Danh và sắc chân đếSự thật tối thượng về Khổ, các pháp Khổ đế, Dukkhasacca; các nhân của chúng là nguyên nhân của Khổ, SamudayaSacca, là Sự thật tối thượng về nguồn gốc của khổ (hay Khổ tập). Hai Sự thật tối thượng này là các đối tượng của Vipassanā, chúng được gọi là “Saṅkhāra”, các Hành. Các hành này, quý vị phải quán các hành này là vô thường, khổ và vô ngã. Ngay khi chúng vừa sanh lên, liền diệt đi rất rất nhanh vì thế chúng là vô thường. Chúng luôn bị đàn áp bởi việc sinh và diệt nên chúng là khổ. Không có thực thể thường hằng hay sự tồn tại thường hằng trong chúng nên chúng được gọi là vô ngã. Nếu quý vị quán các hành này là vô thường, khổ và vô ngã, loại quán sát này là Vipassanā. Vì thế, để đạt đến loại quán sát này, ánh sáng trí tuệ cực mạnh là rất cần thiết.

Giọng nữ: Thưa Ngài, Biến xứ trắng (Kasiṇa trắng) là tương đương với thiền chứng nào ạ? Biến xứ trắng là bằng với bậc thiền nào ạ?

Sayadaw: Biến xứ trắng cũng vậy, nếu thực hành một cách hệ thống, có thể đạt đến tứ thiền. Nhưng nếu quý vị có thể thực hành 10 Biến xứ lên đến tứ thiền, quý vị có thể dựa vào tứ thiền này để đi vào các bậc thiền vô sắc, nó là có thể, quý vị có thể đạt đến bát thiền, 8 loại thiền.

Giọng nữ: Thưa Ngài, chúng ta có thể thực hành Biến xứ trắng để có sơ thiền ạ?

Sayadaw: Biến xứ trắng, có thể đạt đến sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.

Giọng nữ: Con muốn hiểu về sự khác nhau giữa các giai đoạn ạ. Con muốn hiểu sự khác nhau giữa giai đoạn 3 của Niệm hơi thở với giai đoạn 1 và 2, vì giai đoạn 3 kinh nghiệm trọn vẹn hơi thở, còn giai đoạn 1 là hơi thở dài và giai đoạn 2 là hơi thở ngắn. Nếu không kinh nghiệm trọn vẹn hơi thở, làm sao Ngài đánh giá nó là dài hay ngắn ạ?

Sayadaw: Khi đang tập trung vào đối tượng hơi thở của mình tại vị trí điểm chạm, từ lúc bắt đầu, đây bắt đầu, đây kết thúc, từ lúc bắt đầu (đầu) cho đến kết thúc (cuối), nếu quý vị có thể ghi nhận hơi thở như thế, đây được gọi là trọn vẹn (hay toàn bộ) hơi thở. Khi trực nhận hoặc tập trung vào trọn vẹn hơi thở, có lúc quý vị có thể thở chậm, hơi thở chậm ấy gọi là hơi thở dài; khi hơi thở dài, quý vị chỉ nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở. Có lúc quý vị có thể thở nhanh, hơi thở nhanh ấy gọi là hơi thở ngắn, khi hơi thở ngắn, quý vị nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở mà thôi. Quý vị hiểu chứ?

Giọng nữ: Được rồi ạ. Vậy là giai đoạn đầu, hơi thở dài.

Sayadaw: Có lẽ theo thứ tự lời dạy, Đức Phật dạy hơi thở dài trước, rồi đến hơi thở ngắn, rồi đến trọn vẹn hơi thở, nhưng khi vào thực hành thực tế, chúng ta không thể nói: “Luôn luôn hơi thở dài phải là bước 1”, cũng như chúng ta không thể nói: “Hơi thở ngắn luôn phải là bước 2.” Có lúc quý vị thở chậm nguyên cả thời ngồi, không sao cả. Có lúc khi định phát triển, quý vị có thể thở chậm suốt cả thời ngồi, như thế cũng tốt, lúc ấy, quý vị nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở. Nhưng lúc khác quý vị có thể thở nhanh, lúc ấy quý vị cũng nên gắng biết rõ trọn vẹn thân hơi thở chỉ tại một chỗ thôi.

Giọng nam: Nếu vậy có nghĩa Ngài phải niệm trong tâm: đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn kết thúc khi hơi thở đi vào, Ngài chỉ quán sát hay chỉ ghi nhận..?

Sayadaw: Chỉ ghi nhận thôi. Chỉ ghi nhậncần thiết. Không cần phải niệm “đây là đoạn đầu”, “đây là đoạn giữa”, “đây là đoạn cuối” hay “đây là hơi thở dài”, “đây là hơi thở ngắn”. Vì sao? Nếu niệm như thế, định của quý vị sẽ thoái giảm, Dù nó là dài hay ngắn, nếu quý vị hay biết hơi thở một cách liên tục không gián đoạn, vậy là đủ tốt rồi, vậy là đủ rồi. “Đủ” nghĩa là quý vị có thể tập trung được tốt. Nếu quý vị phân biệt xem đây là hơi thở dài hay hơi thở ngắn, “có thể hơi này là dài, nhưng không thực sự dài”, “có lẽ đây là hơi dài”, “hơi thở này có lẽ là ngắn”...theo cách này quý vị có thể điều tra nhiều quá. Nếu điều tra nhiều quá, thì định sẽ giảm, đây là một nguyên nhân. Nếu niệm: “đây là bắt đầu”, “đây là đoạn giữa”, “đây là kết thúc”, niệm như thế rồi quý vị sẽ mệt và định của quý vị sẽ giảm. Vì thế trong 3 giai đoạn này, hơi thở dài, hơi thở ngắn và trọn vẹn thân hơi thở, 3 giai đoạn này nếu quý vị hay biết hơi thở liên tục không gián đoạn, là tốt rồi. Nếu muốn niệm, quý vị chỉ cần niệm: “hơi thở vào” và “hơi thở ra” thôi. OK? Chưa hiểu à? (cười). Ừ, có lẽ Cô ấy sẽ giải thích cho con bằng tiếng Hoa (cười).

Giọng nam: Con còn chưa chắc lắm. Con nghĩ mình hiểu, nhưng con muốn kiểm tra thêm điều này. Điều khác nhau giữa hai giai đoạn đầu và giai đoạn 3 có phải là, hai giai đoạn đầu Ngài muốn chúng con chỉ ghi nhận hơi thở dài và hơi thở ngắn, nhưng trong giai đoạn 3 phải ghi nhận trọn vẹn hơi thở. Như vậy trong hai giai đoạn đầu để thực hành đúng chúng con không cần biết trọn vẹn hơi thở hay sao ạ?

Sayadaw: Nếu quý vị có thể hay biết hơi thở không gián đoạn, rất tốt, ngay cả với giai đoạn 1 và giai đoạn 2 cũng vậy thì rất tốt.

Giọng nam: Thưa Ngài, trong việc thực hành để đạt đến thiền chứng, chúng ta dùng đối tượng ấy là để chắc chắn tâm chúng ta trở nên hợp nhất với đối tượng. Chính vậy mà có đến 40 đề mục để mình có thể lực chọn, như Biến xứ trắng, v.v.. Nhưng mỗi đề mục thiền định lại có những đặc điểm riêng của nó. Liệu có đúng chăng khi nói với Ānāpāna, thiền Niệm hơi thở, đặc điểm của đối tượng là luôn luôn có “vào” và “ra”, vậy là nếu chúng ta có lúc nào đó thắc mắc không biết liệu mình có đang có mất đối tượng hay không, chúng ta chỉ phải ghi nhận xem “vào” và “ra” có đang còn đó hay không và rồi chúng ta biết đây là “ra”, đối tượng của Ānāpāna? Xin cảm ơn Ngài. Còn nếu hy vọng được chăng khi chúng ta trông mong rằng khi huân tập sự nhất tâm hay định tĩnh, chúng ta còn trở nên tĩnh lặng cả bên trong lẫn bên ngoài khi di chuyển, đi lại, nói năng sau những thời thiền tọa? Liệu chúng ta có thể trông đợi điều đó không ạ? Không được ạ?

Sayadaw: (cười) Chúng ta không thể trông điều đó. Nếu cố gắng thì tốt hơn, không vấn đề gì. Tự động thì không có thể.

Giọng nam: Ngài có nói về tâm có thể mạnh mẽ hơn khi chúng ta trở nên tập trung hơn. Liệu chúng ta có thể nói rằng, tính kiên định của tâm, tâm kiên cố như thế nào xét về độ sâu (từ này nghe không rõ, chỉ đóan) tập trung và duy trì của định là tỉ lệ thuận với sức mạnh của tâm? Có nghĩa là nếu chúng ta duy trì được sự tập trung trên đối tượng càng tốt thì tâm chúng ta càng trở nên mạnh mẽ hơn? Có phải vậy không ạ? Vậy là toàn bộ quá trình phát triển về cơ bản là để tăng cường sức mạnh cho tâm để mà với sức mạnh đó của tâm, chúng ta có thể đi vào Vipassanā và có thể nắm bắt đối tượng mà chúng ta cần phân tích được vững vàng hơn để thấy chúng rõ ràng hơn vì thường thì sự thay đổi của đối tượng là quá nhanh, vì anicca, vô thường.. là quá xa với chúng ta nếu khôngđủ sức mạnh này của tâm để quán phải không ạ? Vậy còn ngày nay người ta có nói về thuần quán thừa hành giả, hành giả thuần quán, họ chỉ phát triển đến Upacāra,.. cận định. Vậy đây có phải là sức mạnh tối thiểu?

Sayadaw: Không phải vậy. Họ có đủ ba-la-mật. Vào thời Đức Phật, ví dụ như các ngài Thánh tăng A-la-hán theo phương pháp thuần quán Vipassaka Arahat, họ có đủ ba-la-mật, họ chỉ có ý định đạt đến A-la-hán thật thật nhanh trước khi cái chết đang đến, họ không muốn phí thời gian, họ muốn đạt đến A-la-hán thật nhanh vì ba-la-mật của họ đang thúc ép và khích lệ họ nổ lực mạnh mẽ. Khi thực hành thuần quán thừa, họ bắt đầu với thiền tứ đại, ấy là theo giải thích của Thanh Tịnh Đạo. Khi thực hành thiền tứ đại có hệ thống, đến một lúc họ sẽ thấy các tổng hợp sắc (THS), là các hạt cực nhỏ. Thân thể chúng ta bao gồm vô số các hạt cực nhỏ gọi là các Kalāpas, THS. Họ phải tiếp tục phân biệt tứ đại trong mỗi THS này. Trong khi trực nhận tứ đại trong mỗi THS, nếu họ có thể định trên đối tượng tứ đại ấy, đây là giai đoạn cuối của thiền định, Samatha và cũng là giai đoạn bắt đầu của Vipassanā.

Vậy thiền tứ đại bao gồm cả hai: chỉ và quán, Samatha và Vipassanā. Rồi họ phải tiếp tục phân biệt các sắc do tứ đại tạo thành (Sắc y đại sanh) như màu, mùi, vị, dưỡng tố, v.v... Sau khi trực nhận các sắc chân đế, họ phải tiếp tục danh chân đế và các nhân của chúng, duyên khởi rồi phải quán chúng là vô thường, khổ và vô ngã. Trong lúc thực hành như vậy, bởi ba-la-mật đời trước mà ánh sáng trí tuệ của họ rất mạnh. Khi hành thiền tứ đại, ánh sáng trí tuệ của họ cũng rất mạnh. Nhờ đó mà họ có thể thấy rõ các nhân quá khứ. Các nhân quá khứ cho các quả hiện tại, các nhân hiện tại cho các quả tương lai, họ có thể phân biệt các nhân và các quả, quá khứ, hiện tại và tương lai. Nhờ vậy họ mới có thể chứng ngộ A-la-hán.

Còn ngày nay (cười) một số hành giả có thể thực hành thiền tứ đại một cách hệ thống, nếu thực hành, họ có thể chứng ngộ NB, còn số khác thì không dễ. Không dễ nghĩa là, chẳng hạn như khi trực nhận các sắc chân đế, khi họ thấy các THS, các THS của họ không rõ ràng lắm, đấy là một vấn đề, vì ánh sáng trí tuệ của họ không mạnh. Khi họ trực nhận các sắc chân đế trong mỗi THS, họ không thể phân tích một cách hoàn toànrõ ràng, đặc biệtsắc mạng căn, rất khó để họ phân biệt. Sắc mạng căn là gì? Trong mỗi THS có sự sống, đặc biệt là các sắc do nghiệp sanh, có sắc mạng căn. Họ không thể phân biệt được sắc mạng căn trong 2 hay 3 ngày, có thiền sinh không thể thấy rõ sắc mạng căn này trong gần 1 tuần.

Tương tự vậy, dưỡng tố: trong THS có dưỡng tố, dưỡng tố này có thể sinh ra THS mới khi có sự hỗ trợ của sức nóng tiêu hóa thức ăn lên dưỡng tố này và khi có sự hỗ trợ từ dưỡng tố có trong các THS do vật thực sanh. Lúc ấy họ cũng không thể thấy được dưỡng tố này một cách rõ ràng. Tương tự vậy, sắc tánh, sắc quyết định nam tánh hay nữ tánh. Khi nhìn một người, quý vị có thể phân biệt đây là đàn ông hay đàn bà. Tại sao? Ấy là nhờ sắc tánh, sắc tánh phân biệt được đây là nam, đây là nữ. Theo lời dạy của Đức Phật, sắc tánh có mặt ở cả 6 căn, khắp nơi trong thân. Vì nguyên nhân này, khi họ nhìn một người, họ có thể dễ dàng phân biệt được, đây là đàn bà, đây là đàn ông là nhờ sắc tính này. Sắc tính này cũng có trong một số THS, các THS có mặt khắp nơi trong cơ thể. Sắc tính này cũng khó mà trực nhận được khi ánh sáng trí tuệ không được mạnh. Khó hơn nữa là duyên khởi khi quý vị chú ý đến danh sắc đời trước. Khi danh sắc hiện tại không rõ, rồi nếu muốn trực nhận danh sắc nhiều đời trước nữa, họ không thể thấy rõ được. Bởi nguyên nhân này, ngày nay một số hành giả có thể thực hành trọn vẹn thiền tứ đại một cách hệ thống cho đến chứng ngộ NB, nhưng số khác thì không thể. Chính vì vậy, chúng tôi còn dạy cả thiền định Samatha.

Giọng nam: Thưa Ngài, hầu hết mọi người thậm chí không dám mơ đến thấy các THS..

Sayadaw: Hả?

Giọng nam: Hầu hết mọi người không dám mơ đến việc thấy các THS vì họ chưa bao giờ thực hành đủ mức định để thấy bất kỳ thứ gì. Vì vậy đâu là mức rèn luyện thiền chỉ Samatha tối thiểu cho phép một người bắt đầu thấy được các THS ạ?

Sayadaw: Có lẽ thông thường thì tứ thiền. Tứ thiềncần thiết. Nhưng với một số hành giả, sơ thiền cũng có thể rồi nhưng chúng ta không thể đọc được tâm của người khác. Vì lý do này, chúng ta không thể nói một cách chính xác người nào nên hành đến bậc thiền nào, hay người này nên hành đến nhị thiền, hay người này nên hành đến tam thiền hay người này nên hành đến tứ thiền.. Theo cách này chúng ta không thể quyết địnhchúng ta không thể đọc được tâm của người khác. Vì lý do này, phần lớn tiêu chí của chúng tôi là dạy đến giai đoạn tứ thiền. Nếu họ muốn thực hành thiền biến xứ, lúc đó chúng tôi dạy họ 10 biến xứ và bát thiền, 8 thiền chứng.

Giọng nam: Điều đó đưa con về lại câu hỏi ban đầu, vì một số người nghĩ rằng tất cả những gì mà họ cần huân tập cho đủ là cận định mà không cần đi đến sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Phần lớn họ không thấy các THS, mà không thấy các THS làm cách nào họ có thể đi vào Vipassanā để thấy sự sanh lên và diệt đi, vốn là nguyên nhân của khổ. Vậy nên câu hỏi của con là khi mọi người nói bạn có thể, tất cả những gì bạn cần là phát triển cho đến cận định và đấy là tất cả những gì bạn cần. Câu hỏi của con là có phải như thế không ạ?

Sayadaw: Đối với một số hành giả, cận định có thể là nhân hỗ trợ cho họ thực hành Vipassanā, điều này OK. Nhưng đối với số khác thì không OK.

Giọng nam: Còn hầu hết những người mà Ngài nghĩ họ không có ba-la-mật quá khứ, đấy chỉ là giấc mơ ạ?

Sayadaw: Đúng vậy, không dễ.

Giọng nam: Con xin lỗi, cho con có một câu hỏi nữa. Khi nhìn một người như là đàn bà, hay đàn ông, Ngài vừa đề cập đến một loại sắc cho phép phân biệt đây là một người, còn đây là v.v.. Trong một số bài viết, nó được mô tả như là một khối, do mình nhìn toàn bộ một con người như một khối, và đấy là một sự ảo tưởng lớn vì nó khiến cho luân hồi còn chắc chắn hơn, phải không ạ?

Sayadaw: Có lẽ vậy.

Giọng nam: Vậy nên chúng ta cố gắng để phá vỡ khối kết này để thấy chúng không phải là một người, đây là một bó các THS sanh lên, các THS đang chết đi?

Sayadaw: Không phải THS, có lẽ chúng ta gọi là các sắc chân đế và các danh chân đế.

Giọng nam: Vâng ạ. Ngài có thể nói cách khác được chăng là do bởi tâm chúng ta quá phân tán và mất đi sức mạnh của nó, không thể có định để thấy rõ ràng. Đấy là một phần của Si ạ? Và chính cái Si này khiến chúng ta thấy các vật như là một cục, một thực thể, một con người chẳng hạn, đây cũng là khối và vì thế theo cách nhìn ấy, chúng ta luôn thấy một khu rừng, chứ không phải cây. Vậy có phải chúng ta đang cố gắng nhìn thấy rừng sâu hơn để mà có thể thấy được các cây. Khi thấy các cây, chúng ta có thể thấy đây không thực sự là rừng sâu hơn một khu rừng, nó không phải thực sự là rừng và chúng ta phá được Si và có thể giúp mình thoát khỏi Si? Liệu chúng ta có thể nói như thế chăng? Hay đại loại như thế chăng?

Sayadaw: Chỉ bằng cách thấy danh sắc chân đế, quý vị không thể thoát khỏi luân hồi. Quý vị phải cố gắng chứng ngộ NB và liểu tri được Bốn Sự Thật tối thượng.

Giọng nam: Cảm ơn Ngài ạ.

Giọng nam: Thưa Ngài, con xin có câu hỏi. Lúc thực hành thiền tứ đại, (đến vài từ nghe không ra đoạn này), có kinh nghiệm một hình ảnh, hình ảnh xuất hiện như một khung hình. Đấy là gì ạ?

Sayadaw: Nếu thực hành tứ đại, đối với người mới bắt đầu, khi định phát triển, họ không thể thấy thân hình, họ chỉ có thể thấy một nhóm...

 

 

______________________

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1135)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1496)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1091)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1053)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1034)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1001)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1254)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1084)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1169)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1166)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1087)
27 Tháng Mười 2020(Xem: 1104)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 1112)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 1052)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 1109)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 2525)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 978908)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 2045)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 2263)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 1959)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 2082)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 1760)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 1848)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 1538)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1609)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 1701)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 2100)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 1483)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1632)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 1798)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1537)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 2253)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 2151)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2771)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 4488)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6225)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 1422)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 1389)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 1355)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1254)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 6545)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1160)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1183)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3989)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2946)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng