Chú Thích -Truyện Kiều

18 Tháng Tám 20188:36 SA(Xem: 772)
Chú Thích -Truyện Kiều

 TruyenKieu_1A

 Truyện Kiều - Nguyễn Du (1766-1820) - Truyện Thơ Lục Bát, 3254 Câu

Ba trăm năm nữa nào biết được. 
Thiên hạ ai người khóc Tố Như.
~ Nguyễn Du - Bài 'Đọc Tiểu Thanh Ký' ~

Nguyễn Du (1766-1820) Hiệu Là Tố Như, Thanh Hiên, 
Người Xã Tiên Điền, Huyện Nghi Xuân, Tỉnh Hà Tĩnh  

_____________________



Chú Thích - Truyện Kiều

2. Người có tài thì thường gặp mệnh bạc, hình như Tài, mệnh ghét nhau, xung khắc với nhau, hễ được hơn cái này thì phải kém cái kia.

 

3. Bể dâu: Trong văn chương cổ của chúng ta thường dùng thành ngữ "bãi bể nương dâu", hoặc nói tắt là "bể dâu" để chỉ những sự biến đổi thăng trầm của cuộc đời.

 

5. Bỉ sắc tư phong: Cái kia kém thì cái này hơn, nghĩa là: Được hơn điều này thì bị kém điều kia.

 

6. (Tạo hoá ghen với người đàn bà đẹp). ý nói: Người đàn bà đẹp thường gặp cảnh ngộ không hay.

 

7. Cảo thơm hay Kiểu thơm: do chữ phương cảo, nghĩa là pho sách thơm pho sách hay.

 

8. Phong tình: Chỉ những chuyện ái tình trai gái.

 

Sử xanh: Thời xưa, khi chưa có giấy, người ta chép sử bằng cách khắc chữ vào những thanh trúc, cật trúc màu xanh, nên gọi là thanh sử.

 

9. Gia-tĩnh: Niên hiệu vua Thế Tông, nhà Minh (1522-1566).

 

10. Hai kinh: Tức Bắc Kinh và Nam Kinh (Trung Quốc).

 

11. Viên ngoại: Một chức quan giữ việc sổ sách tại các bộ, đặt ra từ thời Lục-triều. Về sau, "Viên ngoại" dần dần trở thành một hư hàm. Chữ "Viên ngoại" ở đây được dùng theo nghĩa này.

 

14. Chữ: Theo lễ nghi Trung Quốc xưa, người nào cũng có "danh" là tên chính, và "tự" là tên chữ ("Danh" đặt từ khi sinh ra, còn "tụ" thì đến khi hai mươi tuổi mới dựa theo "danh" mà đặt ra).

 

15. Tố Nga: Chỉ người con gái đẹp.

 

17. Thuý Kiều và Thuý Vân, mỗi người có một vẻ riêng ví như mai có "cốt cách" của mai, tuyết có "tinh thần" của tuyết.

 

20. Khuông trăng: Khuôn mặt đầy đặn, tròn trĩnh, xinh xắn như mặt trăng. Nét ngài: nét lông mày.

 

21. Thốt: Tiếng cổ có nghĩa là nói.

 

Hoa cười, ngọc thốt: cười tươi như hoa, nói đẹp như ngọc.

 

25. Thu thuỷ: Nước mùa thu, Xuân sơn: Núi mùa xuân. Câu nói này ví mắt Kiều trong sáng như làn nước mùa thu, lông mày xinh đẹp như rặng núi mùa xuân.

 

27. Bài ca của Lý Diên Niên, đời Hán, ca ngợi sắc đẹp của một mĩ nhân có câu:

 

Nhất cố khuynh nhân thành

Tái cố khuynh nhân quốc

 

Nghĩa là:

 

Quay lại nhìn một lần thì làm nghiêng thành người

Quay lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước người.

 

Do đó, người sau thường dùng chữ nghiêng nước (khuynh quốc), nghiêng thành (khuynh thành) để chỉ sắc đẹp phi thường của người phụ nữ.

 

Hai chữ một hai trong câu này dịch mấy chữ nhất cố, tái cố ở trên.

 

28. Câu này có nghĩa là về "sắc" thì chỉ có một mình Kiều là nhất, về "tài" thì họa may ra thì còn có người thứ hai nữa.

 

31. Cung, thương: Hai âm đứng đầu ngũ âm trong cung bậc nhạc cổ của Trung Quốc: Cung, thương giốc, truỷ, vũ.

 

Lầu bậc: Làu thông cung bậc.

 

32. Hồ cầm: Một loại đàn tỳ bà.

 

Hồ cầm một trương: Một cây đàn hồ cầm.

 

34. Bạc mệnh: Tên bản đàn do Thuý Kiều sáng tác. "Bạc mệnh" nghĩa là số mệnh bạc bẽo, mỏng manh.

 

Não nhân: Làm cho người ta nghe mà não lòng.

 

35. Hồng quần: Cái quân màu hồng, hai chữ này được dùng để chỉ nữ giới.

 

36. Cặp kê: Đến tuổi cài trâm (Kê nghĩa là cài trâm). Theo lễ cổ Trung Quốc, con gái 15 tuổi đến thì hứa gả chồng cho nên bắt đầu búi tóc cài trâm.

 

38. Tường đông: Bức tường ở phía đông. Thời xưa con gái thường ở nhà phía đông. Đây dùng chữ "tường đông" để chỉ chỗ có con gái đẹp ở.

 

39. Con én đưa thoi: Chim én bay đi bay lại như chiếc thoi đưa.

 

40. Thiều quang: ánh sáng tươi đẹp, chỉ tiết mùa xuân. Mùa xuân có 90 ngày (ba tháng), mà đã ngoài 60, tức là đã bước sang tháng ba.

 

43. Thanh minh: Là tiết đầu của mùa xuân nhằm vào đầu tháng ba.

 

44. Tảo mộ: Quét mồ. Theo tục cổ, đến tiết Thanh minh con cháu đi viếng và sửa sang lại phần mộ của cha mẹ tổ tiên.

 

Đạp thanh: Dẫm lên cỏ xanh, chỉ việc trai gái đi chơi xuân, dẫm lên cỏ xanh ngoài đồng, do đó mà gọi hội Thanh minh là hội Đạp thanh.

 

45. Yến anh: Chim yến (én), chim anh (có khi đọc là oanh), hai loài chim về mùa xuân, thường hay ríu rít từng đàn. Đây ví với cảnh những đoàn người rộng ràng đi chơi xuân.

 

48. Ngựa đi như nước: Ngựa xe qua lại như nước chảy, hết lớp này đến lớp khác.

 

áo quần như nêm: ý nói người đông đúc, chen chúc.

 

49. Ngổn ngang gò đống kéo lên: Những đoàn người ngổn ngang kéo nhau lên nơi gò đống.

 

50. Vàng - vó: Một loại vàng giấy, dùng trong việc đưa ma hoặc lễ hội.

 

53. Tiểu khê: Ngòi nước nhỏ.

 

62. Ca nhi: Con hát.

 

65. Hồng nhan: Má hồng, chỉ người đẹp.

 

66. Cành thiên hương: Cành hoa thơm của trời, ví với người đẹp.

 

70. Trâm gãy bình rơi: ý nói người đẹp đã chết.

 

72. Dấu xe ngựa: Dấu vết xe ngựa của những khách đến chơi bời trước đấy.

 

74. Bấy: Biết bao nhiêu.

 

77. Nếp tử, xe châu: Quan tài bằng gỗ tử và xe đưa đám tang có rèm hạt châu. ý nói người khách mua quan tài và thuê xe tang chông cất Đạm Tiên một cách chu đáo.

 

78. Bụi hồng: do chữ hồng trần, nghiã là đám bụi đỏ.

 

Đây muốn ám chỉ nấm mộ nằm bên đường, một nấm mồ lưu lại trong cõi trần gió bụi.

 

79. Thỏ bạc, ác vàng: Người xưa cho rằng trong mặt trăng có con thỏ giã thuốc, trong mặt trời có con quạ vàng ba chân.

 

82. Châu: Hạt ngọc châu, đây chỉ nước mắt.

 

85. Hoá công: Thợ tạo hoá, tức là trời.

 

86. Phượng: Chim phượng trống. LoanI: Chim phượng mái. Trong văn cổ, loan phương dùng để chỉ đôi lứa vợ chồng. ở đây chỉ những khách làng chơi đi lại, chung chạ ái ân với Đạm tiên, ngày trước.

 

90. Tiếc lục tham hồng: ý nói luyến tiếc, ham sắc đẹp của giai nhân.

 

94. Suối vàng: Do chữ Hoàng tuyền ở dưới đất có mạch suối, mà đất thuộc màu vàng, nên gọi là hoàng tuyền.

 

97. áy: Vàng úa.

 

112. Vận vào: ý nói lời nào cũng như ám chỉ vào mình.

 

113. Âm khí: Cái khí cõi âm, cõi chết, ở đây chỉ không khí bãi tha ma.

 

116. Thể: Thể xác (hữu hình). Phách: Chỉ những cái gì vô hình chỉ dựa vào thể xác mà tồn tại.

 

118. Hiển linh: Tỏ sự linh thiêng cho mọi người biết.

 

126. Tinh thành: Lòng thành thuần khiết, lòng chí thành.

 

128. U hiển: U là tối, chỉ cõi chết. Hiển là sáng rõ, chỉ cõi sống. ý nói: chớ nề kẻ sống, người chết, kẻ cõi âm , người cõi dương.

 

136. Tay khấu: Tay càm cương ngựa. ý nói, buông lỏng dây cương cho ngựa đi thong thả.

 

Dăm băng: Như nói dặm đường đi. Băng là lướt đi.

 

137. Lưng túi gió trăng: Tức là lưng túi thơ. Những nhà thơ thời xưa hay ngâm phong vịnh nguyệt, nên người ta gọi thơ là phong nguyệt (gió trăng).

 

139. Câu: con ngựa, non trẻ, xinh đẹp.

 

142. Tự tình: Chuyện trò, bày tỏ tâm tình.

 

143. Hài văn: Thứ giày thêu mà nho sĩ thời xưa thường dùng.

 

Dặm xanh: Dặm cỏ xanh.

 

144. Cây quỳnh, cành giao: Cây ngọc quỳnh và cây ngọc giao. ý nói vẻ khôi ngô tuấn tú của Kim Trọng như làm cho cả một vùng cũng hoá thành đẹp.

 

146. Hai Kiều: Hai người con gái xinh đẹp, tức hai chị em Thuý Kiều.

 

148. Trâm anh: Trâm là cái trâm để cài búi tóc. Anh là cái dải mũ, hai thứ dùng trang sức cho cái mũ của người sĩ tử, quan chức. Nhà trâm anh: Chỉ những nhà thế tộc phong kiến, có người đỗ đạt, làm quan.

 

149. Phú hậu: Giàu có.

 

150. Nết đất: Theo lối nhà, theo dòng dõi trong nhà, mạch đất đó có truyền thống văn chương.

 

151. Phong tư: Dáng điệu.

 

Tài mạo: Tài hoa và dung mạo.

 

152. Phong nhã: Phong lưu nho nhã. Hào hoa: Sang trọng phong cách có vẻ quí phái. Vào trong là ở trong nhà, Ra ngoài là ra giao thiệp với đời.

 

154. Đồng thân: Bạn cùng học.

 

155. Hương lân: Làng xóm, ý nói: Vẫn nghe tiếng khen đồn đại ở vùng lân cận.

 

156. Đồng tước: Đời tam quốc, Tào Tháo đào sông Chương Hà, bắt được đôi chim sẻ đồng, bèn cho xây ở gần đó một toà lâu đài, đặt tên là đài Đồng Tước (sẻ đồng), và định hễ đánh thắng Đông Ngô thì bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều (là vợ Tôn sách và vợ Chu Du) đem về đấy để vui thú cảnh già. Khoá xuân ở đây là khoá kín tuổi xuân, tức cấm cung, tác giả mượn điển cũ để nói lóng rằng: nhà họ Vương có hai cô gái đẹp cấm cung.

 

157. Buồng thêu: Buồng người con gái.

 

158. Chốc mòng: Tiếng cổ, nghĩa là bấy lâu, bấy nay.

 

159. Giải cấu tương phùng: Cuộc gặp gỡ tình cờ.

 

160. Đố lá: Hội đố lá, còn gọi là diệp hý, một tục chơi xuân có từ đời nhà Đường. Vào khoảng tháng ba, trai gái đi du xuân, bẻ một cành cây rồi đố nhau xem số lá chẵn hay lẻ để đoán việc may rủi. Đây là dịp để họ làm quen và tìm hiểu nhau.

 

161. Bóng hồng: Bóng người con gái. Phụ nữ Trung Quốc thời xưa hay mặc quần đỏ nên gọi là bóng hồng.

 

162. Xuân lan, thu cúc: Hai chị em Kiều, mỗi người có một vẻ đẹp riêng, ngưòi như lan mùa xuân, người như cúc mùa thu.

 

163. Quốc sắc: Sắc đẹp nhất nước, chỉ Thuý Kiều.

 

166. Chỉn: Tiếng cổ. Chin khôn: chẳng xong, không xong.

 

173. Gương nga: Theo truyền thuyết trong cung trăng có chị Hằng Nga, nên thường gọi trăng là "gương nga".

 

174. Vàng gieo ngấn nước: ánh trăng vàng dọi xuống ngấn nước.

 

175. Đông lân: Xóm bên đông, nơi có con gái đẹp ở, cũng giống nghĩa chữ "tường đông" (xem chú thích 38).

 

Hải đường là ngọn đông lân: Cây hải đường ở xóm đông ngả ngọn xuống.

 

177. Bóng nga: Bóng trăng.

 

179. Người mà: Chỉ Đạm Tiên.

 

181. Người đâu: Chỉ Kim Trọng.

 

186. Triện: Lan can.

 

187. Tiểu Kiều: Xem chú thích 146.

 

188. Phong vận: Yểu điệu.

 

Thanh tân: Thanh tú tưới tắn.

 

189. ý nói mặt và thân hình người tiểu kiều đó như có sự và tuyết in phủ lấy.

 

190. Sen vàng: Chỉ gót chân người đẹp. Đông Hôn Hầu, đời Tề (Nam Bắc Triều), rất yêu quí phi họ Phan, từng đúc hoa sen bằng vàng lát xuống nền nhà, để cho nàng đi lên rồi khen rằng: "Bộ bộ sing liên hoa" (mỗi bước đi nở ra một hoa sen).

 

Lăng đăng: Tiếng cổ, có nghĩa là đi từ từ chậm chậm, chập chờn mờ tỏ.

 

192. Đào nguyên: Đời Tần có một người đánh cá chèo thuyền ngược theo một dòng suối đi mãi tới một khu rừng trồng toàn đào, thấy nơi đó có một cảnh sống tuyệt đẹp như nơi tiên ở. Người sau dùng chữ "nguồn đào" hay "động đào" để chỉ cảnh tiên.

 

193. Thanh khí: "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" (cùng một thứ tiếng thì ứng với nhau, cùng một loại khí thì tìm đến nhau).

 

195. Hàn gia: Hèn là nghèo, gia là mọn, nhà xoàng, lạnhlẽo, nói khiêm tốn.

 

Tây thiên: Phía trời đàng tây, hoặc cánh đồng phía tây.

 

197. Hạ cố: Trông xuống, chiếu cố đến nhau.

 

198. Hạ tứ: Ban xuống, ban cho. Cả câu: Hai bài thơ của Kiều lời đẹp ý hay, thật quý báu như là ném cho những hạt châu, gieo cho những thỏi vàng vậy.

 

200. Đoạn trường: Đứt ruột, chỉ sự đau đớn bi thương. Số đoạn trường: Sổ ghi tên những người phụ nữ bạc mệnh.

 

201. Quả kiếp nhân duyên: Quả là kết quả. Nhân là nguyên nhân, ý nói duyên (tốt). hay kiếp (xấu) cũng là có nhân với quả cả.

 

208. Tú khẩu, cẩm tâm: Miệng thêu, lòng gấm. ý nói thơ Kiều làm rất hay.

 

222. Đòi cơn: Nhiều cơn.

 

223. Trưởng loan: Màn có thêu chim loan.

 

224. Nhà huyên: chỉ vào bà mẹ. Huyên là cây hoa hiên, theo thuyết cổ, có tính chất làm quên sự lo phiền.

 

226. Hoa lê: Ví với người đẹp, giọt mưa ví với giọt nước mắt.

 

228. Dưỡng sinh: Nuôi dưỡng và sinh ra, chỉ công ơn cha mẹ.

 

235. Mộng triệu: Điều thấy trong mộng.

 

238. MạchTương: Dòng nước mắt. Tương là tên một con sông ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) chảy vào hồ Động Đình. Ngày xưa, vua Thuấn đi tuần thú, chết ở phương xa, hai người vợ vua là Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm, đến ngồi trên bờ sông Tương, khóc rất thảm thiết, nước mắt vẩy ra những khóm trúc xung quanh, làm cho trúc đó hoá thành những điểm lốm đốm. Về sau, các nhà văn thường dùng chữ mạch Tương, giọt Tương để chỉ nước mắt phụ nữ.

 

244. Tơ mành: Sợi tơ mong manh. Hai chữ này chỉ chung Kiều và Kim Trọng để kết thúc đoạn nói về Kim Trọng.

 

245. Thư song: Chỗ cửa sổ phòng đọc sách.

246. Biếng khuây: Không khuây, không khuây.

 

247. Sầu đong càng lắc càng đầy: ý nói mối sầu tương tư, càng ngày càng chồng chất lên mãi.

 

249. Câu này ý nói: Mây che kín cửa sổ phòng Kiều.

 

251. Tuần trăng khuyết: Khuyết hết cả một tuần trăng (cứ mỗi kì trăng tròn, gọi là một tuần trăng). Chỉ thời gian suốt cả tháng.

 

Đĩa dầu hao: Đĩa dầu hao cạn (vì đèn bị thắp khuya).

 

254. ý cả câu: Bút để lâu không viết đến ngọn bị khô đi, đàn để lâu không gẩy đến dây bị chùng lại. ý nói Kim Trọng buồn trong tương tư, bỏ cả việc học hành và gẩy đàn.

 

255. Mạch Tương: Mành làm bằng trúc núi Tương.

 

257. Ba sinh: Do chữ Tam sinh, nghĩa là ba kiếp luân chuyển: "Quá khứ", "hiện tại" và "vị lai" của con người.

 

260. Kỳ ngộ: Sự gặp gỡ kì lạ.

 

264. Vĩ lô: Cây lau, cây sậy.

 

266. Lam Kiều: Vùng đất thuộc Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). Bùi Hàng, đời Đường, khi thi hỏng về, gặp Vân Kiều tặng bài thơ, có câu:"Lam Kiều tiện thị thần tiên quật, hà tất khi (kì) khu thướng ngọc kinh" (cầu Lam là cái tổ tiên đó, hà tất phải vất vả lên đế đô để thi cử làm gì). Về sau, Hàng đi qua một nơi, gọi là Lam Kiều, khát nước, vào xin nước một nhà bà lão gần đấy thấy Vân Anh, (em Vân Kiều), cháu gái bà, người tuyệt đẹp, Hàng ngỏ ý cầu hôn, bà lão bảo: Bà cân dùng cối ngọc và chày ngọc để giã thuốc huyền sương (thứ thuốc tiên), nếu có những thứ ấy làm sính lễ sẽ gả con cho. Hàng về tìm được cối và chày ngọc đưa đến, lại ở đấy giã thuốc cho bà lão một trăm ngày, rồi lấy Vân Anh và sau hai vợ chồng cùng lên cõi tiên. ở đây, Lam Kiều chỉ chỗ nhà ở của Kiều.

 

268. Lá thắm: Do chữ Hồng diệp. vu Hựu, đời Đường, một hôm đi chơi, bắt được chiếc lá đỏ trôi trên ngòi nước từ cung vua chảy ra. Trên lá có đề một bài thơ, Vu Hựu bèn để lại hai câu thơ vào chiếc lá đỏ khác, rồi đem thả nơi đầu ngòi nước, cho trôi vào cung vua. Hàn thị, người cung nữ thả lá đỏ khi trước, lại bắt được lá đỏ của Vu Hựu. Về sau, nhờ dịp vua phóng thích cung nữ, Vu Hựu lấy được Hàn thì.

 

Chim xanh: Người ta thường gọi sứ giả đưa tin là "chim xanh" (thanh điểu). Câu này ý nói: Khó thông tin tức mối manh với Thuý Kiều.

 

257. Ngô Việt thương gia: Nhà đi buôn ở nước Ngô, nước Việt (đi buôn xa, nay Ngô, mai Việt).

 

279. Đá: Đây chỉ núi giả (ta thường gọi là núi non bộ) do những tảng đá xếp thành.

 

280. Lâm Thuý: tên cái hiên của nhà Ngô Việt thương gia. Vì có chữ Thuý trùng với một chữ trong tên Kiều nên Kim Trọng mới mừng thầm là có duyên số tiên định.

 

281. Bài: Bày ra, xếp đặt sẵn, do chữ "an bài".

 

283. Song hồ: Cửa sổ dán giấy. Cành mây: Cánh cửa sổ.

 

285-286. ý nói: Cửa động bị khoá, cửa nguồn bị ngăn, cho nên tuy nhà Kiều gần có ganh tấc, mà vẫn là xa xôi cách trở.

 

287. Nhẫn từ: Kể từ khi (tiếng cổ).

 

293. Tường gấm: Do chữ cẩm tường, bức tường gạch có vẽ hoa như gấm (một cách tô điểm văn hoa).

 

294. Kim thoa: Cái thoa gài tóc bằng vàng.

 

296. Khuê các: Buồng lầu, nơi ở của con gái nhà sang trọng.

 

305. Hư không: Bỗng không, tự nhiên.

 

306. Hợp phố: Tên một quận, trước thuộc Giao châu, nay thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Theo Hán sử: Nguyên xưa, ven bể quận Hợp Phố có loại trai sinh ra một loại ngọc quý, nhưng vì bọn quan tước tham nhũng, bắt nhân dân đi mò ngọc cho chúng, dân tình khổ cực, nên ngọc trai biến đi nơi khác hết. Về sau, có vị quan thanh liêm là Mạnh Thường đến nhận chức, cải cách, chính sự, bãi lệnh mò ngọc, thì ngọc trai lại dần dần trở về. Do đó, người ta thường nói "Châu về Hợp Phố" (Hợp Phố châu hoàn), để chỉ những trường hợp vật báu đã bị mất lại trở về với chủ cũ.

 

311. Lân lí: Nguyên nghĩa là xóm và làng, đây dùng như nhgiã bà con láng giềng.

 

316. Niềm tây: Nỗi lòng, chút tâm sự riêng.

 

319. Thang mây: Do chữ vân thê, nguyên là một khí cụ của quân đội thời dùng để trèo vào thành bên địch (thanh cao, tưởng có thể bắc tới mây được).

 

320. Người hâm nọ: Người gặp gỡ hôm đi thanh minh.

 

Chăng nhe: (từ cổ) phải chăng là.

 

322. Kẻ: Chỉ Kim Trọng. Người: Chỉ Kiều, Kim Trọng nhìn tỏ mặt Kiều, mà Kiều thì e thẹn cúi đầu.

 

323. Ngẫu nhĩ: Tình cờ, cũng như "ngẫu nhiên".

 

324. Chồn: Mệt mỏi, ý nói sốt ruột lắm.

 

325. Xương mai: Xương vóc gầy. Cây mai, thân và cành nhỏ bé, nên người ta thường gọi những người xương vóc gầy là mai cốt (xương mai).

 

Rũ mòn: Gầy mòn, ý nói tương tư mà gầy mòn đi.

 

327-328: ý nói suốt tháng tâm thần như gửi ở cung trăng.

 

330. Đài gương: Giá cao,, trên mặt chiếc gương lớn và hộp đựng đồ trang sức của phụ nữ. Trong văn cổ, thường mượn chữ đài gương để chỉ người phụ nữ.

 

Dấu bèo: ý nói thân phận hèn mọn như cánh bèo trôi nổi mặt nước. ở đây là lời Kim Trọng tự nói khiêm.

 

332. Băng tuyết: ý nói trong sạch, thanh bạch. Chất hằng: Một thể chất lúc nào cũng như thế.

 

Phỉ phong: Hai thứ rau, người ta dùng lá và củ nấu canh hoặc muối dưa làm món ăn hàng ngày. ý cả câu: Gia đình vốn thanh bạch, mà tư chất thì cũng bình thường, không có tài sắc gì, lời Kiều tự khiêm (Bốn chữ trên nói gia đình, bốn chữ dưới nói bản thân).

 

333. Lá thắm: đã giảng ở câu 268.

 

Chỉ hồng: Do chữ xích thằng (sợi dây đỏ) theo sách Tục U quái lục: Vì Cố, người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọn, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời: Đây là sổ sách hôn nhân, và chiếc túi vải này dùng đựng những dây đỏ (xích thằng) dùng để buộc chân đôi vợ chồng. Do điển này mà có những danh từ: "chỉ hồng", "tơ hồng" để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và "Nguyệt lão" (ông già dưới trăng), "Trăng già", "ông Tơ", để chỉ người làm mối mai. Tục xưa: khi cưới vợ, thường làm lễ Tơ hồng, tức là tế ông Nguyệt lão xe dây đỏ đó.

 

339. Dù chăng: Dù chẳng, nếu không.

 

343. Khuôn thiêng: Khuôn tạo hóa, chỉ trời. Khuôn do chữ quân, tức là cái khuôn dùng để nặn đồ gốm. Người xưa ví tạo hoá đúc nặn ra muôn vật như cái khuôn nặn ra các đồ gốm, nên gọi Tạo hoá là Hồng quân, Thiên quân, (khuôn trời).

 

Tấc thành: Tấc lòng chân thành, thành thực.

 

345. Lượng xuân: Nguyên nghĩa là tấm lòng tốt đẹp như mùa xuân. Còn có thể giải là tấm lòng của người phụ nữ trẻ tuổi, xinh đẹp.

 

348. Chiều xuân: Như nói tứ xuân (Xuân tứ).

 

Nét thu: Nét thu ba, nét sóng thu, tức con mắt.

 

352. Đá vàng: Do chữ kim thạch. Kim đây là loài đồng, chỉ chuông đồng, vạc đồng; thạch là đá, chỉ bia đá. Thời xưa, những việc lớn, những công đức hay châm ngôn, thường được người ta khắc vào chuông đồng, bia đá, để lưu truyền thiên cổ. Do đó, người ta thường dùng danh từ kim thạch để chỉ cái gì có tính cách vĩnh cửu bền vững, không thay đổi được, như ghi tạc vào vàng đá. Đây nói: Kiều nhận lời gắn bó với Kim Trọng, và xin ghi tạc lời đó, như ghi tạc vào vàng đá.

 

357. Bả: Bản Trương Vĩnh Ký chú Bả là cầm.

 

Quạt hoa quì: Chiếc quạt bằng lá quì vẽ hoa.

 

359. Tất giao: Sơn và keo, chỉ tình nghĩa gắn bó bền chặt với nhau như hai chất keo và sơn.

 

362. Lầu trang: Lầu trang điểm, chỉ dùng lầu ở của phụ nữ.

 

363. Đá biết tuổi vàng: Muốn xem vàng bao nhiêu tuổi, xấu tốt thế nào, người ta thường dùng thứ đá cuội đen để thử, gọi là hòn đá thử vàng. Qua sự trao đổi, Kim-Kiều đã hiểu biết và yêu nhau, như đá biết rõ tuổi vàng.

 

365. Sông thương: Hai câu này lấy ý ở bài thơ trong Tình sử:

 

" Quân tại Tương giang đầu,

Thiếp tại Tương giang vĩ,

Tương tư bất tương kiến,

Đồng ẩm Tương giang thuỷ"

 

Dịch nghĩa:

 

Chàng ở đầu sông Tương,

Thiếp ở cuối sông Tương,

Nhớ nhau mà chẳng thấy nhau,

Cùng uống nước sông Tương.

 

367. Tuyết trở sương che: ý nói bức tường của nhà Kiều với nhà Kim Trọng như có tuyết sương ngăn trở, che khuất khiến cho hai người gặp gỡ trao đổi tin tức.

 

370. Thư hồng rầm lục: Màu đỏ ít đi, màu xanh rậm thêm, tức là mùa xuân sắp qua, mùa hạ sắp tới.

 

372. Hai đường: Do chữ song đường (xuân đường và huyền đường) chỉ cha mẹ.

 

375. Nhà lan: Do chữ lan thất.

 

377. Thì trân: Những thức ăn quý đương mùa. Thuý Kiều mang sang để tiếp Kim Trọng. Chú ý, "sẵn bày" ở đây không phải là bày biện ra bàn ở nhà Kiều.

 

382. Lửa hương: Hai chữ này thường dùng để chỉ tình duyên vợ chồng.

 

384. Hoa râm: Hoa cây râm, sắc trắng, ví mái tóc lốm đốm bạc trông như những chẫm hoa râm.

 

386. TRI âm: Hiểu biết tiếng đàn. Đời Xuân Thu, Bá Nha, một người giỏi đàn, Chung Tử Kỳ, một người giỏi nghe đàn, đều nổi tiếng, cùng làm bạn với nhau. Tử Kỳ hiểu được tâm hồn bạn trong tiếng đàn, khi Bá Nha gẩy đàn, như núi Thái - Sơn", khi Bá Nha nghĩ đến dòng chảy (lưu thuỷ), thì Tử Kỳ khen: "Tiếng đàn cuồn cuộn như sông Giang, sông Hà". Sau Tử Kỳ chết, Bá Nha đứt dây, đập đàn ra, và than rằng: "Trong thiên hạ không còn ai là tri âm (người hiểu biết tiếng đàn của mình) nữa". Về sau, tri âm dùng để chỉ bạn thân, tri kỷ, hoặc bạn tình.

 

389. Núi giả: Chữ Hán là giả sơn, tức là núi non bộ.

 

391. Động đào: Tức động Đào nguyên.

 

392. Thiên thai: Tên một núi ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, Tương truyền đời Hán, Lưu Thần và Nguyễn Triệu lên núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên nữ rồi cùng nhau kết duyên ở đấy.

 

394. Vạn phúc: Lời chào hỏi chúc mừng khi gặp nhau. Hàn thuyên: lạnh ấm, lời hỏi thăm sức khỏe.

 

396. Phong nguyệt: Lời thơ trăng gió vui chơi. Non sông: Lấy núi sông mà nguyền ước (sông cạn, núi mòn, lời thề cũng không thay đổi).

 

397. Yên: Bàn sách, Bút giá: Cái giá để gác bút. Thi đồng: Cái ống đựng thơ.

 

398. Đạm thanh: Màu xanh nhạt, chỉ màu bức tranh cây thông của Kim Trọng.

 

399. Phong sương: Gió và sương. Bức tranh cây thông vẽ rất tự nhiên như có đượm cả phong sương.

 

402. Phẩm đề: Đề lợi vịnh bức tranh. Thêm hoa: Thêm vẻ đẹp. ý nói bức tranh mới vẽ xong, xin đề mấy vần thơ cho tăng thêm vẻ đẹp.

 

403. Tay tiên: Bàn tay người đẹp, người tiên.

 

405. Nhả ngọc phun châu: Tài xuất khẩu thành thơ hay, như nhả ra ngọc, phun ra châu.

 

406. Nàng Ban: Nàng Ban Chiêu, đời Đông Hán. Nàng học rộng tài cao, được vua Hán vời đến giúp soạn sách.

 

ả Tạ: Nàng Tạ Đạo Uẩn, đời Tấn, là người thông minh, có học thức.

 

410. Ngọc bội: Đồ đeo bằng ngọc. Chữ dùng chỉ chung người ta đã hiển đạt và có quan chức.

 

Kim môn: Tức Kim mã môn nói tắt, tên cửa cung Vị ương của vua nhà Hán (cửa cung có để tượng ngựa đồng nên gọi là Kim mã). Đời Hán Vũ Đế, thường cho những người có văn tài đến đợi ở đây, để chờ nhà vua hỏi han về chính sự. Kiều muốn nói Kim Trọng không là nhà quan cũng là người học cao.

 

412. Khuôn xanh: Cũng như khuôn thiêng, sự sắp đặt của trời.

 

414. Tướng sĩ: Thày xem tướng.

 

415. Anh hoa: Những cái tinh hoa tốt đẹp.

 

419. Giải cấu: Cuộc gặp gỡ tình cờ.

 

420. Nhân định thắng thiên: ý nói: Người ta cũng có thể làm thay đổi được cả số trời.

 

421. Giải kết: Giải là cởi, kết là mối buộc. ý nói, chúng ta đã ràng buộc với nhau, nếu có sự chia rẽ thì quyết liều thân để giữ lời vàng đá.

 

423. Trung khúc: Những sự uỷ khúc ở trong lòng, như nói tâm tình, tâm sự.

 

424. Tàng tàng: Say say, ngà ngà.

 

425. Giang: ý nói ngày ngắn lắm.

 

428. Song sa: Cửa sổ có che vải sa, cũng như song the, chỉ phòng ở của Kiều.

 

430. Hai thận: Cha mẹ, do chữ song thân, tức thân phụ (cha) và thân mẫu (mẹ).

 

433. Nhặt thưa: Mau và thưa, chỉ ánh trăng. ánh trăng giọi bóng cành lá cây xuống làm cho mặt đất chỗ sáng, chỗ tối.

 

434. Trướng huỳnh: Trường là cái màn, huỳnh là con đom đóm. Đời Tấn, Xa Dận ham học, nhà nghèo, đêm khôn có đèn, phải bắt con đom đóm đựng vào túi lụa thưa để mà đọc sách. Chỉ phòng học của Kim Trọng.

 

437. Tiếng sen: Bước chân của người đẹp. Giấc hoè: Theo sách Nam kha ký: Thuần Vu Phần đời Đường, ngày sinh nhật, uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cay hoè già ở phía nam nhà ông, liền mộng thấy đến một nước gọi là "Đại Hoè An", được vua nước ấy gả công chúa, và cho làm quan Thái thú quận Nam Kha, vinh hiển hơn hai mươi năm. Khi tỉnh dậy, chỉ thấy dưới gốc hoè một tổ kiến lớn, trong có con kiến chúa, mới hiểu đó là nước và vua Hoè An (gốc hoè yên ổn), còn Nam kha tức là cành hoè phía nam nhằm thẳng xuống tổ kiến. Do đó, người ta nói "giấc Nam kha" hay "giấc hoè" để chỉ cuộc phú quý hư ảo.

 

438. Đây nói, Kim Trọng sực tỉnh thấy ánh trăng đưa bóng hoa lê tới gần.

 

439. Đỉnh Giáp: Đỉnh núi Vu Giáp (hay Vu Sơn). Vua Sở Hoài Vương đi chơi quán Cao Đường, mộng thấy một người đàn bà đẹp, và tự xưng là thần núi Vu Sơn, sớm làm mây, chiều làm mưa. Do tích này, người ta thường dùng chữ "mây mưa" để chỉ việc ân ái giữa trai gái.

 

Non thần: núi Thần nữ chỗ ở của nàng tiên gặp vua Sở nói trên.

 

446. Đài sen: Cái để thắp nên làm hình hoa sen.

 

Song đào: Chỗ cửa sổ có trồng cây đào.

 

447. Tiên thề: Giấy hoa tiên (giấy viết thư từ có vẽ hoa ghi chép lời thề).

 

452. Đồng: Đồng tâm, cùng một lòng với nhau. Người xưa, thường tặng nhau dây lưng gấm, kết thành vòng hồi văn, ngụ ý thân yêu quấn quýt, gọi là cái "đồng tâm kết".

 

453. Hà: Ráng mặt trời. Chén hà do chữ hà bôi thứ chén bằng ngọc màu ráng đỏ, đây dùng nói chén quý.

 

Quỳnh tương: nước ngọt, ví thứ rượu ngon quý.

 

454. ý nói Kiều với Kim Trọng, ngồi kề nhau, mùi hương quần áo như là hoà lộn với nhau, mà trong binh gương, bóng hai người cũng như lồng đôi với nhau.

 

457. Chày sương, cầu Lam: đã chú ở câu 266.

 

458. Sàm sỡ: Lả lơi không đứng đắn.

 

459. Hồng điệp, xích thằng: xen câu 268 và 238.

 

460. Tương tri: Biết lòng nhau, thông cảm nhau.

 

461. Nguyệt nọ, hoa kia: Chuyện trai gái bất chính.

 

463. Cầm đài: Cái đài ngồi gẩy đàn của Tư Mã Tương Như, một nhà giỏi đàn đời Tây Hán.

 

464. Nước non: Do chữ lưu thuỷ, cao sơn (nước chảy, non cao), những tiếng đàn của Bá Nha mà Chung Tử Kỳ nghe và phân biệt được. Đây Kim Trọng đề cao Kiều lên ngang tài với Bá Nha, và tự cho mình là Chung Kỳ.

 

465. Tiện Kỹ: Nghề mọn, lời nói nhún.

 

467. Cầm trăng: Tức nguyệt cầm, ta gọi là đàn nguyệt.

 

468. Tây nâng ngang mày: Thái độ tỏ ý trân trọng.

 

470. Bận lòng: khó nghĩ. Lắm thân: tiếng cổ, có nghĩa là "lẵm thay".

 

471. Vũ, văn: Vũ là dây đàn to, văn là dây đàn nhỏ.

 

472. Cung thương: xem câu 31.

 

473. Hán sở chiến trường: Bãi chiến trường giữa đời Hán, và nước Sở. Cuối đời Tần, Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Hạng Vũ (Sở Bá vương) đánh nhau nhiều trận kịch liệt.

 

474. Tiếng sắt, tiếng vàng: Tiếng khí giới bằng sắt, bằng kim loại va chạm xô xát nhau.

 

475. Tư mã phượng cầu: Tư mã Tương Như người đời Hán, có văn tài, ở đất Lâm Cùng, Trác Vương Tôn, có con gái là Văn Quân, người đẹp mà mới goá chồng. Tương Như gẩy khúc đàn "Phượng cầu hoàng" để tỏ tình với Văn Quân cảm tiếng đàn, đêm ấy, bỏ nhà trốn theo Tương Như.

 

477. Kê Khang, Quảng Lăng: Kê Khang, đời Tam quốc, đêm gẩy đàn cầm ở đình Hoa Dương, bỗng có người khách lạ tới dạy cho khúc "Quảng Lăng tán", âm điệu tuyệt hay.

 

478. Lưu thuỷ, hành vân: Nước chảy, mây bay. ý nói khúc đàn thanh thoát lưu loát.

 

479. Quá quan: Đi qua cửa ải. Chiêu Quân: Tên chữ của Vương Tường, một cung nữ đời Hán Nguyên đế, bị gả cho chúa Hung nô, khi qua cửa ải, vào đất Hung nô, Chiêu Quân thường gảy khúc đàn tỳ bà để tỏ nỗi lòng nhớ nhà, nhớ nước.

 

482. Tiếng suối: Tiếng đàn nghe đục như tiếng ầm ì của dòng suối dội ở lưng chừng núi xuống.

 

488. Chín khúc: Chỉ các khúc ruột chứ không nhất thiết phải đúng chín khúc ruột.

 

491. Tiêu tao: Chính nghĩa là tiêu điều, thê hương, đây dùng chỉ tiếng đàn buồn rầu, sầu não.

 

492. Dột: ủ dột.

 

Nao nao: Xao xuyến, đau xót.

 

495. Lời vàng: Lời khuyên quí giá.

 

497. Hoa hương: Hoá có hương thơm. Thức hồng: vẻ hồng. Càng đàn, càng thơ, nàng Kiều càng đẹp, tình ý đôi bên càng nồng nàn.

 

501. Làm chơi: Xem vấn đề là thường, không quan trọng.

 

503. Yêu đào: Cây đào non, lấy chữ ở thơ "Đào yêu", Kinh thi: Đào chi yêu yêu (cây đào non mơn mởn) ví với người con gái trẻ mà đẹp, đã đến tuổi đi lấy chồng.

 

505. Bố kinh: Bố là vải, kinh là cây kinh, một loại cây mọc thành cụm, hoa màu tía nhạt, cành và thân cứng rắn, thời xưa, những phụ nữ nghèo thường dùng cành nó làm trâm cài tóc.

 

ở đây, ý Kiều nói: Đã cho vào hang người vợ chính thức như hạng bố kính thời xưa (không phải là nhân tình, nhân ngãi).

 

506. Tòng phu: Theo chồng, chí cái đạo làm vợ, theo quan niệm Nho giáo xưa.

 

507. Trên Bộc, trong dâu: Trong bãi dâu, trên sông Bộc. Xưa ở nước Vệ, đời Xuân Thu, có tục trai gái hẹn hò, tụ hội nhau ở bãi dâu trên sông Bộc để hát hổng, đùa bỡn, làm việc dâm đãng.

 

511. Kỳ ngộ: Cuộc gặp gỡ kỳ lạ, chỉ cuộc nhân duyên tốt đẹp của đôi tài tử giai nhân.

 

514. Thôi, Trương: Theo Tây sương ký: Thôi Oanh và Trương Cung, tên tự là Quân Thuỵ, đời Đường, là đôi trai tài, gái sắc, đẹp đôi, vừa lứa, đã gặp gỡ và yêu nhau ở chái tây chùa Phổ Cứu, đất Bổ Đông, nhưng vì đã đi lại ăn nằm với nhau, nên về sau chán nhau mà bỏ nhau.

 

Đá vàng: Đây chỉ tình vợ chồng chung thuỷ, đoan chính.

 

514. Yến anh: Đây ví với cặp trai gái.

 

515. Chắp cánh liền cành: Nói khi ăn nằm ân ái với nhau. Theo bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị, vua Đường Huyền tông và Đường quý phi nguyện với nhau trong đêm "thất tịch": Tại thiên nguyện tác ti dực diểu, tại địa nguyên vi liên lí chí (trên trời nguyện làm đôi chim liền cánh, dưới đất nguyện là hai cây liền cành).

 

517. Mái tây: Do chữ tây sương, tức chái tây chùa Phổ Cứu, nơi Thôi, Trương gặp gỡ nhau.

 

Hương nguyền: Nén hương để thề nguyền.

 

519. Gieo thoi: Các sách thường dẫn điển sau đây: Tạ Côn đời Tấn, ghẹo người con gái đang ngồi dệt cửi, bị cô ta cần cái thoi ném vào mặt, gẫy mất hai cái răng (theo Tấn thư).

 

524. Vì: Nể, tiếng cổ, cũng có nghĩa là yêu (yêu vì Nặng lòng xót liễu vì hoa).

 

525. Bóng tầu: Bóng mái nhà (Tàu: Miếng gỗ dài đặt dọc ở mái hiên, để đỡ lấy mái nhà, gần chỗ giọt tranh).

 

Vẻ ngân: Vẻ sáng như bạc, chỉ ánh trăng.

 

528. Sân đào: Sân có trồng cây đào.

 

530. Gia đồng: Người phục dịch công việc ở trong nhà.

 

Thúc phụ: Chú ruột.

 

Từ đường: Từ bỏ nơi nhà ở, tức là chết.

 

532. Lữ thấn: Chết nhưng mà chưa chôn, quan tài còn quàn tạm ở nơi đất khách.

 

533. Liêu dương: Tên đất, nay thuộc tỉnh Liêu Ninh (Trung Quốc) nơi chủ ruột Kim Trọng chết.

 

Sơn khê: Núi và khe ngòi.

 

534. Xuân đường: Cha, Xuân là một loại cây sống rất lâu. Người sau nhân gọi cha là xuân hay Xuân đường (nhà xuân), có ý mong cha được tuổi thọ như cây ấy.

 

Hộ tang: Trông coi việc tang.

 

535. Mảng: Tiếng cổ.

 

Mảng tin: Mới chợt nghe tin.

 

536. Đài trang: Do chữ trang đài, nơi trang điểm của phụ nữ.

 

537. Đinh ninh: cẵn kẽ, đến nơi đến chốn.

 

539. Đôi hồi: Giãi bày, trò chuyện hết lời với nhau.

 

540. Trao tơ: Chỉ việc kết hôn. Theo sách Khai nguyên Thiên bảo di sự: Trương Gia Trinh, tể tướng nhà Đường, có năm con gái, muốn gả một người cho Quách Nguyên Chấn, đô đốc Lương Châu, người đẹp mà có tài nghệ, bèn bảo năm con đứng sau một bức màn, mỗi người cầm một sợi dây tơ dài, dòng ra ngoài, và cho Nguyên Chấn tuỳ ý kéo lấy một sợi, trúng sợi nào thì lấy người cầm sợi ấy. Nguyên Chấn được kéo sợi tơ đỏ, lấy người con thứ ba, rất đẹp.

 

543. Ba đông: Ba năm để tang.

 

544. Chầy: Còn chậm, còn lâu ngày.

 

545. Gìn vàng giữ ngọc: Giữ thân thể cho được khoẻ mạnh, và cũng ngụ ý giữ gìn mối tình cho được thuỷ chung, trong sạch.

 

556. Ôm cầm thuyền ai: Ôm đàn sang thuyền của người khác, tức là đi lấy chồng khác.

 

566. Quyên: Chim đỗ quyên, tức chim quốc. Đây tả cảnh cuối hè, sang thu. Tiếng quyên kêu còn ra rả (nhặt) đầu cành và bóng nhạn đã thấy bay loáng thoáng (thưa) ở chân trời.

 

567. Cữ, tuần: Người xưa thường tính bảy ngày là một cữ, và mười ngày là một tuần.

 

568. Tương tư: Nguyên nghĩa là ở xa cách mà cùng nhớ nhau, sau người ta mượn để nói sự nhớ nhau của đôi trai gái yêu nhau.

 

570. Chín hồi: Do chữ cửu hồi, ruột chín lần bị đau quặn lại.

 

574. Ngoại hương: Làng ngoại, quê ngoại.

Giãi dề: Giải bày, chuyện trò.

 

576. Sai nha: Nha lại do quan trên sai phái đi.

 

577. Thước: Tay thước, một thứ võ khí cổ, bằng gỗ, dài độ một thước tây, cạnh vuông bốn góc, dùng để đánh người.

 

Nách thước: Nách cắp tay thước.

 

Đao: Dao to, mã tấu, thứ võ khí bằng sắt, lưỡi to.

 

579. Già: Cái gông. Giang: Khiêng đi, giải đi. ở đây nói cha con viên ngoại và Vương quan bị đóng gông lại.

 

583. Tế nhuyễn: Nhỏ bé, mềm mại, chỉ chung những đồ vàng ngọc quí gái và trang sức, quần áo dễ mang đi.

 

585. Bay buộc: ý nói cái tai vạ tự đâu bay đến, buộc vào.

 

586. Dậm: Một dụng cụ đánh cá.

 

588. Xưng xuất: Xưng ra, khai ra.

 

590. Loà mây: Làm mờ cả bầu trời. ý nói: một vụ hết sức oan uổng.

 

594. Hạ từ: Hạ lời, nói lời thanh minh để kêu cầu van xin.

 

Lân tuất: Thương xót, thương tình. ý cả câu: tụi sai nha cứ phủ tay đánh đập, mặc những lời kêu van của nhà Kiều, chúng chỉ làm điếc làm ngơ.

 

593. Rường cao: Thanh rường nhà bắc ở trên cao. Dây oan: Dây trói oan uổng. Tụi sai nha trói và treo ngược hai cha con họ Vương lên rường nhà.

 

599. Cốt nhục: Ruột thịt, chỉ Vương ông và Vương Quan.

 

600. Ngộ biến tòng quyền: Gặp cảnh biến phải theo đạo "quyền" (không thể giữ nguyên đạo "kinh" như lúc bình thường được). ý nói: Phải tuỳ theo hoàn cảnh mà xử sự cho thích hợp.

 

601. Hội ngộ: Gặp gỡ gắn bó nhau. Chỉ mối tình duyên giữa Kiều với Kim Trọng.

 

Cù lao: Công ơn sinh dưỡng khó nhọc của cha mẹ.

 

603. Thệ hải minh sơn: Chỉ non thề bể.

 

604. Sinh thành: Công ơn cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng nên người.

 

605. Hạ tình: Tỏ bầy ý nghĩ.

 

606. Rẽ cho: Lời gạt đi ý kiến những người khác để nói lên ý kiến của mình một cách kiên quyết.

 

607. Lại già: Người gia lại già.

 

608. Nha dịch: Người làm việc ở nơi gia môn, tức nơi công sở của các phủ huyện.

 

614. Qui liệu: Thu xếp, lo liệu.

 

617. Tử biệt sinh ly: Chết vĩnh biệt nhau gọi là "tử biệt", sống mà xa lìa nhau gọi là "sinh ly". Đó là hai cảnh thương tâm lớn của đời người. Tuy là hai cảnh, nhưng người ta thường dùng làm một thành ngữ, để nói chung cho người gặp cảnh "tử biệt" cũng như người gặp cảnh "sinh ly".

 

619. Hạt mưa: Chỉ thân phận người con gái

 

Ca dao:

 

Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng lầy.

 

620. Tấc cỏ, ba xuân: Do chữ tnốn thảo, tâm xuân. Thơ tả tình đi chơi xa nhớ mẹ của Mạnh Giao đời Đường có câu: Dục tương thốn thảo tâm, báo đáp tam xuân huy (Ai bảo cái lòng của ngọn cỏ một tấc (ngọn cỏ ngắn) báo đáp được ánh sáng ấm áp của ba tháng xuân). Tấc cỏ: Ví với người con. Ba xuân Ví với công ơn cha mẹ.

 

621. Băng nhân: Người làm mối.

 

622. Tin sương: Do chữ sương tín. Tin sương là ngụ ý chỉ tin tức truyền đi.

 

624. Viễn khách: Khách phương xa.

 

625. Giám sinh: Sinh viên học tại Quốc tử giám, một thứ trường đại học của triều đình phong kiến, lập ở kinh đô để đào tạo người ra làm quan.

 

626. Lâm thanh: Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc).

 

627. Tử tuần: Bốn mươi tuổi (mỗi một tuần là mười tuổi).

 

630. Nỗi mình: Nỗi riêng của mình, chỉ cuộc tình duyên dở dang với Kim Trọng. Nỗi nhà: Nỗi tai vạ của toàn gia đình họ Vương.

 

635. Rợn gió: Sợ gió.

 

638. Điệu: Cách điệu, cốt cách.

 

644. Sinh nghi: Đồ dẫn cưới, tiền dẫn cưới.

 

645. Nghìn vàng: Đời hán, một nghìn vàng tức là một cân vàng, sau dùng để chỉ nghìn lạng vàng.

 

646. Rớp nhà: Nhà gặp lúc hoạn nạn.

 

649. Êm dằm: ý nói sự việc đã lo lót xong xuôi, êm thấm, giống như chiếc thuyền đã đứng êm dằm, khôn còn tròng trành nữa.

 

650. Canh thiếp: Lá thiếp biên tên, tuổi (nhân trong thiếp có biên tuổi, tức niên canh, nên gọi là canh thiếp). Theo hôn lễ xưa, khi bắt đầu dạm hỏi, nhà trai, nhà gái trao đổi canh thiếp của trai gái để đính ước với nhau.

 

651. Nạp thái: Chỉ lễ dẫn đồ cưới.

 

Vu qui: Về nhà chồng, chỉ lệ đón dâu.

 

654. Khất tử: Đơn xin (Nhà Kiều làm đơn xin tạm tha cho Vương ông).

 

658. Gieo cầu: Hán Vũ đế kén phò mã, cho công chúa ngồi lên lầu, ném quả cầu xuống, ai cướp được thì làm phò mã.

 

660. Vu thác: Vu là đổ tội cho, thác là đặt điều ra.

 

669. Một mảnh hồng nhan: Như nói một mụn con gái.

 

671. Nàng Oanh: Nàng Đề Oanh. Theo Liệt nữ truyện: Để Oanh người đời Hán, khi cha nàng là Thuấn Vu ý, phạm tội, bị hạ ngục ở Tràng An, chờ ngày hành hình, Đề Oanh dâng thư lên vua Văn đế, xin nộp mình làm giá hầu cho các nhà quan để chuộc tội cho cha, Văn đế cảm động, xuống chiếu tha cho cha nàng.

 

672. ả Lý: Nàng Lý Ký. Theo sách Đường dại tùng thư: Lý Ký, đời đường nhà nghèo, tự nguyện bán mình cho người làng đem cúng thần rắn, để lấy tiền nuôi cha mẹ. Về sau nàng chém chết thần rắn, rồi lấy vua Việt vương.

 

673. Cỗi xuân: Gốc cây xuân, chỉ người cha. Sách xưa nói: Tuổi hạc: Tuổi con chim hạc, như nói tuổi thọ. Sách xưa nói, chim hạc sống lâu một nghìn năm.

 

675. Lòng tơ: Tấm lòng thương con vương vấn không dứt.

 

676. Gió mưa: Chỉ những tai biến xảy đến.

 

Nước non: Chỉ cơ nghiệp nhà (nước non cũng như giang sơn).

 

678. Hoa dù rã cánh: Tức cây còn xanh lá, nói Vương ông được an toàn.

 

679. Cũng vầy: cũng vậy, cũng thế thôi.

 

680. Đậu: Một cái hoa kết được thành quả, hay một cái quả giữ được đến lúc chín, không bị nửa chừng rụng đi, thì người ta gọi là cái hoa đậu, cái quả đậu. Cả câu: ý nói cũng xem như là đã chết ngay từ lúc còn nhỏ tuổi.

 

691. Giúp vì: Giúp đỡ.

 

692. Lễ tâm: Lễ vật của dân sự "thành tâm" đem đút lót cho bọn quan lại. Tụng kỳ: Kỳ xử kiện, tức phiên xử án.

 

694. Tinh kỳ: Người ta thường dùng chữ tinh kỳ để chỉ cái ngày thành hôn, vì theo hôn lễ xưa, người ta đón dâu vào buổi tối.

 

697. Dầu: Cũng như nghĩa đành (dầu lòng, đành lòng).

 

698. Một lời: Một lời thề nguyền. ý Kiều nói: Số phận ra sao cũng đành, nhưng chỉ đau lòng là trót đeo đẳng lời thề với Kim Trọng.

 

703. Trời liêu: Liêu dương.

 

707. Tái sinh: Một kiếp sống nữa, kiếp sau cũng như nói lai sinh

 

Hương thề: Mảnh hương thề nguyền. Xem chú thích 517.

 

708. Trâu ngựa: Theo thuyết luân hồi nhà Phật: Người nào kiếp này mắc nợ ai mà chưa trả được, thì kiếp sau phải hoá làm thân trâu ngựa nhà người ta để đền trả cho xong.

 

Nghì: Tức là chữ "nghĩa" được đọc chệch ra.

 

Trúc mai: Tình nghĩa bền chặt thân thiết như vậy cây trúc, cây mai thường được trồng gần nhau.

 

710. Khối tình: Tình sử: Xưa có một cô gái yêu một người lái buôn. Người lái buôn đi mãi chưa về, cô ta ốm tương tư mà chết. Khi hoả táng, quả tim kết thành một khối rắn, đốt không cháy, đập không vỡ. Sau người lái buôn trở về, thương khóc, nước mắt nhỏ vào khối ấy liền tan ra thành huyết.

 

Tuyền đài: Nơi ở dưới suối vàng, tức nơi ở của người chết.

 

711. Bàn hoàn: ở đây có nghĩa là nghĩ quanh, nghĩ quẩn mãi không dứt.

 

713. Giấc xuân: Giấc ngủ ngon lành.

 

715. Cơ trời: Tức thiên cơ, máy trời.

 

Dâu bể: Cũng như "bể dâu".

 

Đa đoan: Nhiều mối nhiều việc.

 

717. Nhẫn: Tiếng cổ, ngồi nhẫn là ngồi mãi suốt đêm.

 

726. Kéo loan: do chữ loan giao, tức thứ keo chế bằng máu chim loan. Tương truyền người xưa thường dùng để nối dây đàn và dây cung.

 

Mối tơ thừa: Ví dây tơ tình với dây đàn, dây tơ tình bị đứt.

 

723. Lời non nước: Lời thề nguyền chỉ non thề bể.

 

734. Chín suối: Do chữ cửu tuyền, chỉ nơi suối vàng.

 

735. Tờ mây: Tờ giấy vẽ mây, tức tờ giấy ghi lời thề nguyền của Kim, Kiều.

 

740. Mảnh hương nguyền: Những manhr gỗ thơm đã đốt dở trong cuộc thề nguyền của Kim, Kiều. Thời xưa, khi thề nguyền với nhau, người ta thường đốt hương.

 

746. Bồ liễu: Một loại cây ưa mọc gần nước. Cây bồ liễu rụng lá sớm hơn hết các loài cây, vì cái thể chất yếu đuối đó nên trong văn cổ thường dùng để ví với người phụ nữ.

 

747. Dạ dài: Đài đêm tối, nghĩa bóng là cõi chết.

 

749. Trâm gẫy bình tan: Thơ Bạch Cư Dị, đời Đường: Bình truỵ trâm chiết thị hà như, tự thiếp kim triêu dữ quân biệt. (Cái cảnh bình rơi trâm gãy là thế nào? nó giống như cảnh biệt ly của thiếp với chàng buổi sáng nay). Đây dùng chỉ cuộc tình duyên tan vỡ.

 

751. Tình quân: Người tình, cũng như tình lang.

 

753. Phận bạc: Chính nghĩa là phận mỏng, tức bạc mệnh.

 

754. Nước chảy hoa trôi: Hoa rụng xuống, nước trôi đi, nguyên chỉ cảnh xuân tàn, sau thường mượn để nói sự tàn tạ của đời người.

 

759. Xuân huyên: Xuân đường, huyên đường, tức cha mẹ.

 

762. Vựng: Cơn ngất, bất tỉnh nhân sự.

 

Giọt hồng: Giọt nước mắt có máu, giọt lệ thảm.

 

769. Nói tình duyên nửa chừng bị chia lìa, tan vỡ.

 

772. Mòn bia đá: Chỉ một khoảng thời gian rất lâu.

 

Tấc vàng: Tấc lòng bền vững như vàng.

 

773. Chiềng: Trình, tiếng cổ.

 

775. Tôi đòi: Kiều bán mình làm vợ lẽ nàng tự xem như kẻ ăn người ở.

 

Mấy hồi: Mấy hồi trống tan canh.

 

780. Quân huyền: Chính nghĩa là ống trúc và dây đàn, thường dùng chỉ đàn. Đây nói họ Mã đưa các đồ âm nhạc đến đón Kiều.

 

782. Đại ý cả câu: Giọt lệ rơi xuống, có thể thấm qua cả đá, tơ ruột rút ra, có thể làm chết rũ cả con tằm.

 

785. Trú phường: Chỗ phố trọ, nhà trọ.

 

786. Xuân khoá: Chữ xuân ở đây không phải là mùa xuân. Chú ý: lúc Mã Giám sinh đón Kiều là mùa thu: Đêm thu một khắc một chầy.

 

787. Lục hồng: Màu lá xanh, màu hoa đỏ thường dùng để chỉ sắc đẹp của phụ nữ.

 

788. Nghĩ lòng: Nghĩ riêng trong lòng.

 

Đòi phen: Nhiều phen, nhiều lúc.

 

789. Phẩm tiên: Của trên cõi tiên. Hèn hạ, tục tằn.

 

790. Nắng giữ mưa gìn: ý nói giữ gìn trinh tiết một cách thận trọng.

 

792. Nhị đào: Hoa đào còn phong nhị ví với người con gái còn trinh.

 

793. Gió đông: Tiếp ý chữ nhị đào ở trên, ý nói: Không để cho người tình chung bẻ nhị đào, giống như ngăn đón gió đông không cho đến với nhị đào vậy.

 

795. Trùng phùng: Gặp gỡ lần thứ hai, ý nói đến sau này lại gặp Kim Trọng.

 

799. Yên: Cái án, một loại bàn cổ, chân cao, bề mặt hẹp và dài.

 

806. Phong tình: ăn chơi phóng đãng bất chính.

809. Lầu xanh: Do chữ thanh lâu: Cái lầu sơn mầu xanh. Chữ thanh lâu nguyên chỉ lầu ở của phái quyền quí hay vua chúa, hoặc chỉ lầu ở của mỹ nhân. Về sau thanh lâu mới có nghĩa là nhà hát, nhà điếm.

 

810. Làng chơi: thuộc loại gái điếm gái làng chơi.

 

812. Mạt cưa mướp đắng: Chuyện cổ tích: "Một người lấy mạt cưa làm cám, đợi lúc nhá nhem tối, đem ra chợ bán, lại gặp một người đem mướp đắng giả làm dưa chuột ra bán. Hai người bán lẫn cho nhau, thế là bợm lại mắc bợm". Đây nói Mã Giám sinh và Tú bà cùng là phường bịp.

 

814. Buôn phấn bán hương: Mua những con gái ở các nơi về làm gái điếm. Phấn và hương là hai thứ nữ giới dùng để trang điểm, nên mượn để chỉ chung nữ giới.

 

Đã lề: ý nói đã thành nề nếp, đã quen nghề.

 

815. Chợ: Kẻ chợ, tức nơi thành thị, đô hội. Khắp chợ thì quê: Lối nói cổ, có nghĩa là: khắp chợ cùng quê, khắp vùng kẻ chợ đến miền thôn quê.

 

816. Giả danh hầu hạ: Mượn tiếng là tìm nàng hầu vợ lẽ để về hầu hạ.

 

Dạy nghề ăn chơi: Dạy nghề làm gái điếm kiếm tiền.

 

819. Thuyền quyên: Nguyên nghĩa là óng ả xinh tươi để chỉ người phụ nữ đẹp.

 

821. Mẹo lừa: mưu mẹo lừa dối.

 

Khuôn: Như nói vành, đã mắc vào vành không ra được nữa.

 

822. Nghinh hôn: Đón dâu.

 

823. Cờ đến tay: Đây mượn câu tục ngữ: Cờ đến tay ai, người nấy phất, để nói ý nghĩ của Mã: Kiều đã vào tay mình rồi muốn làm gì thì làm.

 

824. Vẻ ngọc: Vẻ mặt đẹp như ngọc.

 

Khúc vàng: Khúc lòng.

 

826. Câu này do chữ nhất tiểu thiên kim: Một nụ cười của người đẹp đáng giá nghìn vàng.

 

827. Bẻ hoa: Tức phá trinh tiết của Kiều.

 

828. Vương tôn: Chỉ con gái các nhà quí phái.

 

834. Câu này ý nói: Đào tiên đã tới tay,thì vin cành bẻ phắt đi cho thoả sự đời (tức là làm ngay cái việc "nước trước bẻ hoa" ở trên).

 

835. Dưới trần: Như nói trong cõi đời, ở đời. Mấy mặt: Mấy người.

 

836. Biết hoa: Biết giá trị của hoa. ý nói: Bọn làng chơi đã dễ mấy người phân biệt được gái tân với gái mất tân.

 

837. Nước vỏ lựu, mái mào gà: Theo sách Bắc lý chi: Gái thanh lâu tiếp khách xong, lại lấy nước vở lựu máu mào gà sống để rửa, giả làm gái còn tân để đánh lừa khách chơi.

 

838. Chiêu tập: Dùng cách sửa chữa làm như còn nguyên vẹn.

 

839. Con đen: Những người còn trẻ tuổi mà khờ dại, đây chỉ những khách chơi không sành sỏi.

 

845. Trà mi: Một thứ hoa nở về mùa xuân đầu hạ, hoa mầu vàng nhạt rất đẹp.

 

848. Ngọc, hương: Ngọc đẹp, hương thơm, ví với người đẹp.

 

850. Đuốc hoa: Do chữ hoa chúc: đuốc hoa, nến hoa.

 

858. Quyên sinh: Bỏ đời sống, tức tự tử.

 

860. Hai tình: Chỉ cha mẹ. ý nói: Một mình thì tự tử chẳng sao, nhưng còn cha mẹ thì làm thế nào?

 

862. Truy nguyên: Tìm đến căn nguyên, gốc rễ của sự việc.

 

863. Giãn: Nới ra. Nỗi lòng của Kiều lúc trước như bị bóp nghẹt, nay nghĩ đi nghĩ lại, thấy nới dần ra.

 

864. Một lần: Một lần chết. Kiều nghĩ: chóng hay chậm, cũng một lần chết, nếu bây giờ nàng chết đi tất liên luỵ đến cha mẹ.

 

866. Gáy sôi:: Gáy ầm ỹ, dồn dập. Chữ "sôi" có hàm ý giục giã.

 

867. Lầu mai: Chòi canh về sáng.

 

Còi sương: Tiếng tù và thổi lúc sớm tinh sương.

 

869. Đoạn trường: Đứt ruột có nghĩa đau đớn quá (như dứt từng khúc ruột). Phân kỳ: Chia đường, chia lìa mỗi người mỗi ngả như nói "chia tay".

 

870. Vó câu: Vó ngựa (Câu: ngựa non đang sức lớn). Những chữ "khấp khểnh", "ghập ghềnh" vừa tả con đường đi gồ ghề khó khăn, vừa ngụ ý thân thế Kiều đã long đong vất vả ngay từ lúc bước chân ra đi...

 

871. Trường đình: Đời Tần, Hán, người ta chia đường ra từng cung, cứ năm dặm là một cung ngắn, có một cái quán, gọi là "đoản đinh" (quán ngắn) mười dặm là một cung dài, lại có một cái quán nữa gọi là "trường đình" (quán dài). Tục cổ, chủ thường tiễn khách ra khỏi mười dặm đường làm tiệc tiến hành ở trường đình rồi mới trở về.

 

873. Chủ khách: Chỉ Vương ông Mã Giám sinh.

 

877. Thơ đào: Đây có nghĩa là con gái ít tuổi, ngây thơ.

 

884. Dùng dắng: Dùng dằng, do dự, khi Mã vào trong phòng Kiều thì do dự mà khi ở phòng ra thì vội vàng.

 

886. Thầy tớ: Chỉ Mã và bọn tôi tớ Mã.

 

893. Tuần: Tuần rượu, mỗi chén rượu đôi bên cùng uống cạn là một tuần.

 

Chén khuyên: Chén khuyên mời, đây là chén rượu tiến.

 

894. Nghỉ: Nó, hắn, y, thổ âm Nghệ Tĩnh đây chỉ Mã.

 

986.Trước yên: Trước yên ngựa của Mã.

 

897. Yếu liễu thơ đào: ý nói Kiều còn yếu ớt thơ dại, ví như cây liễu yếu cây đào non.

 

899. Góc bể chân trời: Do chữ hải giác thiên nhai: Góc biển cả, chỗ cùng nận bầu trời ý nói xa xôi hết sức.

 

901. Tầm: Một đơn vị đo lường cổ của Trung Quốc, dài tám thước.

 

Nghìn tầm: 8000 thước, nghĩa bóng: cao lắm!

 

Tùng quân: Tùng là cây thông, một thứ cây cao lớn, lthân thẳng và cứng cáp, mùa đông lá cây vẫn xanh tươi, trong văn cổ, thường dùng để tượng trưng cho người trượng phu. Quân là cây trúc, dóng thẳng đốt ngang, thân rỗng mà không cong queo, thường dùng để tượng trưng cho người quân tử.

 

902. Tuyết sương che chở: Tức che chở cho khỏi tuyết sương.

 

Cát đằng: Dây sắn, một loại day phải leo bám vào những cây to, người ta thường nói "cát đằng" "cát luỹ" hay "sắn bìm" để chỉ người vợ thiếp.

 

904. Nhiệm trao: ý nói số trời mầu nhiệm đã buộc sợi "xích thằng".

 

906. Gương nhật nguyệt: Gương mặt trời, mặt trăng. Chữ "gương" hàm ý soi tỏ tội lỗi. Dao quỷ thần: Gươm dao của quỷ thần, hàm ý trừng phạt, ý Mã nói: nếu sau này ăn ở không thuỷ chung, sẽ có trời soi tỏ tội lỗi và bị quỷ thần trừng phạt.

 

907. Gió giục mây vần: Tả xe Kiều đi mau lẹ, vội vã.

 

909. Trông vời: Tức trông với theo một cái gì đó đã đi xa.

 

9912. Bạc phau: Trắng phau, trắng xoá.

 

Cầu giá: Váng sương bám trên mặt cầu buổi sớm mai.

 

Ngàn mây: Những đám mây ở những nơi rừng núi. Câu này tả cảnh cuối thu, bắt đầu sang đông.

 

913. Hơi may: Hơi gió heo may.

 

915. Ngất tạnh: Bầu trời cao ngất mà tạnh ráo.

 

Mù khơi: Mù mịt xa khơi.

 

916. Lời non sông: Kiều thấy trăng mà nhớ đến cái "vầng trăng" đêm nào đã chứng kiến cuộc thề nguyện của hai người.

 

917. Từng biếc xen hồng: Rừng cây mùa thu có những lá úa màu đỏ xen giữa từng lá mùa xanh.

 

918. Thần hôn: Sớm hôm, chỉ sự sớm hôm chăm sóc thăm hỏi cha mẹ.

 

920. Lâm tri: Tên huyện, thuộc tỉnh Sơn Đông.

 

921. Xe châu: Xe có rèm hạt châu, thứ xe phụ nữ ngồi.

 

927. Mày ngài: Tức mấy ả gái điếm.

 

930. Tượng: Bức tranh vẽ. Tượng trắng đôi lông mày tức tranh thần "Bạch mi".

 

932. Tiên sư: Tổ sư, ông tổ sáng lập ra một nghề. Chữ dùng hàm ý mỉa mai.

 

937. Đổi hoa: Như nói thải hoa, tức như lấy hoa mới để thờ, thải hoa cũ lót xuống dưới chiếu để nằm.

 

938. Tứ vi: Bốn phía xung quanh.

 

942. Hàn thực: Ăn lạnh, ăn đồ nguội.

 

Giới Tử Thôi giúp Tấn Văn Công khôi phục lại ngôi vua, nhưng lúc ân thưởng triều thần. Văn Công lại quên mất Tử Thôi. Tử Thôi bất bình trốn vào núi ở ẩn. Đến lúc Văn Công nghĩ lại, muốn vời Tử Thôi, nhưng Tử Thôi quyết chí ở ẩn, Văn Công ra lệnh đốt rừng Tử Thôi quyết tâm chịu chết cháy ở trong núi. Văn Công hối hận vô cùng ra lệnh hàng năm đúng ngày Tử Thôi chết, cấm không được đốt lửa. Do đó mà có tục hàn thực, cứ trước...tiết thanh minh hai ngày (có sách chép một ngày) người ta cấm đốt lửa, ăn đồ nguội, và tổ chức nhiều cuộc vui: đá cầu, đánh đu, chọi gà, kết xe hoa đi dong chơi.

 

Nguyên tiêu: Đêm tiết thượng nguyên, tức đêm ngày rằm tháng riêng đầu năm. Đây Tú bà khấn thần phù hộ cho cửa hàng lầu xanh của mụ, ngày lại đêm, lúc nào khách chơi cũng ra vào đông đúc, tấp nập như những ngày hội hàn thực nguyên tiêu.

 

945. Tin nhạn: Tô Vũ, người đời Hán, đi sứ sang Hung nô không chịu khuất phục, bị chúa Hưng nô đầy lên Bắc Hải chăn dê, nhà Hán hỏi, thì bảo là chết rồi, sau sứ Hán phải nói thác là vua Hán săn được con chim nhạn ở vườn thượng lâm chân nó có buộc một bức thư lụa của Tồ Vũ gửi về, khi ấy Hưng nô mới chịu trả lại Tô Vũ cho nhà Hán. Do đó, người ta thường nói "tin nhạn" để chỉ tin thư. ở đây, tác giả dùng như nghĩa "tin tức" đơn thuần.

 

949. Hương hoa gia đường: Bốn chữ này nguyên chỉ nhà hay bàn thờ cúng gia tiên, đây tác giả dùng chỉ bàn thờ thần Bạch mi.

 

952. Cậu mày: Tức cha mày, chỉ Mã Giám sinh, Tú Bà bắt Kiều lạy nhận mụ là mẹ nuôi. Mã Giám sinh là cha nuôi.

 

954. Tiểu tinh: Sao nhỏ, chỉ vợ lẽ.

 

962. Tam banh: Theo sách Đạo giáo "Trong người ta có ba thần thi: Thượng Thi, tên Bành Chất, ở bụng; Hạ Thi, tên Bành Kiệu, ở chân, thường làm hại người". Do đó, người ta cho rằng: những sự hung ác giận dữ của người là do thần "Tam thi" hay"Tam Bành" làm ra, và thường dùng chữ tam bành để chỉ cơn tức giận.

 

964. Min: Ta, tao (tiếng cổ).

 

978. Bì tiên: Cái roi bằng da.

 

986. Phong trần: Cõi đời gió bụi. ý nói: Một nhát dao oan nghiệt cắt đứt quan hệ với cuộc đời phong trần tức là chết.

 

993. Trần duyên: Nhân duyên cõi trần, cõi đời.

 

1000. Tiền đường: Tên một con sông chảy qua gần Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).

 

1006. Hoa xuân đương nhuỵ: Hoa xuân đương lên nhuỵ, tức mới nở. ý nói Kiều còn trẻ trung.

 

1008. Đá vàng: Đây chỉ lòng kiên trinh của phụ nữ.

 

1010. Khoá buồng xuân: Khoá kín vẻ xuân trong buồng, như nói cấm cung.

 

Đợi ngày đào non: Đợi ngày lấy chồng.

 

1013. Tội báo: Như nói là ác báo.

 

Oan gia: Kẻ oán thù, cừu thù.

 

1016. Thị phi rạch ròi: Lẽ phải, lẽ trái phân minh. Đại ý: Kiều nghe lời Tú Bà nói cũng có lý.

 

1017. Thần mộng: Lời báo mộng của quỉ thần (tức Đạm Tiên).

 

1018. Tức nhân: Nhân duyên có sẵn từ trước, như nói duyên số tiền định.

 

1025. Đãi đằng: Tiếng cổ, nghĩa là giãi bày.

 

Ca dao:

 

Cá buồn cá lội tung tăng

Em buồn em biết dãi dằng cùng ai.

 

ở đây đãi đằng có nghĩa là điều ra tiếng vào của những người khách chơi.

 

1027. Thong dong: ở đây có nghĩa là khoan tâm, thư tâm.

 

1033. Ngưng bích: Tên cái lầu mà Tú Bà dành cho Kiều ở.

 

Ngưng Bích: Nghĩa là đọng (tụ) lại màu biếc.

 

1036. Bụi hồng: Đây chỉ những đám bụi bốc lên ở trên đường.

 

1037. Bẽ bàng: Chán ngán, buồn tủi.

 

1039. Chén đồng: Chén đồng tâm, tức chén rượu thề nguyền đồng tâm với nhau.

 

1042. Tấm son: Tấm lòng son, đây chỉ tấm lòng thuỷ chung.

 

1044. Quạt hồng, ấm lạnh: Quạt khi nồng, ấp khi lạnh, do chữ đông ôn hạ sảnh ở Kinh Lễ.

 

1045. Sân Lai: Sân Lão Lai. Theo sách Cao Sĩ truyện: "Lão Lai Tử, người nước Sở, đời Xuân Thu, tuổi đã ngoài bảy mươi, mà còn cha mẹ già, ông thường mặc áo ngũ sắc sặc sỡ, ra múa ở trước sân, rồi giả cách ngã, khóc, như trẻ con, để làm cho cha mẹ vui". Đây nói bóng sân nhà cho mẹ, tức nhà mình.

 

1046. Gốc tử: Gốc cây tử (loài cây thị). Đây dùng chỉ cha mẹ, "gốc tử đã vừa người ôm" nói bóng cha mẹ đã già rồi.

 

1053. Ghềnh: Vực sâu, vũng biển.

 

1057. Rèm châu: do chữ Châu liêm, rèm kết bằng ngọc châu.

1061. Mạch: Dòng dõi.

 

1063. Bóng nga: Bóng người đẹp, chỉ Kiều.

 

1064. Đeo đai: Vương vấn ra vẻ quyến luyến.

 

1067. Trong nguyện trên mây: ý nói có một phẩm giá khác đời, như Hằng nga trong cung nguyệt hay tiên nữ trên cung mây.

 

1070. Chữ lòng ở đầu câu là Sở Khanh tự nói lòng mình còn chữ lòng ở cuối câu là Sở Khanh hỏi lòng Kiều, hai chữ chỉ riêng hai người.

 

1073. Song thu: Cửa sổ mùa thu (nói thời tiết khi ấy).

 

1080. Tế độ: Cứu vớt.

 

Trầm luân: Chìm đắm, đắm đuổi. ý Kiều muốn nhờ Sở Khanh cứu mình thoát nạn thanh lâu như Phật cứu vớt chúng sinh khỏi bể trầm luân.

 

1081. Mảnh tiên: Mảnh giấy hoa tiên, tức tờ thư.

 

1082. Nỗi nhà báo đáp: Nông nỗi phải báo đáp ơn nhà, bán mình chuộc cha.

 

1084. Tiện hồng: Thuận tiện cánh chim hồng, tức là nhân có người mà gửi thư. Chữ hồng đây dùng như chữ nhạn, chỉ tin tức thư từ.

 

1086. Tiên mai: Do chữ mai tiên, tờ tiên có vẽ cành hoa mai.

 

1090. Tuất thì: Giờ tuất, tức tám, chín giờ tối hiện nay. Hai chữ tích việt của Sở Khanh, đem tản ra theo lối tản tự, thì thành những chữ trấp nhất naật tuất lẩu, nghĩa là ngày hai mươi mốt, giờ tuất, chạy trốn. Đó là Sở Khanh bí mật hẹn ngày giờ đi trốn mà Kiều đã lấy ý tứ suy đoán ra.

 

1091. Thoi thót: Chim từng con lần lượt bay về, con này rồi đến con khác.

 

1092. Ngậm trăng nửa vành: ý nói buổi tối, vầng trăng chiếu vào hoa trà mi ngậm lấy nửa vành trăng.

 

1096. ÂÂAn cần: ở đây có nghĩa là khẩn khoản.

 

1097. Bèo bọt: Như bèo hay bọt trôi nổi trên mặt nước, ngụ lý lưu lạc lẻ loi.

 

1098. Yến anh: Đây chỉ gái nhà chứa. ý Kiều nói: nàng như con chim lạc đàn, lại mang lấy cái nợ làm gái nhà chứa.

 

1099. Cốt nhục tử sinh: Do chữ sinh tử nhục cốt. Tả chuyện: Sở vị sinh tử cốt đã (thế gọi là làm sống lại người chết, làm mọc thịt nắn xương khô - làm cho người đã chết sống lại, xương đã khô mọc thịt ra). Do đó, người ta thường chỉ sự làm ơn rất sâu sắc, to lớn.

 

1100. Kết cỏ ngậm vành: Tả chuyện: Nguỵ Thù nước Tấn, có tột người thiếp yêu, khi sắp chết còn dặn con là Nguỵ Khoả phải đem cả người thiếp chôn theo. Nguỵ Thù chết, Nguỵ Khoả cho người thiếp về không đem chôn theo. Sau Nguỵ Khoả làm tướng đi đánh giặc nước Tần, gặp tướng Tần là Đỗ Hồi, khoẻ mạnh có tiếng, đang lúc đánh nhau, tự nhiên Đỗ Hồi vấp phải đám cỏ mà ngã, bị Nguỵ Khoả bắt được. Đêm về, Nguỵ Khoả mộng thấy một ông già đến nói rằng: "Tôi là cha người thiếp, cảm ơn ông không chôn con gái tôi, nên tôi kết cỏ quấn chân Đỗ Hồi cho nó ngã vấp để báo ơn".

 

Tục Tề hài ký: Dương Biểu đến chơi núi Hoa Âm cứu sống được một con chim. Đêm ấy có một đồng tử mặc áo vàng đến tặng bốn chiếc vòng và nói rằng: "Ta là sứ giả của Tây Vương mẫu may được chàng cứu mạng, xin cảm tạ đại ân". Do đó, người ta thường nói "kết cỏ ngậm vành" để chỉ sự đền ơn trả nghĩa.

 

1107. Truy phong: Đuổi theo gió, nói con ngựa đi rất nhanh.

 

1108. Dưới trướng: Do chữ trướng hạ, nguyên chỉ quân sĩ thuộc quyền chỉ huy của một vị soái. Đây dùng để chỉ kẻ thủ hạ của Sở Khanh.

 

Kiện nhi: Người trẻ tuổi mà có sức khỏe. Sở Khanh khoe nhà y có ngựa tốt và thủ hạ khỏe mạnh, là có ý bảo Kiều nếu chạy trốn thì sẽ sẵn phương tiện và người hộ vệ chắc chắn không phải lo ngại gì.

 

1110. Ba mươi sáu chước: "Tam thập lục" là một danh từ chỉ chung tất cả các chước. Câu này Sở Khanh bảo Kiều chỉ có một kế hay nhất là chạy trốn.

 

1111. Gió kép mưa đơn: ý nói dù có những trở ngại bất trắc...

 

1114. Quá đỗi: Quá mức, quá đà, ý nói việc đã trót dở dang rồi.

 

1119. Lậu: Đồng hồ nhỏ giọt. Thời xưa thường dùng "đồng hồ nước" để tính thời khắc. Đó là một cái đồng hồ bằng đồng, dưới có đục lỗ nhỏ, trong chứa nước, giữa đựng một cái tên có khắc độ; nước trong hồ do lỗ nhỏ giọt ra, thì những độ số ở cái tên cũng dần dần lộ ra, xem đó, biết được thời khắc của ngày đêm. Danh từ đồng hồ ngày nay còn quen gọi là gốc ở đó.

 

1122. Lòng quê: Lòng nhớ quê hương.

 

1124. Dậy dàng: Xôn xao ồn ào nổi lên.

 

1125. Gan vàng: Có nghĩa như "lòng vàng". Kiều đoán có người đuổi theo phía sau nên hồi hộp sợ hãi...

 

1128. Dặm rừng: Đường rừng, lối đi trong rừng.

 

1130. Lắm nau: Lắm nao, có nghĩa là đến như thế sao!

 

1132. Vuốt: Móng sắc của loài thú. ý nói không thoát lối nào được.

 

1139. Thú tội, chịu tội.

 

Khẩn cầu: Khẩn khoản, cầu xin.

 

1142. Nước non ý nói cách trở nước non, tức là nơi ở xa xôi.

 

1150. Bảo lĩnh: Người đứng ra đảm bảo, chịu trách nhiệm thay.

 

Cung chiêu: Cung khai, nhận tội Tú bà muốn bắt buộc Kiều giữ lời hứa, nên bắt làm tờ cung chiêu nhận tội, và bắt người đứng bảo lĩnh về lời cam kết của nàng.

 

1151. Bày vai: Cùng hàng cùng lứa.

 

1152. Chịu đoan: Chịu nhận trách nhiệm về Kiều.

 

1160. Phù dung: Hoa phù dung, ví với người đẹp.

 

1161. Đà đao: Khi đánh giặc, giả thua chạy để người ta đuổi theo, rồi thình lình quăng dao lại chém, gọi là "đà dao". "Đà đao" đây là một chước lửa.

 

1162. Mộ cốt một đồng: Nói Tú bà với Sở Khanh thông đồng hiệp mưu với nhau để đánh lừa Kiều.

 

1146. Không dưng: Nếu không thì tự nhiên làm chi có...

 

1166. Sân si: Phân bua, cãi cọ. Mã Kiều khuyên Kiều nên nén nỗi tức giận, chớ nên đôi có với Sở Khanh mà thiệt mình.

 

1173. Quyến gió rủ mây: Quyến rũ mây gió đi theo. ý nói quyến rũ Kiều.

 

1178. Thị hùng: Cậy sức mạnh mà ra oai đánh đập người.

 

1189. Anh yến: Chỉ chung những người con gái.

 

1181. Giếng khơi: Giếng sâu.

 

1182. Ăn lời: Nuốt lời, tức không giữ lời.

 

1184. Mặt ấy, mặt này: Mấy tiếng này, Kiều xỉa xói vào mặt Sở Khanh mà nói, đối đáp lại tiếng "mặt mày" của Sở Khanh ở trên.

 

1186. Vô lương: Cũng như bất lương, không lương thiện, không có lương tâm.

 

1191. Trong giá trắng ngần: Do câu tục ngữ: Trong như giá, trắng như ngần, trong như băng trắng như bạc (ngần là do chữ ngân).

 

1028. Khép mở, riêng chung: Chỉ giọng nói tỉ tê, nửa khép nửa mở, mối tình nỉ non, như riêng như chung, tức những mánh khoé quyến rũ.

 

1210. Vành ngoài bảy chữ: Bảy cách đối với khách ở bề ngoài để cho khách say mê.

 

Vành trong tám nghề: Tám cách đối đãi trong khi ăn nằm với khách, đối với mỗi hạng người, dùng một lối riêng để làm vừa lòng họ.

 

1213. Khoé hanh: Khoé mắt; mắt sắc như lá hạnh.

 

Khi khoé hạnh, khi nét ngài: ý nói khi mắt liếc, khi mày đưa.

 

1216. Người soi: Người sành sỏi, lịch lãm, biết ngón chơi.

 

1218. Nét nguyệt: Nét lông mày hình vành trăng.

 

Vẻ hồng: Vẻ mặt hồng.

 

1220. Khắt khe: ở đây như nói éo le, quái ác.

 

1221. Các khuê: Do chữ khuê các.

 

1227. Trướng đào: Màn màu đỏ, phụ nữ thường dùng.

 

1231. Lá gió cành chim: Lá đưa gió, cành đón chim, chỉ sự đưa đón khách chơi.

 

1232. Tổng Ngọc: Người nước Sở, đời chiến quốc, đẹp trai, có những bài Cao đường phú, Thần nữ phú, nói về chuyện mây mưa của thần núi Vu Sơn...

 

Tràng Khanh: (Chính là chữ Trưởng nhưng thường đọc là Trường hay Tràng): Tên tự của Tư Mã Tương Như, người Hán, yêu sắc đẹp của Trác Văn Quân, gảy đàn cầm gợi tình, làm cho nàng đang đêm bỏ nhà chốn theo mình.

 

Tống Ngọc và Tràng Khanh đều giỏi từ phú, là hai người tài tử, do đó, câu này ngụ ý khách đến chơi toàn những hạng phong lưu quý phái.

 

1239. Mưa Sở mây Tần: Chỉ sự ái ân trai gái.

 

1242. Gió tựa, hoa kề: ý nói những cảnh vui thú ở chốn thanh lâu.

 

1242. Tuyết ngậm: Bóng trăng tỏ soi khắp bốn bề. Hai câu 1241-1242 tả bốn cảnh: "gió, hoa, tuyết, trăng" (phong, hoa, tuyết nguyệt).

 

1246. Trong nguyệt: Trong bóng trăng.

 

Dưới hoa: Dưới dàn hoa. Hai câu 1245-1246 tả bốn thú chơi: gẩy đàn, đánh cờ, ngâm thơ, vẽ tranh, (cầm, kỳ, thi, hoa).

 

1249. Gió trúc mưa mai: Mưa gió chỉ sự ái ân (như nghĩa mưa gió dập vùi) trúc mai chỉ sự bạn. Đây tiếp ý trên: Kiều thờ ơ với tất cả những chuyện mưa gió, trúc mai...

 

1250. Giùi mài: Như nói mòn mỏi, thui thủi. Cũng có ý như là bị dập vùi.

 

1253. Bóng dâu: Bóng mặt trời xế trên ngọn dâu. Sách Hoài nam nữ nói: Mặt trời xế về phía phương Tây, gác bóng trên ngọn cây. Người sau mượn chữ bóng dâu để ví tuổi già.

 

1255. Dặm nghìn: Tức nghìn dặm.

 

1257. Sân hoè: Sân có trồng cây hoè. Vương Hựu đời Tống tự tay trồng ba cây hoè ở sân nhà và nói: "Con cháu ta sau này thế nào cũng làm đến chức tam công" (Thời xưa, ở phía trước sân chầu nhà vua, chỗ ngồi của tam công, có trồng ba cây hoè, nên Vương Đán làm đến tể tướng. Nhân đó, người ta thường nói sân hoè để chỉ những nhà có con cái hiển đạt).

 

Đôi chút thơ ngây: Chỉ Thuý Vân và Vương Quan.

 

1258. Trân cam: Những thức ăn quý báu, ngon ngọt. Hai câu này, ý Kiều nói: Cha mẹ mỗi ngày một già, mà con cái trong nhà, thì sau khi nàng đi iồi, chỉ còn hai em nhỏ dại, lấy ai là người phụng dưỡng trân cam thay mình.

 

1261. Chương Đài: theo sách Thái bình quảng ký: Hàn hoành, đời Đường lấy một danh kỳ là Liễu thị ở đường phố Chương Đài, Trường An, sau đi làm quan xa, để vợ ở lại đó ba năm, không đón đi được,có gửi cho Liễu thị bài từ rằng: Chương Đài Liễu, Chương Đài Liễu, đã ưng nhật thanh thanh kim tại phủ? Túng sử trường điều tự cựu thuỳ, đã ưng phan chiết tha nhân thủ! (Cây liễu Chương Đài, cây liễn Chương Đài, ngày trước xanh xanh, nay còn không? Cho dù cành dài vẫn buông rủ như cũ, song có lẽ đã vin vào tay người khác rồi!). Đây ý nói: Khi Kim Trọng đi Liêu Dương hộ tang chú trở về, sẽ hỏi người tình nhân cũ (là Thuý Kiều).

 

1262. Cành xuân: Cành xanh đẹp..

 

1263. Tình sâu: chỉ tình chị em, Nghĩa dày: Chỉ nghĩa vợ chồng. ý Kiều mong Thuý Vân lấy tình chị em thay mình, trả nghĩa cho Kim Trọng.

 

1264. Hoa kia, cành này: "Hoa kia" chỉ Thuý Vân, "cành này" chỉ Kim Trọng.

 

1266. Hương quan: Quê hương

 

Giấc hương quan: Giấc mộng về quê hương.

 

1267. Song ca: cũng như song the. Xem chú thích 240.

 

1268. Hoàng hôn: Về chiều tối, khi mặt trời sắp lặn, có ánh vàng vàng, gọi là hoàng hôn.

 

1269. Thỏ bạc, ác vàng: Như nói "thỏ lặn, ác tà" tức ngày và đêm lần lượt qua đi.

 

1275. Khách du: Khách đi chơi, đi du lãm.

1276. Kỳ tâm: Tên của họ Thúc, theo truyện Thanh tâm tài nhân thì Kỳ Tầm là tên tự của Thúc sinh.

 

1277. Huyện Thích, Châu Thường: tức huyện Vô Tích, phủ Thường Châu, thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).

 

1278. Nghiêm đường: Tức cha. Cha tính nghiêm nghị, mẹ tính hiền từ, nên người ta gọi cha là "nghiêm đường", "nghiêm phụ", mẹ là "từ mẫu", "từ thân".

 

1279. Thiếp hồng: Do chữ hồng tiên, thứ thiếp hồng gửi thăm người đẹp. Hương khuê: Phòng hương, phòng ở của phụ nữ, tục xưa phụ nữ hay dùng hương thơm, nên gọi là "hương khuê".

 

1281. Trưởng tô: do chữ lưu tô trưởng, thứ màn có tua kết bằng lông chim năm sắc.

 

1287. Lẽ hằng: Lẽ thường như thế.

 

1289. Đào mận: Nói bóng sắc đẹp của người con gái.

 

1290. Đá vàng: Chỉ sự đồng tâm gắn bó với nhau.

 

1296. Chuốc: So chữ Chước, rót rượu mời nhau.

Nối thơ: Nối câu thơ, do chữ "liên cú" một lối chơi của các tao nhân mặc khách thời xưa, thường hai người, hoặc nhiều người nối lời nhau làm chung một bài thơ.

 

1297. Hương sớm, trà trưa: Xông hương buổi sớm, uống trà buổi trưa.

 

1298. Bàn vây: Bàn cờ vây. Trung Quốc có hai lối chơi cờ:

Vi kỳ: Cờ vây

Tượng kỳ: tức cờ tướng.

 

1299. Truy hoan: Theo đuổi sự vui chơi.

 

1301. Sóng khuynh thành: Chỉ cái liếc nhìn của người đàn bà đẹp.

 

1303. Bốc rời: Tiền rời cứ bốc từng nắm mà chi, không cần đếm là bao nhiêu, ý nói vung phí không tiếc tiền.

 

1306. Hơi đồng: Tức mùi tiền bạc. Thời xưa, tiền tiêu đúc bằng đồng, nên nói "đồng" tức là tiền.

 

1308. Lửa lựu: Hoa lựu khi nó nở trông đỏ chói như lửa chỉ cảnh mùa hè.

 

1312. ý nói Kiều có một thân thể đầy đặn xinh đẹp.

 

1314. Luật Đường: Tức lối thơ ngữ ngôn luật (luật năm chữ) hay thất ngôn luật (luật bảy chữ), mỗi bài tám câu, năm vần, theo đúng niêm luật bằng trắc. Lối này có từ đời Đường, nên gọi là luật Đường.

 

1317. Nối điêu: Nối đuôi con điêu. "Điêu" là một loài chuột ở rừng núi miền lạnh, đuôi to, lông dài đến một tấc, màu vàng hoặc đen tía. Đời Hán, theo quan chế, các quan hầu cận vua đều đội thứ mũ có cắm đuôi con điêu làm ngù. Đến đời Tần, Triệu Vương Luân cướp ngôi Huệ đế, phong quan tước cho bọn tôi tớ, mỗi khi triệu hội, ngồi đẩy những người đội mũ đuôi điêu, nên người thời ấy đã chê giếu: Điêu bất tức, cầu vĩ tục (đuôi điêu không đủ, lấy đuôi chó nối vào). Người sau nhân chữ cẩu vĩ tục điêu (nối điêu) để chỉ sự việc gì có tính chất học đòi. Chữ "nối điêu" ở đây, là lời Kiều tự khiêm về việc họa lại thơ Thúc sinh.

 

1318. Nỗi quê: Nỗi lòng nhớ quê hương.

 

1319. Mây vàng: Nói ý nhớ nhà, do câu thơ cổ: Tần Trung đa bạch vân. Thục trung đa hoàng vân, cố tư gia giả vị chi cư hoàng vân (đất Tần nhiều mây trắng, đất Thục nhiều mây vàng, cho nên nhớ nhà gọi là nhớ mây vàng).

 

1322. Cành kia, cỗi này: Chỉ Kiều và Tú bà. Thúc sinh tưởng Kiều là con đẻ của Tú bà.

 

1323. Thu ba: Sóng mùa thu, chỉ con mắt (nói con mắt trong suốt như suối mùa thu).

 

1327. Chúa xuân: Người chủ vường xuân, chủ hoa xuân, đây chỉ Thúc sinh. Câu này ý nói: Thúc Sinh ở nhà đã có vợ rồi.

 

1329. Tương tri: Hiểu biết nhau thông cảm với nhau.

 

1330. Nước non: Sông núi tức lời thề nguyền kết làm vợ chồng.

 

1334. Thú, tòng: Thú là "thú thiếp": lấy vợ lẽ, chỉ bên Thúc sinh; tòng "tòng lương": trở về lương, tức bỏ chỗ lầu xanh để trở về, đi lấy chồng, chỉ bên Kiều. Hai bên cùng gặp nhiều khó khăn.

 

1335. Bình khang: Đời Đường, ở kinh thành Trường an, gần cửa Bắc, có một xóm gọi là Bình Khang cho kỹ nữ ở, sau nhân dùng làm danh từ chỉ chung xóm kỹ nữ.

 

1339. Thềm quế: Thềm điện quế. Dâu đương tạp trở chép: Trên mặt trăng có cây quế tiêu, cao năm trăm trượng, do đó, khi tả mặt trăng, người ta thường dùng chữ điện quế, cung quế.

 

1340. Chị Hằng: Chị Hằng Nga, người chủ trương trong điện quế, nói bóng vợ cả Thúc sinh.

 

1341. Giải đồng: Giải đồng tâm.

 

1342. Thêm người, người cũng... chữ người chỉ Kiều, chữ người dưới chỉ Thúc sinh.

 

1343. Bèo mây: Nói thân phận trôi nổi bất định như bèo mặt nước, mây trên không.

 

1344. Bể ái: Bể ân ái, tức tình yêu vợ chồng.

 

1347. Vững tay co: Cái tay co vững. Kiều nói: Nếu chàng có cứng tay, tức có quyền lực đối với vợ cả.

 

1349. Trong ngoài: Chỉ vợ cả và Thúc sinh. Theo lễ giáo xưa: Nam t ự ngoại, nữ tự nội: Đàn ông trong coi việc bên ngoài, đàn bà trông coi việc trong nhà. ý Kiều nói: Nếu thế lực vợ cả lớn hơn thế lực chàng.

 

1350. Hàm sư tử: Đời Tống, Trần Tháo, hiệu Long Khâu cư sĩ, hay nói chuyện đạo Phật, vợ là Liễu thị, tính dữ tợn mà cả ghen, mỗi khi Tháo thết tiệc tân khách, có ca kỹ, thì ở trong nhà, Liễu thị lấy gậy đập vào vách, hò hét, khách phải giải tán. Tồ Thức, Bạn Tháo, viết mấy câu thơ đùa:

 

"Thuỳ tự Long Khâu cư sĩ hiền,

Đàm không thuyết hữu dạ bất miên,

Hốt văn Hà Đông sư tử hồng

Trụ trượng lạc thủ tấm mang nhiên".

 

Dịch nghĩa:

 

"Ai giỏi như Long Khâu cư sĩ

"Nói những thuyết không, thuyết có, đếm không ngủ

"Bỗng nghe sử tử Hà Đông rống lên

"Tay rơi gậy chống, lòng bàng hoàng.

 

Đằng la: Những loài dây leo (chính nghĩa là dây bim, dây tơ hồng) dây dùng như chữ cát đằng dây bìm, ví với phận lẽ mọn.

 

1352. Một số cố lão ở Nghệ - Tĩnh thuộc hai chữ đầu câu này là Dấm vùi hay Nhúm vùi. ý nói: lửa bếp vùi âm ỉ cháy (chỉ thói ghen tuông) còn khó chịu hơn cả lửa hồng.

 

1353. Nhà thông: Nhà thung, đọc chệch ra, tức nhà xuân, do chữ xuân đường chỉ bố Thúc sinh.

 

1355. Liễu ngõ, hoa tường: Nói ví gái lầu xanh như liễu bên đường, hoa đầu tường, ai vin ai hái cũng được.

 

1363. Ngô, Lào: Nước Ngô (Trung Quốc), nước Lào (Ai Lao) tác giả dùng nghĩa bóng. ý nói: Đừng nghĩ ngợi xa xôi, quanh quẩn làm gì.

 

1366. Phong ba: Sóng gió, chỉ sự bất trắc xẩy ra.

 

1370. Non đoài: Núi ở phía tây.

 

1371. Trúc viện: Viện trúc, nơi nghỉ mát có trồng trúc xung quanh.

 

Thừa lương: Hóng mát, nghỉ mát, Thúc sinh mượn cớ là đưa Kiều đi hóng mát.

 

1373.Chiến, hoà: ở đây, chiến là dịa chuyện kiện cáo, hoà là lựa cách điều đình. Theo Kim vân Kiều truyện của Thanh Tầm: Thúc sinh đưa Kiều về ở nhà Hoa Dương, một tay hào phú xứ ấy, rồi một mặt cậy Hoa Dương rêu rao về tội mua con gái nhà lương thiện về làm gái điếm, một mặt mượn Bộ Tần đến đièu đình việc chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh.

 

1376. Thua cơ: Thua mưu, thua mẹo của Thúc sinh.

 

1378. Hoàn lương: Gái đĩ bỏ nghề cũ trở về đời lương thiện.

 

1380. Trần ai: Bụi bậm chỉ cảnh lầu xanh.

 

1381. Trúc, mai: Chỉ sự giao kết thân mật của vợ chồng.

 

1383. Hương lửa: Chỉ tình duyên vợ chồng.

 

1384. Ngọc sen: Hai câu tỏ ý "sum họp" mai trúc đã về một nhà.

 

1386. Sân ngô: Sân có trồng cây ngô đồng. Ngô đồng là một loài cây cao, cành lá xanh biếc, nên thường gọi là bích ngô chen lá vàng giữa chòm lá xanh biếc, tức trời đã sang thu.

 

1387. Giậu thu: Giậu hoa mùa thu.

 

Giò sương: giò hoa chịu được sương, ý chỉ hoa cúc.

 

1389. Phong lôi: gió, sấm, nói cơn giận nổi lên dữ dội như gió, như sấm.

 

1390. Nặng lòng e ấp: Thúc ông trong lòng lấy làm e sợ về việc để cho con gái lầu xanh như thế, vì không những làm xấu thanh danh nhà mình, mà đối với Hoạn thư cũng sẽ có chuyện lôi thôi.

 

1391. Biện bạch: ở đây nghĩa là phán bảo minh mạch, rành rọt.

 

1393. Nghiêm huấn: Lời dạy của bố.

 

1396. Sấm sét: Do chữ lôi đình, chỉ sự ra uy, như quát mắng đánh đập.

 

Búa rìu: Do chữ phủ việt, chỉ dự gia hình, ý cả câu: Dẫu đánh mắng hay giết chết cũng xin chịu.

 

1397. Tay đã nhúng chàm: Cái tay đã nhúng vào chàm, thì dù rút ra cũng bị nhuốm chàm xanh rồi.

 

1400. Đã lấy nhau thành vợ chồng thì nỡ nào lại lìa bỏ, cũng như nỡ ôm đàn cầm mà gẩy thì nỡ nào lại đứt dây cho được.

 

1402. Bạc đen: Chưa thực rõ nghĩa. Có người giải bạc đen là sống chết cũng liều.

 

1404. Sốt gan: Nóng gan, như nói nóng tiết.

 

Cáo quỳ: Cáo là thưa trình, quì là quì gối, tức quì gối mà đề đơn thưa trình. Lệ xưa, ai vào quan thưa trình việc gì, phải quì gối trước công đường đầu đội lá đơn.

 

1405. Đất bằng nối sóng: Do chữ Bình địa ba đào.

 

1406. Phủ đường: Dinh quan phủ, ở đầy chỉ quan phủ.

 

Phiếu hồng: Tờ trát của quan.

 

Thôi tra: Đòi lên xét hỏi.

 

1408. Sân hoa: Sân phủ đường (chữ hoa ở đây chỉ đặt cho đẹp lời)

 

1409. Mặt sắt: Do chữ thiết diện, mặt đen và cứng rắn như sắt, thường mượn để chỉ một vị quan cương trực, nghiêm nghị.

 

1415. Nguyên đơn: Đơn của người nguyên cáo, tức Thúc ông (Thúc sinh và Kiều là bị cáo).

 

1419. Gia hình: Gia hình có nghĩa là bắt phải chịu tội, hình phạt, ở đây là phạt trượng tức dùng trường (gậy) mà đánh.

 

1422. ý Kiều nói: Đã quyết tình hoàn lương rồi, không muốn lại lần nữa mắc vào cảnh lầu xanh, như con nhện lại vướng víu vào lưới tơ thêm một lần nữa.

 

1423. Đục, trong: ý nói: dù đục hay trong, dù dở hay hay.

 

1424. Yếu thơ: Yếu ớt, thơ dại.

 

Lôi đình: Sấm sét, chỉ hình phạt.

 

1426. Ba cây: Do chữ tam mộc là thứ hình cụ thể bằng gỗ thời xưa, tức già, nữu giới (cái gông cổ, cái kẹp tay và cái cùm chân). ở đây, chữ bạ cây, chỉ các hình phạt dồn vào cái thân yếu ớt của Kiều.

Mẫu đơn: Cành hoa đẹp ví nói Kiều.

 

1437. Phủ đường: chỉ vào quan phủ.

 

1440. Cầu thân: Cầu làm thân, nói việc định lấy nhau.

 

1446. Giải vi: Cởi, gỡ vòng vây ra, đây ý nói gỡ cho ra lối thoát để giải quyết việc rắc rối này.

 

1452. Mộc già: Cái gông. Đầu đề bài thơ là vịnh cái gông.

 

1455. Giá đáng Thình Đường: ý nói tương đương với thơ Thịnh Đường.

Thịnh Đường: là giai đoạn phồn thịnh nhất thơ của triều đại nhà Đường, Trung Quốc;

 

1458. Châu Trần: ở châu Từ, về huyện Phong, xưa kia có họ Châu và họ Trần, đời đời làm thông gia với nhau, về sau người ta dùng hai chữ Châu Trần để nói sự lấy nhau đẹp đôi xứng lứa.

 

1459. Rước dữ cưu hờn: Mua rước lây điều dữ và cưu mang lây sự hờn giận.

 

1467. Cổ xuý: Cổ là những nhạc khí dùng để đánh như chiêng, trống. Xuý là những nhạc khí để thổi, như kèn sáo.

 

1468. Trường đào: Màn hoa đào, đây tức là buồng cưới.

 

1470. Huệ lan: Hoa huệ, hoa lan, ngụ ý nói cảnh sum họp.

 

1473. Mảng: Tiếng cổ có ý nói mải mê về một việc gì mà quên đi. ở đây là nghĩa này.

1474. ý nói hết mùa xuân và bắt đầu sang mùa hạ

 

1478. Chim én (mùa xuân) chim nhạn (mùa thu), đổi thay nhau, ý nói từ mùa nọ sang mùa kia. ở đây ý nói thời gian trôi thấm thoắt gần được một năm.

 

1480. Tao khang: bã rượu cám. Người vự cùng ăn bã, ăn cám với nhau, tức là - người vợ cả lấy từ lúc còn hàn vi. Vua Quang Vũ nhà Hán muốn đem người chị gái mới goá là công chúa Hồ Dương gả cho Tống Hoằng, nhưng Hoằng đã có vợ. Vua hỏi ý Hoằng, Hoằng thưa: Tao khang chi thê, bất hạ đường, nghĩa là người vợ lấy trong lúc ăn tấm, ăn cám, không thể để xuống dưới nhà, ý nói không thể khinh rẻ, phụ bạc. Vua biết ý vậy, liền thôi.

 

1485. Phi thường: khác với người thường, ý nói người sâu sắc, hiểm độc.

 

1496. Hồi trang: Về quê.

 

1498. Ninh gia: Về thăm nhà.

 

1499. Quan hà: Quan cửa ải, hà là sông. Chén quan hà: Chén rượu tiễn biệt.

 

1500. Xuân đình: Có thể hiểu là nơi xum họp, vui vẻ.

 

Cao đình: Cổ thi: Cao đình tương biệt xứ, chỗ biệt nhau ở Cao đình.

 

1501. Sông Tần: Sông ở đất Tần Xuyên, mạn tỉnh Cam Túc. Theo Tản Đà thì sông Tần là sông Tần Hoài, thuộc tỉnh Giang Tồ, quê Thúc Sinh (Vô Tích).

 

1502. Dương quan: Tên một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm Tây, mạn tây bắc Trung Quốc.

 

1507. Yến thắm trôn kim: Chưa thực rõ nghĩa. Đại ý câu này nói: Kiều cho rằng việc hai người lấy nhau là việc không thể dấu kín được.

 

1508. Bưng mắt bắt chim: Bưng mắt lại thì không thể nào bắt được chim. ý nói không thể nào che giấu nổi việc có vợ lẽ.

 

1509. Đèo bòng: Có nghĩa là vương vít tình duyên.

 

1510. Nói sòng: Tức nói thẳng, nói trắng ra, không quanh co giấu giếm.

 

1519. Bào: áo. Thường thường trong khi ly biệt người ta hhay nắm lấy áo nhau, tỏ tình quyến luyến. Chia bào tức là buông áo.

 

1520. Phong: Một loại cây ở Trung Quốc, lá chia ra nhiều cành, gần giống lá cây thầu dầu ở bên ta, đến mùa thu thì sắc lá hoá đỏ.

 

Quan san: Quan ải, núi non, thường được dùng để chỉ sự xa xôi cách trở.

 

1521. Dặm hồng: Dặm đường đi giữa bụi hồng. Chinh là đi đường xa, an là yên ngựa. Người ta thường dùng hai chữ chinh an để chỉ việc đi đường xa.

 

1528. Buồng trong: Chỉ vào người vợ. Cây này đại ý nói: Bây giờ hãy nói đến người vợ Thúc sinh làm chủ gia đình ở quê nhà.

 

1530. Lại bộ: Bộ lại, tức là quan trọng nhất trong sáu bộ của triều đình phong kiến.

 

1531. Duyên Đằng: Cổ thi: Thời lai phong tống Đằng vương các (Thời vận đến, gí đưa lại gác Đằng Vương). ý nói gặp cơ hội may mắn.

 

1534. Ràng buộc: Có nghĩa là thắt buộc, cho người khác vào khuôn, vào phép của mình.

 

1535. Vườn mới thêm hoa: ý nói Thúc sinh có thêm vợ lẽ.

 

1538. Đen bạc: Cùng nghĩa như bạc bẽo, phụ bạc.

 

Trăng hoa: Do chữ hoa nguyệt mà ra, ý chỉ sự chơi bời trai gái.

 

1541. Nền: Nền nếp của người trên, tư thế của mình là người bề trên.

 

1551. Nhãn tiền: Trước mắt.

 

1552. Tục ngữ: Chưa thăm ván đã bán thuyền. ở đây chỉ Thúc sinh là người mới nới cũ.

 

1560. Thị phi: Có nghĩa là việc phải thì nói thành trái, việc trái thì nói thành phải, thêu dệt phải trái làm cho người nghe mắc lầm.

 

1568. Lầu hồng: Do chữ hồng lâu, nhà ở bọn quyền quý, cũng dùng để chỉ chỗ ở của hạng phụ nữ giàu sang.

 

1571. Tẩy trần: Rửa bụi. Tục xưa, khi có người đi xa về thì đặt tiệc "tẩy trần", ý nói rửa sạch bụi bặm trong lúc đi đường.

 

1578. Khảo: Tra khảo.

 

1580. Rút dây động rừng: Tục ngữ, ý nói rút một sợi dây làm rung chuyển đến cả một khu rừng. Câu này ý nói: Thúc sinh sợ nói lộ câu chuyện lấy Kiều ra sẽ gây nên sóng gió trong gia đình.

 

1583-1584: Đại ý nói ngọc hay đã, vàng hay thau đôi ta đều đã biết phân biệt rạch ròi, không thể nào lầm lẫn được.

 

1593. Thuần: là một thứ rau, hức là một thứ cá. Trương Hàn đời nhà Tấn, đang lúc làm quan ở xa, thấy cơn gió thu, sực nhớ đến canh rau thuần và chả cá hức ở quê nhà, bèn bỏ quan mà về. Vì thế, người ta thường dùng hai chữ thuần hức để chỉ thú vui chơi nơi quê nhà.

 

1594. Cổ thi: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cọng tri thu: (chỉ một lá ngô đồng rụng mà ai cũng biết là thu sang). Câu này đại ý nói: Thúc sinh ở quê nhà vừa bén mùi rau cá thì trời đã bắt đầu sang thu.

 

1596. Quan tái: cũng như quan ải, chỉ nơi núi non bờ cõi.

 

1599. Mây bạc: Do chữ bạch vân mà ra. Định Nhân Kiệt đời Đường đi làm quan xa, thường chỉ đám mây trên núi Thái Hàng mà nói: "Nhà cha mẹ ta ở đây". ở đây dùng để nói Thúc sinh có cha ở xa.

 

1606. Xe hương: Do chữ Hương xa, chỉ xe của phụ nữ.

 

Quy ninh là về hỏi thăm sức khoẻ của cha mẹ.

 

1609. Thành ngữ: Ngứa ghẻ hờn ghen ý nói hai điều khó chịu nhất.

 

1614. Hải đạo: Đường biển.

 

1621. Mầu: Mầu nhiệm: Mẹ Hoạn thư khen cái mưu ấy rất điệu rất hay.

 

1623. Buồm: Lá buồm. Lèo: dây treo buồm.

 

1624. Khuyển: chó, Ưng: chim cắt, hai loài vật dùng để đi săn. ở đây dùng để đặt tên cho bọn tôi tớ trung thành của họ Hoạn.

 

Côn quang: Cũng như côn đồ, dùng để chỉ bọn vô lại.

 

1626. Thuận phong: Thuận gió. Một lá: Một lá buồm, Kiều lúc ấy đang ở Lâm Tri, Lâm Tri nguyên là kinh đô nước Tề xưa, nên gọi là bến Tề.

 

1630. ấm lạnh: Do chữ Ôn sảnh (Đông ôn hạ sảnh), ngọt bùi do chữ cam chỉ, ý nói làm con phải quạt nồng ấm lạnh và phụng dưỡng những thức ngon lành cho cha mẹ.

 

1632. Lời non nước: Lời chỉ non thề biển. Lời sắt son: Lời trung thành vững chắc như sắt như son.

 

1633. Sắn bìm: Do chữ cát đằng mà ra. Xem chú thích 902.

 

1636. Cung Quảng: Cung Quảng hàn trong mặt trăng, ả Hằng tức ả Hằng Nga trong cung. Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ, trộm thuốc trường sinh của chồng rồi chạy lên ở một mình trên cung trăng; Câu này đại ý nói: Thôi thì liều sống một mình như Hằng Nga trong cung Quảng Hàn vậy.

 

1638. Ba sao: Do chữ Kinh Thi: Tam tinh tại thiên (ba sao ở trời). ở đây tác giả chỉ mượn câu ấy để nói đêm đó ngoài song gió thổi, giữa trời có trăng có sao v.v...

 

1642. Khốc quỷ kinh thần: Quỷ thần khóc, thần phải sợ, ý nói rất ghê sợ.

 

1667. Di hài: Hài cốt sót lại.

 

1668. Khâm liệm: Lễ mặc quần áo mới và bọc vải lụa cho người chết trước khi bỏ vào áo quan. Tang trai: Lễ đưa ma và làm chay.

 

1670. Lục trình: Đi đường bộ.

 

1673. Trung đường: Nhà chính giữa.

 

1674. Linh sàng: Giường thờ.

 

Bài vị: Mảnh gỗ viết tên người chết để thờ.

 

1680. Vĩnh quyết: Cũng như vĩnh biệt, từ biệt hẳn, không bao giờ gặp nhau nữa.

 

1684. Phi phù trí quỷ: đốt bùa mà gọi được quỷ đến.

 

Thông huyền: Thông cảm được với cõi huyền bí, tức cõi quỷ thần.

 

1685. Tam đảo: Ba đảo tiên: Bồng lai, Phương Trượng, Doanh Châu. Người ta thường dùng để chỉ cõi thiêng liêng hoặc cõi tiên.

 

Cửu tuyền: Chín suối, tức là âm phủ.

 

1689. Đạo nhân: cũng như đạo sĩ, chỉ ông thấy pháp.

 

Tĩnh đàn: Đàn thờ thần thánh của bọn thầy pháp.

 

1690. Xuất thần: Linh hồn thầy pháp thoát ra ngoài thể xác để đi vào cõi thần linh.

 

1695. Mệnh cung: Cung là bản mệnh, một trong 12 cung của số Tử vi. Sách số có câu: Cung mệnh mà có sao Bột chiếu vào thì người ấy mắc nạn. Câu này đại ý nói: Xem số Thuý Kiều thì đang mắc nạn to.

 

1697. Chiền chiền: Tiếng cổ, có nghĩa là rành rành, hoặc liền liền.

 

1701. Đồng cốt: Ông đồng, bà cốt, những người làm nghề câu đồng, câu bóng.

 

1709. Cảnh suyền: Cánh buồm đi nhanh.

1715. Hoàng Lương: Kê vàng. Xưa Lư sinh đời Đường đi thi gặp ông già họ Lã cho mượn cái gối nằm ngủ. Chàng mơ thấy mình thi đỗ, làm quan vinh hoa phú quý hơn 20 năm. Lúc tỉnh giấc thì nồi kê của nhà hàng nấu chưa chín. Người sau bèn dùng hai chữ hoàng lương để chỉ giấc mơ.

 

Hồn mai: Xưa có người gặp cô gái trong rừng, cùng uống rượu, sáng dậy thấy mình nằm dưới gốc cây mai. Đây chỉ có ý nói là giấc mơ màng.

 

1719. ả hoàn: các đầy tớ gái trẻ tuổi.

 

1722. Thiên quang trủng tể: Thiên quang là loại quan đứng đầu sáu lại quan do nhà Chu đặt ra. Trủng tể tức là chức tể tướng.

 

1724. Thất bảo: Bảy sản vật quý như vàng, bực, lưu ly, xà cừ, mã não, san hô, trân châu. ở đây chỉ cái giường có khảm các vật quý.

 

1731. Mèo mả gà đồng: Mèo hoang sống ở mồ mả; gà hoang sống ở ngoài đồng, người ta thường dùng để ví với hạng người lông bông, giang hồ.

 

1735. Gia pháp: Phép tắc trong nhà để trừng phạt gia nhân và tôi tớ.

 

1739. Trúc côn: Gậy tre.

 

1741. Đào lý: Cây đào, cây lý, thường dùng để chỉ phụ nữ.

 

1744. Phiên thị tỳ: Thị tỳ ở nhà quyền quý rất nhiều, chia ra từng ban và từng phiên mà hầu hạ, nên gọi là phiên thị tỳ.

 

1745. Thanh ly: áo xanh. Đầy tớ gái các nhà giàu sang đời xưa đều mặc áo xanh, nên gọi là thanh y.

 

1747. Quản gia: Trong gia đình quan lại phong kiến đời xưa thường dùng những người đàn bà đứng tuổi trông coi việc nhà và cai quản số hầu gái, gọi là quản gia.

 

1750. Phương tiện: ở đây có nghĩa là đối đãi, xử trí mọi việc.

Hiếu sinh: Quí trọng sinh mệnh, ý nói tránh cho người ta con đường khổ sở chết chóc.

 

1752. Liễu và bồ là hai giống cây mềm yếu thường được dùng để chỉ phụ nữ.

 

1753. Oan nghiệp: Tiền oan, nghiệp chướng, có ý nói có oan thù và tội lỗi từ thời trước để lại.

 

1755. Tai vách mạch rừng: Do câu thành ngữ: Rừng có mạch vách có tai.

 

1761. Phong trần: Nghĩa đen là gió bụi, thường được dùng để chỉ sự khổ sở mà người đời phải chịu.

 

1765. Túc trái tiền oan: Nợ nần, oán thù từ kiếp trước để lại.

 

1774. Địa ngục, thiên đường: Theo giáo lý đạo Phật thì những người độc ác sau khi chết phải xuống địa ngục để chịu tội, còn hồn những người lương thiện thì được lên thiên đường. ở đây ý nói nơi khổ ải và nơi sung sướng.

 

1778. Trúc tơ: Do chữ ty trúc: ty là tơ để làm dây đàn, trúc là tre để làm ống sáo. Hai chữ này thường được dùng để chỉ các thứ âm nhạc nói chung.

 

1786. Tương phùng: Gặp nhau. Câu này ý nói: Thuý Kiều nghĩ rằng tình nghĩa giữa mình với Thúc Sinh muốn nối lại thì hoạ chăng chỉ ở kiếp khác.

 

1782. ý nói: Thuý Kiều trông ra bốn bể thì thấy đâu cũng man mác một màu mây trắng mà không thấy quê nhà.

 

1788. Cố quốc: Nguyên nghĩa là nước cũ, sau cũng dùng như chữ cố hương (quê cũ).

 

1791. Uyên: do chữ uyên ương, giống chim ở với nhau từng đôi, nên người ta thường dùng để chỉ vợ chồng. Uyên bay: ý nói Thuý Kiều không còn nữa (con chim uyên đã bay mất).

 

1793. Trăng mới: Trăng đầu tháng. Câu nói đại ý nói: Thúc sinh trông thấy mặt trăng lưỡi liềm đầu tháng giống như lông mày người gái đẹp mà tưởng nhớ đến Kiều.

 

1794. Câu này đại ý nói: Thuý Kiều không còn nữa. Thúc sinh trông thấy phấn hương của nàng còn sót lại mà thương tâm.

 

1797. Cố nhận: Người quen biết cũ. ở đây chỉ Thuý Kiều.

 

1799. Gia hương: Nhà và làng, tức quê nhà. ở đây chỉ quê hương của Thúc sinh ở huyện Vô Tích.

 

1803. Nhà hương: Do chữ Hương khuê.

 

1816. Thành ngữ: Giết người không dao. ở đây chỉ mưu mẹo nham hiểm.

 

1823. Phách lạc hồn xiêu: Do chữ hồn phi phách tán, ý nói sợ hãi một cách ghê gớm.

 

1830. Động dong: Biến đổi sắc mặt, ý nói động lòng.

 

1831. Hiếu phục: Tang trở cha mẹ. ở đây chỉ thúc sinh vừa hết tang mẹ.

 

1832. Trắc dĩ: Kinh thi có câu Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mâu hề (lên núi Dĩ trông ngóng mẹ). Người sau bèn dùng hai chữ Trắc Dĩ để nói thương nhớ mẹ.

 

Chung thiên: Suốt đời, ý nói không bao giờ quên.

 

1833. Hiếu tử: Người con có hiếu với cha mẹ.

 

1834. Giải phiền: Làm cho khuây khoả sự phiền não.

 

1835. Thù: Chén rượu do chủ nhà rót mời khách.

 

Tạc: Chén rượu do khách rót cho người chủ để đáp lại. ở đây nói vợ chồng Thúc sinh uống rượu và mời mọc nhau.

 

1836. Trì hồ: Bưng bầu rượu. ý nói bắt Kiều đứng hầu một bên để rót rượu cho hai vợ chồng Thúc sinh uống.

 

1846. Bồ hòn để ám chỉ người có việc buồn khổ mà không nói ra được. ở đây ý nói: chén rượu Kiều đưa mời chàng thấy đắng như bồ hòn, nhưng vì sợ Kiều bị liên luỵ phải uống hết ngay.

 

1856. Người ngoài là người ngoài cuộc, thi Hoạn thư: người trong là người trong cuộc chỉ Thúc sinh và Kiều.

 

1865. Giọt rồng: có nghĩa là thời giờ, thời khắc.

 

1866. Cam tậm: Thoả lòng, hả dạ.

 

1871. Loan phòng: Phòng nằm của đôi vợ chồng;

 

1875. Thuý: Chim chả. Uyên: Chim uyên ương. ở đây chỉ việc Hoạn Thư dùng mưu chia rẽ đôi lứa Thúc sinh và Thuý Kiều.

 

1885. Đài dinh: Đài các, dinh thự, chỉ chỗ ở của bọn quyền quý. ở đây mượn để chỉ nhà ở của Thúc sinh và Hoạn thư.

 

1896. Thân cung: Cung khai, khai trình.

 

1897. Diện tiền: Trước mặt.

 

1910. Cửa không: Do chữ không môn. Vì đạo Phật cho mọi vật trên thế gian đều là "không" nên người ta gọi đạo Phật là "Không môn".

 

1913. Quan âm các: Cái chùa thờ Phật Quan thế âm Bồ tát. Đây là chùa riêng của nhà Hoạn Thư.

 

1915. Cổ thụ: Cây lâu năm.

 

Sơn hồ: Núi giả và hồ đào ra để làm cảnh.

 

1917. Tàng tàng: Tang tảng sáng.

 

1918. Ngũ cúng: Năm vật cúng Phật, tức hương, hoa, đăng, trà, quả.

 

1920. Tam quy: Ba lễ "qui y" tức quy y phật, quy y pháp, quy y tăng, nghĩa là đem cả tâm và thân mà theo đạo Phật.

 

Ngũ giới: Năm điều răn, tức là răn sát sinh, răn ăn rộm, răn tà dâm, răn nói càn, răn uống rượu.

 

Xuất gia: Ra khỏi nhà tức đi tu.

 

1921. áo xanh: Thanh y, áo các hầu gái mặc.

 

Cà sa: áo nhà sư mặc.

 

1922. Pháp danh: Tên đặt theo tập tục tôn giáo. Trạc Tuyền là pháp danh do Hoạn thư đặt cho Kiều.

 

1924. Xuân, thu: Tên hai người đầy tớ gái do Hoạn thư sai đến Quan âm các ở với Kiều để giúp việc hương đèn.

 

1926. Rừng tía: Do chữ tư trúc lâm, chỗ ở của Phật Quan âm Bồ tát.

 

Bụi hồng: Do chữ hồng trần, tức cõi trần tục, cõi đời.

 

1927. Nhân duyên: Duyên vợ chồng. ở đây chỉ duyên phận giữa Kiều và Thúc sinh.

 

1930. Thủ tự: Chữ viết tay.

 

Tâm hương: Hương lòng. Nén hương dân lên do tấm lòng thành kính.

 

1931. Giọt nước cành dương: Do chữ dương chi thuỷ. Theo sách Phật thì Phật Quan âm có cành dương liễu và bình nước cam lộ, khi muốn cứu ai thì lấy cành dương liễu dúng nước trong bình mà rảy vào người ấy. ở đây giọt nước cành dương dùng để chỉ phép màu nhiệm của Phật.

 

1932. Lửa lòng: do chữ tâm hoả, chỉ mọi thứ dục vòng do lòng người sinh ra.

 

Trần duyên: Duyên nợ ở cõi trần.

 

1937. Gác kinh: Cái gác viết kinh, chỉ chỗ ở của Kiều.

 

Viện sách: Tức thư viện, phòng đọc sách, chỉ chỗ ở của Thúc sinh.

 

1940. Vấn an: Hỏi thăm sức khoẻ.

 

1944. áo xanh: Do chữ thanh sam, chỉ thứ áo xanh mà các nhà nho sĩ xưa thường mặc.

 

1950. Cát lầm ngọc trắng: ý nói Kiều như "ngọc trắng" mà bị cát vùi dập.

 

1953. Tông đường: Nhà tổ tông. ở đây dùng với nghĩa: "nối dõi tông đường". ý nói Thúc sinh nghĩ mình chưa có con trai để nối dõi tông đường.

 

1957. Dông tố: Cơn mưa to gió lớn. ở đây chỉ sự giận giữ ghê gớm của Hoạn thư.

 

1987. Bút pháp: Phép viết chữ.

 

1988. Thiếp Lan - đình: Do chữ Lan-đình thiếp là bản bút tích rất tốt của nhà văn Vương Hy Chi, đời Tần.

 

1991. Thiền trà: Nước trà của nhà chùa.

 

Hông mai: Gỗ cây mai già dùng để nấu làm nước uống, sắc nước đỏ hồng, nên gọi là hồng mai.

 

1992. Thư trai: Nhà đọc sách, cũng như thư viện.

 

2008. Bó tay: Chữ hán là thúc thủ. Đặt hai chữ "bó tay" sau chữ "Thúc" là một cách chơi chữ của tác giả.

 

2011. Đãi đằng: ở đây lại có nghĩa là nói năng, làm ầm ĩ lên.

 

2014. Cổ nhân có câu: Nộ giả thường tình, tiếu giả bất khả t rắc, nghĩa là: Giận dữ là thói thường, cười thì không thể lường được. Câu này dùng ý ấy.

 

2018. Câu này ý nói: Bị giam giữ ở đây lâu, thế nào cũng có ngày mình bị hành hạ điêu đứng hơn, hoặc bị trừ khử.

 

2020. Câu này ý nói: Thuý Kiều nghĩ thân phận của mình như cánh bèo trên mặt nước, ở đâu thì cũng là lênh đênh cả, không còn quản gì.

 

2024. Kim ngân: Vàng bạc, chỉ các đồ thờ như chuông, khánh đúc bằng vàng bạc.

 

2036. Chiêu ấn: Tên ngôi chùa, nghĩa là chiêu nạp những người ẩn dật.

2038. Trụ trì: Cư trú và chủ trì mọi công việc trong một ngôi chùa.

 

2043. Tiểu thiền: Cũng như tiểu tăng, là người đi tu nhỏ mọn (Lời Kiều tự khiêm).

 

2044. Qui sư, qui phật: Theo thầy, theo Phật, cũng như nói "qui tăng, qui phật".

 

2045. Bản sư: Vị sư thầy học mình.

 

2046. Pháp bảo: Chỉ các đồ thờ cúng quý giá.

 

Sư huynh: Vị sư đàn anh, lời xưng hô giữa các vị sư với nhau.

 

2047. Diện kiến: Đem dâng ngày trước mặt.

 

2050. Hằng Thuỷ: Tên hiệu một vị sư nữ khác mà Kiều mạo xưng là thầy học mình.

 

Hầu tình: Tình nghĩa đối xử hậu hĩ, thân mật.

 

2053. Am mày: Do chữ Vân phòng, chỗ ở nhà sư ở.

 

2059. Thông tuệ: Thông minh, sáng suốt;

 

2062. Vẻ ngân: ánh bạc, ánh trăng sáng như bạc.

 

2064. Đàn việt: Người đứng ra bố thí, thường thường để chỉ người có công với nhà chùa, hay người đi vãn cảnh chùa.

 

Cửu già: Tiếng Phạn gọi chùa là già lam.

 

ở đây ý nói ngồi chờ nước đến chân rồi mới nhảy là khờ dại.

 

2088. Đồng môn: cùng học một thầy, một trường, ý nói Bạc hà cũng một phường chủ lầu xanh như Tú bà.

 

2096. Tục ngữ: Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. ở đây mượn ý ấy để nói Thuý Kiều đã mang tiếng trốn chúa và ăn cắp, thế nào cũng bị người ta dị nghị.

 

2097. Oan gia: Bạc bà địa đặt ra mà nói Kiều là một oan gia kiếp trước vào nhà mình để chực gây tai hoạ cho mình.

 

Phá gia: Phá nhà.

 

2099. Xe dây: Cũng như xe tơ, nghĩa là lấy chồng.

 

2108. Thành thân: Làm lễ hợp hôn, thành vợ chồng.

 

Châu thai: Chỗ Bạc Hạnh buôn bán, thuộc tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).

 

2118. Cổ ngữ: Thương cung chi điểu, kiến khúc mộc nhi cao phi, nghĩa là con chim đã bị thương vì cung thì thấy cái cong cũng sợ mà bay cao.

 

2123. Sở cầu: Cầu đến, hỏi đến, ý nói muốn cưới làm vợ.

 

2124. Tân minh: Lấy lòng thực mà thề với nhau.

 

2132. Thành hoàng thổ công: ý nói: Bạc Hạnh thề rằng: Nếu mình không tốt với Kiều thì xin thành hoàng, thổ công chứng giám.

 

2134. Lễ tơ hồng: Tức là Nguyệt lão, vị thần xe dây cho người nên vọ nên chồng.

 

2139. Hành viện: Tên gọi khác của nhà chứa.

 

2151. Theo nhà thuật số đờ xưa thì đào hoa làm một hung tịch, chiếu vào cung mệnh con trai thì bệnh tật, chiếu vào cung mệnh con gái thì phải làm đĩ.

 

2157. Hồng quân: Chỉ con tạo. Hồng quần: Cái quần đỏ, được dùng để chỉ người con gái.

 

2164. Mặt phấn: Mặt trát phấn, ý thân phận người con gái.

 

2166. Biên đình: Nơi biên ải xa xôi.

 

2167. Râu hùm, hàm én, mày ngài: Tướng mại của người anh hùng: râu dữ như râu hùm, hàm mở rộng như chim én, mày cong và to như con tằm.

 

2196. Anh hào: Anh hùng hào kiệt.

 

2170. Côn quyền: Món võ đánh bằng gậy.

 

Quyền: Món võ đánh bằng tay.

 

Lược thao: Mưu lược về các dùng binh, do chữ Lục thao, Tam lược là hai pho binh thư đời xưa mà ra.

 

2172. Việt Đông: Chỉ tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) ở về phía đông sông Việt, nên gọi là Việt Đông.

 

2176: Hoàng Sào, một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa đời Đường, có câu thơ: Bán kiên cung kiếm băng thiên túng, nhất trạo giang sơn tận địa duy (chỉ nửa vai cung kiếm mà tung hoành khắp cả gầm trời, chi một mái chèo mà đi khắp cả non sông).

 

2176. Tấm lòng nhi nữ: ý nói: Người đẹp.

 

Lầu hồng: do chữ hồng lâu.

 

2179. Tâm phúc tương cờ: Tương cờ tức tương kỳ. Lòng dạ hứa hẹn với nhau. Từ Hải muốn cùng Kiều kết thành đôi lứa tri kỷ chứ không phải là cái tình yêu đương trăng gió tạm bợ.

 

2182. Mắt xanh: Nguyên Tịch đời Tấn, trọng ai thì nhìn bằng con mắt xanh, khinh ai thì nhìn bằng con mắt trắng. Câu này ý nói: Từ Hải hỏi Kiều, xưa nay nàng chưa hề xem trọng ai có phải không?

 

2184. Cá chậu chim lồng: Chỉ hạng người tầm thường, sống tron vòng giam hãm câu thúc.

 

2192. Bình-nguyên quân: Chính tên là Triệu Thắng, một trong thần nhà Triệu, đời Chiến quốc được phong đất ở Bình Nguyên nên gọi là Bình nguyên quân, nổi tiếng là người hiếu khách. Cao Thích đời Đường có câu: Vị trí can đảm hướng thuỳ thị, linh nhân khước ức Bình Nguyên quân, nghĩa là chẳng biết gan mật hướng vào ai, khiến người ta lại nhớ Bình Nguyên quân.

 

2196. Tấn Dương: Tên đất, nơi Đường Cao tổ khởi binh đánh nhà Tuỳ, dựng nên đế nghiệp. Câu này ý nói: Thuý Kiều tin tưởng là Từ Hải sẽ làm nên sự nghiệp đế vương.

 

2200. Tri kỷ: Người hiểu biết mình.

 

2202. Trần ai: Bụi bậm, chỉ lúc người anh hùng còn ẩn náu, chưa có danh vụ gì để phân biệt với người thường.

 

2204. Nghìn tứ do chữ thiên tứ, nghìn cỗ xe chỉ cảnh giàu sang.

 

2205. ý hợp tâm đầu: Tâm tình và ý nghĩa đều tương đắc với nhau.

 

2208. Nguyên ngân: Số tiền bỏ ra khi trước.

 

Phát hoàn: Đưa trả lại.

 

2210. Bát tiên: Tám vị tiên là Chung Ly Quyền, Lã Động Tần, Trương Quả Lão, Lý Thiết Quái, Lam Thái Hoà, Tào Quốc Cữu, Hà Tiên Cô, Hàn Tương Tử. Người ta hay vẽ hình tám vị tiên này trên màn trướng.

 

2212. Sánh phượng, cưỡi rồng: Xưa Kính Trọng, người nước Tần, được quan đại phu nước Tề gả con gái cho, trong quẻ bói được câu: Phượng hoàng vu phi... (Chim phượng hoàng cung bay). Đời Đông Hán, Hoàng Hiến và Lý Ung là hai người có danh vọng, cùng lấy con gái Hoàn Yến, người đời khen hai con gái Hoàn Yến đều cưỡi rồng. Câu này dùng ý hai điển ấy để nói Từ Hải, Thuý Kiều đẹp duyên với nhau.

 

2214.Trượng phu: ở đây có nghĩa là đàn ông tài giỏi, có chí lớn.

 

2219. Tâm phúc tương tri: Biết nhau từ trong thâm tâm, hiểu rõ bụng dạ của nhau.

 

2220. Nữ nhi thường tình: cái tính thông thường của đàn bà, con gái.

 

2222. Chiêng: Tức chính cổ, chỉ chung chiêng trống. Tinh: Tức tinh kỳ, chỉ chung cờ quạt, tượng trưng cho nghi vệ và đội ngũ quân lính ngày xưa.

 

2224. Nghi gia: Do chữ nghi kỳ thất gia ở Kinh Thi, ý nói vợ chồng hoà hợp. ở đây, hai chữ nghi gia có nghĩa là gái về nhà chồng.

 

2230. Bằng : Một loại chim rất lớn. Sách Trang Tử có câu Bằng chi tỉ ư Nam minh đã, đoàn phù dạo nhi thường giả cửu vạn lý (Chim bằng khi rời biển Nam, vỗ cánh trong làn gió cuốn mà bay lên chín vạn dặm tầng không). Người ta thường dùng hình ảnh ấy để chỉ người anh hùng có địa bàn hoạt động rộng rãi, có mưu đồ sự nghiệp lớn lao.

 

2235. Hán Cao tổ quê ở Phần Du, sau khi làm vua có về làng ấy chơi. Người sau bèn dùng hai chữ phần du để chỉ quê nhà, ở đây hợp với chũ tang tử thành tử phần để chỉ quê nhà.

 

2236. Thơ Hàn Dũ đời Đường: Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại? Nghĩa là: Mây che ngang núi Tần, biết quê nhà ở đâu? ý nói Kiều nhớ nhà.

 

2242. ý nói : Kiều tuy dứt tình với Kim Trọng, nhưng lòng vẫn không quên chàng, cũng vì như ngó sen bị bẻ gãy, mà sợi tơ vẫn liền với nhau.

 

2245. Cố quốc tha hương: Có nghĩa là quê nhà đất khách.

 

2250. Lửa binh: Do chữ binh hoả nghĩa là giặc giã.

 

2251. Sát khí : Cái khí dữ dội của cảnh chém giết, thường được dùng để chỉ cảnh binh đao sát phạt.

 

2252. Kình ngạc : Hai giống cá to, dữ, thường được dùng để chỉ những tay kiệt hiệt trong đám giặc giã. Giáp binh : áo giáp và binh khí, đây dùng để chỉ quân lính.

 

2260. Phu nhân: Tiếng xưng hô đối với vợ các người tôn quí. Đây chỉ Thuý Kiều.

 

2263. Cung nga : Gái hầu trong cung, cung nữ. Thế nữ : Loại gái hầu kém cung nữ một bậc, ở đây tác giả dùng những danh từ ấy là có ý xem Từ Hải như một vị đế vương.

 

2265. Phượng liễn loan nghi: Xe, kiệu và đồ nghi trượng có chạm khắc thêu vẽ hình loan, chim phượng.

 

2266. Hoa quan: Mũ hoa.

 

Hà y: áo mầu hồng như ràng mặt trời..

 

2269. Hoả bài: Cái thẻ bài hoả tốc, cầm đi trước để báo tin.

 

2270. Nam đình: Triều đình phương Nam do Từ Hải lập ra.

 

Đại doanh: Doanh trại lớn, nơi đóng đại quân của Từ Hải.

 

2272. Thân nghênh: Tự mình đích thân ra đón.

 

2273: Cân: Khăn (mũ); đai: Cái đai vòng quanh áo lễ. Câu này ý nói Từ Hải lúc này ăn mặc không phải như lần gặp Kiều khi còn hàn vi, mà đã ăn mặc theo cung cách đế vương.

 

2275. Cá nước duyên ưa: Do câu ngư thuỷ duyên hài, ý nói vợ chồng đẹp duyên với nhau.

 

2284. Trướng mai: Trướng có thêu hoa mai, chỉ phòng nằm của vợ chồng.

 

2297. Nghiêm quân: Chỉnh đốn hàng ngũ quân lính.

Tuyển tướng: Lựa chọn tướng tá.

 

2298. Ruổi sao: Do chữ tinh trì, ý nói đi nhanh như sao đổi ngôi.

 

2299. Ba quân: Danh từ chỉ chung quân đội. Đời xưa các nước chư hầu có ba quân, mỗi quân 12.500 người. Và các nước thường chia quân đội làm ba bộ phận: trung quân, tả quân, hữu quân; hoặc: trung quân, thượng quân, hạ quân.

 

2303. Lệnh tiễn: Cờ lệnh có cắm mũi tên sắt của các tướng soái dùng để làm hiệu lệnh hoặc để làm tin.

 

2307. Thệ sư: Lời tuyên cáo và hiểu dụ quân sĩ trước lúc xuất quân.

 

2308. Chấp uy: Chấp hành uy lệnh.

 

2309. Báo phục: Bảo trả lại, ý nói làm ân thì sẽ được trả ân, làm oán thì sẽ có lúc bị người ta trả oán.

 

2312. Cơ, về: Tên gọi các đơn vị quân lính đời xưa.

 

Thị lập: Đứng chầu.

 

Song phi: Dàn làm hai hàng.

 

2314. Bác đồng: Súng bằng đồng.

 

2315. Trường hùm: Dịch chữ hổ trướng. Xưa thường dùng da hùm làm thành cái màn lớn để chủ soái họp bàn với các tướng, nên người sau quen dùng chữ "hổ trướng" để chỉ chỗ làm việc của các tướng soái.

 

Trung quân: Đội quân đóng ở giữa, do chính chủ tướng chỉ huy.

 

2318. Cửa viên: Viên là cái càng xe. Đời xưa lúc quân đội cắm trại thường dùng xe làm cửa, nên cửa doanh trại của quân đội gọi là "viên môn".

 

2326. Chàm đổ: Mặt xanh như màu chàm đổ vào.

 

Giẽ run: Mình run như chim giẻ.

 

2329. Sâm và Thương: Theo nhận thức của người xưa, thì sao Sâm ở phương tây sao Thương ở phương đông, sao này lặn sao kia mới mọc. Hai sao này không bao giờ gặp nhau, nên người ta dùng để chỉ cảnh xa cách mỗi người một nơi. Đối chiếu thiên văn học hiện nay đó là hai sao Orion và Scorpion.

 

2334. Tục ngữ: Kẻ cắp gặp bà già, ý nói hai kẻ ranh ma quỷ quái lại gặp phải nhau.

 

2341. Mụ già: Chỉ bà quản gia nhà họ Hoạn.

 

Sư trưởng: Chỉ Giác Duyên.

 

2348. Phiếu mẫu: Bà làm nghề giặt sợi ở bến nước. Hàn Tín đời Hán lúc hàn vi được bà Phiếu mẫu đãi một bữa cơm, sau làm đến tước vương, tạ ơn nghìn vàng.

 

2353. Hiến phù: Dâng nộp những người bắt được.

 

2354. Hậu tra: Chờ để tra xét.

 

2377. Tri quá: Biết lỗi, từ mình biết nhận rằng mình có lỗi.

 

2382. Hại nhân, nhân hại: Làm người thì sẽ bị người làm hại.

 

2387. Nội đao: Quân đao phủ, chuyên việc chém người.

 

2395. Pháp trường: Chỗ để hành hình người có tội.

 

2396. Thanh thiên bạch nhật: Trời xanh ngày trắng, ý nói giữa ban ngày ban mặt, ai cũng được chứng kiến.

 

2398. Từ qui: Từ giã ra về.

 

2399. Thiên tải nhất thì: Ngàn năm mới có một dịp. Câu này thường dùng để chỉ dịp may hiếm có.

 

Bàn hoàn: Đây có nghĩa là gặp gỡ trò chuyện.

 

2404. Hạc nội: Chim hạc ở ngoài đồng nội. Mây ngàn: Đám mây bay trên rừng núi. ý nói nay đây mai đó, nơi ở không nhất định.

 

2405. Hành cước: Đi bộ, tiếng nhà Phật, chỉ việc các nhà sư đi vân du.

 

2406. Tiên tri: Biết trước mọi việc chưa xảy ra.

 

2407. Hội ngộ chi kỳ: Cái kỳ hẹn gặp gỡ nhau.

 

2409. Tiền định: Đã định sẵn từ trước.

 

2416. Chung thân: Trọn đời, ý nói Kiều muốn hỏi số phận của mình suốt đời ra sao.

 

2425. Khắc xương ghi dạ: Do chữ minh tâm khắc cốt: ý nói ơn sâu của Kiều xin ghi vào lòng, khắc vào xương không bao giờ quên.

2426. Nghì trời mây: Ơn nghĩa cao cả như trời mây.

 

2427. Quốc sĩ: Kẻ sĩ tài giỏi có tiếng trong nước.

 

2430. Cố ngữ: Lộ kiến bất bình, bạt dao tương trợ, ý nói người anh hùng nghĩa hiệp, giữa đường đi mà thấy điều gì không công bằng thì tuốt gươm ra mà giúp sức cho người bị áp bức. Câu này mượn ý ấy.

 

2432. Thâm tạ: Tạ ơn một cách sâu sắc.

 

Tri ân: Biết ơn của người khác đối với mình.

 

2434. Việt: Một xứ ở Đông nam Trung Quốc;

 

Tần: Một xứ ở bắc Trung Quốc. Kẻ Việt người Tần có nghĩa là cách biệt xa xôi.

 

2438. Tẩy oan: Rửa tội oan, ý nói Từ Hải sai mở tiệc để làm hội rửa sạch tội oan cho Kiều.

 

2440. Bình uy: Uy thế của quân đội. Câu này ý nói: Uy thế của quân Từ Hải từ đó vang dội trong ngoài như sấm dậy.

 

2444. Huyện thành: Thành trì của một huyện. Câu này ý nói: Quân Từ Hải đánh chiếm được năm huyện phía Nam Trung Quốc.

 

2446. Giá áo túi cơm: Cái giá để mắc áo, cái túi để đựng cơm ý nói người vô dụng hèn kém.

 

2448. Cô và quả: Tiếng tự xưng của bọn vua chúa đời xưa. Bá Vương cũng nghĩa như vua chúa. Câu này ý nói: Từ Hải cũng xưng cô xưng quả, làm vương làm bá một phương chứ không kém gì ai.

 

2449. Tranh cường: Đua tranh về sức mạnh. Câu này ý nói: Trước ngọn cờ của Từ Hải không ai dám chống lại.

 

2450. Hùng cứ: Lấy sức mạnh mà chiếm giữ.

 

Hải tần: Đất ven biển.

 

2452. Kinh luân: Nghĩa đen là quay tơ và bện tơ, người ta thường dùng để nói tài sắp xếp chính sự, kinh bang tế thế.

 

2453. Đẩy xe: Do chữ thôi cốc (đẩy bánh xe). Đời xưa, khi sai tướng đi đánh giặc, vua thường tự mình đẩy vào xe của viên tướng một cái, để tỏ ý tôn trọng. Câu này ý nói: vua nhà Minh sai Hồ Tôn Hiến đi đánh Từ Hải là một việc rất quan trọng.

 

2454. Tiện nghi bát tiễu: Tuỳ tiện mà đánh đẹp.

 

Đổng nhung: Trông coi, đốc suất việc quân.

 

2457. Chiêu an: Kêu gọi chiêu dụ cho giặc đầu hàng.

 

2477. Vương thần: Bề tôi của nhà vua.

 

2478. Thanh vân: Mây xanh, người xưa thường dùng để chỉ con đường công danh.

 

2481. Mệnh phụ: Vợ các quan to đời xưa, được vua ban sắc mệnh phong cho làm phu nhân.

 

2484. Đắc hiếu: Tròn đạo hiếu với cha mẹ.

 

Đắc trung: Tròn đạo trung với vua.

 

2485. Chiếc bách: Do chữ bách châu có nghĩa là mảnh thuyền, ý nói thân phận lênh đênh.

 

2491. Bình thành: Do chữ địa bình thiên thành ở Kinh thư, ý nói nhà vua sửa sang việc nước cho trời đất được bằng phẳng.

 

2494. Vô định: Tên một con sông ở biên thuỳ tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). Ngày xưa ở con sông ấy đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa người Hán và người Hồ, làm cho rất nhiều người bị chết.

 

2496. Hoàng Sào: Một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa cuối đời Đường, đã từng vây hãm kinh đô Trường An, tung hoành trong mười năm trời, sau bị thủ hạ giết chết.

 

2502. Thúc giáp: Bó áo giáp lại.

 

Giải binh: Cho quân đội nghỉ ngơi không chiến đấu nữa.

 

2530. Thành hạ yêu minh: Cùng nhau ăn thề dưới thành để tỏ ý không làm hại nhau và thật thà tuân theo đúng những điều đã ước hẹn.

 

2506. Vương sư: quân của nhà vua, tức quân của Hồ Tôn Hiến.

 

2507. Quyết kế thừa cơ: Quyết định cái mưu là nhân cơ hội Từ Hải trễ tràng việc quân để đánh.

 

2508. Lễ tiên bình hậu: Phía trước thì đàn nghi lễ để chiêu hàng, phía sau thì phục sẵn binh mã để phản công.

 

Khắc cờ: ấn định kỳ hạn.

 

Tập công: Đánh úp.

 

2509. Chiêu phủ: Kêu gọi, vỗ về, để cho quy hàng.

 

Tiên phong: Toán quân đi trước. Câu này ý nói: Hồ Tôn Hiến lập mưu cho kéo cờ "chiêu phủ" đi trước.

 

2512. Đại quan lễ phục: Ăn bận theo phục sức của vị quan lớn không mặc binh phục.

 

2529. Trí dũng: Trí khôn và sức mạnh.

 

2533. Dòng thu: Đây là chỉ nước mắt.

 

2535. Oan khí tương triền: Cái oan khí ức vấn vít lại với nhau. ý nói: Giữa Từ Hải và Thuý Kiều hình như cùng chung mối uất ức.

 

2542. Binh cách: Binh là binh khí. Cách là áo giáp và mũ đầu mâu. Người ta thường dùng hai chữ binh cách để chỉ cuộc binh đao chinh chiến.

 

2543. Thành toán miếu đường: Mưu chước đã sắp đặt sẵn ở nơi tốn miếu triều đường. Câu này ý nói: đành hay triều đình đã cso mưu kế sẵn, nhưng cũng nhờ lời nàng nói giúp mới nên việc.

 

2552. Bách chiến: Trăm trận đánh, ý nói Từ Hải là một người dạn dày trong chiến trận.

 

2553. Phu quí phụ vinh: Chồng làm nên quan sang thì vợ cũng được vinh hiển.

 

2555. Ngang tàng: Cũng cú nghĩa như hiên ngang, ý nói người tung hoành ngang trời dọc đất.

 

2561. Tiện thổ: Mướng đất xấu.

 

2564. Cảo táng: Chôn một cách sơ sài, không có khâm liệm quan quách gì. Di hình: Cũng như di hài.

 

2565. Hạ công: Mừng công ( Thắng trận).

 

2567. Thị yến: Hầu hạ bên bàn tiệc.

 

2581. Hương lửa ba sinh: Do chữ tam sinh hương hoả, ý nói duyên nợ vợ chồng từ kiếp xưa để lại.

 

2582. Dây loan: Chỉ việc nối lại nhân duyên vợ chồng.

 

2586. Tiểu lân: Tên nàng Phùng Thục Phi, vợ vua Hậu chủ nước Tề, đời Nam Bắc triều. Sau khi nước Tề mất, nàng về tay người khác, nhân lúc dây đàn đứt, nàng làm bài thơ cảm hoài trong đó có câu: Dục trí tâm đoạn tuyệt, ưng khan tất thương huyền. Nghĩa là muốn biết tơ lòng dứt nát, nên xem cái dây trên đầu gối thì rõ. Câu này mượn ýcâu thơ ấy.

 

2588. Gốc phần: Do chữ phần du.

 

2591. Phương diện quốc gia: vị quan đảm đang công việc một vùng đất nước.

 

2596. Công nha: Chỗ làm việc quan, cũng như công môn đườngv.v.

 

2598. Thổ quan: Cũng như thổ tù, viên quan người ở bản thổ, có thể ở vùng dân tộc ít người.

 

2609. Tơ đào: Cũng như tơ hồng. Câu này ý nói: Ai đã chia rẽ nhân duyên của mình, đối nghĩa với câu dưới: "Nợ đâu, ai đã giắt vào tận tay?". Nợ đây tức là việc "ép tình mới gán cho người thổ quan".

 

2619. Triều: Nước thuỷ triều. ở cửa sông Tiền Đường (Trung Quốc) khi triều lên thì có tiếng sóng đùng đùng.

 

2621. Thần mộng: Lời báo mộng của thần, ý nói lời Đạm Tiên dặn trong chiêm bao, lúc Kiều tự vẫn ở nhà Tú Bà: "Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau".

 

2626. Tuyệt bút: Bút tích cuối cùng, viết trước khi chết để kể nỗi tâm tình của mình cho người sau biết.

 

2627. Cửa hồng: Cửa thuyền.

 

Rèm châu: Rèm có trang sức châu báu, hoặc rèm sơn màu đỏ.

 

2635. Con nước: Tiếng quen gọi của dân chài lưới để chỉ nước thủy triều lên xuống.

 

2638. Người xưa thường dùng hai chữ hương ngọc để chỉ phụ nữ.

 

2646. Âm cực dương hồi: Khi khí âm đến hết mực thì khí dương lạ trở về. Câu này cũng nghĩa như câu bĩ cực thái lai, ý nói con người ta khi vận đen đã hết thì vận đỏ trở lại.

 

2650. Bầu: Quả bầu khô rút ruột đi để đựng nước.

 

Níp: Cái tráp đan bằng tre để đựng quần áo sách vở. Hai vật thường dùng của những người đi đường thời xưa.

 

Vân du: Danh từ nhà Phật, ý nói nhà sư đi lang thang nay đây mai đó như đám mây bay vô định.

 

2655. Phúc hoạ đạo trời: Nói người ở đời gặp phúc hay gặp hoạ đều do ý trời, không phải ngẫu nhiên.

 

2668. Thanh lâu: Gái điếm. Thanh y: Gái hầu. Thuý Kiều làm gái điếm một lần ở Lâm Tri, một lần ở Châu Thai và làm gái hầu một lần ở nhà Hoạn bà, một lần ở nhà Hoạn Thư.

 

2670. Hùm sói: Người xưa thường dùng hai chữ hùm sói để chỉ các tướng giặc. Đây muốn nói Kiều phải sống với bọn ác độc.

 

2680. Nghiệp duyên: Danh từ nhà Phật có nghĩa là mối duyên nợ do bản thân mình làm nên từ kiếp trước.

 

2683. Tình thân: Do câu phụ tử tình thân. Câu này ý nói: Thuý Kiều đến bối ơn nghĩa sâu sắc của cha mẹ.

 

2687. Thửa công đức: Nghĩa là cứ xem như công đức ấy.

 

2688. Túc khiên: Tội lỗi kiếp trước.

 

2697. Thảo đường: Nhà lợp bằng gianh, bằng cỏ.

 

2699. Ngư phủ: Người làm nghề chài lưới.

 

2703. Duềnh ngân: Dòng nước bạc.

 

2705. Ngư ông: Ông lão đánh cá, tức "ngư phủ" nói trên.

 

2711. Phách quế hồn mai: Do chữ quế phách mai hồn. Hai chữ "quế mai" ở đây dùng cho đẹp lời văn.

 

2720. Âm công: Công đức cứu người làm ngấm ngầm, không ai biết.

 

2732. Thảo lưu: Nhà tranh cũng nghĩa như thảo đường.

 

2741. Phù tang: Phù trì đám tang, cũng nghĩa như hộ tang.

2743. Vườn Thuý: Chính nghĩa là cái vườn có hiên "Lãm Thuý" chỗ Kim Trọng trọ học lúc trước. Nhưng ở đây chỉ nơi hai người đi về tình tự lúc trước.

 

2748. Thôi Hộ đời Đường, nhân tiết Thanh minh, đi đến nơi kỳ ngộ, tìm người con gái đã gặp gỡ năm trước thì chỉ thấy cửa đóng, người đi đâu vắng, nhân đó mà làm bài thơ, trong có câu: nhân diện bất tri hà xứ khứ, đào hoa y cự tiểu đông phong. Nghĩa là: mặt người không biết đi đằng nào, hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ. Cây này dùng câu ý thơ ấy để nói không thấy bóng dánh nàng Kiều ở đâu, chỉ thấy hoa đào vẫn cười với gió đông như năm xưa mà thôi.

 

2757. Tụng đình: Sân kiện, nơi xử kiện. ở đây dùng với nghĩa việc chỉ kiện cáo.

 

2765. Di trú: Dời đi ở chỗ khác.

 

2779. Gia biến: Tai biến của gia đình.

 

2783. Lang quân: Tiếng dùng để chỉ người chồng trẻ và chỉ những người trai trẻ nói chung.

 

1788. Lai sinh: Kiếp sau. Câu này ý nói: nếu như chết mà thiêng thì kiếp sau xin đền bù lại.

 

2789. Ký chú đinh ninh: Ghi chú, dặn dò cặn kẽ.

 

2801. Ván đã đóng thuyền: ý nói Thuý Kiều bây giờ đã về tay người khác.

 

2807. Kim hoàn: Vòng vàng, vật Kim Trọng đưa cho Thuý Kiều làm tin lúc mới gặp nhau (Câu 318: Xuyến vàng đi chiếc, khăn là một vuông).

 

2824. Dưỡng thân: Nuôi cha mẹ. Câu này ý nói: Kim Trọng thay Kiều phụng dưỡng vợ chồng Vương ông như cha mẹ mình.

 

2828. Lâm thanh: Mã Giám Sinh nói dối là quê ở đó, nên Kim Trọng mới sai người đến đây hỏi thăm tin Kiều.

 

2859. Chế khoa: Khoa thi do ý vua mà mở ra, khác với khoa thi thường lệ.

 

2860. Bảng xuân: Do chữ xuân bảng, bảng thi về mùa xuân. Chiếm bảng xuân tức là thi đỗ.

 

2861. Cửa trời: Do chữ thiên môn, tức là cửa nhà vua.

 

Đường mây: Do chữ vân lộ hay thanh vân lộ, ý nói đường công danh, sĩ hoạn.

 

2862. Ngõ hạnh: Tức Hạnh Viên ở kinh đô Tràng An. Đời nhà Đường các tân khoa tiến sĩ được dự tiệc và xem hoa ở đây.

 

Dặm phần: Do chữ phần du mà ra, ý nói quê nhà. Xem chú thích 2235. Cây này tả cảnh vinh hoa của Kim, Vương khi thi đỗ và về vinh qui.

 

2864. Chu tuyền (hay chu toàn): Làm cho được tròn vẹn. Câu này ý nói: Vương quan làm rể họ Chung.

 

2870. Ngọc đường: Đời Tống Thái Tồng, vua đề ở dinh Hàn Lâm ba chữ Ngọc đường thự. Đời sau bèn dùng những chữ Kim mã ngọc đường để nói chung cảnh quan gia phú quý.

 

2873. Ngoại nhậm: Làm quan ở cõi ngoài (không phải ở huyện nhà).

 

2874. Thê nhi: Vợ con.

 

2875. Phụ tử Tiện đời Xuân thu, làm quan huyện, thường hay gảy đàn, người sau bèn gọi đinh quan huyện là cầm đường.

 

2876. Triệu Biên đời Tống, đi làm quan, chỉ đem theo một con hạc và một cây đàn, tổ ra người liêm khiết cao thượng.

 

2883. Thanh khí: Câu này ý nói: Thuý Vân, Thuý Kiều là hai chị em ruột, cho nên dễ cảm thông với nhau.

 

2884. Giai âm: Tin tốt.

 

2885. Thăng đường: Ra ngồi làm việc ở công đường.

 

2893. Kiên trinh: Kiên quyết giữ gìn trinh tiết.

 

2894. Liều mình: Chỉ việc Thuý Kiều tự vẫn lúc mới đến nhà Tú Bà.

 

Phải lừa chỉ việc sợ bị Sở Khanh lừa đưa đi trốn.

 

2907. Tóc tơ: Kẽ tóc chân tơ, ý nói hỏi rất tỷ mỷ.

 

2922. Thiên tài: Tài trời phú cho.

 

2924. Động địa kinh thiên: Sôi trời nổi đất.

 

2926. Vân mồng: Tiếng cổ, nghĩa là tin tức, manh mối.

 

2927. Tiên hao: Cùng nghĩa với tăm hơi, tin tức.

 

2937. Bình: Bèo, Bồng: Cỏ bồng. Hai vật này thường hay trôi nổi theo nước và gió. ở đây để chỉ tấm thân phiêu bạt của Kiều.

 

2938. Đỉnh chung: Đỉnh: Cái vạc để nấu thức ăn. Chung: Cái chuông để đánh báo hiệu giờ ăn. Đỉnh chung ở đây dùng để chỉ cảnh vinh hiển phú quý.

 

2939. Treo ấn từ quan: Treo trả cái ấn tại công đường mà bỏ về, không làm quan nữa.

 

2944. Năm mấy: Do chữ Ngũ vân, ý nói tờ chiếu có vẽ mây năm sắc; chiếu trời là chiếu nhà vua.

 

2948. Khâm ban: Chữ khâm, nguyên có nghĩa là kính, sau được dùng để chỉ nhà vua. Ví dụ: như nói khâm sai, khâm định...

 

Sắc chí: Tờ sắc ban bố mệnh lệnh của nhà vua.

 

2949. Cải nhậm: Đổi đi làm nơi khác. Nam - bình: Tên huyện, thuộc tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc), ở phía trên sông Tiền Đường và Hàng Châu.

 

2950. Châu Dương: Tức Dương Châu, tên phủ thuộc tỉnh Giang Tồ (Trung Quốc), ở phía trên sông Tiền Đường và Hàng Châu.

 

2952. Phó quan: Đi đến chỗ làm quan, đi nhậm chức.

 

2954. Phúc Kiến, Chiết Giang: Hai tỉnh phía đông nam Trung Quốc, nơi cát cứ cũ của Từ Hải.

 

2957. Hàng Châu: Tên phủ, nay là thủ phủ tỉnh Chiết Giang.

 

2960. Thất cơ: Để lỡ cơ mưu, làm sai quân cơ, tức là bị mắc mưu địch.

 

Thu linh: thu khí thiêng, ý nói chết.

 

2962. Thổ tù: Người tù trưởng ở địa phương, cùng như chữ Thổ quan.

 

2963. Ngọc và châu: Thường được dùng để chỉ cái đẹp, cái quý giá:

 

"Gieo ngọc trầm châu" ở đây chỉ việc Thuý Kiều trầm mình.

 

2967. Chiêu hồn: Gọi hồn.

 

Thiết vị: Đặt bài vị viết tên hiệu người chết mà thờ cúng.

 

Đàn tràng: Đàn làm lễ giải oan.

 

2970. Cánh hồng: Cánh chim hồng. Cũng hiểu là phong thái nhẹ nhàng của cô gái đẹp.

 

2972. Tinh vệ: Tên một loài chim nhỏ, sống ở bãi bể. Theo sách Thuật dị ký: Xưa con gái vua Viêm đế chết đuối ở biển, hồn hoá thành con chim tinh vệ, hàng ngày ngậm đá ở núi Tây Sơn vứt xuống biển để hòng lấp biển. ở đây ví Thuý Kiều trầm mình nên mượn điểm ấy.

 

2973. Cơ. Cơ trời. Duyên: duyên may. Câu này ý nói: Cơ trời xui khiến, duyên số lạ lùng.

2975. Linh vị: Bài vị thờ linh hồn người chết.

 

2984. Pháp sư: Tiếng đồn xưng những tăng ni, đạo sĩ cấp trên.

 

2985. Nhân quả: ở đây có nghĩa như là nhân duyên, duyên nợ.

 

2989. Cửa bồ đề: Cửa Phật.

 

2990. Thảo am: Chùa lợp tranh.

 

2991. Phật tiền: Trước bàn thờ Phật.

 

2999. Minh dương: Cõi tối và cõi sáng, tức âm phủ và dương gian.

 

3000. Cửu nguyên: Tên một xứ ở tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc) đời Xuân Thu là chỗ chôn các quan khánh và đại phu nhà Tần, người sau bèn dùng chữ cửu nguyên để chỉ mộ địa nói chung.

 

3005. Giang tân: Ven sông;

 

3011. Phương trưởng: Khôn lớn và trưởng thành.

 

3020. Trần tạ: Bày tỏ lòng tạ ơn.

 

Từ bi: Thương người, chữ của nhà Phật.

 

3039. Tái thế tương phùng: Gặp nhau ở đời thứ hai, ý nói thân Kiều như chết đi sống lại để gặp gỡ gia đình.

 

3049. Trùng sinh: Đẻ lại lần thứ hai, ý nói làm cho mình sống lại. Chỉ vào ơn của Giác duyên.

 

3051. Bỉ thứ nhất thì: Do câu Bỉ nhất thì, thử nhất thì ý nói xưa kia là một thì, bây giờ là một thì, hoàn cảnh khác nhau không thể câu nệ được.

 

3052. Tòng quyền: Theo quyền biến, ý nói phải thay đổi việc làm cho thích nghi, không thể nhất nhất giữ đạo thường được.

 

3056. Lập am: Dựng chùa, ý nói sẽ làm ngôi chùa riêng, mời Giác Duyên về ở chung.

 

3063. Tác hợp: Do chữ Kinh thi: Thiên tác chỉ hợp, ý nói duyên trời xui khiến cho Kim Trọng, Thuý Kiều gặp gỡ và kết hợp với nhau.

 

3065. Bình địa ba đào: ý nói những sự bất trắc trong đời người, chẳng khác gì đất bằng lại nổi sóng.

 

3068. Tục ngữ: Máu chảy ruột mềm, ý nói giữa bà con ruột thịt có sự tương quan mật thiết, như máu với ruột, hễ máu chảy thì ruột mềm.

 

3071. Gương vỡ lại lành: Dịch chữ Phá kính trùng viên. Nguyên đời Trần (Trung Quốc) Từ Đức Ngôn lấy Lạc Xương công chúa. Khi biết nước nhà sắp bị diệt, vợ chồng thế nào cũng bị phân ly, bèn đập vỡ cái gương, mỗi người giữ một nửa, dùng làm của tin để tìm gặp nhau, sau quả nhiên hai người lại nối được tình nghĩa vợ chồng. Câu này dùng điển ấy.

 

3075: Kinh Thi: Phiếu hữ mai, kỳ thực nhất hề... Phiếu hữu mai, kỳ thực tam hề...(Mơ rụng xuống, quả còn bảy phần..., mơ rụng xuống, quả còn ba phần) ý nói tiết xuân đã muộn nên kíp lo liệu việc hôn nhân. ở đây Thuý Vân muốn nói Kiều vẫn còn vừa tuổi đi lấy chồng.

 

3085: Thâm giao: Giao ước với nhau một cách ân cần, cốt thiết.

 

3087: Vật đổi sao dời: ý nói mọi việc trên đời đều thay đổi.

 

3088: Câu thơ này ý nói: trước khi đã có lời thề sống chết với nhau thì dù sống, dù chết cũng phải giữ lấy lời thề ấy.

 

3091: Gia thất: Tả truyện có câu: Nam hữu thất, nữ hữu gia. Nghĩa là con trai có vợ, con gái có chồng. Gia thất duyên hài: Đẹp duyên vợ chồng.

 

3094: Câu này ý nói: Con gái lấy chồng phải như là hoa còn phong nhị, vầng trăng chưa khuyết ý nói trinh tiết còn nguyên vẹn.

 

3096: Đuốc hoa: Câu này ý nói: Nếu trinh tiết còn nguyên thì đêm hợp hôn mới không hổ thẹn.

 

3097: Ngộ biến: Gặp phải tai biến.

 

3104: Trần cấu: Bụi nhơ.

 

3110: Cầm sắt: Kinh thi: Thê tử hảo hợp như cổ sắt cầm. (Vợ con hoà hợp như gảy đàn sắt, đàn cầm). Người sau bèn dùng hai chữ cầm sắt để chỉ tình vợ chồng.

 

Cầm cờ: Khi bầu bạn gặp nhau thường gảy đàn, đánh cờ làm vui, cho nên người ta thường dùng hai chữ cầm kỳ để chỉ tình bạn hữu. Câu này ý nói: Nên đem tình vợ chồng đổi làm tình bầu bạn.

 

3118: Quyền: Quyền biến, nghĩa là theo hoàn cảnh mà thay đổi các xử sự. Chấp kinh: Giữ theo đạo thường, lê thường.

 

3126: Chàng Tiêu: Do chữ Tiêu Lang, tiếng xưng hô của người con gái đối với tình nhân. Tình sử chép: Thôi Giao, đời Đường, có người yêu bị người ta bắt bán cho quan Liên suý. Chàng buồn rầu làm bài thơ, trong có câu: Hầu môn nhất nhập thâm tự hải, tòng thử Tiêu làng thị lộ thân (Cửa hầu vào rồi thấy sâu như biển, từ đấy chàng Tiêu là người khách qua đường). Câu này ý nói: Nỡ nào lại hững hờ không nhận người yêu cũ hay sao.

 

3140: Câu này ý nói: Kim Trọng, Thuý Kiều cùng nhau kể lể những chuyện buồn, chuyện vui mãi cho đến khi đêm đã khuya, trăng đã cao.

 

3148: Xướng tuỳ: Do câu Phu xướng phụ tuỳ (Chồng xướng vợ nghe theo). Đấy dùng để thay cho chữ phu phụ (vợ chồng).

 

3160: Câu này ý nói: Nếu Kim Trọng nghĩ đến việc sinh con đẻ cái để nối dõi tông đường về sau thì đã có Thuý Vân.

 

3161: Kiều ngầm ý nói rằng: Nàng sở dĩ bị cảnh ong qua bướm lại là do hàon cảnh bắt buộc, chứ tâm hồn nàng thì vẫn trong trắng. Chữ Trinh đây hiểu về phương diện tinh thần chứ không phải về thể xác.

 

3175: Đáy bề mò kim: Dịch câu Hải đề lao châm, ý nói làm một việc rất khó khăn, mất nhiều công phu.

 

3176: Câu này ý nói: Bấy lâu đi tìm nàng là đeo đuổi lời thề vàng đá, không phải là tìm thú trăng hoa.

 

3180: Cao thâm: Cao sâu, ý nói Kiều cảm tạ cái nghĩa cao ơn sâu của Kim Trọng.

 

3199: Dương hoà: Khí dương đầm ấm của mùa xuân.

 

3200: Hồ điệp: Con bướm.

 

Trang sinh: Tức Trang Chu, hay Trang Tử. đời Chiến Quốc. Xưa Trang Chu nằm chiêm bao thấy mình hoá thành con bướm tung bay nhởn nhơ, tỉnh dậy bàng hoàng tự hỏi: Không hiểu ta hoá thành bướm, hay chính bướm đương hoá thành ta. ở đây nói khúc đàn tiêu dao, phiêu dật.

 

3202: Thục đế: Vua nước Thục.

 

Đỗ quyên: Con chim quốc. Tương truyền xưa vua nước Thục buồn vì mất nước, chết hoá thành con chim đỗ quyên, tiếng kêu ai oán.

 

3203: Duềnh quyên: Vũng nước biển sáng đẹp.

 

3204: Lam Điền: Tên một hòn núi ở tỉnh Thiểm Tây, chỗ sản sinh nhiều ngọc quí.

 

3210: Khổ tận cam lai: Đắng hết ngọt đến, ý nói vận khổ đã qua, vận sướng bắt đầu tới.

 

3219: Thục nữ chí cao: Người con gái hiền thục có tâm chí cao thượng.

 

3220: Sớm mận tối đào: Sớm ấp mận, tối ôm đào, ý nói người trăng gió, tình yêu không chuyên nhất. Xem chú thích 1289.

 

3236: Quan giai: Cấp bậc quan lại, ý nói Kim Trọng làm quan được lần lần thăng chức.

 

3237: Thừa gia: Đảm đương việc nhà, cũng có nghĩa là sang dòng nối dõi tông đường.

 

3238: Cù mộc: Chỉ vợ cả. Xem chú thích 902.

 

Quế hoè: Xưa họ Đậu, đời Tống, có năm người con trai đều hiển đạt, Vương Đạo có câu thơ khen: Đan quế ngũ chi phương (Quế đỏ năm cành thơm). Xem thêm điển Vương Hữu. Câu này dẫn mấy điển ấy để nói Kim Trọng có đông con cháu hiển đạt sau này.

 

 

 ___________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 407)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
18 Tháng Mười Hai 20187:08 SA(Xem: 23)
Thuở ấy, có ba nhóm tỳ-kheo đến yết-kiến Phật, để xin đề-tài quán-chiếu mà thực-tập thiền-định. Nhóm thứ nhứt được dạy về Vô-thường, nhóm thứ hai về Khổ và nhóm thứ ba về Vô-ngã. Họ đi vào rừng vắng, tu-tập một thời-gian. Sau đó, nhiều người chẳng thấy có tiến-bộ, trở về trình Phật. (277)
17 Tháng Mười Hai 201810:41 SA(Xem: 36)
"Nầy chư tỳ-kheo, có nhiều kẻ giữ im-lặng, chỉ vì họ nhút-nhát và ngu-dốt, cũng có kẻ chẳng chịu nói ra để chia-xẻ sự hiểu-biết thâm-sâu của họ với kẻ khác. Như thế, chẳng phải vì im-lặng mà trở thành một bực Mâu-ni. Chỉ xứng danh là bực Mâu-ni, người nào biết im-lặng khi đã hoàn-toàn khắc-phục được mọi điều ác." (269)
16 Tháng Mười Hai 20186:13 SA(Xem: 38)
ông đã làm cỏ, rải cát, rồi sau đó mới cất trạm nầy, để cúng-dường chư Tăng. Đức Phật khen-ngợi: "Nầy Bà-la-môn, công-đức hành thiện của thí-chủ đã được thực-hiện từng bước một, cũng như bực hiền-trí, ngày nầy qua ngày khác, chuyên-tâm lọc-sạch các bợn-nhơ lậu-hoặc từ từ cho đến khi được hoàn-toàn giải-thoát." (239)
15 Tháng Mười Hai 20187:53 SA(Xem: 49)
Chư Tăng rất ngạc-nhiên thấy tại sao vị Bà-la-môn và vợ lại tự nhận họ là cha mẹ của Đức Phật, và nay họ được tái-sanh về cõi nào. Đức Phật bảo: "Trong tiền-kiếp, cách đây một ngàn năm trăm đời, ông bà ấy đã có thời làm cha mẹ ta, đã có thời làm chú bác ta. Họ nay chứng được quả-vị A-la-hán rồi, chẳng còn phải tái-sanh nữa, (225)
14 Tháng Mười Hai 20188:47 SA(Xem: 46)
Đức Phật ân-cần khuyên: "Nầy gia-chủ, cái chết chẳng phải chỉ đến ở một nơi. Mọi chúng-sanh đã sanh ra, tất có ngày phải chết đi; cuộc sống luôn luôn chấm-dứt bằng cái chết. Gia-chủ đừng nghĩ rằng, chỉ có đứa con yêu-dấu của mình mới bị Thần Chết bắt mang đi. Gia-chủ đừng tỏ ra quá ưu-sầu, chán-nản, lo-lắng đến độ đó. (212)
13 Tháng Mười Hai 20187:46 SA(Xem: 50)
Đức Phật bảo chư Tăng: "Nầy chư Tỳ-kheo, những ai kính-trọng và quí-mến Như-Lai, nên bắt chước mà làm theo như Thi-sa. Quí-vị đừng tưởng rằng đem hương hoa đến cho ta là tỏ lòng ngưỡng-mộ ta. Thực-hành đúng theo Chánh-pháp, đến nơi xa vắng nỗ lực Thiền-định theo lời dạy của ta, đó mới thật là biết cách trả ơn ta." (205)
12 Tháng Mười Hai 20186:29 SA(Xem: 51)
Ngài bảo: "Thú-vui vật-chất, tiền-của, quyền-thế, ăn ngon mặc đẹp đó chưa hẳn là hạnh-phước, vì các điều đó giữ ta mãi trong vòng tái-sanh của Luân-hồi khổ-đau lận-đận. Trên thế-gian nầy, hạnh-phước là gặp được Đức Phật ra đời, có được cơ-duyên nghe lời Ngài giảng-dạy về Sự-Thật cao-quí, và sống trong sự hoà-hợp của Tăng-đoàn." (194)
11 Tháng Mười Hai 20186:38 SA(Xem: 55)
Một hồi lâu sau, Tôn-giả A-nan trở vào trong, chẳng trông thấy các vị tỳ-kheo nữa, mới hỏi Đức Phật các vị ấy bây giờ đang ở đâu. Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, các tỳ-kheo đó, sau khi nghe Ta giảng-pháp, đã chứng-đắc được quả-vị A-la-hán, nên họ mới dùng thần-thông phi giữa không-gian mà ra đi." (175)
10 Tháng Mười Hai 20188:26 SA(Xem: 67)
Đến cuối mùa an-cư, cả đoàn quay về chùa Kỳ-viên. Các vị tỳ-kheo trình lên Đức Phật sự thất-bại của họ cùng nguyên-nhơn do đâu mà họ tu-tập chẳng được tấn-bộ. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, người muốn dạy kẻ khác, trước hết phải tự-dạy lấy mình, tự-điều-phục mình, kềm-chế tư-cách mình cho xứng-đáng." (159)
09 Tháng Mười Hai 20185:54 SA(Xem: 74)
Đức Phật liền bảo: "Nhà vua chớ quá ưu-phiền, luyến-tiếc đến Hoàng-hậu. Nầy, Hoàng-thượng hãy nhìn chiếc long-xa kia, khi xưa Vua Cha đã trang-hoàng lộng-lẫy để lại cho Hoàng-thượng, nay nó đã cũ-kỹ, bỏ nằm yên trong góc phòng. Muôn sự-vật, kể cả tấm thân con người, đều theo lẽ vô-thường mà biến-đổi rồi bị hủy-diệt. (151)
08 Tháng Mười Hai 20189:09 SA(Xem: 68)
Bà bạch Phật các lời ước-nguyện của các hạng giới-tử. Đức Phật liền giảng-dạy như sau: "Này tín-nữ Vi-sa-kha, Sanh, Già, Chết là những điều tất-yếu mà mọi chúng-sanh phải trải qua. Hễ đã sanh ra, thì sẽ lớn lên, già-yếu rồi chết đi, tái-sanh lại theo vòng lẩn-quẩn. Phải biết cách tu-tập để khỏi phải trôi lăn mãi trong sáu cõi của Luân-hồi." (135)
07 Tháng Mười Hai 20189:11 SA(Xem: 64)
Nầy Trưởng-giả, tôi là người giữ cửa nhà của ông. Bấy lâu nay, tôi thấy ông chỉ lo việc cúng-dường cho Sa-môn Cồ-đàm mà chẳng liệu-lý đến gia-sản của mình, cho nên ngày nay ông phải sa-sút. Ông nên thôi, đừng cúng-dường, bố-thí nữa, mà hãy chăm lo việc nhà, tôi sẽ giúp ông trở lại cảnh giàu-sang sung-túc như ngày xưa." (120)
06 Tháng Mười Hai 20189:43 SA(Xem: 62)
Kế đó, Đức Phật lại hỏi chàng thanh-niên đang làm nghề gì để sanh-sống. Anh ta đáp, sống về nghề cờ-bạc. Đức Phật lại hỏi tiếp: "Có được khá không?". "Thưa có khi thắng, có khi thua." Đức Phật bảo: "Đánh thắng các con bạc sao cho bằng tự-mình khắc-phục được tất cả các lậu-hoặc trong tâm mình." (105)
05 Tháng Mười Hai 20188:07 SA(Xem: 72)
Lúc bấy giờ, chư Tăng thấy thái-độ đáng kính của Trưởng-lão nên hết lời khen ngợi. Đức Phật nói: "Nầy chư tỳ-kheo, Xá-lợi-phất chẳng còn chút sân-hận và ác-ý trong tâm nữa. Cũng như đất kia, Xá-lợi-phất rất nhẫn-nhục; cũng như trụ đồng kia, Xá-lợi-phất rất vững-chắc; cũng như nước hồ kia lắng sạch bùn-sình, tâm Xá-lợi-phất luôn luôn thanh-tịnh." (095)
04 Tháng Mười Hai 20186:22 SA(Xem: 79)
Thuở ấy, có một người Bà-la-môn ở làng Vệ-lan-già thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến làng ông ta, để qua mùa an-cư kiết-hạ. Khi Đức Phật và chư Tăng đến làng, thì vị Bà-la-môn chẳng thể cung-ứng nhu-cầu thực-phẩm cho Tăng-đoàn nổi, vì lúc ấy làng Vệ-lan-già đang bị nạn đói-kém. Bấy giờ, Đức Phật cùng các tỳ-kheo hằng ngày phải dùng lúa mã-mạch, (083)
03 Tháng Mười Hai 201811:10 SA(Xem: 82)
Thuở ấy, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, một hôm ra khỏi thành đi dạo, gặp một thiếu-phụ trẻ đẹp đang đứng bên cửa sổ trong nhà. Vua trầm-trồ khen ngợi sắc đep của người đàn-bà ấy và trong lòng nổi lên ý-định muốn xâm-chiếm lấy. Nhưng người đàn-bà ấy đã có chồng. Vua liền cho mời hai vợ chồng người thiếu-phụ vào làm việc (060)
02 Tháng Mười Hai 20186:25 SA(Xem: 81)
Lúc bấy giờ, Đức Phật quán-thấy sự tiến-bộ của vị Tỳ-kheo, liền phóng hào-quang, đến bên cạnh, và nói: "Nầy Tỳ-kheo, như ông vừa quán-thấy trong tâm, tấm thân nầy là vô-thường, chẳng có thực-thể, có khác gì ảo-ảnh trên mặt nước kia." Rồi Đức Phật đọc lên bài kệ sau đây; vị Tỳ-kheo chăm-chú nghe, ghi nhận kỹ và chứng được đạo-quả A-la-hán. (046)
01 Tháng Mười Hai 201811:55 SA(Xem: 78)
Khi nhắc đến vị tỳ-kheo nói trên, nhờ sự hỗ-trợ của bà Mã về thực-phẩm, trong thời-gian tu thiền, Đức Phật có đọc lên bài Kệ sau đây: Tâm rất khó cho ta nắm giữ, Nhẹ-nhàng, nhanh-nhẹn, nó bay cao; Rồi đáp xuống chỗ nào nó thích. Hàng-phục được tâm là tuyệt-đích, Chế-ngự tâm thuần, hạnh-phước cao! (Kệ số 035.)
30 Tháng Mười Một 20188:08 SA(Xem: 78)
Vào độ ấy, hai vị tỳ-kheo đó, sau khi được Đức Phật chỉ-dạy cho mỗi người một đề-tài quán-tưởng, liền đi vào rừng sâu, để tỉnh-tu. Một vị tỳ-kheo có tánh phóng-dật, dành phần lớn thời-giờ ngồi sưởi bên đống lửa, tán chuyện gẫu với các vị tỳ-kheo trẻ tuổi khác trong suốt canh đầu của đêm, rồi sau đó nằm lăn ra ngủ. (029)
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1020)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1829)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 407)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2569)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 407)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 329)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1563)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 875)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4078)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".