Chương 4: Vài Loại Quả Báo Về Thể Xác

06 Tháng Bảy 20186:27 CH(Xem: 3185)
Chương 4: Vài Loại Quả Báo Về Thể Xác
 
Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời
(Many Mansions: The Edgar Cayce Story on Reincarnation, 1950)
Gina Cerminara
Nguyễn Hữu Kiệt dịch, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính
Nguồn: rongmotamhon.net
 
____________________
 

 

NhungBiAn_1BCHƯƠNG 4: VÀI LOẠI QUẢ BÁO VỀ THỂ XÁC

 

Những người tàn tật, đui què, câm điếc, những người bị các chứng bệnh nan y, đó là những thí dụ rõ rệt nhất về sự đau khổ của người đời. Đứng trước những cảnh đau khổ đó, chúng ta cảm thấy khơi dậy một lòng trắc ẩn sâu xa và thấm thía. Khi một trong những cảnh khổ đó xảy đến cho ta, hoặc khi chúng ta gặp phải những cảnh ngộ đắng cay, trái ý, chúng ta thường đâm ra hoài nghi về ý nghĩa thực sự của cuộc đời. Chúng ta thường tự hỏi:

 

– Tại sao tôi phải chịu sự đau khổ này? Tại sao những cảnh khổ này lại xảy đến cho tôi?

 

Anh Dennis là một người hiền lànhđức hạnh hơn người. Anh đã bị mất hết gia tài sản nghiệp và tất cả những đứa con anh cũng đều chết cả. Anh chịu đựng những cảnh khổ đó một cách kiên nhẫn và không hề phàn nàn rên siết. Nhưng khi anh bị một chứng bệnh kỳ quái làm cho toàn thân nổi lên những mụt nhọt lở loét, ghê tởm, thì anh bắt đầu nguyền rủa Thượng Đế và lần đầu tiên anh kêu thét lên trong cơn tuyệt vọng vì không biết được nguyên do những sự đau khổ đã xảy đến cho mình:

 

– Ai có thể nói cho tôi biết những nguyên nhân ấy, rồi tôi sẽ im lặngan phận. Tôi đã gây nên những tội lỗi gì?

 

Khi nói rằng nguyên nhân sự đau khổ là do những hành động sai lầm, tội lỗi đã gây ra trước đây thì người thời nay thường cho đó là một điều dị đoan, di sản của những tôn giáo cổ xưa đã lỗi thời. Ít người chịu suy nghĩ và nhìn nhận điều đó.

 

Tuy vậy, theo những cuộc soi kiếp của ông Cayce, thì tội lỗiđau khổ đi liền với nhau như bóng với hình, và giữa nhân với quả vốn có một sự liên quan chặt chẽ.

 

Để hiểu rõ quan niệm trên, vốn là nền tảng cho những cuộc soi kiếp của ông Cayce, ta cần tìm hiểu ý nghĩa của danh từ karma, là danh từ duy nhất giải thích ý nghĩa vấn đề nhân quả. Karma là một danh từ Phạn ngữ, có nghĩa là hành động. Nhưng theo ý nghĩa triết học, thì nó được định nghĩa là nghiệp, hay nghiệp quả, và được hiểu như là luật nhân quả, là một định luậttác dụng chi phối mọi sự việc xảy ra trong vũ trụ.

 

Ông Emerson là người đã từng hấp thụtin tưởng nền triết học Ấn Độ, đã gọi đó là luật thừa trừ. Đấng Christ cũng đã nói về luật ấy một cách gọn gàng giản dị trong câu:

 

– Ngươi sẽ gặt những gì ngươi đã gieo.

 

Định lý khoa học của Newton nói rằng:

 

– Mỗi hành động đều gây nên một phản ứng tương đương và ngược chiều, áp dụng trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần.

 

Những cuộc soi kiếp của ông Cayce làm cho người ta thích thú say mê vì nó khám phá ra tận nguồn gốc của những bệnh tật đau khổ trong kiếp hiện tại, truy nguyên ra từ những hành động trong những kiếp quá khứ, và làm sáng tỏ một cách rõ ràng cái quan niệm trừu tượng về nhân quả. Một sự nghiên cứu tỉ mỉ về những trường hợp đã quan sát cho biết rằng có nhiều loại quả báo khác nhau.

 

Một trong những loại đó có thể gọi là quả báo tương tác, nghĩa là một hành động gây tổn thương cho kẻ khác, kết quả cũng sẽ tác động ngược lại đối với người thực hiện một cách tương ứng.

 

Trong những tập hồ sơ của ông Cayce, có nhiều thí dụ về loại quả báo này. Có một trường hợp được ghi chép lại như sau:

 

Một vị giáo sư dạy nhạc, lúc mới sinh ra đã bị mù, có nghe nói về ông Cayce trong một chương trình phát thanh “Những sự mầu nhiệm”. Ông ta bèn đến nhờ ông Cayce khám bệnh, và sau một thời gian chạy chữa theo sự chỉ dẫn của ông Cayce, ông ta cảm thấy khá nhiều. Ba tháng sau, ông ta đã thuyên giảm được mười phần trăm về con mắt bên trái, mà các nhà chuyên môn về bệnh đau mắt cho là đã hoàn toàn hỏng.

 

Kế đó, một cuộc soi kiếp cho thấy rõ ràng tất cả bốn tiền kiếp của ông ta: Kiếp thứ nhất ở Bắc Mỹ hồi vào thời kỳ cuộc nội chiến ly khai (Secession); kiếp thứ nhì ở Pháp hồi thời kỳ Thánh chiến (Croisades); kiếp thứ ba ở Ba Tư vào khoảng một ngàn năm trước Tây lịch; và kiếp thứ tư ở châu Atlantide trước khi xảy ra cuộc Đại hồng thủy. Chính trong kiếp thứ ba ở Ba Tư, ông ta đã gây nên cái nhân xấu ác giờ được báo ứng bằng sự mù mắt của ông ta trong kiếp này. Hồi đó, ông ta là thành viên của một bộ lạc dã man có tục lấy dùi sắt nhọn nung đỏ chọc vào mắt những tù binh, và chính ông ta là đao phủ trực tiếp xử tội các tù nhân bằng cách đó!

 

Một thí dụ thứ hai đáng được ghi nhớ là trường hợp của một thiếu nữ làm nghề sửa móng tay, bị chứng liệt bại cả hai chân từ khi mới lên một tuổi. Cô này không thể đi đứng gì được nếu không dùng nạng chống và những dụng cụ nối xương nhân tạo. Một cuộc soi kiếp tiết lộ rằng nguyên nhân của bệnh trạng cô bây giờ là do một tiền kiếp ở châu Atlantide. Trong kiếp đó, cô đã dùng những phép thuật tà đạo để làm cho kẻ khác bị yếu mềm cả tay chân, trở nên bất lực và chịu để cho cô sai khiến. Bởi vậy trong kiếp này cô phải chịu quả báo về sự tổn thương mà cô đã gây ra cho kẻ khác.

 

Một thí dụ thứ ba về loại quả báo tương tác được ghi lại như sau:

 

Một người phụ nữ bốn mươi tuổi từ nhỏ đã bị một chứng bệnh kỳ lạ. Mỗi khi cô ăn một vài thức ăn như bánh mì, hoặc chất ngũ cốc, thì nhảy mũi dữ dội như bị chứng sổ mũi hoặc cảm cúm. Khi cô dùng đến một vài thứ vật dụng, nhất là đồ bằng da hay bằng nhựa dẻo (plastique) thì lại cảm thấy đau nhói dữ dội ở hông bên trái.

 

Cô đã đi khám bệnh với nhiều bác sĩ, nhưng không có kết quả, và cho biết rằng cô chỉ thấy giảm bớt trong những cuộc chữa bệnh bằng thôi miên lúc hai mươi lăm tuổi. Sự thuyên giảm đó kéo dài được sáu năm, nhưng rồi triệu chứng cũ lại tái phát.

 

Cô đến nhờ ông Cayce chữa bệnh. Cuộc soi kiếp cho cô tiết lộ rằng trong một tiền kiếp cô đã từng làm nghề bào chế thuốc, đã dùng nhiều chất hóa học để gây tổn thương cho kẻ khác. Bởi đó cô phải chịu sự đau đớn thể xác bởi những chất hóa học trong kiếp này. Cô cũng đã từng dùng một chất độc để làm cho kẻ khác bị nghẹt thở, và do đó mà ngày nay cô thường bị nhiễm độc bởi một vài chất kim khí, chất nhựa dẻo và những đồ da thuộc bằng chất hóa học...

 

Một loại quả báo thứ nhì thuộc phạm vi vật chất có thể gọi là quả báo về thể xác, theo đó thì sự lạm dụng thân thể trong một kiếp sẽ gây nên quả báo tương ứng trong một kiếp về sau. Đây là một thí dụ:

 

Một người đàn ông ba mươi lăm tuổi, từ thuở nhỏ đã bị chứng đau ruột và bộ máy tiêu hóa. Ông ta phải ăn uống kiêng cữ gắt gao và chỉ dùng được một vài loại thức ăn giản dị mà thôi. Và mặc dầu như thế, ông ta cũng tiêu hóa các bữa ăn một cách rất khó khăn, sau nhiều giờ vất vả và mệt nhọc.

 

Chứng bệnh này gây cho ông ta rất nhiều điều bất tiện, và gây trở ngại không ít trong đời sống xã hội. Cuộc soi kiếp của ông Cayce tiết lộ cho biết nguyên nhân của bệnh trạng này là trong một tiền kiếp dưới triều vua Louis XIII bên Pháp, ông ta từng làm hầu cận của nhà vua. Ông thừa hành công việc một cách tận tâm và chu đáo, nhưng lại có tật tham ăn và ăn uống quá độ. Trong một kiếp trước nữa, khi ông ta làm y sĩ dưới triều vua nước Ba Tư, ông cũng thường xuyên ăn uống không có tiết độ. Như thế trong hai kiếp, ông đã phạm lỗi về tâm lýlạm dụng sự ăn uống để tìm khoái lạc cho cơ thể. Điều này làm đảo lộn sự quân bình trong trạng thái tâm lý của ông ta, và gây ra quả báo tương ứng trong kiếp hiện tại. Quả báo về xác thân làm cho ông ta bị đau yếu bộ máy tiêu hóa, và bắt buộc ông ta phải hạn chế sự ăn uống trong kiếp này.

 

Một loại quả báo thứ ba về xác thân mà người ta thường thấy trong những cuộc soi kiếp của ông Cayce có thể gọi là quả báo tượng trưng. Đây là một loại quả báo rất lạ kỳthú vị nhất trong các loại quả báo về thể xác. Một trường hợp thuộc loại quả báo này được kể ra như sau:

 

Ông Cayce có soi kiếp cho một người thanh niên bị bệnh thiếu máu từ thuở nhỏ. Anh ta là con của một vị bác sĩ, vì thế đã được săn sóc thuốc thang và chạy chữa đủ cách, nhưng vẫn vô hiệu quả. Một chứng bệnh nan y như thế hẳn là phải có một nguyên nhân rất sâu xa.

 

Một cuộc soi kiếp cho biết rằng trong một tiền kiếp ở xứ Peru, đã năm kiếp về trước, người này là một vị tướng đem quân chiếm đoạt xứ ấy một cách bạo tàn. Trong cuộc soi kiếp, ông Cayce nói:

 

– Cuộc chiến tranh đó đã làm cho bao nhiêu đầu rơi máu chảy, gây nên một thảm họa lưu huyết rất lớn. Bởi đó, trong kiếp hiện tại này, anh ta phải bị bệnh mất máu, không sao chạy chữa.

 

Chúng ta sẽ hiểu rõ ý nghĩa của sự việc này hơn nếu so sánh với trường hợp quả báo về thể xác, vì tội lỗi của người này không phải do sự lạm dụng một bộ phận nào trong cơ thể của anh ta. Đây cũng không phải là một trường hợp quả báo tương tác, vì nếu như thế thì người thanh niên này có lẽ đã là nạn nhân của một cuộc tàn sát hung bạo. Trái lại, ở đây chúng ta thấy nghiệp quả báo ứng vào chính thể xác của y: nó trở thành một công cụ cho y dùng để nhận lãnh quả báo. Bệnh mất máu làm cho cơ thể anh ta phải yếu đuối suy nhược kéo dài suốt một đời, chính là một cách trả nợ nặng nề đau đớn hơn và có một ý nghĩa sâu sắc hơn là một cái chết tức thời vì đao kiếm trên bãi chiến trường. Người này đã làm đổ máu cả một dân tộc để thỏa mãn tham vọng chinh phục đất đai. Trong kiếp này, sự yếu đuối bất lực do bệnh thiếu máu gây nên làm cho anh ta phải chịu quả báo một cách tượng trưng, nhưng vẫn là tương ứng với hành vi trước đây của anh ta.

 

Điều này có vẻ như hoang đường nếu chúng ta không quen với những quan niệm tương tự cùng loại, qua sự phát minh gần đây về những sự tương quan giữa tinh thần và thể xác theo khoa Tâm bệnh học (Psychosomatique).

 

Trước đây không lâu, người ta vẫn tưởng rằng tất cả mọi chứng bệnh đều do những nguyên nhân về sinh lý. Những sự tiến bộ của khoa chữa bệnh bằng tinh thần (Psychiatrie) đã chỉ rằng ít nhất có một số bệnh trạng mà nguyên nhân là do những xáo trộn tinh thần hoặc xúc động tình cảm gây nên. Từ sự khám phá này, mới nảy sinh ra một ngành y học mới gọi là khoa Tâm bệnh học (Psychosomatique, do hai danh từ Hy Lạp: psyche là tinh thần và soma là thể xác). Khoa học này cũng đã đạt được những kết quả hiển nhiên không thể chối cãi về sự liên quan giữa thể xác và tinh thần.

 

Khoa Tâm bệnh học đã chứng minh rằng những sự căng thẳng về tình cảm nếu không biểu lộ được bằng lời nói hay hành động, thường sẽ tự biểu lộ nơi thể xác một cách tượng trưng bởi một loại “tiếng nói của cơ thể”. Thí dụ, nếu người bệnh không nuốt được một cách trôi chảy trong bữa ăn mà người ta không tìm thấy có một nguyên nhân nào thuộc về cơ thể, thì đó có thể là do có một sự kiện tâm lý trong đời của bệnh nhân mà y “không thể nuốt được”. Sự buồn nôn, nếu không phải là do bệnh tật của cơ thể sinh ra, có nghĩa là người bệnh còn mang trong lòng một mối hận nào đó trong đời sống tình cảm của anh ta mà lúc nào cũng muốn “nôn mửa ra”.

 

Dường như có một sự tương quan chặt chẽ giữa “tiếng nói của cơ thể” theo khoa Tâm bệnh học với điều mà ta vừa gọi là “quả báo tượng trưng”. Trong các trường hợp sau này, dường như đương sự có một ý thức sâu xa thâm trầm về sự tội lỗi của mình, và ý thức đó biểu lộ ra nơi một bộ phận trong cơ thể. Sự chọn lựa một bộ phận nào sẽ tùy nơi cái ý nghĩa tượng trưng của bộ phận ấy. Dưới đây là một vài thí dụ điển hình trong số rất nhiều trường hợp quả báo tượng trưng mà người ta tìm thấy trong các tập hồ sơ của ông Cayce.

 

Một người bị chứng bệnh suyễn kinh niên, trong lúc soi kiếp được nghe ông Cayce nói rằng:

 

– Anh đã từng đè nén, áp bức kẻ khác, lẽ tự nhiên, nhân quả báo ứng, có lúc anh phải cảm thấy nghẹn ngào khó thở, cũng như chính anh bị kẻ khác đè nén và áp bức vậy.

 

Một người điếc nhận được lời cảnh cáo rằng:

 

– Anh đừng bịt tai làm ngơ trước sự đau khổ của những người cầu xin anh giúp đỡ.

 

Cuộc soi kiếp cho biết người điếc này là một người dòng dõi quí tộc dưới thời Cách mạng Pháp, nhưng thường ngoảnh mặt làm ngơ trước những tiếng rên siết và những cảnh lầm than khốn khổ của người đương thời.

 

Một người bị chứng bệnh lao tủy sống, được cho biết rằng:

 

– Ông đã từng gây nhiều chướng ngại khó khăn cho kẻ khác. Nên bây giờ ông phải chịu những khó khăn chướng ngại đó trong thân thể của chính mình.

 

Một người bị chứng bệnh rút gân, làm cho hai chân bị teo bắp thịt, càng ngày càng nhỏ dần, được cho biết rằng:

 

– Đây không chỉ là bệnh rút gân và teo bắp thịt mà thôi; đó là hậu quả của những gì mà anh đã làm cho kẻ khác trong những kiếp trước.

 

Trường hợp lạ lùng nhất về quả báo tượng trưng trong các tập hồ sơ Cayce là trường hợp của một đứa trẻ mười một tuổi, có tật đái dầm từ khi lên hai tuổi. Trường hợp này được kể ra một cách đầy đủ chi tiết hơn, vì tính cách đặc biệt của sự điều trị cho em bé ấy.

 

Người thiếu niên này thuở nhỏ rất hiền lành, được cha mẹ nuôi nấng dễ dàng cho đến khi người mẹ sinh thêm một đứa em gái. Từ khi đó, nó bắt đầu đái dầm trên giường trong giấc ngủ. Nó đái dầm như vậy mỗi đêm. Cha mẹ nghĩ rằng có lẽ nó cảm thấy sắp sửa bị bỏ rơi khi người mẹ sinh thêm một em nhỏ nữa, nên tiềm thức của nó khiến cho nó tái diễn những thói quen của tuổi sơ sinh để làm cho cha mẹ phải chú ý và săn sóc nó như thuở trước. Cha mẹ y bèn hết sức cố gắng để bày tỏ cho nó biết rằng tình thương của cha mẹ vẫn không thay đổi vì đứa em gái nhỏ mới sinh, và nó vẫn được thương yêu săn sóc như trước, nhưng vẫn không kết quả.

 

Khi đứa trẻ lên ba tuổi, cha mẹ nó bèn nhờ một vị bác sĩ chuyên môn về bệnh thần kinh chạy chữa. Sau một năm thuốc thang điều trị, nó vẫn không thuyên giảm chút nào, và cha mẹ nó đành phải chịu vậy. Suốt năm năm trường, nó vẫn tiếp tục đái dầm mỗi đêm. Cha mẹ nó chạy đủ thầy và thử đủ mọi cách điều trị nhưng bệnh vẫn không sao chữa khỏi. Đứa trẻ vẫn đái dầm như vậy cho đến năm tám tuổi. Một lần nữa cha mẹ em lại chạy chữa với một bác sĩ khác, và cuộc điều trị kéo dài suốt hai năm, nhưng vẫn không hiệu quả.

 

Khi đứa trẻ lên mười tuổi, thấy rằng việc điều trị vẫn không có kết quả gì, cha mẹ em mới thôi và đành chịu bỏ cuộc.

 

Khi đứa trẻ lên mười một tuổi tuổi, cha mẹ em nghe nói về khả năng chữa bệnh của ông Cayce. Người cha bèn đến nhờ ông Cayce khám bệnh về trường hợp lạ kỳ của đứa con trai mình.

 

Ông Cayce bèn dùng thần nhãn để soi kiếp cho đứa trẻ thì thấy rằng trong kiếp trước nó là một giáo sĩ đạo Gia Tô trong thời xử án những kẻ theo tà giáo. Công việc của người này là trị tội những mụ đồng bóng, phù thủy bằng cách trói họ trên những chiếc ghế đẩu, rồi cầm chân ghế chổng ngược đầu để nhận chìm họ xuống ao nước lạnh.

 

Sau khi đã tìm ra cái lý do nhân quả nói trên, cuộc soi kiếp cho biết bệnh ấy có hy vọng chữa khỏi. Cha mẹ đứa trẻ được cho biết là hãy áp dụng phương pháp ám thị cho y trong giấc ngủ, và sự ám thị này phải thuộc về tinh thần chứ không phải về xác thể.

 

Vài hôm sau, khi về đến nhà, ban đêm người mẹ bèn đến ngồi bên cạnh giường con trai bà. Đợi đến lúc em đã ngủ mê, bà mới bắt đầu nói bằng một giọng trầm trầm và chậm rãi những lời này:

 

– Con là một người hiền lành tốt bụng. Con sẽ làm cho nhiều người được sung sướng. Con sẽ giúp đỡ tất cả những người con gặp trên đường đời của con. Con rất hiền lươngtốt bụng.

 

Bà lặp đi lặp lại câu ấy nhiều lần, và thay đổi với những danh từ khác nhau, tuy rằng với bấy nhiêu ý tưởng đó trong chừng mười phút trở lại, trong khi con bà đang ngủ mê.

 

Đêm đó, lần đầu tiên từ chín năm nay, đứa trẻ không đái dầm như mọi khi. Trong nhiều tháng, bà mẹ vẫn kiên trì theo đuổi phương pháp ám thị đó và cũng vẫn dùng bấy nhiêu lời tương tự. Đứa trẻ không đái dầm một lần nào trong suốt mấy tháng đó.

 

Dần dần, bà mẹ thấy rằng bà chỉ cần ám thị ba ngày một lần, rồi sau đó mỗi tuần một lần cũng đủ; và sau cùng, sự ám thị cũng không còn cần thiết nữa: Con bà đã hoàn toàn khỏi bệnh.

 

Trường hợp này có nhiều điểm lý thú. Trước hết là cuộc ám thị vừa áp dụng lần đầu tiên đã làm dứt hẳn một chứng bệnh kinh niên trong chín năm. Và nếu người mẹ không phải là một người đàn bà có học thứcđức hạnh, thì có lẽ người ta đã cho rằng đó là chuyện nói thừa; nhưng bà là một nữ luật sư ở Tòa Án, bà không phải là một người tin nhảm hay dị đoan mê tín, và không có tâm địa bất lương.

 

Điểm thứ hai là trong sự ám thị đó, bà mẹ không hề bảo con là đừng đái dầm. Sự ám thị đó không nhằm vào cái ý thức về thể xác, mà nhắm vào cái ý thức tâm linh của người thiếu niên. Nói một cách khác, sự ám thị nhắm vào cái ý thức về sự tội lỗi mà nó đã làm trong kiếp trước, được biểu lộ một cách tượng trưng trong thể xác của nó do đường tiểu tiện. Trong kiếp trước, nó đã nhận chìm người khác xuống ao nước lạnh, hoặc chịu trách nhiệm về hành động tàn ác đó; nên trong kiếp này, nó cảm thấy trong chỗ kín đáo, u ẩn của tiềm thức, rằng nó phải trả cái nghiệp ác đó, và cái quả báo đã ứng hiện vào xác thân của nó một cách tượng trưng. Mặc dầu trong kiếp này nó không làm hại ai, nhưng một lớp kín đáo trong tiềm thức làm cho nó nghi ngờ về sự tốt lành của mình, vì nó còn mang nặng trong lòng cái dấu ấn về sự trừng phạt nặng nề đau khổ mà nó đã gây ra cho kẻ khác trong kiếp trước. Sự ám thị của bà mẹ đã thức động đến cái lớp kín đáo u ẩn đặc biệt đó, làm cho nó hiểu rằng sự tội lỗi của nó có thể xóa bỏ được bằng những hành động và cử chỉ hiền lương, tốt lành, và bởi đó, cái quả báo tượng trưng kia sẽ không còn là cần thiết nữa.

 

Từ đó người thiếu niên đã bắt đầu sống một cuộc đời mới. Anh ta được mọi người thương mến, là một người học trò tốt và tỏ ra có khả năng lãnh đạo. Tâm tình, tính chất của anh ta đã thay đổi. Trong một cuộc giảo nghiệm về khả năng tại Viện Đào tạo nhân cách Johnson O’Connor, anh ta đã được xếp vào hàng những người có triển vọng thành công trong sự giao tế xã hội.

 

Người mẹ cho rằng sự thay đổi cá tính của anh ta một phần nhờ sự điều trị thần kinh, và một phần nhờ cuộc khám bệnh bằng thần nhãn của ông Cayce.

 

Hiện nay, vào năm mười tám tuổi, theo ý kiến của cha mẹ thiếu niên này, thì người anh ta có một đức tính căn bảnrộng rãi khoan dung đối với mọi người. Đối với những thói hư tật xấu của người đời, anh ta đều tìm cách bào chữa và tìm ra một sự giải thích về tâm lý để khoan dungtha thứ cho họ. Dường như tánh độc ác, khắc nghiệt của anh ta trong kiếp trước, mà chứng bệnh đái dầm là một hình phạt tượng trưng, đã được biến đổi thành một đức tánh khoan dung nhân hậu trong kiếp này. Nhờ đó, cán cân nhân quả đã lập lại sự thăng bằng, và căn bệnh quả báo của anh ta cũng dứt tuyệt.

 

Nếu chúng ta xét lại những trường hợp nhân quả báo ứng kể trên, chúng ta có thể thấy rõ một vài nguyên tắc tác động chung của luật nhân quả.

 

Trong những cuộc quan sát và soi kiếp của ông Cayce, ông đã chỉ cho ta thấy rằng mọi hành động trong quá khứ đều gây nên một nghiệp quả hiển nhiêncụ thể trong hiện tại. Nhưng cái nghiệp quả đó không phải lúc nào cũng báo ứng một cách thật ăn khớp với cái nguyên nhân đã gây ra, theo kiểu như vay thế nào trả thế ấy.

 

Thí dụ như trường hợp người nhạc sư bị mù mắt. Kiếp trước ông ta đã dùng dùi sắt nhọn nướng đỏ chọc vào mắt kẻ tù binh; nhưng kiếp này ông ta không sinh làm dân của một bộ lạc dã man để rồi bị bắt làm tù binh của một bộ lạc thù địch tàn bạo, dùng dùi sắt nướng đỏ chọc vào mắt ông ta giống như vậy. Ông ta sinh ra đã bị mù lòa, và sinh trưởng trong một xã hội văn minh tân tiến của thế kỷ hai mươi. Những sự việc xảy ra trong kiếp này của ông ta không hoàn toàn giống hệt như sự việc đã xảy ra trong kiếp trước.

 

Thí dụ trên và nhiều thí dụ khác cùng một loại có thể cho phép chúng ta đi đến kết luận chung rằng: Luật nhân quả là một định luật tâm lý, nó tác động trước hết là trên địa hạt tâm lý. Những hoàn cảnh vật chất chỉ là một phương tiện để đạt tới cái mục đích tâm lý đó mà thôi. Vì thế, sự báo ứng của nghiệp quả trên bình diện vật chất không hẳn phải là đúng khớp với cái nguyên nhân đã gây ra từ trước, mà chỉ là đúng theo một cách tượng trưng, dựa vào yếu tố nhận thức tâm lý là chính. Trên bình diện tâm lý, nghiệp quả báo ứng mới thật là tương ứngtrọn vẹn.

 

Một nguyên tắc đại cương khác dường như căn cứ trên vấn đề khí cụ của nghiệp quả. Trong các tập hồ sơ của ông Cayce, người ta không hề thấy có trường hợp nào mà sự đau khổ trong kiếp hiện tại lại gây ra bởi một nạn nhân cũ của đương sự trong kiếp trước, và đã gặp lại người ấy trong kiếp này. Trong trường hợp của vị nhạc sư mù từ lúc mới sinh: Không có điều gì chỉ rằng cha mẹ ông ta vốn là những nạn nhân cũ trong kiếp trước, nay đầu thai lại để hành phạt ông ta. Cô thiếu nữ làm nghề sửa móng tay bị bệnh liệt bại hai chân từ thuở nhỏ không phải là bị trả thù bởi những nạn nhân cũ của cô trước kia ở châu Atlantide...

 

Nói tóm lại, quả báo xảy đến thường là không phải do nạn nhân đương sự gây ra, mà có thể do những người khác, những người này chỉ là những công cụ của nghiệp quả, cũng như những người tay sai đi đòi nợ, để cho đương sự thông qua đó mà trả những món nợ cũ. Và những người “tay sai” này cũng chỉ hành động một cách vô ý thức, chứ không biết gì cả về cái vai trò “thiên lôi” hay “hung thần” của mình, tức là cái vai trò làm công cụ của nghiệp quả.


 

 

____________________

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 5678)
24 Tháng Chín 2019(Xem: 3445)
02 Tháng Sáu 2019(Xem: 3733)
11 Tháng Năm 2019(Xem: 4644)
26 Tháng Giêng 2019(Xem: 4077)
21 Tháng Giêng 2019(Xem: 4196)
25 Tháng Chín 2018(Xem: 5577)
07 Tháng Chín 2018(Xem: 5221)
30 Tháng Tám 2018(Xem: 4331)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 6236)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 6473)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 5648)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 5523)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 6053)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 5362)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 5902)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 5326)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 5785)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 5734)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 5590)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 6534)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 5669)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 5738)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 5032)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 5301)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 5246)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 5050)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 5894)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 5097)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 5433)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 8187)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 9256)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 6602)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 6977)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 5436)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 7198)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 12513)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 5325)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 4927)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 7704)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 7929)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng