Tiểu Sử Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw

15 Tháng Mười 20177:17 SA(Xem: 8128)
Tiểu Sử Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw
 
PaAukSayadaw_2B
 

Tiểu Sử Ngài Đại Trưởng Lão
Pa-Auk Tawya Sayadaw
Tổng hợp: Đàm Đức Anh
Nguồn: spunno.wordpress.com
 
___________________

 

 

Một thông tin vô cùng hoan hỉ, cho thấy duyên may và phước báu lớn lao của các Phật tửhành giả Việt Nam: sau nhiều lần được thỉnh mời, Bậc Đại Thiền Sư Cao Thượng, Ngài Đại Trưởng Lão, Pa-Auk Tawya Sayadaw, Tôn Giả Āciṇṇa đã nhận lời đến thăm và chọn Việt Nam là điểm đến đầu tiên trong hành trình hoằng dương Chánh Pháp tại châu Á năm 2014. Từ ngày 25/4 đến ngày 30/4, Ngài sẽ đến Hà Nội và thăm viếng một số ngôi chùa tại miền Bắc như Chùa Sùng Phúc, Chùa Linh Thông, Chùa Bằng A, Chùa Kh’leang, Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, với sự cung nghinh của chư tôn giáo phẩm, chư tôn đức Tăng, chư Ni và đông đảo Phật tử. Từ ngày 30/4 đến ngày 5/5, Ngài sẽ nghỉ ngơi tại Đà Lạt, gặp gỡ Phật tử và các hành giả trước khi bay đi Jakarta, Indonesia để tiếp tục hành trình hoằng pháp. Nhân dịp này, chúng tôi xin được trân trọng giới thiệu đến quý vị và các bạn Tiểu sử của Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw.

 

TIỂU SỬ BẬC ĐẠI THIỀN SƯ CAO THƯỢNG, NGÀI ĐẠI TRƯỞNG LÃO PA-AUK TAWYA SAYADAW, TÔN GIẢ ĀCIṆṆA

 

Bậc Đại Thiền Sư Cao Thượng, Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw, Tôn Giả Āciṇṇa được nhiều người biết đến với danh hiệu là “Tôn Giả Pa-Auk Tawya Sayadaw” (và trong các trường hợp ít nghi thức hơn thì gọi là “Pa-Auk Sayadaw”). “Sayadaw” trong tiếng Miến là một danh xưng để bày tỏ đối với những vị thầy đức hạnh, đáng tôn kính, đáng trọng vọng. Ngài là Viện chủ của Thiền lâm Pa-Auk, một hệ thống gồm những trung tâm thiền có quy mô lớn vào bậc nhất Myanmar. Thiền lâm Pa Auk có hơn 26 thiền viện chi nhánh trong cả nước Myanamar và khoảng 10 chi nhánh trên toàn thế giới. Tại hệ thống thiền viện này, Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw chủ trương một đạo lộ tu tập Giới – Định – Tuệ theo thứ lớp, dựa trên những chỉ dẫn rất chi tiết của Đức Phật Gotama trong Tam Tạng Thánh Điển Pāli và Bộ Chú Giải. Đạo lộ này lấy Giới làm nền tảng vững chắc ban đầu, thiền Định được tu tập và phát triển để sử dụng làm công cụ cơ bản hỗ trợ cho việc thực hành thiền Tuệ (Vipassanā) chân chính, giúp hành giả thể nhập và thấy được các đặc tính vô thường, khổ, vô ngã của danh sắc chân đế và phát sinh Trí Tuệ. Hành giả sẽ lần lượt trải qua bảy giai đoạn thanh tịnh để đi đến sự giác ngộthấu triệt chân lý Tứ Thánh Đế.

 

THỜI THƠ ẤUXUẤT GIA LÀM SA-DI

 

Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw có thế danh là Aung Than, sinh năm 1934 ở làng Leik-Kyaung, thuộc thị xã Hin-Tha-ta (Haṇsāta), vùng châu thổ cách thủ đô Yangon khoảng 100 dặm về phía tây bắc. Song thân là ông U Pyu và bà Daw Soe Tin, cả hai đều là người Miến. Ngài là con thứ tư trong gia đình năm anh chị em. Có điều kỳ lạ là sau khi Ngài chào đời, cha mẹ Ngài làm ăn ngày một khấm khá hơn. Tuy không quá giàu có, nhưng cả gia đình có một cuộc sống tương đối an cư lạc nghiệp. Thuở thiếu thời, Aung Than vốn là người trầm lặng, ít nói, không làm phiền đến ai. Không chỉ vậy, cậu còn lễ phép với người lớn, và hiếu thảo đối với cha mẹ. Lúc lên sáu tuổi, Aung Than được bậc song thân gửi vào chùa làng học với Ngài Salin Sayadaw, Tôn Giả Soṇa.

 

Aung Than rất vui thích khi được ở trong tu viện, và chẳng nghĩ đến việc trở về nhà nữa. Khác với các cậu bé khác ở trong chùa, Aung Than không tụng đọc inh ỏi trong khi học bài mà chỉ xem qua chốc lát là thuộc nằm lòng. Vì thế cậu được Tôn Giả Soṇa và chư tăng trong chùa hết lòng yêu mến. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”; vì ở trong chùa gần Phật cạnh Tăng, bồ đề tâm của cậu bé thiếu nhi hội đủ nhân duyên để nảy mầm, lòng cung kínhđức tin trong sáng đối với Tam Bảo ngày một tăng trưởng. Aung Than muốn xuất gia trở thành sa-di (sāmanera) để học hành Phật Pháp và kết quả là vào năm 1944, cậu đã hoàn thành tâm nguyện của mình. Pháp danh của chú tân sa-di là Āciṇṇa. Thầy tế độ chính là Ngài trụ trì, Tôn Giả Soṇa. Đối với sa-di Āciṇṇa, việc xuất gia đầu Phật là sống suốt đời trong Giáo pháp của Đức Từ Phụ, và phải xa cách cha mẹ cũng như những người thân. Trong suốt thập niên tiếp theo, vị tân sa-di miệt mài học Pháp, trau dồi Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi (bao gồm Tạng Luật (Vinayapiṭaka), Tạng Kinh (Suttantapiṭaka), Tạng Thắng Pháp (Abhidhammapiṭaka)) dưới sự chỉ dạy của nhiều bậc thầy khác nhau. Āciṇṇa đã đậu ba kỳ thi về ngôn ngữ Pāḷi trong khi vẫn còn là một sa-di.

 

NGHIÊN TẦM GIÁO PHÁP VÀ THỌ ĐẠI GIỚI

 

Vào năm 1954, sa-di Āciṇṇa vừa tròn 20 tuổi nên được cho phép thọ Đại giới tại Phật Học Viện Ye Kyi mới ở thị xã Hin-Tha-Ta do Ngài Tăng trưởng của phái Ye Kyi, Tôn Giả Pañña, làm thầy tế độ. Vị tân tỳ-kheo tiếp tục nghiên cứu Thánh Điển Pāḷi dưới sự hướng dẫn của các bậc danh tăng thạc đức.

 

Sau đó, Đại Đức Āciṇṇa trở lại Mandalay, trú tại Phật Học Viện Myin Wun ở thị xã Taung Pyin để tiếp tục theo học Pháp học với Ngài Viện Trưởng của Phật học viện Myin Wun, Tôn Giả Ukkaṃsa, Ngài Viện Trưởng của Phật Học Viện Thi-lin, Tôn Giả Suriya và Giáo Thọ Sư, Tôn Giả Paññānanda. Ngài cũng thọ giáo Ngài Viện Trưởng của Phật Học Viện Pha-ya-kyi, Tôn Giả Ariya, cũng như với hai giáo thọ sưTôn Giả Ukkaṃsa và Tôn Giả Kumāra.

 

Với tâm tầm cầu Giáo Pháp (Dhamma) dũng mãnh, Đại Đức Āciṇṇa miệt mài học hỏinghiên cứu Tam Tạng kinh điển Pāḷi. Vốn có trí nhớ sắc bén và nghiên cứu Phật học sâu rộng, nên những gì mà Đại Đức đã học được cho đến bây giờ vẫn không quên. Đại Đức cũng rất thông thạo văn chương Pāḷi.

 

Đặc biệt, sau khi nghiên cứu kỹ Tạng Luật, Đại Đức đã sống và thực hành nghiêm cẩn, đúng theo Giới Luật, không một mảy may khinh xuất. Sau thời gian ẩn tu cũng vậy, Đại Đức có thể học thuộc lòng một cuốn Luật trong vòng một tháng. Tuy nhiênnỗ lực trau dồi Pháp hành và chỉ ăn ngày một bữa, nên không thể dành thời gian và sức khoẻ để ôn lại những gì đã học, và Đại Đức cảm thấy khó khăn trong việc tụng lại cuốn thứ nhất sau khi mình đã học xong cuốn thứ hai.

 

Một lần, Đại Đức khiêm tốn nói với một soạn giả rằng: “Trí nhớ của sư không thể so sánh với trí nhớ của Ngài Đệ Nhất Tam Tạng, Tôn Giả Vicittasāra1 được. Ngài Tam Tạng Pháp Sư có thể nhớ nằm lòng một đoạn Pāḷi sau khi đọc qua ba lần; và mỗi khi thuộc nằm lòng rồi, Ngài vẫn còn nhớ trong vòng 21 ngày mà không cần phải ôn tụng lại”.

 

Đại Đức Āciṇṇa không những thông thạo Tạng Luật mà còn sống và hành theo Giới Luật nữa. Vì vậy ở thị xã Mu-don thuộc Mawlamyine, Đại Đức được biết đến như là một luật sư đương đại.

 

Năm 1956, vào lúc 22 tuổi, Đại Đức thi đậu bằng Dhammācariya danh tiếng, tương đương với bằng Cử nhân Phật Học Pāḷi và được tấn phong danh hiệu “Pháp Sư”. Năm 1957, Đại Đức đến Đại Phật Học Viện Ka-Ba-Aye tại Yangon để học thêm cả nội điểnngoại điển suốt năm năm. Trong thời gian học tại đây, Đại Đức được học thêm Anh ngữ và các môn học khác để hổ trợ cho việc truyền bá Phật Pháp dưới sự hướng dẫn của Trưởng Ban Cố Vấn Tôn Giáo Chính Phủ, ông Phe Aun, ông Hla Maung, và của những vị nắm nhiều chức vụ quan trọng khác như ông Sao Htun Hma Win, ông Han The, ông San Myint Aung và ông Thein Aung.

 

Để được nhận vào Đại Phật Học Viện, Đại Đức Āciṇṇa phải qua kỳ thi tuyển. Sau khi trúng tuyển, Đại Đức tiếp tục thi bằng Diploma và đã đậu không có gì khó khăn. Sau mấy năm học, Đại Đức chuẩn bị bài vở để thi tốt nghiệp Cử nhân. Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 1962, các trường đại học bị đóng cửa, nên Đại Đức đã không hoàn tất khoá Cử nhân.

 

ẨN TU TRONG RỪNG VÀ HÀNH PHÁP

 

Trong những năm tiếp theo, Đại Đức Āciṇṇa vân du khắp nước Myanmar để tiếp tục nghiên tầm Giáo Pháp và thọ học Pháp bảo từ các bậc danh sư khác nhau.

 

Đại Đức Āciṇṇa đến Trung tâm thiền Mahāsi tại Yangon vào năm 1963 để cầu học phương pháp thực hành thiền với Ngài Mahāsi Sayadaw và Ngài U Paṇḍitābhivaṃsa trong suốt 55 ngày. Vốn có ba-la-mật trong Pháp hành, Đại Đức đã đắc được các tầng tuệ căn bản của thiền Tuệ được dạy ở đây chỉ trong vòng một tháng. Tuy nhiên, vì muốn biết rõ phương pháp thực hành một cách trọn vẹn, Đại Đức đã thực hành đến 55 ngày. Với kiến thức Pháp học và Pháp hành đã khá vững vàng, Đại Đức Āciṇṇa đi đến ngọn núi Mya-Tha-Peit ở gần núi Taung-Zun Kelāsa tại thị trấn Tha-Hton thuộc tiểu bang Mon để ẩn tu một mình và hành thiền tại đó.

 

Sau đó một thời gian, Đại Đức tiếp tục tìm học các phương pháp thực hành khác và đã đến nương tựa học với Ngài Than-Lyin Taw-Ya Sayadaw trong sáu tháng rưỡi, và vào năm 1965 với Ngài Shwe-Thein Taw-Ya Sayadaw tại thị trấn Kinnī trong ba tháng rưỡi.

 

Dù lúc bấy giờ Đại Đức Āciṇṇa tầm học và đã đạt được những chỉ dẫn từ các vị thiền sư tôn kính thời bấy giờ, nhưng do có thói quen so sánh Pháp học với Pháp hành, Đại Đức đã đối chiếu, khảo sát và không thỏa mãn với phương pháp thực hành đã được học trước đó nên lần này Đại Đức quyết định vào rừng ẩn tu. Và Đại Đức tiếp tục nghiên cứu, thực hành thiền dựa theo Kinh Điển Pāḷi và bộ Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo).

 

Trước đó từ lâu, Đại Đức Āciṇṇa có tâm nguyện rằng: “Sau khi thọ đại giới 10 năm, mình sẽ vào rừng ẩn tu”. Khi chương trình Cử nhân Phật học bị gián đoạn cũng là lúc Đại Đức gần được 10 hạ lạp. Bắt đầu từ năm 1964, vào mùa an cư mùa mưa (vassa) thứ 10, Đại Đức Āciṇṇa đã khởi phát tâm hành thiền mãnh liệt và bắt đầu thực hành “Hạnh đầu đà ngụ trong rừng” ở nhiều khu vực khác nhau phía Nam Myanmar trong hơn 16 năm tiếp theo.

 

Trong thời gian tu tập Pháp hành, Đại Đức Āciṇṇa di chuyển nhiều nơi để chọn trú xứ thích hợp. Đại Đức cư ngụ tại dãy núi gần núi Nemindara thuộc thị xã Tha-Hton trong một năm, tại trung tâm thiền Kyauk-Ta-Lon Cittasukha Taw-Ya thuộc thị xã Mu-Don trong ba năm, và tại Trung tâm thiền A-Xin Taw-Ya gần thôn A-Xin thuộc thị xã Ye trong 13 năm. Đại Đức vẫn duy trì vừa học Thánh Điển, vừa tu tập thiền Định, thiền Tuệ hết sức tinh chuyên và sống một đời sống vô cùng giản đơn. Suốt thời gian này, Đại Đức Āciṇṇa chỉ ở một mình, không cộng trú với các đồng môn khác, và hoàn toàn ngừng mọi mối quan hệ với gia đình và người thân.

 

Cũng trong thời gian này, vì ăn một ngày một bữa và ăn rất ít nên Đại Đức Āciṇṇa mắc phải bệnh loét dạ dày và bệnh sốt rét. Một lần, tại Trung tâm thiền A-Xin Taw-Ya, Đại Đức bị bệnh dạ dày hành hạ không đi khất thực được mà chỉ nằm nghỉ trong một cốc nhỏ và không cho các vị đồng phạm hạnh trong chùa biết, vì sợ ảnh hưởng đến việc hành thiền của họ. Khi các vị ấy biết Đại Đức bị bệnh và đến thăm, Đại Đức mới cho họ biết sự thật về bệnh trạng của mình. Vì bệnh dạ dày nên Đại Đức đã nhập viện tại Bệnh viện Mawlamyine để chữa trị qua một cuộc phẫu thuật. Đại Đức cũng đi Yangon để chữa trị với các bác sĩ chuyên khoa khác. Đối với bệnh tật, Ngài quán xét : “Phải chăng chúng là quả của nghiệp trong quá khứ?”; nghĩ vậy, Đại Đức chấp nhận sống với chúng và lạc quan trong trách phận của một tỳ-kheo đệ tử Phật đó là bổn phận học Pháp (Gantha-dhura) và bổn phận hành Pháp (Vipassanā-dhura), không một chút dễ duôi.

 

TRỞ THÀNH VIỆN CHỦ CỦA THIỀN LÂM PA-AUK

 

Trong những năm đó, Đại Đức Āciṇṇa tu tập các pháp hạnh đầu đà như hạnh mặc y được may từ giẻ rách bị vứt bỏ (paṃsukūla-cīvara), hạnh chỉ mặc tam y, hạnh sống dưới gốc cây v.v… sống đời sống sơn tăng giản dị và thoả thích trong thiền tập. Vốn quen biết với Ngài Viện chủ đời thứ hai của Trung tâm thiền Pa-Auk, Tôn Giả Aggapañña, tại Trung tâm thiền Kyauk-Ta-Lon suốt 3 năm, nên Đại Đức Āciṇṇa được Ngài Aggapañña biết đến và rất ngưỡng mộ khả năng của Đại Đức về cả Pháp học lẫn Pháp hành. Vào tháng 7 năm 1981, Tôn Giả Aggapañña lâm trọng bệnh và sắp xả bỏ báo thân nên thỉnh cầu Đại Đức Āciṇṇa tiếp tục thay Ngài điều hành Thiền viện. Thật lòng, Đại Đức Āciṇṇa không muốn nhận lời, vì sợ công việc của một viện chủ sẽ ảnh hưởng đến việc tu tập Pháp hành. Nhưng để Ngài Aggapañña được an lạc lúc lâm chung, Đại Đức đành phải nhận lời thỉnh cầu này.

 

Trở thành Viện Chủ đời thứ ba của Thiền viện Pa-Auk, Tôn Giả Āciṇṇa được biết với tôn hiệu là Ngài “Pa-Auk Tawya Sayadaw”. Khi đến Thiền lâm Pa-Auk, Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw trình bày cho Ban Hộ Tự biết lý do Ngài nhận lãnh trọng trách điều hành trung tâm, và cũng cho họ biết rằng, Ngài chỉ cố gắng điều hành trong một thời gian ngắn mà thôi và Ban Hộ Tự có thể tìm một vị đại đức khác vừa ý để đảm trách công việc trong Thiền viện. Lại nữa, quen sống nơi núi rừng thanh vắng, nên Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw không ở trong Trung tâm thiền mà tự mình đi tìm một nơi khác thanh tịnh hơn. Cuối cùng, Ngài phát hiện một khu vườn xoài và sầu riêng ở giữa hai quả đồi cách trung tâm thiền khoảng một cây số rưỡi về hướng Đông. Thấy thích hợp, Ngài xin phép chủ vườn và nhờ người cất một cái cốc nhỏ bằng tre nứa ở đó. Ngoài thời gian đi khất thực và độ trai, Ngài chỉ ở trong cốc để tu tập.

 

Đối với Ban Hộ Tự, họ không muốn Tôn Giả Āciṇṇa phải đi nơi khác, vì Ngài là người được chọn bởi vị thầy thiền viện chủ đời thứ hai khả kính của họ. Vả lại, họ dần dần hiểu được tài đức và Giới – Định – Tuệ của Ngài, nên càng thêm kính trọng Ngài hơn. Kết quả là họ không đi tìm một người khác để kế nhiệm mà chỉ một lòng thỉnh cầu Tôn Giả Āciṇṇa thường trú tại trung tâm. Dù vẫn trông coi hoạt động của thiền viện, Pa-Auk Tawya Sayadaw vẫn dành nhiều thời gian độc cư, hành thiền trong cốc tre ở đỉnh đồi của khu rừng vốn bao phủ một vùng đồi hoang vắng chạy dọc chân rặng núi Taung Nyo. Khu vực đó, sau này, trở thành Thiền Viện Khu Thượng.

 

Kể từ khi Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw trở thành Viện Chủ, hệ thống thiền lâm Pa-Auk đã phát triển rất vững chắc và mạnh mẽ nhờ tu tập trên một đạo lộ nhất quán, dựa trên những chỉ dẫn rất chi tiết của Đức Phật Gotama trong Tam Tạng Thánh Điển Pāli và Bộ Chú Giải. Đạo lộ được tu tập dựa trên bộ ba gồm Giới (Sīla), phát triển Định (Samādhi), coi đây là nền tảng để thực hành thiền Minh Sát, giúp phát sinh Trí Tuệ (Paññā). Lộ trình này cũng được chia làm bảy giai đoạn thanh tịnh, cung cấp những chỉ dẫn tỉ mỉ để một hành giả, dưới sự hướng dẫn của một vị thầy thiện xảo, có thể thanh lọc thân (thân nghiệp), khẩu, ý, và cuối cùng là tận diệt các phiền nãochứng ngộ Niết-bàn ngay trong kiếp sống này.

 

ĐỨC HẠNHDANH TIẾNG VANG XA

 

Từ năm 1983, cả những hàng tăng sĩ lẫn cư sĩ đều tìm đến học thiền với Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw. Thiền sinh ngoại quốc bắt đầu đến thiền viện vào đầu những năm 1990. Khi danh tiếng của Ngài vang xa và thiền sinh đến ngày càng đông, Thiền Viện Khu Thượng dành cho nam giới dần được mở rộng từ một cái cốc đơn giản và một ít đệ tử thành hơn 360 cốc nằm trong rừng; một tòa thiền đường hai tầng và một thư viện (với văn phòng, phòng vi tính, và tăng xá ); một trạm xá; một sảnh đi bát khất thực; một nhà ăn có hai tầng lầu; và một sảnh tiếp khách và trú ngụ cho Ngài Sayadaw. Thiền Viện Khu Hạ dành cho nữ giới, cơ sở vật chất gồm hơn 180 cốc, một nhà bếp mới, một thiền đường ba tầng lầu, và một khu nhà tập thể năm tầng lầu.

 

Tính đến thời điểm tháng 5/2010, trong dịp khóa thiền tích cực 6 tháng do Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw chủ trì, có gần 2.000 vị tăng, tu nữ và thiền sinh cư sỹ cả người Myanmar và ngoại quốc tu tập tại Rừng Thiền Pa-Auk. Riêng thiền sinh người Việt Nam có gần 80 vị. Ngày thường, số thiền sinh Tăng, Ni, cư sĩ tại Pa Auk khoảng 1.000 người. Trong đó có khoảng 300 người nước ngoài đến từ 25 quốc gia khác nhau.

 

Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw nói lưu loát tiếng Anh và đã mở các khóa thiền quốc tế cũng như thuyết Pháp từ năm 1997 tại nhiều nước trên thế giới. Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ mà Ngài từng đến hoằng pháp gồm có Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Đức, Trung Quốc, Sri Lanka, Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Malaysia và Indonesia. Vào tháng 12 năm 2006, Ngài đến Sri Lanka để tịnh tu một thời gian và tạm ngừng công việc giảng dạy cho đến năm 2007. Trong những năm gần đây, ngoài việc tích cực hoằng pháp lúc đủ duyên, Ngài còn dành thời gian ẩn tu tại dãy Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) và Hoa Kỳ…

 

Năm 1997, Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw đã xuất bản năm tập sách khổng lồ với tựa đề là “Đạo Lộ Đến Niết-bàn” (Nibbānagāmini Paṭipadā), giải thích chi tiết về lộ trình tu tập thiền Định, thiền Tuệ và được hỗ trợ bằng các trích dẫn phong phú từ Kinh Điển Pāḷi – hiện chỉ có ấn bản tiếng Myanmar và Sinhala (ngôn ngữ chính thức của Sri Lanka). Ngài cũng cho xuất bản một số tập sách khác bằng tiếng Miến, hiện đã được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng như Anh, Trung và Việt.

 

Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw năm nay đã 80 tuổi, sức khỏe không còn tốt như xưa nhưng Ngài vẫn làm việc không ngừng nghỉ để mang đến lợi ích cho hàng tứ chúng. Sau nhiều lần thỉnh mời Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw quang lâm, Việt Nam đã vô cùng vinh dự được Ngài nhận lời và trở thành điểm đến đầu tiên trong hành trình hoằng pháp châu Á năm 2014 của Ngài bao gồm Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Singapore. Chương trình hoằng pháp của Ngài Đại Trưởng Lão và các thông tin khác về đạo lộ tu tập, về thiền viện Pa Auk có thể tham khảo thêm tại:http://www.paaukforestmonastery.org/index.htm

 

Những điều mà chúng ta biết về Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw thật ít ỏi so với những điều mà chúng ta chưa được biết về Ngài. Đức hạnhtrí tuệ của bậc thiền sư lỗi lạc đã vang danh khắp năm châu bốn biển thật không dễ gì thấu hiểu được, nhất là khi ngôn từ có vô vàn hạn chế. Nhóm soạn giả đã cố gắng tóm lược Tiểu sử Ngài Đại Trưởng Lão với ước mong có thể cung cấp vài nét chấm phá trong sự nghiệp vĩ đại của Ngài. Nhưng dù chỉ một phần nhỏ nhoi như vậy cũng làm cho chúng ta vô cùng kính trọng, vô cùng tôn kính cuộc đờisự nghiệp của Pa-Auk Tawya Sayadaw bởi Ngài đã làm việc không ngừng nghỉ để đóng góp vào sự bảo tồnduy trì Giáo Pháp của Đức Phật Gotama cũng như truyền cảm hứng tu tập Tam Vô Lậu Học: Giới – Định – Tuệ mạnh mẽ đến các hàng hậu học. Vào ngày 4/1/1999, với sự ghi nhận sự nghiệp của Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw, Chính phủ Myanmar đã thành kính dâng lên Ngài tôn hiệu Aggamahākammaṭṭhānācariya (Bậc Đại Thiền Sư Cao Thượng), thật xứng đáng với những công hạnh của Ngài.

 

MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NGÀI PA-AUK TAWYA SAYADAW

 

Trong suốt sự nghiệp hướng dẫn thiền tậphoằng pháp của mình, Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw có nhiều tác phẩmgiá trị và gây tiếng vang trên thế giới. Sau đây là những tác phẩm của Ngài đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt và xuất bản:

 

Vận Hành Của Nghiệp

– Biết và Thấy

– Đại Niệm Xứ Tường Giải

Chánh Niệm Hơi thởThiền Tứ Đại

– Cỗ Xe Đại Giác

Vượt Qua Chướng Ngại

– Dây Trói Buộc

Con Đường Độc Nhất Để Chứng Ngộ Niết Bàn

 

Anumodāma! Sādhu, Sādhu, Lành thay!

 

 

* CHÚ THÍCH:

 

1. Bậc Thông Thuộc và Thấu Suốt Tam Tạng đầu tiên tại Miến Điện và cũng là Đáp Sư trong cuộc kết tập Tam Tạng lần VI tại thủ phủ Yangon (Rangoon).

 

* NGUỒN TÀI LIỆU XỬ DỤNG: 

Tiểu sử của Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw được Tỳ kheo Kusalaguṇa (Thiện Đức) chuyển ngữ từ tiếng Miến.

Tiểu sử của Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw tại trang web chính thức của Thiền viện Pa-Auk và trang web của Thiền viện Chi nhánh PATVDH tại Mỹ:

- paaukforestmonastery.org/abbot.htm

- paauktawyausa.org/galleries/our-spiritual-leader-3/

 

 

 

___________________

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2185)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2401)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1976)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1921)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1905)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1884)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2317)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1939)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2015)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2015)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1978)
27 Tháng Mười 2020(Xem: 2001)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 1946)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 1837)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 1793)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 3268)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 1034692)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 3248)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 3218)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 2935)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 2866)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 2330)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 2419)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 1952)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 2077)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 2204)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 2610)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 1900)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 2071)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 2284)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1994)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 2774)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 2692)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3467)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5256)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6916)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 2630)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 2586)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 2389)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 2317)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 7991)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 2090)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 2229)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 5084)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 4070)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng