Chương 10: Những Hạng Người Khác Nhau

06 Tháng Bảy 20186:27 CH(Xem: 177)
Chương 10: Những Hạng Người Khác Nhau
 
Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời
(Many Mansions: The Edgar Cayce Story on Reincarnation, 1950)
Gina Cerminara
Nguyễn Hữu Kiệt dịch, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính
Nguồn: rongmotamhon.net
 
____________________
 

 

NhungBiAn_1BCHƯƠNG 10: NHỮNG HẠNG NGƯỜI KHÁC NHAU

 

Trong sự tiếp xúc hằng ngày với những người chung quanh, chúng ta thường có thể phân biệt được nhiều hạng người khác nhau. Có hạng người tánh tình cởi mở, xã giao lịch thiệp; có hạng người dè dặt kín đáo, tánh tình trầm lặng; có hạng người ích kỷ, hạng người vị tha.v.v...

 

Nhiều nhà tâm lý học đi đến kết luận rằng dựa vào những điểm khác biệt và tương đồng mà con người có thể được sắp xếp, phân chia thành những hạng khác nhau, và đã lập một căn bản khoa học cho việc sắp hạng ấy.

 

Sự phân hạng thông thường nhất là do Carl Jung[11] đưa ra. Ông này phân loại con người thành hai hạng chính là: hạng người hướng nội, có tâm hồn khép chặt (intraverti) và hạng người hướng ngoại, có tâm hồn cởi mở (extraverti). Hạng người hướng nội tức là hạng người hướng sự chú ý của họ vào bên trong, nghĩa là vào chính bản thân mình; còn hạng người hướng ngoại tức là hạng người hướng sự chú ý của họ ra thế giới bên ngoài.

 

Tuy nhiên, các đạo gia cho rằng Carl Jung và những nhà tâm lý học khác đều không đưa ra những giải thích thỏa đáng về lý do nào đã khiến cho một người sinh ra đời lại có một tâm hồn khép chặt, và một người khác sinh ra lại có một tâm hồn cởi mở.

 

Ông Carl Jung và những nhà bác học khác cho rằng hai trạng thái tâm lý căn bản này là do những nguyên nhân về sinh lý. Tuy nhiên, về mặt tôn giáo thì những nguyên nhân sinh lý kể trên chỉ được xem là phụ thuộc; còn cách sinh hoạt cùng thái độ cử chỉ của một người trong một kiếp trước mới là nguyên nhân chính.

 

Những tập hồ sơ của ông Cayce có ghi chép rõ ràng nhiều trường hợp hướng nội, tức là của những tâm hồn khép chặt, có nguyên nhân xuất phát từ những kinh nghiệm trong kiếp trước. Xét kỹ những trường hợp này, người ta thấy rằng sự tác động dây chuyền luật nhân quả được biểu lộ một cách rõ ràng, và khiến cho khi chuyển từ kiếp sống này sang kiếp sống khác luôn có một vài thái độ hay trạng thái tâm lý của con người vẫn giữ nguyên không thay đổi. Dưới đây là một trường hợp như vậy.

 

Một nữ sinh viên hai mươi mốt tuổi có năng khiếu về âm nhạc, nhưng có tánh e lệ rụt rè một cách quá đáng. Mặc dầu cô ta có dung mạo đẹp đẽ, nhưng cô khó kết bạn với người khác và rất buồn khi không được nhận vào Câu lạc bộ của nhà trường. Người ta không biết gì về hoàn cảnh gia đình của cô trước khi cô vào trường, vì có thể đó là nguyên nhân gây ra nơi cô tính rụt rè nhút nhát. Tuy nhiên, một cuộc soi kiếp của ông Cayce cho biết rằng điều này có nguyên nhân xa hơn ở một kiếp trước. Hồi đó, cô ta là một bà mệnh phụ trong triều đình nước Pháp, có tài hoa, sắc đẹp và rất lịch thiệp. Nhưng chồng bà vốn là một người ích kỷ, không muốn cho bà mở rộng mối quan hệ xã giao khéo léo và lịch sự với tất cả mọi người. Bởi đó, ông ta ngăn trở mọi sự giao tế xã hội của bà vợ bằng một sự áp chế lạnh lùng và khắc nghiệt, thậm chí có khi ông ta đánh đập vợ bằng roi vọt. Điều này làm cho bà vợ e dè sợ sệt, và sự sợ sệt đó hãy còn in sâu vào tiềm thức cho đến bây giờ.

 

Sau đây là một trường hợp cũng có sự áp chế tương tự, tuy rằng trong hoàn cảnh khác hẳn. Ông Cayce soi kiếp cho một thanh niên hai mươi tám tuổi. Đây là một anh chàng ham học và tâm tính khép chặt. Ông Cayce cho biết rằng trong một kiếp trước, anh ta từng bị khủng bố tàn nhẫn trong những vụ xử án các tay phù thủy ở Salem, thuộc tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Kinh nghiệm đó đã bộc lộ bằng hai cách trong tâm tính của anh ta hiện nay. Trước hết, anh ta có sự căm ghét đối với mọi hình thức áp chế; và đồng thời anh ta có tánh rất ham học nhưng lại muốn giữ kín những điều hiểu biết riêng cho mình, không muốn chỉ bày cho ai. Đối với trường hợp của người thanh niên này, trong tiềm thức anh ta rõ ràng là vẫn còn in sâu một bản năng tự vệ khi bị khủng bố, khiến anh ta luôn có thái độ dè dặt đề phòng những người chung quanh, không chịu tiếp xúc và không chịu bày tỏ với ai những điều hiểu biết của mình.

 

Những tập hồ sơ của ông Cayce còn ghi lại nhiều trường hợp tương tự như trên về những vụ xử án các phù thủy ở Salem, mà kết quả là làm cho đương sự có một thái độ khép nép, kín đáo và dè dặt như thế.

 

Một vị bác sĩ có tính rất dè dặt kín đáo, không thích giao du, được biết nguyên nhân là vì trong một kiếp trước, ông ta đã từng giữ giới tịnh khẩu theo tín điều của phái Quaker.

 

Một vị giám đốc thương vụ ở New York cũng có tính rụt rè, thiếu sự xã giao lịch thiệp. Trong một kiếp trước, ông ta là một nhà thám hiểm, sống một cuộc đời cô độc và tự lập ở miền nam châu Phi.

 

Một cô nữ sinh nhút nhát và tự ti mặc cảm, được cho biết rằng kiếp trước là một thổ dân da đỏ dưới thời đô hộ của thực dân da trắng ở Bắc Mỹ và hãy còn giữ lại thái độ nghi ngờ và phòng thủ đối với người khác.

 

Theo sự chứng minh của những trường hợp kể trên và nhiều trường hợp khác trong tập hồ sơ Cayce, thì tính rụt rè kín đáo thường kéo dài từ kiếp này sang kiếp khác, bắt đầu từ một kinh nghiệm đầu tiên khiến cho đương sự có một ấn tượng sâu đậm và nảy sinh thái độ đó.

 

Sự kéo dài liên tục này cũng xảy ra một cách tương tự trong trường hợp của những người có tánh tình cởi mở.

 

Đây là trường hợp một người đàn bà ngoài ba mươi tuổi, đã hai lần ly dị, có một tâm hồn cởi mở và vẫn còn nghĩ đến một cuộc tái giá lần thứ ba. Cuộc soi kiếp của ông Cayce cho biết rằng thái độ hồn nhiên, yêu đời đó được truy nguyên từ hai kiếp về trước. Trong một kiếp, cô ta làm huấn luyện viên khiêu vũ tại một vũ trường vào thời kỳ khai mở thuộc địa ở Bắc Mỹ. Trong một kiếp trước nữa dưới triều vua Louis thứ XV nước Pháp, cô là một ái phi của nhà vua. Trong kiếp đó, cô đã phát triển được những khả năng khôn khéo, lịch thiệp và quyến rũ, làm cho mọi người đều thương mến, từ nhà vua cho đến chị bếp trong cung cấm. Trong kiếp làm huấn luyện viên khiêu vũ, cô cũng đã sử dụng và phát triển thêm những khả năng trên đây.

 

Đây là một thí dụ lý thú khác nữa. Một nhà làm trò ảo thuật ở New York có một sức hấp dẫn rất mạnh, xã giao lịch thiệp, và đặc biệt có tài hài hước, được biết rằng những khả năng trên đây có nguyên nhân từ những kinh nghiệm trong hai kiếp trước. Cuộc soi kiếp cho biết là trong một kiếp trước, ông ta từng là một trong những người khai thác thuộc địa đầu tiên đến vùng thung lũng Mohawk ở Bắc Mỹ. Những đức tính mà ông ta đã phát triển trong kiếp đó và một kiếp trước nữa đã giúp cho ông ta có khả năng hấp dẫn và chỉ huy kẻ khác trong kiếp này. Sự khôn khéo lịch thiệp và tài lãnh đạo của ông ta được phát triển là do thời kỳ tranh đấu cho lý tưởng ở Bắc Mỹ vào thuở ban đầu. Sự nhanh trí và tinh thần hài hước của ông ta lại nảy sinh từ một kiếp khác khi làm hề dưới triều vua Henri VIII ở Anh quốc.

 

Nói tóm lại, tất cả những trường hợp của những người có tâm hồn cởi mở và xã giao lịch thiệp dường như đều là do kết quả của những hoạt động xã hội trong những kiếp trước.

 

Trong những tập hồ sơ Cayce, có nhiều trường hợp thành công hoặc thất bại trong sự giao tế và sống hòa hợp với hoàn cảnh xã hội bên ngoài. Một trường hợp là của một người đàn bà có tính chất cởi mở, hoạt bát và vị tha. Trước hết, cô có tham vọng trở thành một nữ diễn viên, nhưng hoàn cảnh gia đình và một thể xác lùn thấp không giúp cô được như ý nguyện, cô bèn xoay qua vấn đề kinh doanh. Cuộc soi kiếp cho biết rằng vào một kiếp trước trong thời kỳ Cách mạng ở Bắc Mỹ, cô đã hưởng thụ rất nhiều, có địa vị xã hội cao, sống một cuộc đời xa hoa lộng lẫy, nhưng thiếu lương tâm và khinh thường đạo lý. Khả năng lôi cuốn hấp dẫn kẻ khác, tinh thần hài hước và khoa ngôn ngữ của cô là do từ kiếp đó mà có; nhưng vì cô đã sử dụng khả năng ấy một cách thiếu đạo đức nên kiếp này cô phải bị thất bại trên trường đời.

 

Những trường hợp như trên chỉ ra cho ta thấy rằng, vấn đề nghề nghiệp vẫn luôn đi đôi với vấn đề đạo đức tâm linh. Người ta thường thấy rằng, trong rất nhiều trường hợp, sự thất bại về nghề nghiệp không phải chỉ do thiếu năng lực, mà còn vì thiếu tinh thần đạo đức. Điều này thường không được nhận biết nếu tham vọng nghề nghiệp của một người được thỏa mãn một cách quá tốt đẹp, dễ dàng.

 

Trong cuộc soi kiếp, ông Cayce đã khuyên người phụ nữ nói trên, lúc ấy mới có ba mươi hai tuổi, hãy theo đuổi nghề diễn viên hoặc săn sóc những trẻ em tàn tật hoặc mồ côi; nghĩa là, cô phải dùng những khả năng của mình vào những mục đích xây dựng và vị tha.

 

Đây là trường hợp khác của một người đàn bà bốn mươi chín tuổi, làm thư ký ở Washington, vì trong kiếp trước đã lạm dụng những đức tính lịch thiệp xã giao của mình vào những mục đích không tốt nên phải chịu những hậu quả trong kiếp này. Trong những bức thư, cô cho biết rằng trong bất cứ mọi giới mà cô cố gắng để tiếp xúc, cô đều cảm thấy không được mọi người hoan nghinh. Có lẽ đó là vì hồi thuở nhỏ, cô thường bị những người anh chị trong gia đình ruồng bỏ nên vẫn còn mang nặng cảm giác ấy khi ra tiếp xúc với đời. Cô viết như sau:

 

“Tôi lớn lên với một sự mặc cảm sợ sệt luôn luôn ám ảnh tôi. Khi tôi đi chơi với một nhóm bạn bè, tôi luôn luôn cảm thấy rằng sự có mặt của tôi không cần thiết, và tôi luôn tự hỏi rằng tôi phải nói gì và phải làm gì. Tôi muốn đi sâu hơn vào các vấn đề, nhưng không biết phải làm sao. Tôi luôn luôn có cảm giác rằng tôi phải cố gắng làm nhiều hơn kẻ khác để làm cho họ vui lòng. Bởi đó, tôi luôn muốn hy sinh sức khỏe và thời giờ của tôi để làm một việc gì đó cho người khác. Tôi muốn rằng người ta cần đến tôi.”

 

Kế đó, cô thuật lại rằng đã ba lần cô bị thất vọng vì tình, trong đó có hai lần người yêu bỏ cô để đi cưới vợ khác. Trong cuộc soi kiếp, ông Cayce cho biết rằng người đàn bà này trong kiếp trước là một trong những người khai phá thuộc địa đầu tiên ở tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ. Người ấy luôn đối xử với người khác một cách vui vẻ, lễ độ, nhưng chỉ vì mục đích ích kỷ, trục lợi. Ông Cayce nói:

 

– Người này tuy được thỏa mãn về sự thành công của mình, nhưng đã đem lại sự thất vọng cho nhiều người. Những người mà người ấy lợi dụng trước kia, ngày nay trở lại gây những sự lo âu phiền muộn cho cô ta trong kiếp này. Lợi dụng kẻ khác làm cái đà tiến thân cho mình tức là tạo nên nghiệp quả xấu, nên ngày nay phải trả. Luật nhân quả rất công bằng. Nó trả lại cho ta một cách chính xác những gì của ta.

 

Như một cái gương phản chiếu, những trạng thái tâm lý của người đàn bà này phản ảnh những gì bà ta đã gây ra cho kẻ khác. Trong kiếp trước, cô không bao giờ thật lòng mong muốn làm bạn với kẻ khác, trừ những khi nào cô có thể lợi dụng họ. Vì thế, trong kiếp này, từ thuở nhỏ sống trong gia đình cô đã bị ngược đãi, cảm thấy bị ruồng bỏ. Bởi đó cô cảm thấy cuộc đời bấp bênh và tâm hồn trở nên khép chặt cho đến lúc trưởng thành.

 

Cô có một dung nhan khá đẹp và những đức tính đủ để hấp dẫn nhiều người, nhưng mặc dầu cô tưởng rằng sẽ được mọi người yêu mến, sau cùng cô luôn bị thất vọng. Cô nhìn nhận rằng cái cảm giác bị ruồng bỏ và tâm hồn khép chặt của cô đã làm cho cô thay đổi thái độ và cố gắng giúp đỡ kẻ khác để được mọi người yêu mến, và được mọi người cần đến mình. Và đó chính đó là cách chọn lựa hành động tốt nhất để sửa đổi nghiệp quả theo hướng tốt hơn. Sự xã giao khôn khéo mà cô đã lạm dụng do lòng ích kỷ và thiếu chân thật trong kiếp trước đã mang đến cho cô sự khó khăn trở ngại hiện nay, và cô chỉ có thể vượt qua được bằng những việc làm vị tha, với một sự chân thành giúp đỡ người khác.

 

Sự lợi dụng hay lường gạt tình cảm của người khác dường như là một thói xấu thông thường và sẽ mang lại quả báo trên bình diện tâm lý. Về điểm này, dưới đây là một đoạn trong cuộc soi kiếp của ông Cayce mà ông đã thốt ra với một giọng rõ ràng và thẳng thắn:

 

– Người này thường bị kẻ khác làm cho thất vọng. Điều đó có nguyên nhân của nó: Ai gieo giống nào sẽ gặt giống nấy. Kiếp trước cô đã phỉnh lừa, gạt gẫm kẻ khác. Ngày nay, chính cô bị kẻ khác gạt gẫm, phỉnh lừa, làm cho cô bị thất vọng. Nhưng nếu cô biết thức tỉnh thì chính điều đó sẽ giúp cô rèn luyện tính nhẫn nhục, là đức tính cao quý nhất trong mọi đức tính.

 

Nói chung, luật nhân quả luôn tác động một cách khách quan và công bằng, nên đối với ai đã biết nhận ra lỗi lầm thì mọi quả báo xấu khi xảy đến cho họ đều có thể được xem là những bài học để giáo dục tâm hồn, sửa đổi tính tình, hoàn thiện tâm thức trong sự vươn lên hướng thượng. Mục đích cao nhất của mọi nỗ lực phải là sự quay đầu hướng thiện, và nhờ đó mà tương lai của mỗi người chắc chắn sẽ trở nên ngày càng tốt đẹp hơn.


 

 

____________________

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Mười Hai 20187:57 SA(Xem: 361)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
15 Tháng Mười Hai 20187:53 SA(Xem: 30)
Chư Tăng rất ngạc-nhiên thấy tại sao vị Bà-la-môn và vợ lại tự nhận họ là cha mẹ của Đức Phật, và nay họ được tái-sanh về cõi nào. Đức Phật bảo: "Trong tiền-kiếp, cách đây một ngàn năm trăm đời, ông bà ấy đã có thời làm cha mẹ ta, đã có thời làm chú bác ta. Họ nay chứng được quả-vị A-la-hán rồi, chẳng còn phải tái-sanh nữa, (225)
14 Tháng Mười Hai 20188:47 SA(Xem: 35)
Đức Phật ân-cần khuyên: "Nầy gia-chủ, cái chết chẳng phải chỉ đến ở một nơi. Mọi chúng-sanh đã sanh ra, tất có ngày phải chết đi; cuộc sống luôn luôn chấm-dứt bằng cái chết. Gia-chủ đừng nghĩ rằng, chỉ có đứa con yêu-dấu của mình mới bị Thần Chết bắt mang đi. Gia-chủ đừng tỏ ra quá ưu-sầu, chán-nản, lo-lắng đến độ đó. (212)
13 Tháng Mười Hai 20187:46 SA(Xem: 47)
Đức Phật bảo chư Tăng: "Nầy chư Tỳ-kheo, những ai kính-trọng và quí-mến Như-Lai, nên bắt chước mà làm theo như Thi-sa. Quí-vị đừng tưởng rằng đem hương hoa đến cho ta là tỏ lòng ngưỡng-mộ ta. Thực-hành đúng theo Chánh-pháp, đến nơi xa vắng nỗ lực Thiền-định theo lời dạy của ta, đó mới thật là biết cách trả ơn ta." (205)
12 Tháng Mười Hai 20186:29 SA(Xem: 40)
Ngài bảo: "Thú-vui vật-chất, tiền-của, quyền-thế, ăn ngon mặc đẹp đó chưa hẳn là hạnh-phước, vì các điều đó giữ ta mãi trong vòng tái-sanh của Luân-hồi khổ-đau lận-đận. Trên thế-gian nầy, hạnh-phước là gặp được Đức Phật ra đời, có được cơ-duyên nghe lời Ngài giảng-dạy về Sự-Thật cao-quí, và sống trong sự hoà-hợp của Tăng-đoàn." (194)
11 Tháng Mười Hai 20186:38 SA(Xem: 54)
Một hồi lâu sau, Tôn-giả A-nan trở vào trong, chẳng trông thấy các vị tỳ-kheo nữa, mới hỏi Đức Phật các vị ấy bây giờ đang ở đâu. Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, các tỳ-kheo đó, sau khi nghe Ta giảng-pháp, đã chứng-đắc được quả-vị A-la-hán, nên họ mới dùng thần-thông phi giữa không-gian mà ra đi." (175)
10 Tháng Mười Hai 20188:26 SA(Xem: 63)
Đến cuối mùa an-cư, cả đoàn quay về chùa Kỳ-viên. Các vị tỳ-kheo trình lên Đức Phật sự thất-bại của họ cùng nguyên-nhơn do đâu mà họ tu-tập chẳng được tấn-bộ. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, người muốn dạy kẻ khác, trước hết phải tự-dạy lấy mình, tự-điều-phục mình, kềm-chế tư-cách mình cho xứng-đáng." (159)
09 Tháng Mười Hai 20185:54 SA(Xem: 67)
Đức Phật liền bảo: "Nhà vua chớ quá ưu-phiền, luyến-tiếc đến Hoàng-hậu. Nầy, Hoàng-thượng hãy nhìn chiếc long-xa kia, khi xưa Vua Cha đã trang-hoàng lộng-lẫy để lại cho Hoàng-thượng, nay nó đã cũ-kỹ, bỏ nằm yên trong góc phòng. Muôn sự-vật, kể cả tấm thân con người, đều theo lẽ vô-thường mà biến-đổi rồi bị hủy-diệt. (151)
08 Tháng Mười Hai 20189:09 SA(Xem: 66)
Bà bạch Phật các lời ước-nguyện của các hạng giới-tử. Đức Phật liền giảng-dạy như sau: "Này tín-nữ Vi-sa-kha, Sanh, Già, Chết là những điều tất-yếu mà mọi chúng-sanh phải trải qua. Hễ đã sanh ra, thì sẽ lớn lên, già-yếu rồi chết đi, tái-sanh lại theo vòng lẩn-quẩn. Phải biết cách tu-tập để khỏi phải trôi lăn mãi trong sáu cõi của Luân-hồi." (135)
07 Tháng Mười Hai 20189:11 SA(Xem: 63)
Nầy Trưởng-giả, tôi là người giữ cửa nhà của ông. Bấy lâu nay, tôi thấy ông chỉ lo việc cúng-dường cho Sa-môn Cồ-đàm mà chẳng liệu-lý đến gia-sản của mình, cho nên ngày nay ông phải sa-sút. Ông nên thôi, đừng cúng-dường, bố-thí nữa, mà hãy chăm lo việc nhà, tôi sẽ giúp ông trở lại cảnh giàu-sang sung-túc như ngày xưa." (120)
06 Tháng Mười Hai 20189:43 SA(Xem: 57)
Kế đó, Đức Phật lại hỏi chàng thanh-niên đang làm nghề gì để sanh-sống. Anh ta đáp, sống về nghề cờ-bạc. Đức Phật lại hỏi tiếp: "Có được khá không?". "Thưa có khi thắng, có khi thua." Đức Phật bảo: "Đánh thắng các con bạc sao cho bằng tự-mình khắc-phục được tất cả các lậu-hoặc trong tâm mình." (105)
05 Tháng Mười Hai 20188:07 SA(Xem: 70)
Lúc bấy giờ, chư Tăng thấy thái-độ đáng kính của Trưởng-lão nên hết lời khen ngợi. Đức Phật nói: "Nầy chư tỳ-kheo, Xá-lợi-phất chẳng còn chút sân-hận và ác-ý trong tâm nữa. Cũng như đất kia, Xá-lợi-phất rất nhẫn-nhục; cũng như trụ đồng kia, Xá-lợi-phất rất vững-chắc; cũng như nước hồ kia lắng sạch bùn-sình, tâm Xá-lợi-phất luôn luôn thanh-tịnh." (095)
04 Tháng Mười Hai 20186:22 SA(Xem: 70)
Thuở ấy, có một người Bà-la-môn ở làng Vệ-lan-già thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến làng ông ta, để qua mùa an-cư kiết-hạ. Khi Đức Phật và chư Tăng đến làng, thì vị Bà-la-môn chẳng thể cung-ứng nhu-cầu thực-phẩm cho Tăng-đoàn nổi, vì lúc ấy làng Vệ-lan-già đang bị nạn đói-kém. Bấy giờ, Đức Phật cùng các tỳ-kheo hằng ngày phải dùng lúa mã-mạch, (083)
03 Tháng Mười Hai 201811:10 SA(Xem: 79)
Thuở ấy, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, một hôm ra khỏi thành đi dạo, gặp một thiếu-phụ trẻ đẹp đang đứng bên cửa sổ trong nhà. Vua trầm-trồ khen ngợi sắc đep của người đàn-bà ấy và trong lòng nổi lên ý-định muốn xâm-chiếm lấy. Nhưng người đàn-bà ấy đã có chồng. Vua liền cho mời hai vợ chồng người thiếu-phụ vào làm việc (060)
02 Tháng Mười Hai 20186:25 SA(Xem: 79)
Lúc bấy giờ, Đức Phật quán-thấy sự tiến-bộ của vị Tỳ-kheo, liền phóng hào-quang, đến bên cạnh, và nói: "Nầy Tỳ-kheo, như ông vừa quán-thấy trong tâm, tấm thân nầy là vô-thường, chẳng có thực-thể, có khác gì ảo-ảnh trên mặt nước kia." Rồi Đức Phật đọc lên bài kệ sau đây; vị Tỳ-kheo chăm-chú nghe, ghi nhận kỹ và chứng được đạo-quả A-la-hán. (046)
01 Tháng Mười Hai 201811:55 SA(Xem: 76)
Khi nhắc đến vị tỳ-kheo nói trên, nhờ sự hỗ-trợ của bà Mã về thực-phẩm, trong thời-gian tu thiền, Đức Phật có đọc lên bài Kệ sau đây: Tâm rất khó cho ta nắm giữ, Nhẹ-nhàng, nhanh-nhẹn, nó bay cao; Rồi đáp xuống chỗ nào nó thích. Hàng-phục được tâm là tuyệt-đích, Chế-ngự tâm thuần, hạnh-phước cao! (Kệ số 035.)
30 Tháng Mười Một 20188:08 SA(Xem: 77)
Vào độ ấy, hai vị tỳ-kheo đó, sau khi được Đức Phật chỉ-dạy cho mỗi người một đề-tài quán-tưởng, liền đi vào rừng sâu, để tỉnh-tu. Một vị tỳ-kheo có tánh phóng-dật, dành phần lớn thời-giờ ngồi sưởi bên đống lửa, tán chuyện gẫu với các vị tỳ-kheo trẻ tuổi khác trong suốt canh đầu của đêm, rồi sau đó nằm lăn ra ngủ. (029)
29 Tháng Mười Một 20188:57 SA(Xem: 78)
Trong một ngôi làng chẳng xa thành Vương-xá có ông Thuần-đà chuyên nghề giết heo làm thịt bán. Tánh tình ông ta rất thô-bạo, lại rất ghét việc bố-thí làm phước. Suốt đời, ông ta chẳng làm được một việc gì có phước-đức cả. Đến khi gần chết, ông ấy đau-đớn, khổ-sở rất nhiều trong cơn hấp-hối. Ông rên la, tru-tréo, tay chơn co quắp lại, (015)
28 Tháng Mười Một 20189:25 SA(Xem: 95)
Kinh Pháp-Cú, Dhammapada, là quyển thứ hai trong Tiểu-Bộ-Kinh (Khuddhaka Nikàya) thuộc Tạng Kinh (Suttanta Pitaka), trong hệ Pali. Kinh ghi lại 423 bài Kệ ngắn, được chính Đức Phật Thích-Ca nói lên suốt trong thời-gian bốn mươi năm truyền-giảng Chánh-Pháp của Ngài, để dạy cho các đệ-tử xuất-gia cũng như tại-gia.
28 Tháng Mười Một 20188:30 SA(Xem: 166)
Hạnh Nhẫn Nhục (Nhiều Bài Viết) - HT. Thích Thanh Từ
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1000)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1804)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1281)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
15 Tháng Mười Hai 20187:57 SA(Xem: 361)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 623)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2553)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
15 Tháng Mười Hai 20187:57 SA(Xem: 361)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 623)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 321)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1548)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 860)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4042)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".