[07] Thập Nhị Nhân Duyên

12 Tháng Mười 20171:58 CH(Xem: 3098)
[07] Thập Nhị Nhân Duyên
 
ThucTaiHienTien_B

Thực Tại Hiện Tiền
Viên Minh
Nguồn: budsas.org
 
_____________________

 

 

[07] THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

 

000955

Thập nhị nhân duyên là 12 điều kiện tùy thuộc vào nhau mà sinh và cũng tùy thuộc vào nhau mà diệt, có cái này thì có cái kia, không có cái này thì không có cái kia. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt.

 

Trong Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên sinh chính là tập đế, khổ đế. Thập nhị nhân duyên diệt chính là đạo đế, diệt đế. Vậy Thập nhị nhân duyên chỉ là cách nói khác của Tứ diệu đế, chứ không phải như người ta thường hiểu lầm Tứ diệu đế là pháp môn tu của Thanh Văn và Thập nhị nhân duyên là pháp môn tu của Duyên Giác. Chỉ vì trùng nhau chữ duyên mà người ta liên tưởng một cách sai lầm. Trên thực tế, ai muốn tu hành thành Phật cũng đều phải tu Tứ diệu đế mà trong đó đã bao hàm 12 nhân duyên.

 

Có hai cách hiểu Thập nhị nhân duyên:

 

- Một là hiểu như vòng luân hồi sinh tử trong 3 thời: quá khứ, hiện tại, vị lai.

 

- Hai là hiểu như tiến trình tâm-sinh-vật lý được điều động bởi vô minh, ái dục trong 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai (đây chỉ nói Thập nhị nhân duyên sinh).

 

Bây giờ chúng ta sẽ lần lượt trình bày 2 ý nghĩa trên của Thập nhị nhân duyên:

 

* Trước tiên Thập nhị nhân duyên mô tả diễn biến của vòng luân hồi sinh tử trong 3 thời:

 

Trong những kiếp quá khứ, do thiếu sáng suốt (vô minh) chúng ta đã tạo các hạnh nghiệp (hành), rồi thác sinh vào những cảnh giới tương ứng trong hiện tại. Kiếp sống quá khứ chấm dứt với tử tâm (cuti).

 

Sau đó thức tái sanh, tức là kiết sinh thức (patisandhi-viññāna) khởi lên nối liền với kiếp sống hiện tại.

 

Thức này còn gọi là hương ấm thuộc về danh (tâm), kết hợp với tinh cha huyết mẹ thuộc về sắc (thân), tạo thành sự sống của cái phôi gồm đủ hai yếu tố danh và sắc nên gọi là danh sắc.

 

Dần dần cái phôi lớn lên, sắc hình thành mắt, tai, mũi, lưỡi, thân gọi là ngũ căn, và danh hình thành từ thức gọi là ý căn. Năm căn hòa hợp với ý căn tạo thành tác dụng của lục nhập, tức là 6 cơ quan tiếp nhận đối tượng của chúng.

 

Khi hình thành một thai nhi đủ điều kiện ra khỏi bụng mẹ, hài nhi ra đời và lục căn bắt đầu tiếp xúc với lục trần. Tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

 

Sự tiếp xúc giữa căn trần vừa xảy ra thì liền có thọ, tức là những cảm giác khổ, lạc, xả và hỷ. Nói đến xúc tức là đã bao hàm các thức, vì vậy ở đây:

 

- Nhãn thức thọ xả.

- Nhĩ thức thọ xả.

- Tỷ thức thọ xả.

- Thiệt thức thọ xả.

- Thân thức thọ khổ và lạc.

- Ý thức thọ xả và hỷ (chưa có ưu).

 

Đã có khổ, lạc, xả, hỷ, thì liền có ưa, ghét khởi lên. Đó là ái. Ở đây ái chính là dục ái, hữu ái, phi hữu ái hoặc dục ái, sắc ái, vô sắc ái như chúng ta đã nói trước đây (đến đây mới có ưu).

 

Khi đã có ưa, ghét (ái) thì ưa sinh đam mê, ghét sinh hiềm hận. Sự nắm giữ ái như vậy gọi là thủ. Nói rõ hơn thủ có 4 loại:

 

- Dục thủ là nắm bắt lục dục.

- Kiến thủ là chấp giữ quan niệm.

- Giới cấm thủ là chấp giữ hình thức, nghi lễ.

- Ngã luận thủ là chấp giữ bản ngã, linh hồn.

 

Do chấp thủ tư kiến, tư dục, hình thức và bản ngã mà chúng ta tạo nghiệp. Đó chính là hữu. Hữu tức là tạo tác để trở thành (becoming), có nghĩa là tạo nghiệp bất thiện, thiện và bất động.

 

Ái có dục ái, sắc ái, vô sắc ái nên hữu (nghiệp) cũng có dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu, nghĩa là tạo nghiệp để tái sinh trong tương lai ở 3 cõi 6 đường.

 

- Nghiệp bất thiện thì tương lai tái sinh trong 4 đường khổ: địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, a-tu-la.

 

- Nghiệp vừa thiện vừa bất thiện thì tương lai tái sinh vào cõi người.

 

- Nghiệp thiện thì tương lai tái sinh trong các cõi trời dục giới như Tứ đại thiên vương, Đao lợi, Dạ ma, Đâu suất, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên.

 

- Nghiệp sắc giới thì sẽ tái sinh vào các cõi sắc giới, tùy theo sự chứng đắc của mình.

 

- Nghiệp bất động thì tương lai tái sinh trong các cõi vô sắc giới, tùy theo khả năng thiền định của mình.

 

Khi đã tái sinh thì lại tạo nghiệp và đưa đến già chết (lão tử), cứ thế sinh sinh tử tử trong vòng luân hồi lẩn quẩn triền miên.

 

Tóm lại, từ vô minh đến ái dục, từ tạo nghiệp đến gặt quả, từ tái sinh đến già chết, đó là những gì được mô tả rõ ràng qua các yếu tố điều kiện phát sinh trong Thập nhị nhân duyên.

 

Có người hỏi:

 

- Nếu Thập nhị nhân duyên được dùng giải thích vòng luân hồi tái sinh thì có phải chăng vô minh chính là khởi thủy hay nguyên nhân đầu tiên của chúng sinh? Thập nhị nhân duyên có phải là vũ trụ quan hoặc nhân sinh quan Phật giáo không?

 

- Vô minh là nguyên nhân nhưng không phải là nguyên nhân đầu tiên của luân hồi sinh tử, vì là điều kiện phát sinh nên vô minh vừa là nguyên nhân của vòng sinh tử sau, vừa là kết quả của vòng sinh tử trước, nghĩa là vô minh cũng do nhân duyên phát sinh, không nên hiểu vô minh như là Đấng Tạo Hóa.

 

Cũng đừng gán cho Thập nhị nhân duyên nhãn hiệu vũ trụ quan hay nhân sinh quan. Thập nhị nhân duyên chỉ mô tả trình tự duyên khởi của diễn tiến tâm-sinh-vật-lý do vô minh điều động mà thôi.

 

Có lẽ chúng ta ai cũng có thể chấp nhận cách giải thích theo truyền thống như đã trình bày ở trên, nhưng bây giờ chúng ta thử tìm hiểu một ý nghĩa khác của Thập nhị nhân duyên, thực tế hơn, gần gủi hơn ngay trong đời sống hàng ngày của chúng ta.

 

Đức Phật dạy: "Thấy Thập nhị nhân duyên tức thấy pháp, thấy pháp tức là thấy Như Lai". Chúng ta cũng đã biết pháp là thiết thực hiện tại hay thực tại hiện tiền, vượt khỏi thời gian, tự mình chứng nghiệm từ bên trong.

 

Nếu thấy được Thập nhị nhân duyên sinh thì chúng ta cũng có thể thấy Thập nhị nhân duyên diệt. Như vậy ngay trong hiện tại chúng ta có thể giác ngộ ra sự thật duyên khởi này, và nhờ đó có thể chấm dứt vòng luân hồi sinh tử ngay tại đây và bây giờ vì pháp là thiết thực hiện tại, vượt khỏi thời gian, có phải vậy không? Ngày xưa, ngay khi Đức Phật thuyết về Thập nhị nhân duyên, có rất nhiều vị giác ngộ ngay lập tức và chấm dứt hoàn toàn vòng luân hồi sinh tử.

 

Nếu chúng ta có thể thay đổi tiến trình tâm hay chấm dứt ngũ uẩn (bản ngã) ngay bây giờ, thì chính là chúng ta đã chấm dứt vòng duyên khởi tái sinh.

 

Thập nhị nhân duyên chỉ là triển khai rộng rãi và chi tiết hơn của ngũ uẩn hay tiến trình tâm mà thôi.

 

Thập Nhị Nhân Duyên và Ngũ Uẩn

 

Trong quá khứ, nếu thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ sinh khởi trong tình trạng si mê, bất giác, thất niệm, tức là bị vô minh chi phối, thì ái, thủ và hữu cũng phát sinh, đó là hành.

 

Vô minh và hành trong quá khứ là nhân tái sinh khởi thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ trong hiện tại. Từ đó lại phát sinh ái, thủ, hữu.

 

So với ngũ uẩn chúng ta thấy:

000956
000957

Như vậy ngũ uẩn tương đương với phần hiện tại của Thập nhị nhân duyên. Thực ra chúng ta chỉ cần duyên khởi trong hiện tại từ thức đến hữu tức là chúng ta có thể thấy duyên khởi trong quá khứ. Tuy trong quá khứ chỉ nói vắn tắt là vô minh và hành, nhưng trong thực tế cũng bao gồm từ thức đến hữu như trong hiện tại.

 

Trong tương lai cũng vậy, từ sinh đến lão tử chính là từ thức đến hữu như trong hiện tại.

000958

Thức khởi sinh rồi đi xuyên suốt qua danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu và cuối cùng thức làm công tác của thức uẩn là ghi lại tiến trình vừa trải qua. (Tương đương đồng sở duyên trong tiến trình tâm của Abhidhamma và A-lại-da của Duy Thức).

 

Tóm lại phần hiện tại của Thập nhị nhân duyên chính là tiến trình ngũ uẩn vậy.

 

Thập Nhị Nhân Duyên Với Tiến Trình Tâm

 

Như chúng ta đã biết, một tiến trình tâm trong quá khứ được đồng sở duyên ghi lại và chìm vào hữu phần. Khi có một đối tượng tác động qua 5 môn hoặc qua ý môn thì thức lại hiện khởi. Đó cũng chính là thức trong Thập nhị nhân duyên.

000959

Sau khi thức hiện khởi, tiếp nhận đối tượng thì Javana phản ứng trên đối tượng. Javana chính là ái, thủ, hữu trong Thập nhị nhân duyên.

000960

Trong Thập nhị nhân duyên vai trò của đồng sở duyên được hiểu ngầm, nhưng thật ra nó vẫn có mặt giữa hữu và sinh lão tử.

 

Để thấy rõ hơn chúng ta thử xem Thập nhị nhân duyên diễn ra theo tiến trình tâm như thế nào?

 

Giả sử chúng ta đang ngồi đây hoặc đang đi lui tới như thế này trong trình trạng si mê, bất giác, không sáng suốt, thiếu tỉnh thức, nghĩa là chúng ta đang ở trong trạng thái vô minh. Lúc đó tâm chúng ta rất dễ vọng động, vì nó ẩn chứa và sẵn sàng phát sinh các ái đó chính là hành.

 

Vậy một tâm thức không sáng suốt, dễ vọng động chính là vô minh và hành. Trong điều kiện sẵn có như vậy, nếu có một đối tượng tác động vào, thì thức sẽ khởi lên kết hợp với sắc căn để tiếp nhận đối tượng ấy. Kết hợp đó gọi là danh sắc. Sự kết hợp trong trình trạng như thế không được trong sáng, hỗn độn và bất an. Đó chính là một hỗn hợp thân-tâm không sáng suốt, định tĩnh, trong lành hay nói một cách khác là thân tâm thiếu điều phục.
000961

Danh-sắc là từ để gọi chung một tổ hợp thân tâm gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Vì vậy danh-sắc sẽ hiện rõ trong từng căn tùy theo đối tượng trần cảnh mà khởi sinh lục nhập.

 

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thuộc về sắc. Ý thuộc về danh. Nếu đối tượng là sắc tướng thì mắt khởi dụng, nếu đối tượng là âm thanh thì tai khởi dụng, v.v...

000962
Mắt khởi dụng có nghĩa là tiếp nhận sắc tướng. Nhưng sự tiếp nhận chỉ thực sự xảy ra khi có sự tham dự của nhãn thức.

 

Sự kết hợp giữa căn trần và thức gọi là xúc (trong ngũ uẩn gọi là sắc uẩn).

 

6 căn + 6 trần + 6 thức = xúc

 

Khi có tiếp xúc của căn-trần-thức thì thì thọ liền phát sinh.

 

Trong Thập nhị nhân duyên, thọ vừa đóng vai trò cảm giác, vừa đóng vai trò tri giác.

000963

Sau khi tiếp nhận đối tượng (xúc) với đầy đủ cảm giác (thọ) và tri giác (tưởng), ý chí (tư) bắt đầu phản ứng trên đối tượng. Phản ứng ấy được biểu hiện qua thái độ ưa, ghét (ái), bám víu (thủ), và tạo tác (hữu). Như vậy ái, thủ, hữu chính là hành trong ngũ uẩn và Javana (tốc hành tâm) trong tiến trình tâm.

000964

Ví dụ: khi tai nghe một âm thanh khó chịu, có nghĩa là thức → danh sắc → lục nhập → xúc đưa đến thọ khổ. Thọ khổ đưa đến ghét tức là phi hữu ái. Nếu âm thanh dễ chịu tức là thọ lạc, thọ lạc đưa đến ưa thích - hữu ái. Nếu âm thanh không gây khó chịu hay dễ chịu, tức là thọ xả, đưa đến tâm khởi lên tìm kiếm lạc thọ, đó là dục ái.

 000965

Nhưng người ta không đơn giản chỉ ưa hay ghét rồi thôi mà ưa ghét trở thành thành kiến, quan niệm, cố chấp, đam mê, thù hận, v.v... do đó ái đưa đến thủ.

 

Nếu chúng ta ưa một cái gì thì thành đam mê cái đó. Nếu chúng ta ghét một cái gì thì thành thù hận cái đó. Vậy đối với trần cảnh đam mê hay thù hận chính là dục thủ.

 

Cố chấp đối với ưa hay ghét đưa đến thành kiến, quan niệm. Ưa thì dễ sinh thường kiến, ghét thì dễ sinh đoạn kiến, rồi chấp chặt quan niệm đó nên gọi là kiến thủ.

 

Xét cho cùng thì dục thủ hay kiến thủ cũng đều phát xuất từ chấp ngã. Nếu không chấp bản ngã thì lấy ai chấp ưa ghét hay thường đoạn, có phải vậy không? Chấp ngã chính là ngã thủ.

 

Dục thủ, kiến thủ, ngã thủ đưa đến hình thành những phong cách, những đời sống, những hình thức nghi lễ, những tập tục tín ngưỡng, rồi người ta tự trói buộc vào những quy phạm mà người ta đã đặt ra. Đó là giới cấm thủ.

000966

Nói chung, thủ là chấp trước. Nếu chỉ mới chớm sinh ưa ghét mà chúng ta giác kịp thì cũng chưa sao. Nhưng khi đã cố chấp thì chúng ta liền tạo tác lăng xăng. Tạo tác chính là hữu hay nói cho dễ hiểu là tạo nghiệp.

 

Do dục ái, hữu ái, phi hữu ái, chúng ta đã tạo nghiệp trong 3 cõi là dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.

000967

Đến đây chúng ta cần lưu ý một điểm là dù chúng ta đắc các thiền định trong sắc giới hoặc vô sắc giới, thì vẫn do ái-thủ-hữu mà ra (trừ Thánh định). Rất nhiều người ưa thích thiền định vì ham mê năng lực và hỷ lạc của thiền định. Như vậy là bị ái-thủ-hữu chi phối rồi, không thể nào chấm dứt luân hồi sinh tử được.

 

Đức Phật chỉ dùng thiền định với 2 mục đích chính: một là đoạn trừ các phiền não do 5 triền cái che lấp (Nānākilesappahānam), hai là tồn tâm dưỡng tánh, hay nói một cách khác là nghỉ ngơi trong trạng thái tích cực gọi là hiện tại lạc trú (ditthadham-masukhavihārā). Nhờ tâm an ổn mà trí tuệ soi chiếu đưa đến hoàn toàn giải thoát giác ngộ.

 

Như vậy, Thập nhị nhân duyên trong hiện tại còn lại 8 điều kiện phát sinh (trừ 2 điều kiện quá khứ và 2 điều kiện tương lai). 8 điều kiện này tương đương với 6 giai đoạn trong tiến trình tâm:

000968

Chúng ta cần lưu ý khi đem so sánh 8 điều kiện hiện tại của Thập nhị nhân duyên với ngũ uẩn, chúng ta thấy đó chỉ là 2 cách diễn đạt khác nhau của cùng một hiện tượng. Nhưng khi đem so sánh 8 điều kiện này với tiến trình tâm thì ta thấy chúng chỉ tương đồng trong tam giới mà thôi. Tiến trình tâm siêu thế (lokuttara) không còn so sánh với Thập nhị nhân duyên sinh được nữa.

 

Như vậy, Thập nhị nhân duyên sinh chỉ là tiến trình tâm trong tam giới (lokiya). Vì tốc hành tâm có 2 loại: tốc hành tâm siêu thế (lokuttarajavana) và tốc hành tâm trong tam giới (lokiyajavana). Ái, thủ, hữu chính là tốc hành tâm trong tam giới, chứ không phải tốc hành tâm siêu thế.

 

Trong tiến trình tâm siêu thế, tốc hành tâm không còn ái, thủ, hữu mà được thay bởi Đạo Tuệ và Quả Tuệ. Tuệ tức là minh, khi minh soi chiếu thì Thập nhị nhân duyên diệt.

 

Vậy tiến trình tâm siêu thế chính là tiến trình Thập nhị nhân duyên diệt:

 

Thập nhị nhân duyên sinh = tiến trình tâm hiệp thế

 

Thập nhị nhân duyên diệt = tiến trình tâm siêu thế

 

Vậy thế nào là Thập nhị nhân duyên diệt?

 

Giả sử chúng ta đang ngồi đây hay đi lui đi tới như thế này trong tình trạng hoàn toàn tỉnh thức, hoàn toàn sáng suốt, không mê muội, biết rõ thân tâm và hoàn toàn an tĩnh, nghĩa là không bị vô minh và hành chi phối. Nếu bây giờ có một đối tượng khởi sinh, chẳng hạn như tai nghe một âm thanh hay mắt thấy một hình sắc, nhờ ở trong trình trạng tự chủ, ổn định (tịnh) và sáng suốt, tỉnh thức (minh) nên thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ đều được soi sáng trong định tuệ. Khi cảm giác và tri giác trong sáng, chính xác, không bị ảo giác, ảo tưởng xen vào thì hành động sẽ không bị chi phối bởi ái, thủ, hữu nữa, và vì vậy sẽ không còn nhân tạo tác sinh-lão-tử trong tương lai. Nghĩa là sinh tử chấm dứt.

 

Vậy Thập nhị nhân duyên diệt vừa có nghĩa là chấm dứt vòng luân hồi sinh tử trong tam giới, mà cũng có nghĩa là chấm dứt sinh tử luân hồi ngay khi sự sống đang vận hành, vì luân hồi sinh tử chỉ là ảo ảnh đối với sự sống đích thực. Nói cho dễ hiểu là ngay khi chúng ta đang nói năng, hành động, suy nghĩ mà vẫn sáng suốt, định tỉnh, trong lành một cách hoàn toàn thì chúng ta đang thoát khỏi sự trói buộc của vòng sinh tử vô minh ái dục.

 

 

 

_____________________
 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Ba 201910:10 SA(Xem: 41)
Buông là thái độ để yên mọi sự mọi vật như nó đang là và chỉ thấy nó như nó đang là thôi chứ không cho là, phải là, sẽ là gì cả. Nếu là thật sự buông thì tánh biết rỗng lặng trong sáng sẽ thấy pháp một cách hoàn hảo, và tánh biết tự nhiên sẽ tự biết lúc nào nên thả lỏng, lúc nào nên dụng công, mà không cần bản ngã xen vào phân vân tính toán.
19 Tháng Ba 20191:51 CH(Xem: 42)
Sống tùy duyên thuận pháp vô ngã vị tha chính là đang thể hiện lý trong sự. Đó là quá trình điều chỉnh nhận thức và hành vi không ngừng. Sự điều chỉnh này không nhằm hướng đến tương lai mà chỉ cốt trọn vẹn (trung chính) trong từng “thời vị” - tại đây và bây giờ. Sự trọn vẹn với thực tại trong từng giây phút chính là sự hoàn hảo của tương lai.
18 Tháng Ba 20198:57 SA(Xem: 67)
Con đã ly hôn nhưng chồng cũ của con luôn quấy rầy, luôn gây áp lực cho con. Con giải thích thế nào cũng không chịu nghe, thường nói xấu con trước con cái để con cái suy nghĩ và buồn bã. Con sợ sẽ ảnh hưởng đến tâm lý con cái của con. Con luôn phải nhịn và không dám phản ứng gì. Khi con có người yêu khác thì chồng cũ lại quậy phá,
17 Tháng Ba 20198:26 SA(Xem: 61)
Từ khi còn bé con đã là một Phật tử, nhưng con ít thích đọc kinh sách, với con đơn giản là đến chùa làm phước thì thấy lòng mình vui và thanh thản. Nhưng từ khi ba con mất, con đi tìm hiểu về thế giới tâm linh với niềm khao khát mãnh liệt là được gặp lại ba một lần nữa, được nghe tiếng nói hoặc biết nguyện vọng của ba mình,
16 Tháng Ba 20198:40 CH(Xem: 56)
Tuy mới gặp gỡ để nghe Thầy giảng Pháp có hai buổi ở Melbourne, nhưng đối với con đây là một phước duyên quá lớn trong đời này. Vì con hiểu được những Pháp Thầy đã truyền trao và chỉ có một đường duy nhất để con đi trong suốt thời gian còn lại của kiếp người. Đó là y giáo phụng hành! Tùy duyên, thuận Pháp, vô ngã, vị tha.
15 Tháng Ba 201911:22 CH(Xem: 65)
Con đã giới thiệu trang web của Thầy cho anh, không biết anh đã đọc tới đâu và có nhận ra được điều gì không. Bản ngã và sở đắc hiện nay chính là trở ngại lớn nhất của anh nhưng bản thân anh không hề hay biết. Tuy nhiên pháp thiền của anh cũng không phải là vô ích, anh vừa mới trải qua một cuộc phẫu thuật ghép thận rất đau đớn.
14 Tháng Ba 20198:30 CH(Xem: 70)
Bây giờ con lại đang có một vấn đề cần sự chỉ bảo của Thầy ạ. Từ sau khi được Thầy chỉ dẫn, con đã tìm và đã đọc gần hết số sách Thầy giới thiệu, cùng với các Hỏi Đáp mới nhất, trừ cuốn Niết Bàn con không tìm thấy. Nhờ đó mà bây giờ kiến thức về Phật Pháp của con đã vững hơn trước rất nhiều, nhưng hình như “cảnh giới” của con
13 Tháng Ba 20192:14 CH(Xem: 77)
Câu chuyện của con dài lê thê, có viết hàng nghìn chữ cũng không đủ, nếu muốn dùng ngôn ngữ và tâm tham cầu, bám víu, si mê để bộc lộ. Vì vậy, con sẽ không thể kể, con biết, đó là phần việc mà con phải tự làm, phải tự trải nghiệm đơn độc và nhận ra bài học cho mình. Giờ đây con xin thầy lời chỉ dạy về "đạo" mà con chưa được sáng tỏ:
12 Tháng Ba 20199:38 CH(Xem: 67)
Có thể con trình bày vấn đề hơi rối nhưng hiện nay nhàm chán, thời gian rỗi, làm việc một mình, suy nghĩ viển vông và việc giảm quyết tâm, kiên nhẫn ... có liên quan với nhau và thành một cụm vấn đề (hay bài học) của con trong giai đoạn này. Thực ra nó cũng giúp con hiểu được tính chất bất toại nguyện của sự vật cũng như sự vô ích
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 184)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
10 Tháng Ba 20197:26 SA(Xem: 76)
Ý thầy nói là đừng phân chia bạn đời hay bạn đạo, vì dù đời hay đạo thì cũng có người tốt người xấu. Con nói do nghiệp tức là đã công nhận nghiệp xấu, nghiệp tốt, nghiệp đúng, nghiệp sai, nghiệp thiện, nghiệp ác rồi, phải không? Nhưng nếu con cứ đổ cho nghiệp thì sao phải "chọn bạn mà chơi", "gần mực thì đen gần đèn thì sáng",
09 Tháng Ba 201910:43 SA(Xem: 86)
Sau buổi học pháp lần đầu tiên, ngày CN 27/03/11 vừa rồi, con đã nhận ra rằng 10 năm nay con chẳng có tu gì cả, một đống tật xấu vẫn còn nguyên, ngồi thiền nhiều để được chút phước hơn là ở ngoài đời thôi. Con cảm thấy tủi thân quá Thầy ạ (nói đến đây con không cầm được nước mắt)! Thầy thế độ xuất gia của con là một vị Tăng
08 Tháng Ba 201910:05 SA(Xem: 109)
Có trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay ho gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính khái niệm ngôn từ đã có sẵn
07 Tháng Ba 20194:16 CH(Xem: 100)
Hỏi: Thưa Sư ông cho con hỏi, con đọc trong sách có câu "Hạnh phúc không phải là đích tới mà chính là con đường". Kính xin sư ông dạy thêm ạ! - Đúng vậy, nếu hạnh phúc ở cuối con đường thì bao lâu chưa đến đó hạnh phúc vẫn còn trong mơ tưởng, vậy từ đây đến đó chẳng lẽ chỉ toàn đau khổ thôi sao? Rồi khi đạt đến mục đích chắc gì đó là hạnh phúc
06 Tháng Ba 20198:36 CH(Xem: 103)
- Tánh không vừa là thái độ tâm rỗng lặng, không tạo tác, tự nhiên vô vi; vừa là bản chất của tất cả pháp dù đó là pháp tướng sinh diệt hay pháp tánh bất sinh. - Tánh không của tâm là rỗng lặng (santabhāva). Tánh không của pháp là tự nhiên (sabhāva). Do đó khi tâm rỗng lặng thì thấy pháp tự nhiên.
05 Tháng Ba 20192:32 CH(Xem: 119)
Con xin hỏi thêm thầy cho rõ hơn về vấn đề hữu vi - vô vi, chấp có - chấp không. Như con đã trình bày qua với thầy, con bắt đầu vào Đạo từ không môn (Lão Tử, Bát-nhã và Thiền đốn ngộ). Con nghĩ khá nhiều Phật tử Việt Nam cũng bắt đầu tiếp xúc với đạo Phật theo cách thức này do sự phổ biến các kinh sách của Thiền Tông và văn hệ Bát-nhã.
04 Tháng Ba 20191:02 CH(Xem: 114)
Con tên Đông, 51 tuổi, có vợ và hai con trai. Gia đình theo Phật giáo Nguyên thủy từ đời bố mẹ. Bản thân con cũng thực hành thiền Nguyên thủy theo cách tự học qua sách vở hay kinh điển. Con đã đọc sách của Thầy viết, nghe các bài Pháp thoại của Thầy giảng giải. Qua đó con nhận thấy kiến thức của Thầy thật uyên bác
03 Tháng Ba 20196:38 CH(Xem: 126)
...Kính thưa Thầy, khi chưa được học với Thầy mà chỉ nghe Thầy giảng trên Pháp Thoại ở trang web trungtamhotong.org thôi, đối với con những điều Thầy giảng thật hay thật hợp lý nhưng để thực tập quả là một điều hơi xa vời với con Thầy ạ. Nhưng đến khi gặp Thầy rồi con mới thấy thiền sao mà đơn giản và nhẹ nhàng đến vậy.
02 Tháng Ba 20191:43 CH(Xem: 93)
Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên và văn hóa gia đình cho rằng: học là con đường duy nhất để thành công và tiến thân. Quan điểm này đôi khi “bóp nghẹt tài năng của đứa trẻ” vì mỗi đứa trẻ luôn khác nhau, chúng có những nét đẹp riêng biệt, khả năng nổi trội cũng do bẩm sinh và môi trường của từng em mà khác nhau.
01 Tháng Ba 20199:59 CH(Xem: 112)
Hóa ra con được sinh ra trong cuộc đời này không phải để thành công, cũng không để làm điều gì to tát, mà là cơ hội để con trải nghiệm và học hỏi những chân lý đời thường như tình cảm cha mẹ - con cái, tình thương vợ - chồng, anh - em, bạn bè,... thông qua những khó khăn, khốn khổ, bệnh tật, mâu thuẫn, hiểu lầm, ganh tị...
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 514)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1428)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2270)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1069)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 1036)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 3121)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 184)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 553)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 672)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 3970)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 330)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 333)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,