4) Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

01 Tháng Mười Một 20179:58 CH(Xem: 695)
4) Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
  
HayLaChinhMinh_1A
 
 
Hãy Là Chính Mình
Thích Tâm Hạnh
Nhà xuất bản Phương Đông
Nguồn: thuvienhoasen.org
 
____________________


4) Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

 

 

“Trăm năm tích đức tu hành,

 

Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu”.

 

Núi rừng Yên Tử vẫn sừng sững với những Thánh tích hãy còn đó qua bao biến đổi của cuộc đời. Có lắm người vẫn hằng mong ước lên đến tận chùa Đồng ít nhất một lần mới thỏa chí bình sinh. Gần đây, người tìm về Yên Tử càng đông hơn những năm trước. Về Yên Tử, có phải chúng ta đang tìm về với núi rừng, hay tìm về với hồn thiêng Yên Tử suốt tự ngàn xưa cho mãi đến nay? Hồn thiêng ấy là cái gì đó mà đến nay vẫn còn mờ ảo, chưa được rõ ràng lắm đối với một ít người trong những người đang tìm về chốn Tổ. Tuy mờ ảo, nhưng nó đã in đậm vào lòng người tự thuở nào. Có phải chính đó là năng lực đã thôi thúc mọi người tìm về Yên Tử, tìm về với chốn Tổ non thiêng?

 

Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông - một vị minh quân Việt Nam sau khi làm tròn trách nhiệm của một vị vua đối với nước, Ngài xem ngai vàng như dép rách, quyết chí cầu giác ngộ, xuất gia lên tận núi Yên Tử dốc chí tu hành. Trải thời gian công phu miên mật, Ngài đã ngộ đạo, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm chỉ dạy cho mọi người. Từ đây, dòng Thiền Việt Nam chính thức khai sinh. Dòng Thiền ấy đã sống dậy mạnh mẽ khiến Phật giáo thời bấy giờ trở thành quốc giáo. Núi rừng Yên Tử từ trong im lìm bỗng trở nên sống động và thiêng liêng, thấm đậm vào lòng người. Ngày nay tìm về Yên Tử, có nghĩa là chúng ta đang tìm về với hồn thiêng Yên Tử; tìm về với Thiền phái Trúc Lâm đang sống lại sau ngót mấy trăm năm dài vắng bóng.

 

Mới nghe qua, chắc chúng ta không khỏi ngỡ ngàng khi nói đến Thiền mà còn phân ra là Thiền Ấn Độ, Thiền Nhật Bản, Thiền Trung Hoa, Thiền Việt Nam hay là Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Đúng rồi, Thiền là Thiền. Trên chỗ cứu cánh giác ngộ bản tánh chân thật thì không phân chia là Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản hay Việt Nam. Nhưng về mặt phương tiện giáo hóa thì cần phải khế cơ. Chính vì thế, khi truyền Thiền vào một nước nào, các Thiền sư đã tùy theo phong tục tập quán, tùy thuộc vào căn cơ của chúng sanh ở nước đó mà lập bày phương tiện giáo hóa cho phù hợp để dẫn dắt người học trở về nhận lại bản tâm chân thật nơi chính mỗi người. Từ đó mới có Thiền Ấn Độ, Thiền Nhật Bản, Thiền Trung Hoa hay Thiền Việt Nam… Đây là tinh thần tùy duyên bất biến của đạo Phật. Trên tinh thần đó, cũng tùy vào phong tục tập quán và căn cơ của người Việt Nam, vua Trần Nhân Tông đã sáng lập ra dòng Thiền Việt Nam - Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Trước khi Thiền phái này ra đời, ở Việt Nam đã có các Thiền sư từ Ấn Độ, Trung Hoa… truyền Thiền vào. Nổi bậc đáng kể đến lúc này có ba Thiền phái chính. Phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi do ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi là người Ấn Độ sang Trung Hoa đắc pháp nơi Tam Tổ Tăng Xán. Sau đó, Ngài sang chùa Pháp Vân ở Việt Nam truyền dạy Thiền. Đây là hệ phái Thiền tông đầu tiên truyền sang Việt Nam. Hệ thứ hai do Thiền sư Vô Ngôn Thông truyền vào. Ngài là người Trung Hoa truyền Thiền sang Việt Nam ở chùa Kiến Sơ. Hệ thứ ba là phái Thảo Đường. Trong số những người do vua Lý Thánh Tông bắt được từ Chiêm Thành đem về ban cho bá quan để làm nô bộc, có một người rơi vào làm nô bộc cho một vị Tăng lục. Một hôm vị Tăng lục đi khỏi, người ấy thấy bản Ngữ lục để trên bàn có mấy chỗ sai bèn tự ý chỉnh sửa. Vị Tăng lục đi về thấy thế ngạc nhiên, hỏi ra mới biết là người nô bộc của mình sửa. Ông đem việc ấy tâu lên vua Lý Thánh Tông. Vua cho mời vào Triều rồi đem Kinh Luận và Thiền ra hỏi, người ấy ứng đối lanh lẹ và khế hợp. Vua rất kính phục, truy nguyên ra mới biết đây là Thiền sư Thảo Đường, đệ tử của Thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển ở Trung Quốc thuộc hệ phái Tông Vân Môn. Về sau, đồ chúng nghe danh tiếng của Sư nên tìm đến rất đông. Do đây trở thành Thiền phái thứ ba ở Việt Nam.

 

Đến thời vua Trần Nhân Tông, ba hệ phái Thiền trên vẫn còn truyền bá ở nước ta. Vì phương tiện của mỗi tông phái còn ảnh hưởng các tông phái ở Trung Hoa nên có sự khác biệt. Hơn nữa, phương tiện của mỗi tông phái này vẫn còn mang màu sắc của Trung Hoa, chưa được nhất quán, nên chưa phổ cập được với số đông căn cơ quần chúng Việt Nam. Do đó, sau khi vua Trần Nhân Tông tu hành ngộ đạo, từ chỗ giác ngộ và kinh nghiệm trong công phu tu hành của mình, Ngài vốn là người Việt nên rất cảm thông về phương tiện phù hợp với căn cơ người Việt, nhận thấy sự thống nhất các phái Thiền trên thành một Thiền phái thích hợp để mọi người ứng dụng tu hành dễ đưa đến kết quả là điều cần thiết, Ngài đã đứng ra thành lập hệ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Đây là một Thiền phái Việt Nam đầu tiên ra đời không còn lệ thuộc các hệ phái Trung Hoa, xứng đáng là một hệ phái Thiền Việt Nam chính thống.

 

Sau đời vua Trần Nhân Tông, ngài Pháp Loa kế thừa làm Tổ vị thứ hai. Kế đó là ngài Huyền Quang kế thừa làm Tổ vị thứ ba. Mãi đến thế kỷ XVIII, Thiền sư Hương Hải là vị Thiền sư nối pháp Thiền phái này. Ở những thế kỷ gần đây, có Thiền sư Chân Nguyên, Thiền sư Minh Chánh… đều là những Thiền sư kế thừa dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

 

Nếu ở Ấn Độ, Đức Phật là một vị Hoàng Thái tử đi tu thành Phật thì ở Việt Nam, một ông vua đi tu làm Tổ sáng lập ra Thiền phái Việt Nam. Nếu ở Ấn Độ có ông Duy Ma Cật là một cư sĩ ngộ đạo, ở Trung Hoa có ông Bàng Long Uẩn nói lên lời vô sanh, thì ở Việt Nam có ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng là một người cư sĩ tại gia tu hành thấy đạo rõ ràng, đến bên mé sống chết mà Ngài vẫn làm chủ tự tại. Đây là điều mang lại niềm tin cho tất cả chúng ta; tin rằng, nếu ai quyết chí tu hành, cũng đều có khả năng giác ngộ như nhau không khác.

 

Danh vọng, địa vị, của cải, quyền uy… là cái mà người đời hằng mơ ước. Ở đây, một ông vua ngồi trên ngai vàng, nắm cả sơn hà, làm chủ thiên hạ, đã đạt được tất cả những gì cao quý nhất mà người đời mong muốn. Thế mà Ngài đã giã từ tất cả, vào trong rừng sâu núi thẳm, khổ hạnh tu hành, đạt được giác ngộ, sáng lập ra dòng Thiền Việt Nam; thì cái mà Ngài muốn dựng lập, hẳn phải vượt hơn những cái quý trọng tầm thường của thế gian!

 

Trải thời gian thăng trầm biến đổi của cuộc đời, đã có lúc các Thiền sư phải âm thầm tiếp nối, Thầy trò thầm trao truyền nhau, cũng có lúc dòng Thiền này vắng bóng. Ngày nay, khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là chúng ta làm sống dậy một dòng Thiền Việt Nam chính thống đã truyền bá hưng thạnh một thời; khơi dậy cái trân quý của cha ông chúng ta đã dày công gầy dựng mà con cháu ngày nay gần như quên lãng hay chỉ biết đến một cách chung chung, chưa được thấu triệt.

 

Khi Thiền sư Đạo Viên ẩn tu trên núi Yên Tử, vua Trần Thái Tông có lần trốn triều đình đi xuất gia, lên núi hỏi đạo, chỉ mong làm Phật, không cầu làm gì khác. Ngài Đạo Viên nói:

 

- Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết, đó là Phật thật. Nếu bệ hạ ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài.

 

Vua toan lên núi tìm Phật, Thiền sư Đạo Viên đã khéo chỉ thẳng, trong núi vốn không có Phật, chỉ xoay lại bản tâm, tâm lặng mà hằng biết; đó chính là Phật thật. Quả là một lối chỉ thẳng, vắn tắt mà đầy đủ; thật đầy đủ để chúng ta tu hành suốt cả đời không hết. Nhận thẳng ngay đây, không nhọc nhằn chạy tìm vòng vo vô ích.

 

Từ đó, các vua nhà Trần đều là những ông vua Phật tử, dùng Chánh pháp trị dân. Ngoài việc Triều chính, các Ngài còn để tâm nghiên cứu Phật pháp tu hành.

 

Vua Trần Nhân Tông lúc còn là Thái tử, vua cha là Thánh Tông đã giao cho ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ chỉ dạy Thiền. Một hôm, Thái tử hỏi:

 

- Bổn phận và tông chỉ người tu Thiền là thế nào?

 

Thượng sĩ đáp:

 

- Phản quan tự kỷ bản phận sự, bất tùng tha đắc. (Xoay lại chính mình là phận sự chính, chẳng từ nơi khác mà được).

 

Ngay đó, vua Trần Nhân Tông lãnh hội ý chỉ và ứng dụng tu hành. Trải thời gian công phu, Ngài nhận được đạo lý; sống ngay giữa cõi trần tục mà vẫn vui với đạo nên đã làm Bài Phú Cư Trần Lạc Đạo khi còn là Thái Thượng Hoàng. Đọc một đoạn sau thì chúng ta mới cảm phục sự giác ngộ của Ngài lúc còn là cư sĩ tại gia:

 

Vậy mới hay!

 

Bụt ở trong nhà;

 

Chẳng phải tìm xa.

 

Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt,

 

Đến cốc hay chỉn Bụt là ta…

 

Thì mới biết, Phật ở trong nhà, chẳng phải tìm đâu xa trong núi. Bởi quên gốc nên ta mới chạy đi tìm Phật. Đến khi hay ra thì Phật chính là mình.

 

Quên gốc nên chạy đi tìm Phật bên ngoài, vào núi để tìm Phật, càng đi tìm chỉ là càng cách xa. Xoay trở lại thì Phật vốn là mình. Lời dạy phản quan của ngài Tuệ Trung mà vua Trần Nhân Tông đã thể nhận được thật là cô đọng và xác đáng. Về sau xuất gia tu hành đạt đạo, Ngài lấy đây làm điểm chính yếu để thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Mãi đến thế kỷ thứ XVIII, vẫn còn Thiền sư Hương Hải là người truyền thừa dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Khi trở về Bắc, vua Lê Dụ Tông muốn nghe thuyết pháp để được liễu ngộ nên đến hỏi đạo, Sư khuyên Vua chí tâm lắng nghe cho thấu suốt bài kệ:

 

Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,

 

Thẩm sát tư duy tử tế khan.

 

Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,

 

Tương lai diện thượng đổ Sư nhan.

 

Hằng ngày xoay lại chính nơi mình,

 

Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh.

 

Trong mộng tìm chi người tri thức,

 

Mặt Thầy sẽ thấy trên mặt mình.

 

Ngài khuyên vua xoay lại chính mình xét cho thật kỹ càng, chớ tìm tri thức nào khác trong mộng. Còn tìm tri thức nào khác ngoài mình thì rõ ràng chúng ta vẫn còn đang ở trong mộng. Tỉnh ra mới biết, ngay trên mặt mình, mặt Thầy vẫn hiển hiện đó tự thuở nào, không nhọc phải tìm cầu nơi nào khác.

 

Từ Thiền sư Đạo Viên dạy đạo cho  vua Trần Thái Tông, đến vua Trần Nhân Tông nhận ý chỉ từ ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ tu hành đạt đạo, cho đến Thiền sư Hương Hải dạy đạo cho vua Lê Dụ Tông và trải dài cho đến mãi về sau, Thiền phái Trúc Lâm vẫn một sắc màu phản quan không sai khác; xoay lại nhận ra Phật tại tâm mình, không chạy tìm Phật nơi nào khác. Nếu tinh thần ấy không đúng với chân lý Phật Tổ chỉ dạy, không đáng trân quý, không phù hợp với căn cơ quần chúng người Việt thì vì sao Thiền phái này lại tồn tại một cách có hệ thống, nhất quán và lâu dài đến thế?

 

Đến như những pháp Phật Tổ chỉ dạy xưa kia, chỉ cốt khiến người xoay lại ngay nơi chính mình chứ không phải hướng ra ngoài tìm cầu cái gì huyễn hoặc hay xa vời nơi nào khác.

 

Một nhân duyên lớn Đức Phật xuất hiện ở đời chỉ vì khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Ngộ nhập Phật tri kiến tức là xoay lại, trở về nhận lại bản tâm chân thật nơi chính mỗi người. Đây là điểm chính yếu của Ba Tạng Giáo điển.

 

Khi ngài Thần Quang được Tổ Đạt Ma nhận làm đồ đệ với hiệu là Huệ Khả. Một hôm, Ngài thưa với Tổ Đạt Ma:

 

- Bạch Hòa thượng, tâm con không an, thỉnh Hòa thượng dạy cho con pháp an tâm.

 

Tổ Đạt Ma bảo:

 

- Đem tâm ra ta an cho!

 

Ngài Huệ Khả xoay lại tìm không thấy dấu vết, liền bạch:

 

- Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.

 

Tổ bảo:

 

- Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

 

Ngay đó, ngài Huệ Khả liền nhận ra, biết được đường vào.

 

Tổ Đạt Ma khéo chỉ, ngài Huệ Khả thật thà tin tuyệt đối vào lời dạy của Thầy nên xoay lại tìm tâm, tâm liền mất dạng. “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Quả là một lối khai thị tài tình! Đưa tay vạch thẳng, khiến người bước thẳng vào nhà tự lúc nào chẳng rõ.

 

Sau thời gian công phu, một hôm ngài Huệ Khả thưa:

 

- Bạch Hòa thượng, hiện nay con bặt hết các duyên.

 

Tổ Đạt Ma bảo:

 

- Coi chừng rơi vào không!

 

Ngài thưa:

 

- Rõ ràng thường biết, làm sao không được.

 

Tổ Đạt Ma liền nói:

 

- Ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế.

 

Đây là Tổ Đạt Ma ấn chứng ngài Huệ Khả làm Tổ vị thứ hai kế thừa Thiền tông Trung Hoa.

 

Tổ Huệ Khả xoay lại tìm tâm liền biết lối vào thì ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy phản quan, vua Trần Nhân Tông liền nhận rõ yếu chỉ tu hành.

 

Tổ Huệ Khả “Bặt hết các duyên, rõ ràng thường biết” thì Thiền sư Đạo Viên dạy vua Trần Thái Tông: “Tâm lặng mà biết, đó chính là Phật thật”. Vua Trần Nhân Tông thì: “Niềm lòng vằng vặc, Giác tính quang quang… Vắng vẳng ngàn kia, Dầu lòng dong thả”.

 

Rõ ràng, tuy các Ngài phương tiện uyển chuyển để chỉ dạy cho phù hợp với từng căn cơ chúng sanh thì có khác, nhưng trong đó vẫn ngầm có sự nhất quán chứ không phải tự ý đặt bày khiến có sự mâu thuẫn sai biệt giữa nhau. Vận dụng phương tiện tuy có khác, nhưng mục đích chính yếu chỉ là hướng cho người học đạt đến chỗ giác ngộ rốt ráo tột cùng. Và đến chỗ giác ngộ cuối cùng rồi thì không còn sai khác.

 

Chấp vọng tưởng làm chơn thì bị cuốn theo vọng, trôi lăn chịu khổ trong sanh tử. Xoay trở lại thấy tột là vọng thì vọng tự lìa. Trong vắng bặt mà hằng giác biết, mới hay ra xưa nay trên vọng mà cái giác biết này chưa từng thiếu vắng! Bởi chúng sanh không tự giác biết, một bề theo vọng, bỏ quên chính mình nên luống chịu bao nhiêu thống khổ. Khéo xoay trở lại, tỏ ra rồi thì chốn nào chẳng phải quê nhà?

 

Chỉ có thế mà bàn nói đã khá dong dài, không khỏi khiến người chê trách. Ngay đây, xoay lại xem, cái gì là mình? - Thiền phái Trúc Lâm liền sống lại.

 

 

 

____________________

 

 





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 407)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
18 Tháng Mười Hai 20187:08 SA(Xem: 23)
Thuở ấy, có ba nhóm tỳ-kheo đến yết-kiến Phật, để xin đề-tài quán-chiếu mà thực-tập thiền-định. Nhóm thứ nhứt được dạy về Vô-thường, nhóm thứ hai về Khổ và nhóm thứ ba về Vô-ngã. Họ đi vào rừng vắng, tu-tập một thời-gian. Sau đó, nhiều người chẳng thấy có tiến-bộ, trở về trình Phật. (277)
17 Tháng Mười Hai 201810:41 SA(Xem: 36)
"Nầy chư tỳ-kheo, có nhiều kẻ giữ im-lặng, chỉ vì họ nhút-nhát và ngu-dốt, cũng có kẻ chẳng chịu nói ra để chia-xẻ sự hiểu-biết thâm-sâu của họ với kẻ khác. Như thế, chẳng phải vì im-lặng mà trở thành một bực Mâu-ni. Chỉ xứng danh là bực Mâu-ni, người nào biết im-lặng khi đã hoàn-toàn khắc-phục được mọi điều ác." (269)
16 Tháng Mười Hai 20186:13 SA(Xem: 38)
ông đã làm cỏ, rải cát, rồi sau đó mới cất trạm nầy, để cúng-dường chư Tăng. Đức Phật khen-ngợi: "Nầy Bà-la-môn, công-đức hành thiện của thí-chủ đã được thực-hiện từng bước một, cũng như bực hiền-trí, ngày nầy qua ngày khác, chuyên-tâm lọc-sạch các bợn-nhơ lậu-hoặc từ từ cho đến khi được hoàn-toàn giải-thoát." (239)
15 Tháng Mười Hai 20187:53 SA(Xem: 49)
Chư Tăng rất ngạc-nhiên thấy tại sao vị Bà-la-môn và vợ lại tự nhận họ là cha mẹ của Đức Phật, và nay họ được tái-sanh về cõi nào. Đức Phật bảo: "Trong tiền-kiếp, cách đây một ngàn năm trăm đời, ông bà ấy đã có thời làm cha mẹ ta, đã có thời làm chú bác ta. Họ nay chứng được quả-vị A-la-hán rồi, chẳng còn phải tái-sanh nữa, (225)
14 Tháng Mười Hai 20188:47 SA(Xem: 46)
Đức Phật ân-cần khuyên: "Nầy gia-chủ, cái chết chẳng phải chỉ đến ở một nơi. Mọi chúng-sanh đã sanh ra, tất có ngày phải chết đi; cuộc sống luôn luôn chấm-dứt bằng cái chết. Gia-chủ đừng nghĩ rằng, chỉ có đứa con yêu-dấu của mình mới bị Thần Chết bắt mang đi. Gia-chủ đừng tỏ ra quá ưu-sầu, chán-nản, lo-lắng đến độ đó. (212)
13 Tháng Mười Hai 20187:46 SA(Xem: 50)
Đức Phật bảo chư Tăng: "Nầy chư Tỳ-kheo, những ai kính-trọng và quí-mến Như-Lai, nên bắt chước mà làm theo như Thi-sa. Quí-vị đừng tưởng rằng đem hương hoa đến cho ta là tỏ lòng ngưỡng-mộ ta. Thực-hành đúng theo Chánh-pháp, đến nơi xa vắng nỗ lực Thiền-định theo lời dạy của ta, đó mới thật là biết cách trả ơn ta." (205)
12 Tháng Mười Hai 20186:29 SA(Xem: 51)
Ngài bảo: "Thú-vui vật-chất, tiền-của, quyền-thế, ăn ngon mặc đẹp đó chưa hẳn là hạnh-phước, vì các điều đó giữ ta mãi trong vòng tái-sanh của Luân-hồi khổ-đau lận-đận. Trên thế-gian nầy, hạnh-phước là gặp được Đức Phật ra đời, có được cơ-duyên nghe lời Ngài giảng-dạy về Sự-Thật cao-quí, và sống trong sự hoà-hợp của Tăng-đoàn." (194)
11 Tháng Mười Hai 20186:38 SA(Xem: 55)
Một hồi lâu sau, Tôn-giả A-nan trở vào trong, chẳng trông thấy các vị tỳ-kheo nữa, mới hỏi Đức Phật các vị ấy bây giờ đang ở đâu. Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, các tỳ-kheo đó, sau khi nghe Ta giảng-pháp, đã chứng-đắc được quả-vị A-la-hán, nên họ mới dùng thần-thông phi giữa không-gian mà ra đi." (175)
10 Tháng Mười Hai 20188:26 SA(Xem: 67)
Đến cuối mùa an-cư, cả đoàn quay về chùa Kỳ-viên. Các vị tỳ-kheo trình lên Đức Phật sự thất-bại của họ cùng nguyên-nhơn do đâu mà họ tu-tập chẳng được tấn-bộ. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, người muốn dạy kẻ khác, trước hết phải tự-dạy lấy mình, tự-điều-phục mình, kềm-chế tư-cách mình cho xứng-đáng." (159)
09 Tháng Mười Hai 20185:54 SA(Xem: 74)
Đức Phật liền bảo: "Nhà vua chớ quá ưu-phiền, luyến-tiếc đến Hoàng-hậu. Nầy, Hoàng-thượng hãy nhìn chiếc long-xa kia, khi xưa Vua Cha đã trang-hoàng lộng-lẫy để lại cho Hoàng-thượng, nay nó đã cũ-kỹ, bỏ nằm yên trong góc phòng. Muôn sự-vật, kể cả tấm thân con người, đều theo lẽ vô-thường mà biến-đổi rồi bị hủy-diệt. (151)
08 Tháng Mười Hai 20189:09 SA(Xem: 68)
Bà bạch Phật các lời ước-nguyện của các hạng giới-tử. Đức Phật liền giảng-dạy như sau: "Này tín-nữ Vi-sa-kha, Sanh, Già, Chết là những điều tất-yếu mà mọi chúng-sanh phải trải qua. Hễ đã sanh ra, thì sẽ lớn lên, già-yếu rồi chết đi, tái-sanh lại theo vòng lẩn-quẩn. Phải biết cách tu-tập để khỏi phải trôi lăn mãi trong sáu cõi của Luân-hồi." (135)
07 Tháng Mười Hai 20189:11 SA(Xem: 64)
Nầy Trưởng-giả, tôi là người giữ cửa nhà của ông. Bấy lâu nay, tôi thấy ông chỉ lo việc cúng-dường cho Sa-môn Cồ-đàm mà chẳng liệu-lý đến gia-sản của mình, cho nên ngày nay ông phải sa-sút. Ông nên thôi, đừng cúng-dường, bố-thí nữa, mà hãy chăm lo việc nhà, tôi sẽ giúp ông trở lại cảnh giàu-sang sung-túc như ngày xưa." (120)
06 Tháng Mười Hai 20189:43 SA(Xem: 62)
Kế đó, Đức Phật lại hỏi chàng thanh-niên đang làm nghề gì để sanh-sống. Anh ta đáp, sống về nghề cờ-bạc. Đức Phật lại hỏi tiếp: "Có được khá không?". "Thưa có khi thắng, có khi thua." Đức Phật bảo: "Đánh thắng các con bạc sao cho bằng tự-mình khắc-phục được tất cả các lậu-hoặc trong tâm mình." (105)
05 Tháng Mười Hai 20188:07 SA(Xem: 72)
Lúc bấy giờ, chư Tăng thấy thái-độ đáng kính của Trưởng-lão nên hết lời khen ngợi. Đức Phật nói: "Nầy chư tỳ-kheo, Xá-lợi-phất chẳng còn chút sân-hận và ác-ý trong tâm nữa. Cũng như đất kia, Xá-lợi-phất rất nhẫn-nhục; cũng như trụ đồng kia, Xá-lợi-phất rất vững-chắc; cũng như nước hồ kia lắng sạch bùn-sình, tâm Xá-lợi-phất luôn luôn thanh-tịnh." (095)
04 Tháng Mười Hai 20186:22 SA(Xem: 79)
Thuở ấy, có một người Bà-la-môn ở làng Vệ-lan-già thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến làng ông ta, để qua mùa an-cư kiết-hạ. Khi Đức Phật và chư Tăng đến làng, thì vị Bà-la-môn chẳng thể cung-ứng nhu-cầu thực-phẩm cho Tăng-đoàn nổi, vì lúc ấy làng Vệ-lan-già đang bị nạn đói-kém. Bấy giờ, Đức Phật cùng các tỳ-kheo hằng ngày phải dùng lúa mã-mạch, (083)
03 Tháng Mười Hai 201811:10 SA(Xem: 82)
Thuở ấy, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, một hôm ra khỏi thành đi dạo, gặp một thiếu-phụ trẻ đẹp đang đứng bên cửa sổ trong nhà. Vua trầm-trồ khen ngợi sắc đep của người đàn-bà ấy và trong lòng nổi lên ý-định muốn xâm-chiếm lấy. Nhưng người đàn-bà ấy đã có chồng. Vua liền cho mời hai vợ chồng người thiếu-phụ vào làm việc (060)
02 Tháng Mười Hai 20186:25 SA(Xem: 81)
Lúc bấy giờ, Đức Phật quán-thấy sự tiến-bộ của vị Tỳ-kheo, liền phóng hào-quang, đến bên cạnh, và nói: "Nầy Tỳ-kheo, như ông vừa quán-thấy trong tâm, tấm thân nầy là vô-thường, chẳng có thực-thể, có khác gì ảo-ảnh trên mặt nước kia." Rồi Đức Phật đọc lên bài kệ sau đây; vị Tỳ-kheo chăm-chú nghe, ghi nhận kỹ và chứng được đạo-quả A-la-hán. (046)
01 Tháng Mười Hai 201811:55 SA(Xem: 78)
Khi nhắc đến vị tỳ-kheo nói trên, nhờ sự hỗ-trợ của bà Mã về thực-phẩm, trong thời-gian tu thiền, Đức Phật có đọc lên bài Kệ sau đây: Tâm rất khó cho ta nắm giữ, Nhẹ-nhàng, nhanh-nhẹn, nó bay cao; Rồi đáp xuống chỗ nào nó thích. Hàng-phục được tâm là tuyệt-đích, Chế-ngự tâm thuần, hạnh-phước cao! (Kệ số 035.)
30 Tháng Mười Một 20188:08 SA(Xem: 78)
Vào độ ấy, hai vị tỳ-kheo đó, sau khi được Đức Phật chỉ-dạy cho mỗi người một đề-tài quán-tưởng, liền đi vào rừng sâu, để tỉnh-tu. Một vị tỳ-kheo có tánh phóng-dật, dành phần lớn thời-giờ ngồi sưởi bên đống lửa, tán chuyện gẫu với các vị tỳ-kheo trẻ tuổi khác trong suốt canh đầu của đêm, rồi sau đó nằm lăn ra ngủ. (029)
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1020)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1829)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 407)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2569)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 407)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 329)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1563)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 875)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4078)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".