V004

10. Một mùa xuân hạnh phúc

31 Tháng Giêng 20189:59 CH(Xem: 732)
10. Một mùa xuân hạnh phúc

P1_Buddha1_A(Nguồn Của Hình: Thus Have I Heard)


Xuân Trong Cửa Thiền, Bài 1 - 10, Năm 1974 - 1979
HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thuong-chieu.org

____________________


MỘT MÙA XUÂN HẠNH PHÚC

Hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán, cũng là ngày vía đức Phật Di-lặc. Hàng Phật tử xuất gia và tại gia không quên được ngày quan trọng này. Đối với thế gian, ngày lễ Nguyên Đán là ngày dân chúng mừng năm mới. Đối với Phật pháp, ngày vía đức Phật Di-lặc là ngày rất hoan hỉ của giới xuất gia. Tất cả người tu đều có một nguyện vọng là giác ngộ viên mãn.

Ngày vía đức Phật Di-lặc đúng vào ngày mồng một Tết, ngày đầu của một năm mới, đó là thời gian hi vọng của tất cả chúng ta. Hi vọng điều gì? Hi vọng chúng ta đạt đạo, công phu tu hành đạt kết quả viên mãn. Nhớ đến ngày vía đức Phật Di-lặc, tức là nhớ đến những gì hứa hẹn ở ngày mai của chúng ta. Hứa hẹn không phải là ước nguyện suông, cầu mong hão huyền, mà chúng ta phải làm thế nào để được thọ ký như đức Phật Di-lặc. Cho nên, tới ngày đầu Xuân, hàng Phật tử thường chúc mừng: Chúc quí Thầy quí Cô hưởng một mùa Xuân Di-lặc, Xuân bất diệt, Xuân miên viễn. Lời chúc mừng đó có ý nghĩa gì? Chúng tôi sẽ lần lượt giải thích từng phần những lời chúc mừng ấy.

Trước hết là chúc một mùa Xuân Di-lặc. Hầu hết Tăng Ni cũng như Phật tử đều thấy tượng ngài Di-lặc với hình ảnh quen thuộc nhất là miệng luôn cười, gương mặt luôn vui vẻ. Như vậy chúc một mùa Xuân Di-lặc là chúc một mùa Xuân hoan hỉ, một mùa Xuân hạnh phúc. Hạnh phúc là gì? Là an vui. Mỗi gia đình hay mỗi người, trọn ngày, trọn tháng, trọn năm đều được an vui, đó gọi là hạnh phúc theo nghĩa gần, dễ thấy. Nhưng làm sao để được an vui? An và vui thế nào?

An là tâm không lo không buồn không sợ hãi. Nếu muốn được an, thì niệm vui buồn sợ hãi phải dẹp qua một bên, không lo buồn sợ hãi thì tự nhiên tâm an. Làm sao được vui? Sở dĩ chúng ta không vui là tại giận hờn bực tức. Khi vui thì không giận, khi giận thì không vui. Cho nên muốn được an vui chỉ có cách là không lo buồn, không giận hờn, tự nhiên tâm an vui. Đó là chúng ta hưởng được một mùa Xuân Di-lặc. Nếu không thì, dù là ngày mồng một Tết cũng không thấy Xuân chút nào. Đã lỡ lo sợ buồn giận thì làm sao cho hết? Nói suông không thể hết, nói suông tức là không biết tu.

Trong nhà Phật có dạy nhiều phương pháp để hết lo buồn sợ hải. Ở đây tôi chỉ nói phương pháp gần cho chúng ta ứng dụng. Khi lo buồn sợ hãi, liền đặt câu hỏi: - Cái gì lo? Rồi tự trả lời: - Cái lăng xăng. Khi lo, lo cho ai, lo cho mình, cho gia đình mình, cho chung quanh mình. Mình là cái gì? Mình là thân tứ đại giả hợp v.v... phân chia xét nét như vậy rồi, cái lo mất tiêu, vì nó không thật thì còn gì nữa để mà lo. Cái buồn cái sợ hãi cũng vậy. Phần nhiều chúng ta cứ tưởng tượng rồi sợ, mà không tìm xem sợ là cái gì? Tại sao mình sợ?

Thí dụ khi gặp con rắn chúng ta run lên vì sợ. Thử hỏi cái gì sợ? Khi đặt câu hỏi là đã hơi tỉnh, bớt sợ. Vì sao sợ? Sợ nó cắn mình. Xét cái mình này thật hay không? Xét một hồi thấy mình không thật, tâm lo sợ cũng mất. Cho nên các Tổ ngày xưa, gặp cảnh hãi hùng mà không sợ vì các ngài biết tâm sợ không thật và đối tượng để sợ cũng không thật. Đức Phật khi ngồi dưới cội bồ-đề, có con rồng chín đầu đến trước mặt phun lửa phì phì, đức Phật vẫn điềm nhiên không sợ, vì Ngài thấy rõ tâm sợ hãi không thật và đối tượng làm mình sợ cũng không thật luôn. Giả sử chúng ta gặp trường hợp đó thì kinh hoàng sợ hãi tâm không còn bình tĩnh sáng suốt. Cho nên khi gặp cảnh lo sợ, chúng ta dùng trí tuệ phân tích thì sẽ hết sợ hết lo. Nếu không quán xét, cứ theo tình cảm lo lắng thì cái lo sẽ tăng mãi đến mất ăn, mất ngủ, sanh bệnh hoạn, rốt cuộc không tới đâu cả. Đó là cái gốc nuôi dưỡng vọng tưởng.

Giờ đây nếu gặp cảnh lo buồn sợ hãi, chúng ta chịu khó nhớ lại những phương tiện Phật chỉ dạy trong các kinh như Bát Đại Nhân Giác, Bát-nhã v.v... cứ theo đó mà ứng dụng thì hết lo hết sợ. Hơn nữa muốn tâm mình an phải nhìn lại nó. Cái đang lăng xăng lộn xộn đó ở đâu? Nó là cái gì? Nhìn mãi tự nhiên nó tan hoang không còn, tức khắc mình được an ổn. Đó là phương pháp thiết yếu, chỉ có người biết ứng dụng mới thấy kết quả tốt.

Đến bực tức giận hờn làm sao cho hết? Bực tức giận hờn đố kỵ làm người ta không vui. Hạnh đức Di-lặc là hỉ xả nên Ngài cười hoài. Việc gì tới Ngài cũng cười, buông hết, không bận lòng. Cũng như chúng ta học uống “thuốc xổ”. Cứ mỗi ba tháng xổ luôn thì bụng sẽ sạch trơn. Biết buông xả thì lòng mới không bực bội. Ở đời có ai làm vừa ý mình hết đâu. Một trăm người thì tám chục người làm cho mình không vui rồi. Chừng hai mươi người mình hơi vừa ý một chút, chớ chưa hoàn toàn. Chỉ có một người có lẽ mình vừa ý hoàn toàn. Đó là ai? - Là mình. Thế mà có khi mình còn muốn rầy nó nữa. Ở thế gian này có lúc nào mình vui hoàn toàn đâu? Nếu cứ ôm ấp chuyện người này làm mình bực, người kia làm mình buồn, cứ dồn vô chứa cả một kho sân kho lửa, động đến là cháy. Chúng ta để ý, người nào đang bực bội, mà mình hỏi họ một câu, dù là câu không quan trọng, không đụng chạm gì hết, mới mở miệng hỏi là họ muốn cự với mình rồi. Vì lửa sân có sẵn bên trong, động một cái là nháng lên. Cho nên chúng ta phải biết rõ chủ yếu của bất an, không vui là tại tâm niệm ta chứa chấp cả một kho tật đố, giận hờn, sân hận. Gặp ai cũng cảm thấy hơi tức tối, bực bội. Muốn an vui chúng ta phải ứng dụng bằng hai cách:

1- Tùy hỉ để phá tâm tật đố.

Muốn tùy hỉ phải làm sao? Thí dụ người mình mến nhất, nghe người đó phát tài mình vui lây. Trái lại mình ghét nhất, nghe họ phát tài mình bực liền. Tại sao? Tại vì người mình không ưa mà họ được hơn, nên mình sanh tâm đố kỵ. Đó là tật đố. Dù cho đối với bạn thân cùng nghề với mình mà cấp trên cứ khen họ hoài mình cũng không vui. Người thù của mình được khen, mình không vui đã đành; còn người thân của mình được khen tốt, mình cũng không vui nữa. Như vậy người nào được khen tốt thì mình vui? - Chỉ có mình thôi. Nhìn thật kỹ, chúng ta thấy khó tìm được cái vui, vì lúc nào mình cũng muốn hơn thiên hạ hết. Cho nên lòng buồn hận xảy ra luôn luôn, đó là điều khó tránh. Vì vậy đức Phật dạy chúng ta muốn được vui thì phải phát tâm tùy hỉ. Tùy hỉ là vui theo người, coi người được như mình được. Người phát tài như mình phát tài, người được khen như mình được khen. Lúc đó mình mới hết tâm tức tối bực bội.

Như chúng ta thường chịu đố kỵ hơn là chịu tùy hỉ. Thấy người hơn mình thì tức, không bao giờ chấp nhận, không bao giờ vui với cái vui của người. Trong kinh đức Phật nói: Người nào phát tâm tùy hỉ thì công đức vô lượng vô biên. Người làm việc tốt được bao nhiêu công đức, mình tùy hỉ thì công đức cũng bằng với họ không thua chút nào hết. Người làm được việc tốt là đã có lòng tốt, mình tùy hỉ là phá tâm tật đố thì cũng tốt luôn. Công đức của cả hai như nhau. Cũng như cây đuốc này mồi qua cây đuốc kia, hai cây đều sáng mà không cây nào mất ánh sáng hết. Tùy hỉ cũng vậy, ai được cái gì tốt mình phát tâm vui mừng: Huynh được cái đó tốt quá, huynh sung sướng phát tài, tôi mừng tôi sung sướng như tôi phát tài vậy. Như vậy chắc chắn đời mình không nghèo. Ai sung sướng mình cũng mừng như mình được, thế nào họ cũng không bỏ mình. Khổ là, người ta được mình lại ghét, cho nên mình kiếm chuyện châm biếm, mỉa mai làm họ tức, do đó ai cũng không ưa mình hết. Vì vậy mà khổ suốt đời. Mầm an vui phát xuất từ lòng tùy hỉ, tức là biết nhìn thấy và nhận cái vui của người làm cái vui của mình. Cho nên Phật dạy: Phải phát tâm tùy hỉ, vui theo cái vui của những người chung quanh dù thân hay sơ. Chư Bồ-tát thấy một chúng sanh đau khổ, coi như mình đau khổ; thấy một chúng sanh an vui, coi như mình an vui. Chúng ta chưa bằng Bồ-tát, ít ra cũng phải tập theo hạnh đó để mang hạnh phúc đến cho mình.

Lối tu tập này không tốn công bao nhiêu mà được vui vẻ cả làng. Còn không là tự mình chuốc thêm tai họa có ích lợi gì đâu. Cho nên chúng ta cần gột bỏ hết những cái gây đau khổ để được an lành vui vẻ. Phải buông hết, đừng cố chấp thì lòng người mới nhẹ, tức là không sân không hờn và phải tùy hỉ.

2- Tỉnh giác để phá tâm sân hận.

Sân hận là tâm bệnh hoạn nhất. Động tới là nổi quạu lên la om sòm, tay chân lay động đưa đến tai họa không nhỏ. Thiền sư Đạo Thông đời Tống, một hôm Tướng công Vu Địch tới hỏi đạo. Vu Công thường tụng kinh Phổ Môn nên hỏi rằng: Thế nào là gió đen thổi thuyền trôi vào nước quỉ La-sát? Thiền sư trả lời: Kẻ khách Vu Địch hỏi việc ấy làm gì? Vu Địch liền đổi sắc. Ngài bèn nói: Cái đó là gió đen thổi thuyền trôi vào nước quỉ La-sát. Vu Địch liền hết nổi nóng. Chỗ này thật là tối quan trọng. Kinh nói: Giả sử luồng gió đen thổi thuyền trôi vào nước quỉ La-sát, lúc đó trong thuyền có người niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát, thì bọn quỉ không dám lại gần. Nghe linh nghiệm như thế nên chúng ta nghĩ khi đi biển đi sông mà gặp gió to sóng lớn thì cứ niệm Quán Thế Âm Bồ-tát tức là qua hết. Nếu hiểu như vậy thì rất tội nghiệp cho kinh điển Đại thừa.

Hắc phong mà Thiền sư nói ở đây không phải là gió lớn bên ngoài. Hắc phong là luồng gió đen tự trong lòng mình dấy lên, nó thổi chiếc thuyền người tới cõi nước quỉ liền. Nghe một lời nói trái tai, nổi giận lên miệng nói lời ác, tay chân làm việc ác tức thì mình bị đưa tới cõi La-sát, phải ở tù phải khổ. Hắc phong là như vậy. Cho nên khi chúng ta nghe những lời trái tai, cơn giận vừa dấy lên thì biết đó là hắc phong thổi. Phải dừng nó lại thì nhất định không trôi đến nước quỉ, mà quỉ cũng không dám hại. Nếu lỡ bị thổi trôi đến nước quỉ, thì phải nhớ niệm Quán Thế Âm. Niệm bằng cách nào? Sở dĩ chúng ta giận vì do mắt thấy tai nghe, mà phần lớn là tai nghe những lời trái nên mới giận. Khi niệm Quán Thế Âm Bồ-tát tức là nhớ lại Tánh nghe của mình, bao nhiêu lời trái tai đều tan hết, cơn giận cũng chìm luôn. Đâu còn cái gì đưa đến nước quỉ, La-sát đâu dám ngó tới mình. Rõ ràng như vậy.

Kinh thường nói: “Bất phạ sân tâm khởi, duy khủng tự giác trì”, nghĩa là chẳng sợ tâm sân nổi lên, chỉ sợ giác chậm thôi. Giác thì tâm sân liền mất.

Như vậy, trước hết mình phải đề phòng gió dữ. Lỡ bị gió dữ rồi thì nhớ niệm Quán Thế Âm. Niệm Quán Thế Âm là nghe lại Tánh nghe, không chạy theo thanh trần tức là giác. Đó là ý nghĩa thâm trầm trong kinh. Nhiều khi chúng ta chờ tai nạn xảy ra mới niệm, mà không nhớ niệm hằng ngày. Muốn hết sân, hết hận, chúng ta phải nhớ như vậy để hằng ngày, hằng đêm dừng được bao nhiêu trận gió đen. Tỉnh giác kịp rồi thì tai nạn không đến với chúng ta, còn không tỉnh giác kịp thì thế nào rồi cũng bị quỉ xé thây. Chắc chắn như vậy không nghi. Đường lối rõ ràng như thế. Trên đây chỉ là ý nghĩa cạn của mùa Xuân Di-lặc thôi.

Đến ý nghĩa sâu hơn của mùa Xuân Di-lặc tức là mùa Xuân bất diệt mùa Xuân miên viễn. Nói đến đức Di-lặc là nói đến đức Phật sẽ thành. Đức Phật Thích-ca xác nhận rằng Ngài là Phật đã thành, còn tất cả chúng ta là Phật sẽ thành, như đức Phật Di-lặc vậy.

Phật sẽ thành là Phật ở chính nơi chúng ta, nhưng vì mình bỏ quên nên không nhận ra, như có viên ngọc quí mà không biết, cứ lo hỏi viên ngọc của đức Địa Tạng cầm trong tay. Có mà không chịu nhận là dối gạt thiên hạ.

Chúng ta còn quá lầm mê, không tự tỉnh giác nên bỏ quên ông Phật của chính mình, vì vậy phải lăn lộn trong luân hồi sanh tử. Sanh tử là biến chuyển sanh diệt, là vô thường, gốc của khổ đau. Còn luân hồi là còn khổ đau, muốn ra khỏi khổ đau thì phải thoát khỏi luân hồi sanh diệt. Đó mới là miên viễn, là bất diệt, là an vui cứu kính của con người.

Chúng ta đang sống trong vô thường sanh diệt nên luôn luôn bị bức bách ép ngặt. Thoát khỏi vô thường bức bách thì tự nhiên chúng ta an vui giải thoát.

Nói cách khác, thoát khỏi luân hồi sanh tử là sống với cái vô sanh an lạc. Vì vô sanh nên không bị dao động, hằng tỉnh táo an lạc, đó là niềm vui chân thật cũng là mùa Xuân Di-lặc bất diệt, miên viễn, mùa Xuân của Bản tâm thanh tịnh ở mỗi người. Chính đây là chỗ khao khát, ước mơ của chúng ta. Trong kinh gọi đó là Niết-bàn, an lạc tịch tĩnh. Còn hiện tại mùa Xuân của chúng ta chỉ là mùa Xuân sanh diệt, đến rồi đi qua rồi mất.

Giờ đây làm sao chúng ta hưởng được mùa Xuân bất diệt, mùa Xuân mà chính mình mong muốn? Muốn hưởng mùa Xuân bất diệt thì chúng ta phải sống với tâm bất diệt, còn tâm sanh diệt thì không bao giờ hưởng được. Trong kinh Kim Cang đức Phật dạy: “Tâm quá khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được, tâm vị lai không thể được.” Tâm chạy theo quá khứ, hiện tại, vị lai là tâm sanh diệt. Đức Phật nói tâm đó không thể được vì nó không thật. Chúng ta đang sống với tâm nào? Với tâm quá khứ hiện tại vị lai. Tại sao tâm quá khứ không thể được? Như trước giờ nằm ngủ, chúng ta gác tay lên trán, nhớ chuyện năm ngoái năm xưa, tháng rồi tháng trước, không chịu buông, một hồi không ngủ được rồi than tôi mất ngủ. Đó là chưa kể có nhiều cuốn nhật ký đầy ắp bút tích kỷ niệm. Vì sợ ký ức nhớ không hết nên phải ghi thêm nhật ký để mai mốt có quên thì lật lại. Cái đó thuộc về quá khứ, mà quá khứ qua rồi đâu tìm lại được! Càng nghĩ càng rối cho mình thôi, nó đâu có thật mà nghĩ. Vậy mà hết một phần ba đời người chúng ta sống về quá khứ.

Còn những người trẻ thì sao? Sống với vị lai. Nghĩ bây giờ mình nhỏ quá, chưa làm được việc gì đáng kể rồi mong ước sau này mình sẽ như thế này như thế kia. Cũng mất hết phần ba cuộc đời.

Rồi một phần ba cuộc đời về sống về hiện tại. Hiện tại mà không hiện tại gì hết, nghĩa là hiện tại đầy ắp niệm tưởng suy nghĩ tính toán là khen, là chê, việc phải việc quấy. Niệm này hết thì niệm kia sanh. Cứ như vậy liên miên sanh diệt thì hiện tại đâu có.

Thế nên nghĩ đến quá khứ thì quá khứ là chuyện đã qua, nghĩ lại cái không có, cái nghĩ đó cũng là không. Cho nên quá khứ không thể được. Hiện tại hết nghĩ cái này tới cái khác, trong một ngày nghĩ không biết bao nhiêu thứ. Đó là tâm suy nghĩ sanh diệt nên không thể được. Vị lai chưa đến mà cứ phóng đại cái này cái nọ. Ngồi đó mà tưởng tượng đủ thứ. Cái chưa đến mà tưởng cũng là không tưởng, nên cũng không được luôn. Như vậy quá khứ hiện tại vị lai, ba thời đều không được. Chúng ta sống với ba cái đó là sống với cái hão huyền, không thực tế. Kiểm lại xem một ngày sống của chúng ta như thế nào?

Có chạy theo ba thời đó hay không? Nếu cả ngày sống với tâm chạy theo đó thì chúng ta đã mất tâm rồi. Gọi là tâm mà thật sự tâm đã mất. Sống với tâm sanh diệt thì có gì thật đâu. Hằng ngày chúng ta nói sống cho mình mà thật đã mất mình. Chỉ sống với ba cái tâm chết rất là đáng thương. Ba cái không có đó mà ráp lại thành cái có để sống, tuy nói sống mà thật ra không sống gì hết. Có gì mà hãnh diện.

Như vậy phải làm sao? Tôi nhắc lại muốn hưởng mùa Xuân bất diệt thì tâm mình cũng phải bất diệt. Mà muốn bất diệt thì phải bất sanh, tức không chạy theo cái sanh diệt thì tâm mình lặng lẽ thanh tịnh.

Thiền sư Thiền Lão diễn tả điều này rất rõ. Khi vua Lý Nhân Tông vào núi gặp Ngài, hỏi: Hòa thượng bao nhiêu tuổi? Ngài đáp:

Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu.

Nghĩa là chỉ biết ngày nay thôi, còn bao nhiêu năm trước ai đâu nhớ. Như vậy Ngài không sống với tâm quá khứ, chỉ biết có ngày nay. Sống với ngày nay đó là sống với tâm lặng lẽ hiện tiền. Vua Lý Nhân Tông hỏi tiếp: Hòa thượng ở đây làm gì? Ngài trả lời:

Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân
.

Nghĩa là trúc biếc hoa vàng đều là cảnh chân thật, trăng trong mây bạc đều hiện chân thể hoàn toàn. Như vậy những gì hiện bày trước mắt Ngài đều là mùa Xuân miên viễn. Sống như thế mới thật là sống. Còn chúng ta hiện nay sống mà không thật sống. Chỉ khi nào không chạy theo cái suy tính phân biệt, sống với tâm thanh tịnh thản nhiên đó mới gọi là sống ngày nay biết ngày nay. Với tâm thanh thản lặng lẽ, nhìn muôn vật hiện có trước mắt đều là một màu chân thật, như như, không sanh không diệt, đó mới là mùa Xuân miên viễn, bất diệt, nhìn đâu cũng nên thơ, không thấy có lò lửa địa ngục, để than trách như chúng ta bây giờ. Thấy hoa cúc, thấy trăng, thấy mây, thấy cái gì cũng đều là Xuân rạng rỡ. Các Thiền sư nhìn đâu cũng thấy một mùa Xuân tràn trề, không cần tìm kiếm, không cần chờ đến tháng giêng mới có mùa Xuân.

Đức Di-lặc đã hưởng mùa Xuân đó rồi, cho nên Ngài cười hoài. Chúng ta tu hành cốt làm sao hưởng được mùa Xuân như thế, mùa Xuân thú vị, đẹp đẽ nhất mà người xưa đã hưởng.

Để kết thúc, tôi dẫn thêm Thiền sư Thiên Tùng, trong ngày đầu năm Ngài làm thơ dạy chúng, tựa là Tuế Triêu.

Kim tiêu tận đạo thiêm nhất tuế
Ngô đạo như kim giảm nhất niên
Tăng giảm khứ lai vô định số
Duy năng tiêu tận thế gian duyên
Tất tu thức đắc duyên trung chủ
Bách thiên vạn kiếp thường như nhiên
Vô tăng vô giảm như hà đạo
Nhất cú hà tu dụng khẩu truyền.

Dịch:

Sáng nay đều nói thêm một tuổi
Tôi bảo hôm nay bớt một năm
Thêm bớt lại qua số khôn tính
Chỉ hay dứt sạch duyên thế gian
Cốt là trong duyên biết được chủ
Trăm ngàn ức kiếp thường như nhiên
Không bớt không thêm làm sao nói
Một câu nào thiết dùng miệng truyền.

Ngài Thiên Tùng giải thích quá rõ ràng. Đến ngày mồng một Tết chúng ta đều nói chúc thầy cô thêm một tuổi thọ, chớ có ai chúc thầy cô mất một tuổi thọ đâu. Quả thật chúng ta đã mất một năm rồi. Nếu tuổi thọ chúng ta là sáu mươi, năm rồi năm mươi ba, năm nay năm mươi bốn, thì tuổi thọ đã bớt đi một năm. Qua một năm là bớt, tại sao lại nói thêm? Người đời chỉ nghĩ theo chiều thêm mà quên nghĩa bớt. Vì vậy Ngài nói “sáng nay đều nói thêm một tuổi, tôi bảo hôm nay bớt một năm”. Rõ ràng như vậy, nhưng có ai gan dạ thấy thế đâu. “Thêm bớt lại qua số khôn tính” là thêm bớt qua lại số không nhất định, nói thêm cũng được, nói bớt cũng được. Tính theo chiều sáu mươi để trừ lại thì thấy bớt, theo chiều năm mươi mấy cộng lại thì thấy thêm. Vì có cộng có trừ nên có thêm có bớt. Thật ra không biết nói thế nào cho đúng, nên Ngài nói con số không nhất định. Điều quan trọng là “chỉ hay dứt sạch duyên thế gian” tức là chỉ người tiêu sạch duyên thế gian giống như người tiêu chảy sạch hết, bụng trống rỗng. Nhưng chưa đủ còn phải thêm “cốt là trong duyên biết được chủ” tức là cần phải biết được Ông chủ trong các duyên đó, biết Ông chủ mới là điều tối thiết yếu. “Trăm ngàn ức kiếp thường như nhiên” tức biết được Ông chủ rồi thì trăm ngàn muôn kiếp đều như vậy. Chính đó là mùa Xuân bất diệt. Tất cả quá khứ hiện tại vị lai đều không biến chuyển. “Không bớt không thêm làm sao nói”, Ông chủ đó trăm ngàn muôn kiếp vẫn như nhiên, không thêm cũng không bớt. Thế gian có thêm có bớt nên nói được, còn đến chỗ không thêm không bớt thì nói cái gì? “Một câu nào thiết dùng miệng truyền”, một câu duy nhất đó đâu cần dùng miệng nói với nhau. Chỉ người nhận được, thấy được, sống được thì hưởng được mùa Xuân bất diệt. Chớ dùng lời thì nói không đến.

Thế nên đầu năm nay tôi không biết chúc câu gì, chỉ tạm chúc quí vị một mùa Xuân Di-lặc tùy theo nhận thức của mỗi người. Ráng hưởng cho được, đừng để ba tháng Xuân mất rồi tới Thu tới Đông, lại trông đến Xuân nữa, cực lắm. Phải luôn luôn hưởng mùa Xuân Di-lặc, lúc nào cũng là Xuân, dù sống trong cảnh nào gặp nhau chúng ta cũng cười. Như vậy là hạnh phúc ngay ở trần gian.



____________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 201910:30 SA(Xem: 231)
Đây không phải là bộ Tự Điển Anh-Việt Việt-Anh bình thường, đây cũng không phải là Toàn Tập Thuật Ngữ Thiền. Đây chỉ là một bộ sách nhỏ gồm những từ ngữ Thiền và Phật giáo căn bản, hay những từ thường hay gặp trong những bài thuyết giảng về Thiền, với hy vọng giúp những Phật tử và hành giả tu Thiền nào mong muốn tìm hiểu thêm
14 Tháng Chín 201910:25 SA(Xem: 428)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
14 Tháng Chín 201910:22 SA(Xem: 45)
276. (161) Các ngươi hãy nỗ lực lên! Như Lai chỉ dạy cho con đường giác ngộ(162). Sự trói buộc của ma vương sẽ tùy sức Thiền định của các ngươi mà được giải thoát. (161) Các Tăng già Tích Lan mỗi khi khai một hội nghị để luận bàn việc trọng đại, thường lấy bài này làm khẩu hiệu kêu gọi. (162) Như Lai chỉ bày chánh đạo, còn hành đạo là do người.
14 Tháng Chín 20198:25 SA(Xem: 44)
268 - 269. Kẻ ngu muội vô trí, dù làm thinh cũng không thể gọi được là người tịch tịnh. Kẻ trí tuệ sáng suốt như bàn cân, biết cân nhắc điều thiện lẽ ác mà chọn lành bỏ dữ, mới gọi là người tịch tịnh. Biết được cả nội giới và ngoại giới, nên gọi là người tịch tịnh.
13 Tháng Chín 20198:21 SA(Xem: 51)
246-247. One who destroys life, utters lies, takes what is not given, goes to another man's wife, and is addicted to intoxicating drinks — such a man digs up his own root even in this world. 246 - 247. Trong thế gian này, ai hay sát sinh, hay nói dối, hay lấy cắp, hay phạm dâm, hay say đắm rượu chè; ai có các hành vi đó tức là đã tự đào bỏ thiện căn của mình
12 Tháng Chín 20199:17 CH(Xem: 52)
222. Người nào ngăn được cơn giận dữ nổi lên như dừng được chiếc xe đang chạy mạnh, mới là kẻ chế ngự giỏi, ngoài ra chỉ là kẻ cầm cương hờ(136). (136) Nếu tự chủ, ngăn trừ nóng giận kịp thời, mới là người thiện ngự, ngoài ra toàn như kẻ cầm cương hờ, chứ không khống chế được con ngựa.
11 Tháng Chín 20194:54 CH(Xem: 55)
219 - 220. Người khách ly hương lâu ngày, từ phương xa trở về an ổn, được bà con thân hữu đón mừng như thế nào, thì người tạo phước nghiệp cũng vậy, khi từ cõi đời này sang cõi đời khác, phước nghiệp của họ là kẻ thân hữu đón mừng họ.
10 Tháng Chín 20198:51 CH(Xem: 60)
201. Victory begets enmity; the defeated dwell in pain. Happily the peaceful live, discarding both victory and defeat. 201. Thắng lợi bị thù oán, thất bại bị đau khổ ; chẳng màng tới thắng bại, sẽ sống hòa hiếu an vui.
09 Tháng Chín 20194:49 CH(Xem: 63)
182. Hard is it to be born a man; hard is the life of mortals. Hard is it to gain the opportunity of hearing the Sublime Truth, and hard to encounter is the arising of the Buddhas. 182. Được sinh làm người là khó, được sống trọn đời còn khó hơn, được nghe Chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời là khó.
08 Tháng Chín 20197:31 SA(Xem: 60)
173. He, who by good deeds covers the evil he has done, illuminates this world like the moon freed from clouds. 173. Người nào lấy việc lành tiêu trừ việc ác, người đó là ánh sáng chiếu cõi thế gian như vầng trăng ra khỏi mây mù.
07 Tháng Chín 20197:25 SA(Xem: 78)
159. One should do what one teaches others to do; if one would train others, one should be well controlled oneself. Difficult, indeed, is self-control. 159. Nếu muốn khuyên người khác nên làm như mình, trước hãy sửa mình rồi sau sửa người. Tự sửa mình vốn là điều khó nhất.
06 Tháng Chín 201912:30 CH(Xem: 85)
146. When this world is ever ablaze, why this laughter, why this jubilation? Shrouded in darkness, will you not see the light? 146. Làm sao vui cười, có gì thích thú, khi ở trong cõi đời luôn luôn bị thiêu đốt (94). Ở trong chỗ tối tăm bưng bít(95) sao không tìm tới ánh quang minh(96)?
05 Tháng Chín 20199:12 CH(Xem: 70)
143. Only rarely is there a man in this world who, restrained by modesty, avoids reproach, as a thoroughbred horse avoids the whip. 143. Biết lấy điều hổ thẹn để tự cấm ngăn mình, thế gian ít người làm được. Nhưng người đã làm được, họ khéo tránh điều khổ nhục như ngựa hay khéo tránh roi da.
04 Tháng Chín 20199:06 SA(Xem: 63)
123. Just as a trader with a small escort and great wealth would avoid a perilous route, or just as one desiring to live avoids poison, even so should one shun evil. 123. Như người đi buôn mang nhiều của báu mà thiếu bạn đồng hành, tránh xa con đường nguy hiểm làm sao, như kẻ tham sống tránh xa thuốc độc như thế nào,
03 Tháng Chín 20198:56 CH(Xem: 77)
113. Better it is to live one day seeing the rise and fall of things than to live a hundred years without ever seeing the rise and fall of things. 113. Sống trăm tuổi mà không thấy pháp vô thường sanh diệt(86), chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp sinh diệt vô thường. (86) Năm uẩn sanh diệt tức là các phép do nhân duyên hòa hợp không thường trú.
02 Tháng Chín 20198:56 CH(Xem: 81)
92. Those who do not accumulate and are wise regarding food, whose object is the Void, the Unconditioned Freedom — their track cannot be traced, like that of birds in the air. 92. Những vị A la hán không chất chứa tài sản(68) biết rõ mục đích sự ăn uống(69), tự tại đi trong cảnh giới : "không, vô tướng, giải thoát"(70), như chim bay giữa hư không, khó tìm thấy dấu vết.
01 Tháng Chín 20197:44 CH(Xem: 95)
79. He who drinks deep the Dhamma lives happily with a tranquil mind. The wise man ever delights in the Dhamma made known by the Noble One (the Buddha). 79. Được uống nước Chánh pháp thì tâm thanh tịnh an lạc, nên người trí thường vui mừng nghe thánh nhơn(56) thuyết pháp. (56) Chư Phật và A la hán.
31 Tháng Tám 20192:33 CH(Xem: 96)
71. Người cất sữa bò không chỉ sáng chiều đã thành vị đề hồ(52) được. Cũng thế, kẻ phàm phu tạo nghiệp ác tuy chẳng cảm thụ ác quả liền, nhưng nghiệp lực vẫn âm thầm theo họ như lửa ngún giữa tro than. (52) Muốn sữa đông đặc thành đề hồ không phải một ngày một đêm mà đông được kịp.
31 Tháng Tám 20191:27 CH(Xem: 102)
50. Chớ nên dòm ngó lỗi người, chớ nên coi họ đã làm hay không làm(44) ; chỉ nên ngó lại hành động của mình, coi đã làm được gì hay chưa làm được gì. (44) Nguyên văn của câu này là “Naparesam kataka-tam” dịch thẳng là “Chẳng nên dòm ngó người khác làm hay không làm”.
30 Tháng Tám 20198:06 CH(Xem: 100)
40. Hãy biết thân này mong manh như đồ gốm, giam giữ tâm ngươi như thành quách, ngươi hãy đánh dẹp ma quân với thanh huệ kiếm và giữ phần thắng lợi (26), chớ sanh tâm đắm trước (27). (26) Kết quả thắng lợi là chỉ có cảnh giới Thiền định được tiến bộ. (27) Không nên nhiễm trước vào Thiền cảnh đã chứng được, phải nỗ lực cầu tiến mãi.
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1213)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 2484)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 1368)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
14 Tháng Chín 201910:25 SA(Xem: 428)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
22 Tháng Tám 20194:36 CH(Xem: 211)
Thiền tông truyền sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI, do Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma). Đến thế kỷ thứ VII, Thiền tông truyền sang Việt Nam, do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci). Thế là, Thiền tông có mặt ở Việt Nam sau Trung Hoa một thế kỷ. Đến thế kỷ thứ XII,
22 Tháng Tám 20197:00 SA(Xem: 1082)
Tủ Sách Và Các Bài Viết Của HT. Thích Thanh Từ
14 Tháng Chín 201910:25 SA(Xem: 428)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 248)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 217)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 1059)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 875)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 2971)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái