2. Nói về thiền

17 Tháng Hai 20188:00 SA(Xem: 1981)
2. Nói về thiền
  
Buddha_11-9-2017_1A(Nguồn Của Hình: Thus Have I Heard)

 
Phật Pháp Tại Thế Gian, Tập 2, Năm 2005
HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thuong-chieu.org  

___________________


2. Nói về thiền

 

Giảng tại Đạo tràng Chơn Như Pennsylvania - Hoa Kỳ - 2002

 

Đây là lần đầu tiên tôi tới thăm đạo tràng Chơn Như, Phật tử tuy không nhiều nhưng cũng có thiện tâm đối với đạo. Để quí vị hiểu và ứng dụng tu tập dễ dàng, hôm nay tôi sẽ nói về chủ trương tu thiền do chúng tôi hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tu tập.

 

Hồi xưa đọc sử Phật tôi rất nghi ngờ. Tại sao đức Phật có tâm đại từ đại bi, ra đời cứu độ chúng sanh nhưng khi ngộ đạo dưới cội bồ-đề rồi, Ngài trù trừ không muốn đi giảng dạy. Khi chư thiên xuống yêu cầu thuyết pháp, Ngài bảo: “Vì cái thấy của ta nói ra mọi người không thể hiểu được, cho nên ta không muốn nói.” Chư thiên đôi ba phen nài nỉ, cuối cùng Phật mới đồng ý dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh.

 

Đầu tiên Ngài đến vườn Lộc Uyển giảng pháp Tứ đế cho năm anh em Kiều-trần-như nghe và từ đó bắt đầu có Tăng đoàn. Chư Tỳ-kheo nào tu đúng pháp Tứ đế Phật dạy sẽ chứng được quả A-la-hán, tức quả vô sanh, không còn sanh trở lại nữa. Đó là tu theo thiền Nguyên thủy. Sau này chư Tổ dạy tu thiền theo tinh thần Phật truyền tâm ấn cho Tổ Ca-diếp trên hội Linh Sơn.

 

Một hôm nọ, trên hội Linh Sơn đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên rồi nhìn khắp hội chúng, ai cũng ngơ ngác. Khi nhìn tới Ca-diếp, ngài Ca-diếp liền mỉm cười. Phật mới bảo: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, hôm nay trao cho Ca-diếp.” Như vậy là Phật ấn chứng cho ngài Ca-diếp làm Tổ thứ nhất ở Ấn Độ.

 

Trong hội, Phật đưa cành hoa sen lên không nói một lời, nhìn từng người. Tới ngài Ca-diếp, Tôn giả mỉm cười liền được Phật truyền tâm ấn. Có lạ chưa? Người ta không hiểu đức Phật dạy cái gì cho ngài Ca-diếp. Sau này, khi đức Phật nhập Niết-bàn rồi, một hôm A-nan hỏi ngài Ca-diếp: “Thưa Sư huynh, đức Thế Tôn truyền y bát cho Sư huynh, còn có truyền cái gì riêng không?” Lúc đó, ngài Ca-diếp liền gọi: “A-nan!” A-nan: “Dạ.” Ngài Ca-diếp nói: “Cây phướn trước chùa ngã.” Ngay đó ngài A-nan liền ngộ. Lạ chưa!

 

Đó là hệ thống Thiền tông truyền từ Tổ Ca-diếp đến Tổ A-nan, sau này Tổ thứ hai mươi tám là Bồ-đề-đạt-ma truyền sang Trung Hoa. Khi đến Trung Hoa, Tổ Đạt-ma gặp vua Lương Võ Đế, nói chuyện không thông cảm, nên Tổ đến chùa Thiếu Lâm ngồi xây mặt vào vách chín năm. Sau đó có một vị Tăng tên Thần Quang đến cầu học.

 

Thần Quang thấy Tổ ngồi xây mặt vào vách không nói năng gì hết, nên đứng ở ngoài trời suốt đêm chờ đợi. Đêm đó mùa đông tuyết xuống tới đầu gối, Ngài vẫn đứng thản nhiên. Đến sáng Tổ Đạt-ma xoay đầu ra nhìn thấy, mới hỏi: “Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?” Thần Quang thưa: “Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ rộng độ chúng con.” Tổ quở: “Diệu đạo vô thượng của chư Phật dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa.”

 

Sử nói ngài Thần Quang nghe thế liền xuống nhà bếp mượn dao chặt một cánh tay dâng lên Tổ, để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Tổ khen “khá đó” nên đổi tên là Huệ Khả. Tôi cho rằng đây là yếu tố khích lệ người muốn cầu đạo phải quên mình, không tiếc thân mạng mới cầu đạo được, chớ không thể sơ sài mà cầu được. Có thể đó là hình ảnh tượng trưng, còn sự thật thì không biết thực hư thế nào. Nhưng vì sử nói sao chúng ta ghi nhận như vậy, không dám nói khác.

 

Một hôm ngài Huệ Khả hỏi Tổ Đạt-ma: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Tổ Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Ngài Huệ Khả sửng sốt tìm lại xem tâm bất an ở đâu, tìm hoài không thấy liền bạch: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.” Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Ngay đó ngài Huệ Khả biết lối tu.

 

Đó là vấn đề lâu nay nhiều người thắc mắc. Tại sao Tổ nói việc quan trọng một cách đơn giản, nói như đùa vậy? Thật ra câu nói của Tổ hết sức quan trọng. Khi bảo đem tâm ra, ngài Thần Quang quay lại tìm tâm xem nó ở đâu, nhưng tìm thì nó mất. Ngài bạch một cách thật thà “con tìm tâm không được”, Tổ bảo “ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Vậy pháp an tâm là pháp gì? Trong nhà thiền thường dùng từ “không có một pháp cho người”, nên gọi là giáo ngoại biệt truyền. Phật tử cũng như đa số người nghe điều này thì sửng sốt, không biết Tổ Đạt-ma dạy pháp gì mà ngài Huệ Khả nhận được và biết tu?

 

Thật ra, dạy thiền có nhiều lối. Như lối Tứ đế mà Phật đã dạy trước, tu thiền bằng pháp quán Tứ niệm xứ của Nguyên thủy: quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Quán mãi cho tới khi nào tâm không còn dấy động nữa thì được định. Quán như vậy, từ từ trải qua các địa vị tu chứng: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.

 

Sơ thiềnLy sanh hỉ lạc, tức lìa tham dục mà được vui vẻ. Nhị thiền là Định sanh hỉ lạc tức tâm an định sanh hỉ lạc. Tam thiền là Ly hỉ diệu lạc tức lìa vui thô để được vui nhẹ nhàng, mầu nhiệm hơn. Tứ thiền là Xả niệm thanh tịnh tức buông hết các niệm để tâm thanh tịnh. Tới đó rồi, nếu khéo tu đúng pháp thì chuyển qua Tứ đế, chứng A-la-hán. Nếu tu quanh một chút thì qua bốn thứ Không: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, còn gọi là Tứ không, cuối cùng đi tới Diệt tận định, nghĩa là dứt hết thọ và tưởng do sáu căn tiếp xúc với sáu trần, chứng A-la-hán. Như vậy con đường đó trải qua thời gian rất dài, chớ không đơn giản.

 

 Ở đây hình ảnh Phật đưa cành hoa lên, Tổ Ca-diếp nhìn, hai thầy trò thông cảm liền được ấn chứng. Cũng như Tổ Đạt-ma bảo “đem tâm ra ta an cho”, Huệ Khả trả lời “con tìm tâm không được”, Tổ Đạt-ma liền nói “ta an tâm cho ngươi rồi”. Ngay đó Huệ Khả liền biết lối tu. Như vậy là sao? Thiền tông là lối chỉ thẳng không qua phương pháp. Tu theo thiền Nguyên thủyphương pháp từ một tới hai… đi lần lên tới cuối cùng chứng A-la-hán. Còn Thiền tông đi thẳng, do đi thẳng nên không dễ.

 

Tôi dạy tu thiềnngồi yên niệm dấy lên biết nó hư dối bỏ, không theo. Lối tu đó gọi là phản quan tự kỷ, tức nhìn thẳng lại chính mình. Vị nào có nghiên cứu thiền sẽ hiểu, trong mười mục chăn trâu ý nghĩa rất đầy đủ rõ ràng. Giai đoạn đầu mục đồng muốn tìm trâu mà không biết trâu ở đâu, nên tìm đây tìm kia. Anh chăn trâu biểu trưng cho Trí tuệ Bát-nhã, con trâu biểu trưng cho tâm dấy động.

 

Tâm dấy động lên nghĩ tốt nghĩ xấu, nghĩ hơn nghĩ thua… chúng ta cho đó là tâm mình. Nó là bóng dáng sanh diệt, chớ không phải Tâm chân thật. Cho nên khi Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, ngài Huệ Khả xoay lại tìm thì nó mất, nếu thật nó phải còn. Tìm lại mất, nên biết nó chỉ là bóng không thật, luôn sanh diệt. Nghĩ tốt nghĩ xấu, nghĩ phải nghĩ quấy, nghĩ hơn nghĩ thua, tất cả cái nghĩ đó là nhân tạo nghiệp. Nghĩ tốt thì làm lành, nghĩ xấu thì làm dữ, tức là tạo nghiệp lành, nghiệp dữ.

 

Tất cả nghĩ suy chỉ là giả dối, lâu nay chúng ta lầm cho nó là tâm mình. Tổ không muốn nói quanh co, bảo đem tâm ra ta an cho. Tâm đó nếu thật, tìm sẽ thấy. Nhưng tìm nó mất, mất tức là an rồi. Vậy an tâm bằng cách nhìn thẳng lại tâm sanh diệt, nhìn thẳng nó mất, đó là an tâm mà không có phương pháp nào cả.

 

Tu như vậy dễ hay khó? - Khó. Nên người tu Thiền tông như người qua cầu không có tay vịn, không có chỗ để mình bám níu nên dễ té. Tổ nói: “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật. Khi chúng ta nhìn thấy niệm khởi, buông cho nó lặng đi. Nó khởi mình thấy, nó lặng mình biết, cái gì thấy biết nó? Rõ ràng có cái ngầm ở trong, không phải nghĩ suy mà thường biết, không thiếu vắng lúc nào cả, đó là tâm thật của mình.

 

Chúng ta cả đời cứ ngỡ cái nghĩ suy là tâm mình, đó là mê lầm. Từ sự mê lầm ấy tạo nghiệp luân hồi. Bây giờ thấy rõ nó hư dối không thật, không theo nó, tức chúng ta đã tỉnh rồi. Cái biết không theo vọng tưởng đâu có mất, nếu mất thì niệm sau dấy lên nó đâu có biết. Như vậy trong chúng ta còn có một cái ngầm, cái ngầm đó là chú chăn trâu. Thằng chăn biết tìm trâu.

 

Gặp trâu rồi nó làm gì nữa? Nó dùng dây, dùng roi cột trâu lại, xỏ mũi trâu, kềm chế trâu. Kềm chế tới khi nào con trâu hiền hòa mới nhẹ nhàng, tuy hiền nhưng chưa phải rồi việc. Từ từ trâu mất tiêu, thằng chăn cũng không còn mới được. Cả một con đường tu cụ thể vô cùng. Khi chúng ta dùng thằng chăn là dùng Trí tuệ Bát-nhã ruồng phá mê lầm, buông cái chấp tâm suy nghĩ là thật. Khi buông được rồi, lần lần nó đầu hàng mình, từ đó sự tu rất nhẹ nhàng. Đến chừng nó mất luôn tâm hoàn toàn an định, bấy giờ trí Bát-nhã cũng hết dùng. Cho nên con trâu mất thằng chăn cũng mất luôn. Chỗ này là một vòng tròn trống không trong mười bức tranh Thiền tông. Đến đây cũng gọi là đầu sào trăm trượng, cần phải nhảy qua nữa. Vì nếu chấp ngang đó là cứu kính thì mắc kẹt. Nên phải bước qua mục thứ chín “lá rụng về cội, chim bay về tổ”, đó là thể nhập Pháp thân. Thể nhập Pháp thân rồi, sau đó mới có Ứng Hóa thân để giáo hóa chúng sanh. Ứng thânbức tranh số mười, một ông già tay cầm cá chép tay xách bầu rượu đi vào xóm làng.

 

Thiền tông khác thiền Nguyên thủy ở chỗ tới vô sanh tức Niết-bàn, là chỗ không còn chăn không còn trâu. Thiền Nguyên thủy tới đây thấy yên lòng, an trú trong Niết-bàn không sanh không tử, nhưng không thể nhập Pháp thân để có Báo thân, Ứng Hóa thân. Không có đủ ba thân thì không độ sanh được, nên Phật giáo Đại thừa phải tu tiến lên tới quả vị toàn giác viên mãnthể nhập Pháp thân, dùng Ứng Hóa thân cứu độ chúng sanh mới được. Nếu tu tới Diệt tận định, an trú Niết-bàn thì chưa lợi ích chúng sanh đầy đủ. Phật dạy chúng ta tu phải tự giác rồi giác tha, hai việc này viên mãn mới gọi là Phật. Nếu chỉ tự giác rồi dừng ngang đó thì gọi là A-la-hán, không phải Phật.

 

Nơi chúng ta có sẵn cái biết ở mắt, ở tai, ở mũi, ở lưỡi, ở thân, ở ý. Cái biết đó hằng hữu thường còn mà chúng ta không nhớ nó. Như bây giờ tôi đưa tay lên quí vị thấy không? - Thấy. Để tay xuống thấy không? Hầu hết đều nói không thấy. Phật quở như thế là quên mình theo vật. Tại sao? Vì cái thấy là của mình, tay là vật bên ngoài. Tay để xuống thì thấy không tay, chớ đâu phải không thấy. Nếu nói không thấy hóa ra chúng ta mù sao! Thế mà cả thế gian này đều lầm như vậy.

 

Khi đức Phật đưa cành hoa lên, rồi Ngài nhìn khắp đại chúng, tới khi mắt Phật chạm mắt ngài Ca-diếp, Tôn giả mỉm cười, đó là Ngài nhận ra được tánh hay thấy của mình. Phật liền ấn chứng cho Ca-diếp. Tánh hay thấy người nào cũng có sẵn hết, nhưng muốn chỉ cái thật đó rất khó, vì nó không hình tướng cũng không diễn tả bằng lời được. Khi ngài Ca-diếp nhận được tánh thật rồi, Phật liền nói “ta có chánh pháp nhãn tạng”, tức kho chánh pháp ở con mắt, truyền cho Ca-diếp. Nói truyền mà không có gì để truyền cả, vì cái đó sẵn có nơi ngài Ca-diếp rồi. Chỉ cần Ngài nhận được là xong.

 

Sau đó ngài A-nan hỏi ngài Ca-diếp “Thế Tôn có truyền cho Sư huynh cái gì ngoài y bát không”, ngài Ca-diếp kêu “A-nan”, A-nan liền “dạ”. Ngài Ca-diếp nói “cây phướn trước chùa ngã”. Sự thật không phải ý ở câu nói “cây phướn trước chùa ngã”, mà chính là chỗ kêu liền dạ. Cái nghe có sẵn hay phải đợi tiếng mới có? - Có sẵn. Vừa kêu A-nan liền dạ, có suy nghĩ không? Không một niệm nào mà vẫn biết rõ ràng, cái biết đó mới chân thật. Còn nghĩ suy mà biết thì cái biết đó sanh diệt, không phải cái biết chân thật của mình. Phật Tổ chỉ hết sức giản đơn, phương pháp này gọi là đi tắt, đi đường thẳng tức không có một pháp nào. Tự mình nhận ra cái nghe, cái thấy, chớ không có pháp nào trong ấy cả.

 

Tới ngài Huệ Khả nói “tâm không an” tức chỉ cho ý niệm lăng xăng. Tổ Đạt-ma bảo “đem tâm ra ta an cho”, ngài Huệ Khả tìm không được, Tổ Đạt-ma bảo “ta an tâm cho ngươi rồi”. Ý niệm đó không thật, nếu nhìn thì mất, mất là an tâm. Như vậy những phân biệt ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều là sanh diệt, còn cái thật chúng ta lại không nhận ra, không biết. Có mà không biết nên gọi là mê.

 

Bây giờ nhận được mình có cái thật rồi, chúng ta phải trở về tu cho tới nơi tới chốn. Từ “phản quan” là nhìn lại mình, nhìn lại để thấy rõ nội tâm. Cái biết nghĩ suy phân biệt chỉ là giả ảo, cái biết chân thật hiện tiền mới là thật của mình. Khi theo cái biết giả ảo thì cái biết chân thật bị khuất lấp. Ngài Thần Hội dùng ví dụ hết sức rõ để nói lên điều này.

 

Như chúng ta nhìn vào gương thấy bóng mình bóng người, lúc đó có thấy cái gương không? Thấy bóng thì quên gương, vì chỉ lo chạy theo bóng nên quên gương. Khi nhìn vào gương không thấy bóng nào, lúc đó mới thấy nguyên hình của gương. Cũng vậy, người tu Phật dừng tâm lăng xăng, thì cái chân thật hiện tiền. Ngược lại chúng ta cứ chạy theo tâm niệm lăng xăng thì sẽ quên cái chân thật. Cho nên pháp tu nào của đạo Phật cũng yêu cầu hành giả phải định, phải dừng lặng hết mọi tâm niệm lăng xăng.

 

Ví dụ tu pháp niệm Phật, chừng nào niệm được nhất tâm bất loạn, tức là tâm không còn nghĩ hai, nghĩ ba nữa. Khi đã định thì nhắm mắt thấy Phật A-di-đà đến rước. Tu thiền thì định, như thiền Nguyên thủy tới Diệt tận định là sạch hết thọ tưởng. Ở đây Phật chỉ cho ngài Ca-diếp cái thẳng nhất, gần nhất nhưng khó nhận nhất.

 

Chúng ta có một cái thật mà không nhớ. Hiện giờ quí Phật tử nhớ cái gì? Một là nhớ thân này thật, hai là cho tâm suy nghĩ thật. Chỉ hai thứ đó thôi, ngoài ra không biết tới cái nào nữa hết. Cho thân này thật, mà không bảo đảm được mạng sống của mình. Phật dạy mạng sống trong hơi thở, thở khì ra không hít vô là chết ngay. Nếu thân thật thì phải lâu dài nguyên vẹn. Đằng này mạng sống chỉ trong tích tắc đồng hồ, vậy mà nói thật là quá mê lầm.

 

Thân không thật chúng ta biết rõ nó không thật, đó là giác. Nó không thật mà ngỡ thật là mê. Thế nên Phật nói chúng sanh si mê đáng thương. Khi thấy thân thật thì muốn ăn ngon, mặc đẹp, muốn thụ hưởng hơn người. Muốn không được, bị ai ngăn trở thì nổi giận. Muốn là tham. Tham không được thì sân. Từ si mà khởi tham, cho nên trong ba thứ tham sân si thì si dẫn đầu. Nếu nói đúng, phải nói si tham sân.

 

Khi thấy thân không thật, sẽ dẹp được bệnh tham. Thân không thật nên được cũng tốt, không được cũng không sao, không tham gì hết. Nếu thấy thân thật nhất định phải tham. Tham nhỏ thì cá nhân tham món này, món nọ. Tham lớn thì giành giựt đất đai với thiên hạ, xảy ra chiến tranh đủ thứ hết. Gốc từ mê lầm đưa tới đau khổ, vậy mà chúng sanh cứ trầm luân mãi mãi không cùng trong ấy. Không còn tham thì đâu có sân. Biết rõ thân không thật là giác, chớ đâu có mê. Như vậy giác dễ hay khó, xa hay gần? Dễ như trở bàn tay, để xuống là úp, lật lên là ngửa. Thấy thân thật là mê, nhận ra giả là giác. Tốn bao nhiêu công? Mau như trở bàn tay. Đó là một lẽ thật. Thấy đúng thì không tham sân si. Thấy sai thì tham sân si đầy đủ. Rõ ràng giá trị của người tu là phải giác.

 

Giác được thân này rồi, tới giác tâm suy nghĩ hơn thua phải quấy cũng không thật. Khi chúng ta suy nghĩ một vấn đề cho là đúng, có ai cãi lại mình giận không? Nổi tức lên liền. Nhưng đặt câu hỏi lại, tất cả cái nghĩ của mình có đúng trăm phần trăm không? - Không. Không đúng sao bắt người ta nghe! Từ sai lầm đó đưa tới độc tài, từ độc tài sanh ra đấu tranh. Nhóm này nghĩ đúng thế này, nhóm khác nghĩ đúng thế khác. Hai cái đúng đụng nhau, sanh ra tranh đấu dẫn tới khổ đau. Tóm lại giành nhau vật chất vì thấy thân thật là gốc của khổ đau. Giành nhau cái tâm phải quấy cũng là gốc khổ đau.

 

Khi biết được thân không thật, tâm suy nghĩ không thật, lúc đó chúng ta nhận ra một cái biết thường hằng. Phút giây nào quí vị ngồi yên lại không nghĩ suy gì hết, lúc đó có biết không? Cái biết đó hình dáng ra sao, có động không? Không hình dáng, không động nên không sanh diệt. Có người sẽ thắc mắc nếu thấy tâm suy nghĩ hư giả, thân hư giả thì đâu còn thương ai, giúp ai, đâu còn hăng hái làm việc gì? Như vậy đạo Phật đưa người ta tới bi quan. Không phải vậy.

 

Con người cứ nghĩ sống tốt theo thế gianlạc quan, nhưng thật ra cái tốt đó còn giới hạn nhiều lắm. Ví dụ như Phật tử thấy người ta nghèo khổ, quí vị xuất ra một số tiền giúp đỡ, nhưng họ không cám ơn. Lúc đó buồn không? Giận nữa, chớ không chỉ buồn. Ai làm việc tốt cũng muốn người khác biết điều trở lại. Trao qua trả lại rõ ràng, chớ chẳng chịu làm không. Cái tốt của thế gian bị hạn chế ở chỗ chấp thân này thật, tâm này thật nên không hẳn sẽ đem hết hạnh phúc an vui cho mọi người.

 

Bây giờ Phật tử thấy thân mình không thật, người không thật, nhưng mọi người chung quanh còn chấp thân thật, tâm thật; thấy như vậy Phật tử có thương những người kia không? Một người tỉnh có thương người mê không? - Thương. Cũng thế, đức Phật giác ngộ rồi càng thương tất cả chúng sanh, thương mà không đòi hỏi gì hết. Chúng sanh mê nên bỏ cái thật đuổi theo cái giả. Phật thấy được mới đem hết lòng từ bi chỉ dạy cho.

 

Chúng sanh cứ chấp nhận đi trong mê làm sao giác được. Chúng ta cứ theo dòng mê thì phải trôi lăn mãi. Ai tỉnh giác mới qua khỏi trầm luân và cứu người còn mê cùng qua khỏi trầm luân. Đạo Phật là đạo giác ngộ, đặt sự giác ngộ lên trên tất cả. Không nên nói rằng theo đạo Phật chỉ làm tất cả việc thiện mới đúng tinh thần Phật dạy. Đành rằng làm thiện là tốt là từ bi, nhưng việc ấy chỉ được một phần thôi. Giúp cho mọi người giác ngộ mới là trên hết. Cho nên giữa bố thí tài và bố thí pháp thì bố thí pháp là hơn.

 

Thế kỷ thứ 13 ở Việt Nam có vua Trần Nhân Tông, lúc còn là Thái tử đã được vua cha cho học thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ. Khi trở về chuẩn bị lên ngôi vua, Ngài hỏi thầy: “Bổn phận chính của người tu thiền là gì?” Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” Phản quan là nhìn sâu lại mình, đó là phận sự chánh chớ không từ ngoài mà được.

 

Như vậy hệ thống Thiền tông từ Ấn Độ tới Trung Hoa sang Việt Nam không khác nhau. Bên Trung Hoa Tổ dạy “đem tâm ra ta an cho”, ở Việt Nam Thượng Sĩ bảo “phản quan tự kỷ” cũng là xoay lại mình. Tìm lại mình để được an tâm, đó là phận sự chánh. Đây chính là gốc của người tu thiền. Tất cả pháp tu Phật đều nhắm thẳng trở về cái thật, chúng ta không biết cứ tìm kiếm nơi này, nơi kia. Nói tới tu thiền là nói tới con đường Phật chỉ ra, chư Tổ nối tiếp, truyền đến chúng ta ngày nay. Con đường đó là con đường thẳng, không có phương tiện.

 

Trong kinh thường nói giáo pháp của Phật là những phương thuốc để trị bệnh chúng sanh. Nếu bệnh lành thì thuốc cũng phải ngưng. Bệnh lành mà thấy thuốc hay quá, uống hoài thì sẽ chết. Giáo pháp của Phật như chiếc bè đưa người qua sông, tới bờ phải bỏ bè. Hoặc như kinh Viên Giác nói, giáo pháp của Phật như ngón tay chỉ mặt trăng. Khi thấy mặt trăng thì ngón tay không cần nữa. Tất cả phương pháp đều là phương tiện, cứu kính là chỉ thẳng.

 

Chỉ thẳng rất giản đơn nhưng chúng ta lại thấy dường như bí mật, khó hiểu. Nhà thiền nói “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, tức chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật. Tánh là cái sẵn của mình. Cái biết sẵn của mình gọi là Tánh giác, nó luôn có mà chúng ta quên. Vua Trần Nhân Tông sau khi ngộ được yếu chỉ đó, Ngài có làm bài phú “Phú Cư Trần Lạc Đạo” gồm mười hội bằng văn Nôm, nhưng kết thúc với bốn câu thơ chữ Hán:

 

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc san hề khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

 

Dịch:

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền,

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

 

Nghĩa là người ở trong cõi trần mà muốn vui với đạo thì phải tùy duyên. Hai chữ tùy duyên này khó hiểu được hết ý nghĩa của nó. Tùy duyên là sao? Đói đến thì ăn mệt ngủ liền. Có người đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ vì họ không biết tùy duyên. Như người quen ăn có tiêu có ớt, hôm nào thiếu tiêu ớt thì không chịu ăn. Quí vị nam quen bữa cơm phải có ly rượu, hôm nào thiếu cũng ăn không được. Đó là không biết tùy duyên. Nói xa hơn nữa, đối với tất cả hoàn cảnh xảy đến với mình, chúng ta linh động sống không lo âu sầu muộn, đó là tùy duyên. Nếu cảnh đến mình buồn, phải nghĩ, phải lo sợ, đó là chưa biết tùy duyên. Quí vị mệt có dễ ngủ không? Mệt mà chuyện gì hôm qua chưa giải quyết xong, nằm lăn qua trở lại không chịu ngủ. Đó là không biết tùy duyên.

 

Trong nhà có của báu đừng tìm kiếm ở đâu. Chúng ta sẵn có Tánh giác nơi mình, Tánh giác đó là Phật. Đừng tìm Phật ở trên trời trên mây, trên non trên núi, mà phải quay lại tìm nơi mình, nên Ngài nói trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Chúng ta muốn tu thiền phải làm sao? Sáu căn đối với sáu trần không vướng mắc, đó là thiền rồi. Có vướng mắc là có chạy theo. Bây giờ đối cảnh thấy đẹp cũng không dính, thấy xấu cũng không bực bội, đó là đang thiền. Như vậy thiền rất là đơn giản.

 

Lục tổ Huệ Năng một hôm nghe kinh Kim Cang, tới chỗ ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: “Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao hàng phục tâm, làm sao an trụ tâm?” Phật nói muốn hàng phục tâm phải không có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Ngã là mình, nhân là người, chúng sanh là tất cả mọi loài, thọ giả là mạng sống. Thấy mình không thật, người không thật, chúng sanh không thật, mạng sống không thật, đó là hàng phục được tâm. Còn muốn an trụ tâm, Phật dạy “bất ưng trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là đối với sáu trần không dính mắc sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp trần, đó là an trụ tâm. Nghe tới câu này Lục tổ Huệ Năng ngộ ngay, Ngài nói: “Đâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tâm mình vốn không sanh diệt, đâu ngờ tâm mình vốn không dao động, đâu ngờ tâm mình vốn tự đầy đủ, đâu ngờ tâm mình hay sanh muôn pháp.”

 

Tu thiền là không chạy tìm kiếm ở đâu mà phải quay lại mình, quay lại mình để giác. Muốn giác trước hết phải biết thân giả, vọng niệm giả thì mới buông được. Nếu không biết nó giả làm sao buông? Cho nên người tu thiền cần có Trí tuệ Bát-nhã. Trong nhà thiền thường hay dùng cây kiếm trí tuệ để ruồng phá, việc tu mới tới nơi tới chốn. Không có Trí tuệ Bát-nhã, chúng ta buông cái này kẹt cái kia, không thể nào ra khỏi.

 

Trên đường tu, ai cũng muốn giác ngộ, nên cứ đi tìm minh sư nào đó chỉ cho mình thuật gì để giác ngộ. Sự thật, giác ngộ không phải ở đâu, mà chính mình chuyển cái nhìn của mình. Từ cái thấy sai lầm chuyển thành cái thấy đúng như thậtgiác ngộ. Chúng ta có đủ thẩm quyền giác ngộ hay bị ma quỉ che lấp? Ma quỉ che lấp hay vì mình không thấy đúng lẽ thật, rồi bị cảnh trần lôi? Tất cả đều do mình thôi. Khi đã thấy đúng lẽ thật, cảnh trần nào lôi được ta nữa.

 

Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dùng ví dụ chàng Diễn-nhã-đạt-đa, buổi sáng soi gương thấy mặt mày trong gương tốt đẹp. Anh úp gương xuống thấy mặt trong gương mất, liền ôm đầu chạy la “tôi mất đầu rồi, tôi mất đầu rồi”. Chúng ta có giống anh ấy không? Khi suy nghĩ nói tôi suy nghĩ, hết suy nghĩ nói tôi không suy nghĩ, tức không có tôi. Đó là lầm lẫn giống chàng Diễn-nhã-đạt-đa. Chúng ta nhìn bóng rồi kẹt bóng, cho bóng là thật nên quên gương. Cho bóng là thật và quên cái thật, đó là kẻ điên. Chúng ta cũng giống vậy, chạy theo thân tâm hư giả cho là thật, quên mất Tâm chân thật của chính mình, nên nói là mê. Người tu Phật phải nhìn thấu đáo, biết tường tận mới đi tới chỗ đạt đạo không khó.

 

Trong kinh Pháp Hoa, Phật dùng ví dụ anh chàng nghèo gặp người bạn giàu dẫn về nhà đãi rượu chè. Khi anh nghèo đã say, người bạn giàu có việc đi xa, mới lấy hòn ngọc quí nhét trong túi anh nhà nghèo, khi nào tỉnh anh ta lấy ra xài sẽ hết nghèo. Nhưng tỉnh dậy anh nghèo vẫn đi ăn mày vì không biết trong túi áo mình có hòn ngọc quí. Sau anh bạn giàu gặp lại hỏi “tôi cho anh hòn ngọc quí, sao không lấy ra xài mà còn đi ăn mày”, anh nghèo nghe vậy bèn thò tay vô túi lấy hòn ngọc quí. Từ đó anh trở nên giàu sang, không còn nghèo khổ nữa. Ví dụ này muốn nói trong nhà chúng ta có báu, thôi tìm kiếm ở bên ngoài. Chỉ cần nhớ và lấy ra thì có sẵn, không phải nhọc nhằn chạy đâu hết.

 

Chúng ta tu cốt làm sao tự mình đi tới chỗ giác ngộ, không ai giác ngộ cho ta được. Giác ngộ rồi thì không tạo nghiệp nữa, tức là giải thoát sanh tử. Nhiều người học Phật nghe nói giác ngộ, giải thoát không biết cái nào trước, cái nào sau. Thật ra có giác ngộ mới giải thoát. Nếu mê lầm thì khó giải thoát được. Phật tử bây giờ mê nhiều hay giác nhiều? - Mê nhiều. Sao lại chịu mê vậy! Chúng ta học Phật, tu Phật phải khéo tỉnh giác. Nếu tỉnh giác rồi sẽ đi tới quả vị Phật không khó.

 

Chúng ta tu theo Phật gọi là Phật tử, chớ không gọi tín đồ. Tín là tin, đồ là nhóm người. Tín đồ là nhóm người tin. Chúng ta đến với đạo Phật bằng trí tuệ chớ không phải bằng lòng tin, nên gọi là Phật tử. Phật là giác, tử là con. Phật tử là con bậc giác ngộ, không phải tín đồ, không phải tin để cầu xin, lâu nay chúng ta không phân biệt điều này. Ở Phật tử thì giác nhỏ, giác chút ít, lần lên đến Bồ-tát thì giác nhiều hơn, giác từng phần gọi là phần giác. Đến Phật là giác ngộ viên mãn. Ở địa vị nào cũng lấy giác ngộ làm căn bản. Hiểu như vậy chúng ta mới thấy giá trị thật của đạo Phật.

 

Mong tất cả quí Phật tử nghe pháp, suy gẫm thật kỹ để hiểu đạo Phật đúng như đạo Phật. Hiểu đúng mới ứng dụng đúng, ứng dụng đúng mới thấy giá trịlợi ích lớn lao của đạo Phật. Có thế mới xứng đáng là đệ tử Phật.



____________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Chín 2020(Xem: 198)
08 Tháng Chín 2020(Xem: 236)
30 Tháng Tám 2020(Xem: 420)
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 1158)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 919303)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 699)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 709)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 636)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 683)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 766)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 985)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 803)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 854)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 888)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 1182)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 830)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 925)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 931)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 830)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 1363)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 1108)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
09 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 1035)
“Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ ở rất xa nhau. Trong thâm tâm họ cảm thấy có một khoảng cách rất lớn giữa họ. Vì thế muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sanh để nói thật to. Sự giận dữ càng mãnh liệt thì khoảng cách càng lớn, nên họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ có thể khỏa lấp
07 Tháng Giêng 202012:43 CH(Xem: 1508)
"Một lời dối trá nếu được lặp đi lặp lại đủ mức thì nó sẽ trở thành sự thật" là nguyên tắc tuyên truyền của Joseph Goebbels, một bộ trưởng tuyên truyền của Phát xít Đức. Các nhà tâm lý học gọi đây là 'ảo tưởng về sự thật' và dưới đây là cách phổ biến mà người ta thường thử nghiệm điều này: Những người tham gia được yêu cầu đánh giá
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1721)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3403)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4924)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
02 Tháng Chín 20209:24 CH(Xem: 548)
Đây là cuốn sách sọan dịch từ những bài pháp ngắn mà Hòa thượng Sīlānanda đã giảng trong những khóa thiền ngắn ngày, và dài ngày ở nhiều nơi trên thế giới rất hữu ích cho những người mới hành thiền cũng như đã hành thiền lâu ngày. Người mới hành thiền biết hành thiền đúng theo những lời dạy của Đức Phật. Người hành thiền
01 Tháng Chín 20206:32 CH(Xem: 596)
Từ những ngày đầu bước chân vào con đường tu học Phật, tôi đã cảm thấy mạnh mẽ rằng thế nào tôi cũng sẽ tìm được cho mình một lối sống chân thậtan lạc. Vào thời ấy, cuộc sống của tôi bị chi phối bởi nhiều rối rensợ hãi. Tôi cảm thấy xa lạ với tất cả mọi người, với thế giới chung quanh, và ngay cả với những kinh nghiệm
31 Tháng Tám 20209:43 CH(Xem: 492)
Thiền Quán, Con Đường Hạnh Phúc (It's Easier Than You Think) là một quyển sách vui tươi và rất dễ đọc. Tác giả trình bày giáo lý của đức Phậtphương pháp tu tập, bằng các mẩu chuyện về những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Bà Sylvia Boorstein là một nhà tâm lý trị liệu (psychotherapist) và cũng là một giáo thọ
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1360)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1282)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 1430)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1685)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1917)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1750)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.