Món Quà Của Lòng Biết Ơn - The Gift Of Gratitude

30 Tháng Sáu 20184:59 CH(Xem: 372)
Món Quà Của Lòng Biết Ơn - The Gift Of Gratitude

AjahnChahSangha_1A

(Hàng đầu, từ trái qua phải: Ajahn Chah, Ajahn Sumedho
Front row, left to right: Ajahn Chah, Ajahn Sumedho)



Món Quà Của Lòng Biết Ơn - The Gift Of Gratitude
Ajahn Sumedho - Diệu Liên Lý Thu Linh dịch
Source-Nguồn: tricycle.org, thuvienhoasen.org


__________________

Món Quà Của Lòng Biết Ơn

 

Thiền sư Ajahn Sumedo là trụ trì của Trung Tâm Phật giáo Amaravati ở Anh quốc và là vị đệ tử Tây phương kỳ cựu nhất của đại thiền sư quá cố Ajahn Chah người Thái Lan.

 

Ở đây thiền sư Ajahn Sumedho ghi lại niềm hoan hỷ của ông khi cảm nhận được công ơn của cha mẹ và thầy tổ.

 

"Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; . . . Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, họ nuôi dưỡng chúng, cho chúng cơm áo, sinh chúng ra đời.

 

Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha."

 

(Tăng Chi Bộ Kinh, HT Thích Minh Châu, Chương 2, Phẩm Tâm Thăng Bằng)

 

Cha tôi mất sáu năm trước đây. Lúc đó ông đã chín mươi tuổi. Ông chưa hế bày tỏ tình thương hay tình cảm tử tế nào đối với tôi. Vì thế từ thời thơ ấu tôi đã có cảm giác rằng ông không hề thương tôi. Tôi mang cảm giác này đi gần suốt cuộc đời mình. Tôi cũng chưa bao giờ có tình cảm yêu thương, hay bất cứ liên hệ thân thiết nào với cha tôi. Lúc nào ông cũng máy móc, “Chào con, rất vui được gặp con”. Hình như ông cảm thấy thỏa mái với sự có mặt của tôi. Tôi nhớ, mỗi khi tôi trở về nhà với tư cách là người tu sĩ Phật giáo, ông thường nói, “Hãy nhớ, đây là nhà của cha, con phải làm theo ý cha”. Đó là câu chào của ông –khi tôi đã gấn năm mươi tuổi đầu! Tôi không biết ông nghĩ là tôi sẽ làm gì.

 

Trước thời kinh tế khủng hoảng, cha tôi là một nghệ sĩ có nhiều triển vọng. Cuộc khủng hoảng đã tước đi tất cả mọi thứ mà cha mẹ tôi đã có, vì thế cha tôi phải đi bán giày để lo cho chúng tôi. Rồi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cha tôi đã quá tuổi gia nhập quân đội. Nhưng ông rất muốn ủng hộ cuộc chiến đó bằng cách này hay cách khác, nên ông trở thành một công nhân đóng tàu ở Seattle. Ông không thích công việc đó, nhưng đó là cách tốt nhất mà ông có thể làm để ủng hộ cuộc chiến tranh đó. Sau thế chiến, ông trở về với công việc bán giày và trở thành quản lý của một cửa hàng bán sĩ các loại giày. Ông cũng không thật sự yêu thích công việc đó, nhưng ông cảm thấy mình không còn trẻ để có thể tìm được một công việc làm nào khác. Ông đã không màng đến các sở thích của mình để lo cho sự sống của mẹ, chị tôi và tôi.

 

Khi tôi lên đại học, vào những năm 1950, môn học thời thượng lúc bấy giờ là triết học. Lúc đó những người trẻ tuổi đều có xu hướng đổ lỗi cho người mẹ về tất cả những thất bại, bất như ý trong cuộc đời của họ. Người mẹ là đối tượng bị nhắm vào, bị gán là nguyên nhân của mọi khổ đau của con cái họ. Lúc đó tôi chưa thể nhận thức được rằng khổ đó là điều không thể tránh trong cuộc sống. Dĩ nhiên mẹ tôi cũng không phải là người hoàn toàn, nên hiển nhiên là có nhiều điều bà đã làm không thật tốt. Nhưng nói chung, sự hy sinh, tận tụy, hết lòng thương yêu, lo lắng –không có gì thiếu sót- của mẹ tôi, tất cả đều là nhằm để làm cho cuộc sống của cha tôi, chị tôi và tôi được nhiều hạnh phúc trong khả năng mà bà có thể mang đến. Mẹ tôi không đòi hỏi gì riêng cho bản thân, và những khi tôi hồi tưởng lại những điều này, thì katannu (Pali), để chỉ cho lòng hàm ân đối với cha mẹ, lại phát khởi trong tâm tôi.

 

Đức Phật khuyên chúng ta nên nhớ nghĩ đến những điều tốt đẹp mà cha mẹ, các vị thầy, thân hữu, hay bất cứ ai, đã làm cho ta; và phải chú tâm làm điều này, vun trồng nó, thay vì chỉ để nó xảy đến một cách tình cờ, ngẫu nhiên.

 

Nhiều đệ tử của tôi, những người đầy lòng oán hận đối với cha mẹ họ, đã hỏi tôi họ phải làm thế nào để phát triển lòng biết ơn đối với cha mẹ. Dạy về lòng từ bi, hay metta, một cách quá cực đoan có thể phản tác dụng, khiến họ thêm sân hận. Tôi nhớ có một phụ nữ, dự một trong các khóa tu của tôi, mỗi lần nói đến việc phải rải tâm từ đến cho cha mẹ thì bà lại nổi giận. Sau đó bà lại cảm thấy rất ân hận. Mỗi lần nghĩ về mẹ mình là bà chỉ cảm thấy oán hận. Đó là vì bà chỉ sử dụng lý trí của mình; bà muốn thực hành từ bi, nhưng trong lòng không có chút tình cảm từ bi nào.

 

Điều quan trọng là ta nhận ra được sự xung đột giữa tình cảm và lý tri. Lý trí bảo rằng chúng ta cần tha thứ cho kẻ thù, hay thương yêu cha mẹ mình, nhưng trong lòng chúng ta lại nghĩ: “Tôi không thể tha thứ cho họ vì những gì họ đã gây ra cho tôi”. Vì thế, chúng ta chỉ cảm thấy oán giận, hờn trách, hoặc chúng ta lại tự trách: “Tôi thiệt là người tồi tệ vì tôi không thể tha thứ cho người. Chắc có gì đó không ổn đối với tôi”. Khi điều đó xảy ra, tôi thấy việc sử dụng thiền tâm từ đối với chính các cảm xúc của mình, rất hữu ích. Nếu trong lòng chúng ta nghĩ rằng cha mẹ đã không thương yêu, tử tế với mình, thì ta nên có tâm từ đối với tình cảm đó; ta có thể nhìn, với tâm không phán đoán, rằng đó thực sự là những tình cảm đang xảy ra trong lòng, để chấp nhận tình cảm đó với lòng kiên nhẫn.

 

Một khi tôi đã bắt đầu chấp nhận sự đối kháng của tôi đối với cha, hơn là đè nén nó, tôi đã có thể dần dần giải tỏa điều đó. Khi chúng ta giải quyết vấn đề gì đó với tâm chánh niệm, chúng ta có thể buông xả, và giải thoát bản thân ra khỏi sự trói buộc của nó. Việc giải tỏa những xung đột như thế khiến ta càng có nhiều suy gẫm thêm về cuộc đời.

 

Sống mà không có lòng biết ơn là một cuộc sống vô nghĩa. Nếu cuộc đời chỉ là một chuỗi của những lời oán than về sự bất công, về những thua thiệt mà ta đã gặp phải, nhưng lại không nhớ đến những may mắn đã từng đến với chúng ta, thì chúng ta chắc chắn sẽ bị trầm cảm -một căn bệnh thường gặp trong xã hội ngày nay. Chúng ta sẽ khó tìm được hạnh phúc trong cuộc sống: chúng ta sẽ nghĩ rằng cái khổ của mình là vĩnh hằng.

 

Khi trở thành một tu sĩ Phật giáo ở Thái Lan, tôi may mắn được gặp vị thầy, Luang Por Chah, mà nhiều người biết đến với tên, Thiền sư Ajahn Chah, người đã là nguyên nhân để tôi đầy lòng hàm ân với cuộc đời. Lúc đó tôi khoảng ba mươi ba hay ba mươi bốn tuổi, và tôi phải thú nhận rằng tôi chưa hề có lòng hàm ân trong cuộc đời. Tôi vẫn còn chấp ngã nặng nề, lúc nào cũng là tôi muốn gì, tôi nghĩ gì. Tuy nhiên, sau một thời gian tu tập, khoảng năm thứ sáu trong cuộc đời tu của mình, tôi đã có được một trải nghiệm sâu sắc, một trải nghiệm được coi như là katannu katavedia, hay lòng biết ơn đối với cha mẹ mình.

 

Tôi đã xuất gia nhiều năm trước khi được gặp ngài Ajahn Chah. Tôi rất ngưỡng mộ và tin tưởng vào Phật giáo, cũng như rất sốt sắng để học và thực hành Phật pháp. Nhưng tận sâu thẳm vẫn là cái cảm giác của ngã chấp, của tôi tu học, tôi thực hành. Khi xuất gia, tôi vẫn còn cầu mong: “Tôi muốn được giải thoát. Tôi muốn được giác ngộ”. Tôi không quan tâm đến người khác, đến cha mẹ, hay ngay cả đến thiền sư Ajahn Chah, là người đang giúp tôi tu học. Tôi cũng nghĩ là ngài rất tốt vì đã giúp đở tôi, nhưng trong lòng tôi không có cảm giác hàm ân.

 

Tôi nghĩ rằng đó là chuyện tự nhiên, rằng cuộc đời phải mang đến cho tôi những thứ đó -một thứ ngã mạn khó chấp nhận. Khi chúng tôi lớn lên trong sự đầy đủ của một gia đình thuộc giai cấp trung lưu, chúng tôi đã coi mọi thứ là chuyện đương nhiên. Cha mẹ tôi đã làm việc cực khổ để chúng tôi được sống thoải mái, nhưng tôi luôn nghĩ là họ chưa làm đủ bổn phận, và rằng đáng lý ra tôi phải được đầy đủ hơn nữa. Dầu đó không phải là những điều tôi nói ra, nhưng thái độ tôi tỏ rõ điều đó, rằng tôi xứng đáng được có tất cả mọi thứ: người khác phải chu cấp cho tôi tất cả; cha mẹ tôi phải mang đến cho tôi một cuộc sống tốt nhất, vì tôi muốn được như thế. Do đó, tôi nghĩ bổn phận của thiền sư Ajahn Chah là phải dạy dỗ, dìu dắt tôi!

 

Ở Thái Lan, tôi đã siêng năng tu tập và quyết chí theo đuổi cuộc sống xuất gia của mình. Sau khi đã tham dự năm mùa an cư (vassas), người tu sĩ trẻ không còn là sa di nữa, mà được tự do rời khỏi tu viện. Tôi cảm thấy được ở bên thầy cũng tốt, nhưng tôi cũng muốn tự đi con đường riêng của mình. Từ miền đông bắc tôi đi đến trung tâm Thái Lan. Sau mùa an cư, tôi hành hương đến Ấn Độ. Đó là vào khoảng 1974, và tôi quyết định đi như một tudong –một khất sĩ lang thang từ chỗ này đến chỗ kia, như một hình thức tu khổ hạnh trong Phật giáo. Có người giúp tôi tấm vé để đi từ Bangkok đến Calcutta, để rồi khi đến Calcutta, tôi chỉ có bình bát, y áo, và không tiền, đúng theo điều luật của người tu. Ở Thái Lan thì dễ rồi, nhưng buổi ban đầu ở Ấn Độ, với viễn ảnh lang thang đây đó mà không có gì, ngoài bình bát trong tay, là điều khá đáng sợ. Năm tháng ở Ấn Độ đúng là một cuộc phiêu lưu đối với tôi, khiến tôi có nhiều kỷ niệm rất thú vị về nơi chốn ấy. Với cuộc sống làm người khất sĩ, tôi không gặp vấn đề gì ở Ấn Độ. Trong tất cả các quốc gia, dĩ nhiên là nó phải ổn ở đây, vì đó là nơi Đức Phật đã sống và đã hoằng pháp.

 

Nhưng tôi bắt đầu nghĩ đến thiền sư Ajahn Chah và nhận ra lòng tử tế mà ngài đã dành cho tôi. Ngài đã chấp nhận cho tôi làm đệ tử, chăm lo, truyền dạy Phật pháp, và giúp đở tôi bẳng nhiều cách. Ngài còn là tấm gương để tôi soi vào. Một vị tỳ kheo xứng đáng phải giống như ngài Ajahn Chah. Một người toàn vẹn, người đã tạo cho tôi nguồn cảm hứng, người mà tôi rất muốn noi theo –và tôi phải thú nhận rằng tôi không có cảm giác đó đối với nhiều người khác. Tôi không hề ấn tượng với những mẫu người được tôn vinh ở Mỹ như John Wayne, tổng thống Eisenhower hay Richard Nixon. Các ngôi sao điện ảnh hay thể thao cũng được coi trọng, nhưng không có ai khiến tôi phải cảm phục.

 

Nhưng tôi đã tìm được người ấy ở Thái Lan. Ngài là người rất nhỏ thó; tôi đứng cao vượt hẳn ngài. Điều khiến tôi ngạc nhiên là khi chúng tôi ở bên nhau, sự có hiện diện của ngài như bao trùm chúng tôi. Có điều gì đó ở ngài khiến người ta muốn được gần gủi. Vì thế mỗi buổi chiều, hay bất cứ khi nào có thể, tôi lại tự đi tìm đến thất của ngài; tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội nào để được gần gủi bên ngài. Có lần tôi hỏi ngài có gì để lôi cuốn người ta đến vậy. Ngài đã trả lời, “Ta có đá nam châm”. Ngài đã dùng sức hút đó để lôi cuốn người ta đến để ngài có thể dạy cho họ Phật pháp. Đó là cách ngài sử dụng đặc tính đó của mình: không phải để thõa mản tự ngã, mà là để giúp đở người khác.

 

Đức Phật, sau khi đạt được giác ngộ, lúc đầu đã nghĩ rằng Phật pháp quá cao siêu để chúng sanh có thể thấu đạt, nên không thể truyền dạy cho họ. Sau đó, theo truyền thuyết, một trong các vị trời đã đến và thưa, “Bạch Thế Tôn, xin hãy vì những chúng sanh có ít bụi trong mắt, mà giảng Pháp”. Lúc đó Đức Phật với tâm siêu việt của mình, quán sát xem ai là những người có thể hiểu được Pháp. Đức Phật đã nghĩ đến các vị thầy cũ của mình, nhưng Đức Phật biết rằng cả hai đã qua đời. Sau đó Đức Phật nghĩ đến năm người bạn đồng tu với Ngài thuở trước, những người đã xa lánh ngài. Với lòng từ bi, Đức Phật lên đường đi tìm năm người bạn đó, và đã giảng cho họ nghe về thuyết Tứ Diệu Đế. Điều này khiến tôi cảm thấy katannu katavedita đối với Đức Thế Tôn. Thật là diệu kỳ: như tôi đây, một kẻ sống ở thế kỷ này –lại có duyên lành được lắng nghe Phật pháp, và Phật pháp tinh nguyên vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay.

 

Việc được có một vị thấy đang tại thế (ND: ngài Ajahn Chah đã mất năm 1992) như thiền sư Ajahn Chah không giống như việc bạn tôn thờ một vị tiên tri đã sống cách đây hai ngàn năm trăm năm, mà thực sự là tôi được thừa hưởng sự truyền thừa từ chính Đức Thế Tôn. Có lẽ do được đến viếng những thánh tích Phật giáo, mà lòng hàm ân của tôi bắt đầu trở nên rất mãnh liệt. Lúc đó, khi nghĩ đến thiền sư Ajahn Chah ở Thái Lan, tôi nhớ rằng tôi đã nghĩ: “Ta đã ở đủ năm năm rồi, giờ ta phải ra đi. Ta sẽ chu du đây đó, thám hiểm vài nơi, làm những gì ta muốn, thoát khỏi sự quan sát của ông thầy già”. Tôi nhận ra đúng là tôi đã bỏ chạy khỏi nơi ấy.

 

Khi cảm giác hàm ân này trào dâng trong lòng, tôi chỉ muốn chạy về Thái Lan và phủ phục dưới chân thiền sư Ajahn Chah. Làm sao bạn có thể đền đáp ơn của một vị thầy như thế? Tôi không có tiến bạc gì, mà đó cũng không phải là thứ Thầy tôi cần. Sau đó tôi nghĩ rằng cách tốt nhất tôi có thể làm để thầy tôi vui là trở thành một tỳ kheo chân chính, và trở về đó để giúp đỡ thầy. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì thầy tôi muốn. Với ý nghĩ đó, tôi đã trở về Thái Lan, sau năm tháng ở Ấn Độ, và đến đảnh lễ thầy. Đó là một sự cúng dường đầy hoan hỷ, không phải là điều bó buộc, vì nó đã xuất phát từ lòng hàm ân (katannu), lòng biết ơn đối với những duyên lành tôi đã được tiếp nhận.

 

Từ đó, tôi nhận thấy rằng việc hành thiền của tôi bắt đầu có tiến bộ. Lòng ích kỷ hẹp hòi đã biến mất trong tôi: việc tôi cố gắng mong cầu, ước muốn được hòa hợp, được tu tập, được có một cuộc sống yên lành, giải thoát khỏi mọi bổn phận. Khi tôi buông bỏ tất cả những ham muốn này, thì mọi thứ dường như lại ổn thõa. Những gì trước đây khó khăn đối với tôi, như là việc định tâm, đã trở nên dễ dàng hơn, và tôi cảm thấy cuộc sống trở nên an lạc hơn đối với tôi.

 

Lần cuối cùng khi đến thăm cha tôi, tôi đã quyết định sẽ tạo ra một không khí ấm cúng giữa hai chúng tôi trước khi người ra đi. Trong thập niên cuối đời của cha tôi, ông rất đau khổ vì bệnh tật. Ông bị thấp khớp nặng, nên luôn đau đớn, cộng thêm chứng bệnh Parkinson. Dần dần, chúng tôi phải đem ông vào viện dưỡng lão. Ông không còn có thể cử động được. Ông còn có thể trò chuyện và chuyển động mắt, nhưng các phần khác của cơ thể đều bất động. Ông rất đau khổ vì những gì đã xảy ra cho ông, vì trước đó ông là một người khỏe mạnh, không cần nhờ vã đến ai.

 

Khi gặp lại ông, thấy cơ thể ông cần được xoa bóp, nên tôi nói, “Để con xoa bóp chân ba”. “Không, con không cần phải làm thể”. “Ba cần phải được xoa bóp, nếu không nằm một chỗ sẽ bị hâm da. Con thực sự muốn làm thế mà”. Cha tôi vẫn cố từ chối, nhưng tôi thấy ông có vẻ không còn quyết liệt nữa. “Cần phải làm thế ba à”, tôi nói. “Con thực sự muốn làm thế à?” ông hỏi tôi. “Dạ phải”.

 

Tôi bắt đầu xoa bóp chân, đùi, cổ, vai, tay và mặt ông; ông thật sự thích thú sự gần gủi này. Đó là lần đầu tiên ông được chăm sóc như thế. Sự xúc chạm này đầy ý nghĩa, đó cũng là một cách biểu hiện tình cảm. Và tôi bắt đầu nhận ra rằng cha tôi thực sự rất thương yêu tôi, nhưng ông đã không biết làm sao diễn tả điều đó. Tôi cảm thấy nhẹ nhỏm và tràn đầy lòng biết ơn.

 

*****

 

LỜI DẠY CỦA THIỀN SƯ AJAHN CHAH VỀ CHA MẸ:

 

"Đôi khi những lời dạy về sinh, lão, bịnh, tử, không được người ta sẳn sàng tiếp nhận. Nhất là ở phương Tây, khi bạn bắt đầu nói về những điều này, thì người ta sẽ đứng lên, bỏ đi. Họ không muốn già. Nên những người già thường bị bỏ rơi.

 

Ở các nước phương Tây, hình như tập tục của họ là, dẹp bỏ người già qua một bên để người trẻ có thể lo cho cuộc sống của riêng họ. Dĩ nhiên là những người trẻ này, rồi cũng già thôi, rồi cũng đến phiên họ bị bỏ rơi. Khi còn trẻ, chúng ta cần quán sát và suy gẫm về người già. Đó là nghiệp, có phải không? Tôi đã cố gắng giải thích điều này với những người Tây phương, rằng nếu họ bỏ rơi người khác, sau này họ cũng sẽ bị bỏ rơi. Khi già, chúng ta nên nghĩ đến người trẻ. Và người trẻ nên nghĩ đến người già. Tất cả đều tương quan nhau, giống như những mắt xích trong một sợi dây xích."

 

(Paul Breiter chuyển ngữ từ tiếng Thái.)

 

The Gift Of Gratitude

 

Ajahn Sumedho recounts the joyful unfolding of a deep appreciation for his teacher and parents.

 

"Even if one should carry about one’s mother on one shoulder and one’s father on the other, and so doing should live a hundred years . . . moreover, if one should set them up as supreme rulers, having absolute rule over the wide earth abounding in the seven treasures—not even by this could one repay one’s parents. And why! Bhikkhus, parents do a lot for their children: they bring them up, provide them with food, introduce them to the world.

 

Yet, bhikkhus, whoever encourages their faithless parents, and settles and establishes them in faith; or whoever encourages their immoral parents and settles and establishes them in morality, or whoever encourages their stingy parents, and settles and establishes them in generosity, or whoever encourages their foolish parents, and settles and establishes them in wisdom—such a person, in this way repays, more than repays, what is due to their parents."

 

(—The Buddha, Anguttara-nikaya 2.32)

 

My father died about six years ago. He was then ninety years old, and he had never shown love or positive feelings toward me. So from early childhood I had this feeling that he did not like me. I carried this feeling through most of my life. I never had any kind of love, any kind of warm relationship with my father. It was always a perfunctory “Hello son, good to see you.” And he seemed to feel threatened by me. I remember whenever I came home as a Buddhist monk he would say, “Remember, this is my house, you’ve got to do as I say.” This was his greeting—and I was almost fifty years old at the time! I don’t know what he thought I was going to do.

 

My father was an aspiring artist before the Depression. Then in ’29 the crash came and he and my mother lost everything, so he had to take a job selling shoes to support us. Then the Second World War started, but my father was too old to enlist in the military. He wanted to support the war effort, so he became a ship fitter in Seattle. He didn’t like that job, but it was the best way he could help in the war. After the war he went back to his shoe business and became a manager of a retail store. He never really liked that work either, but he felt he was too old to find another profession. He had sacrificed his own preferences to support my mother, my sister, and me.

 

When I was at university in the 1950s, it was fashionable to study psychology. At that time the trend was to blame your mother for everything that went wrong in your life. The focus was on mothers and what they had done to cause us to suffer now. I didn’t realize then that suffering was natural. Of course my mother was not perfect, so naturally there were things she could have done better. But generally speaking, the dedication, commitment, love, and care were all there—and directed mainly to making the lives of my father, my sister, and me as good and as happy as could be. She asked very little for herself, and when I think back like this, katannu, Pali for gratitude, arises in my mind for my mother and father.

 

The Buddha encouraged us to think of the good things done for us by our parents, by our teachers, friends, whomever; and to do this intentionally, to cultivate it, rather than just letting it happen accidentally.

 

My students who have a lot of anger toward their parents ask me how they can develop gratitude toward them. Teaching lovingkindness, or metta, on too sentimental a basis can actually increase anger. I remember a woman on one of our retreats who, whenever it came to spreading metta to her parents, would go into a rage. Then she felt very guilty about it. Every time she thought about her mother, she felt only rage. This was because she used only her intellect; she wanted to do this practice of metta, but emotionally felt anything but lovingkindness.

 

It’s important to see this conflict between the intellectual and the emotional life. We know in our mind that we should be able to forgive our enemies and love our parents, but in the heart we feel “I can never forgive them for what they’ve done.” So then we either feel anger and resentment, or we begin to rationalize: “Because my parents were so bad, so unloving, so unkind, they made me suffer so much that I can’t forgive or forget.” Or: “There’s something wrong with me. I’m a terrible person because I can’t forgive.” When this happens, I’ve found it helpful to have metta for my own feelings. If we feel that our parents were unkind and unloving, we can have metta toward the feeling we have in our hearts; without judgment, we can see that this is how it feels, and to accept that feeling with patience.

 

Once I began to accept my negativity about my father rather than suppress it, I could resolve it. When we resolve something with mindfulness, we can let it go and free ourselves from its power. The resolution of such a conflict leads us to contemplate what life is about.

 

A life without gratitude is a joyless life. If life is just a continuous complaint about the injustices and unfairness we have received and we don’t remember anything good ever done to us, we fall into depression—not an uncommon problem these days. It is impossible to imagine ever being happy again: we think this misery is forever.

 

When I became a Buddhist monk in Thailand, I was very fortunate to meet a teacher, Luang Por Chah, known widely as Ajahn Chah, who became the catalyst for the gratitude in my life. At that time I was thirty-three or thirty-four years old, and I must say gratitude was not yet a part of my life’s experience. I was still very much obsessed with myself, what I wanted, what I thought. However, after training as a Buddhist monk for some years, in about the sixth year of monastic life, I had a heart-opening experience that was very much the experience of katannu katavedita, or gratitude to one’s parents.

 

I had been a Buddhist for many years before I met Ajahn Chah. I had tremendous interest and faith in Buddhism, as well as an eagerness to study and practice it. But it was still coming from the sense of my doing it, my studying it, my trying to practice it. When I became a monk, there was still this tendency: “I want to get rid of suffering. I want to be enlightened.” I was not much concerned about other people, about my parents, or even about Ajahn Chah, with whom I was living at the time. I thought that it was very nice that he was helpful to me, but I did not feel a deep gratitude.

 

I had the idea that life owed all this to me—an unpleasant kind of conceit. When we are brought up in middle-class comfort as I had been, we take so much for granted. My parents worked hard to make my life comfortable, but I thought that they should have worked harder, and that I deserved more than what they gave me. Even though this was not a conscious thought, there was the underlying attitude that I deserved all I had: people should give me these things; my parents should make my life as good as possible, as I wanted it to be. So from that viewpoint, it was Ajahn Chah’s duty to teach and guide me!

 

In Thailand, I practiced with diligence and was determined in my monastic life. After participation in five rainy season retreats (vassas), a monk is no longer considered a novice and is free to leave the monastery. I felt that being with a teacher was fine, but I wanted to go away on my own. I left for central Thailand from the northeast. After the vassa I went on a pilgrimage to India. This was in about 1974, and I decided to go as a tudong-bhikkhu, wandering from place to place as part of an austere form of monastic practice. Somebody provided me with a ticket from Bangkok to Calcutta, and I found myself in Calcutta with my alms bowl, my robe, and, abiding by the rules of monkhood, no money. In Thailand it had been easy, but in India the prospect of wandering around with nothing more than an alms bowl seemed quite frightening at first. As it happened, the five months I spent in India were quite an adventure, and I have very pleasant memories of that time. The life of a mendicant worked in India. Of all countries, it should work there, where the Buddha lived and taught.

 

I began to think of Ajahn Chah and to recognize the kindness he had extended to me. He had accepted me as his disciple, looked after me, given me the teachings, and helped me in almost every way. And there was his own example. If you wanted to be a monk, you wanted to be like him. He was a full human being, a man who inspired me, someone I wanted to emulate—and I must say there weren’t so many men that I had had that feeling toward. In the States, the role models for men were not very attractive to me—John Wayne or President Eisenhower or Richard Nixon were not my role models. Film stars and athletes were given great importance, but none of them inspired me.

 

But then in Thailand, I’d found this monk. He was very small; I towered above him. When we were together sometimes that surprised me, because he had such an enormous presence. There was this feeling about him that attracted people. So I found myself going over to see him in his hut in the evenings, or whenever it was possible; I wanted to take every opportunity I had to hang around. I asked him once what it was in him that drew people to him, and he said, “I call it my magnet.” He used his magnet to attract people so that he could teach them the dhamma. This is how he used the charismatic quality he had: not in the service of his ego, but to help people.

 

The Lord Buddha, after his enlightenment, at first thought that the dhamma was too subtle, that no one would understand it, so there was no point in teaching it. Then, according to the legend, one of the gods came forth and said, “Please Lord, for the welfare of those who have little dust in their eyes, teach the dhamma.” The Buddha then contemplated with his powerful mind who might understand the dhamma teaching. He remembered his early teachers but through his powers realized that both of them had died. Then he remembered his five friends who had been practicing with him before, and who had deserted him. Out of compassion he went off to find these five friends, and expounded his brilliant teaching on the Four Noble Truths. This makes me feel katannu katavedita to the Lord Buddha. It’s marvelous: here I am—this guy, here, in this century—having an opportunity to listen to the dhamma, and to have this pure teaching still available.

 

Just having a living teacher like Ajahn Chah was not like worshiping a prophet who lived twenty-five hundred years ago, it was actually inheriting the lineage of the Lord Buddha himself. Perhaps because of visiting the Buddhist holy places, my gratitude began to become very strong. Then, thinking of Ajahn Chah in Thailand, I remembered how I had thought: “I’ve done my five years, now I’m going to leave. I’m going to have a few adventures, do what I want to do, be out from under the eye of the old man.” I realized then that I had actually run away.

 

When I felt this gratitude, all I wanted to do was get back to Thailand and offer myself to Ajahn Chah. How can you repay a teacher like that? I did not have any money, and that was not what he was interested in anyway. Then I thought that the only way I could make him happy was to be a good Buddhist monk and to go back and help him out. Whatever he wanted me to do, I would do it. With that intention, I went back after five months in India and gave myself to the teacher. It was a joyful offering, not a begrudging one, because it came out of this katannu, this gratitude for the good things I had received.

 

From that time on, I found that my meditation practice began to improve. That hard selfishness cracked in me: my trying to get something, my desire for harmony, my desire to practice and have a peaceful life, free of responsibility. When I gave up all that, things seemed to fall into place. What used to be difficult, like concentrating the mind, became easier, and I found that life had become joyful to me.

 

The last time I went to see my father, I decided that I would try to get some kind of warmth going between us before he died. In the last decade of my father’s life he was quite miserable and became very resentful. He had terrible arthritis and was in constant pain, and he had Parkinson’s disease. Eventually he had to be put in a nursing home. He was completely paralyzed. He could move his eyes and talk, but the rest of his body was rigid. He was resentful of what had happened to him because before he had been a strong, independent man.

 

When I saw him, his body needed to be stimulated, so I said, “Let me massage your leg.” “No, no, you don’t need to do that,” he said. “You’ll get bedsores, because you really have to have your skin massaged. I would really like to do it.” He still refused, but I could tell he was considering it. “I think it’ll be a good thing,” I told him. “So you’d really like to do it?” he asked me. “Yes.”

 

I started massaging his feet, his legs, his neck, shoulders, hands, and face; he really enjoyed the physical contact. It was the first time he had been touched like that. Physical contact is quite meaningful, it’s an expression of feeling. And I began to realize that my father really loved me, but didn’t know how to say it. I had this great sense of relief and immense gratitude.

 

*****

 

Ajahn Chah on Parents:

 

"Sometimes when teachings are given on birth, aging, illness, and death, people aren’t pleased. Especially in the West, when you talk about this, people get up and walk away. They don’t want to get old. So when people become old, they are abandoned.

 

In the Western countries this seems to be the custom, to discard the old folks so the youngsters can get on with their lives. Of course the youngsters will get old too, and then they will be discarded in their turn. When we are young, we should look at and reflect on old people. This is karma, isn’t it? I tried to explain this to the Westerners, that if you discard people, you will also be discarded. When we are old, we should think about young people. When we see old people, we should think about young people. They are connected, like links of a chain."

 

(—Translated from the Thai by Paul Breiter)



__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 579)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 332)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 362)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 299)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 322)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 378)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1111)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 594)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 419)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1281)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 825)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4101)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8316)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1262)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 554462)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1706)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 723)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 922)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
27 Tháng Hai 20188:42 CH(Xem: 810)
Tôi có quen một ông bạn, ông ta nói rằng ông ta thường xuyên quên chỗ để cây bút, và ông cũng thường xuyên mất bút. Vì thế, ông chỉ xử dụng những cây bút rẻ tiền, để ông ta khỏi phải phiền muộn về chuyện mất bút. Ông lo lắng về thói quen bất cẩn nầy.
14 Tháng Hai 20188:00 SA(Xem: 1225)
* Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi, mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó. * Á a a a. Nhấp chén đầy vơi chúc người, người vui. Á a a a. Muôn lòng xao xuyến duyên đời.
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1000)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1804)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1281)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
15 Tháng Mười Hai 20187:57 SA(Xem: 361)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 623)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2553)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
15 Tháng Mười Hai 20187:57 SA(Xem: 361)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 623)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 321)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1548)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 860)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4042)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".