Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 02, Phẩm Chuyên Niệm - The Dhammapada, Chapter 02, Heedfulness

02 Tháng Mười Một 20182:32 CH(Xem: 3964)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 02, Phẩm Chuyên Niệm - The Dhammapada, Chapter 02, Heedfulness

Chapter02-1A


Kinh Pháp Cú, Phẩm 02, Phẩm Chuyên Niệm
The Dhammapada, Chapter 02, Appamadavagga: Heedfulness

(Kệ 21-32 - Verses 21-32)

Translated by Nārada Mahāthera - Người dịch: Phạm Kim Khánh, 1971
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: home.nethere.net/dsparks/Narada, budsas.net  

__________________

dhp021_B
dhp022_B
dhp023_B

Verse-Kệ 21-23

Kẻ phóng dật chết, người chuyên niệm không chết

1. Appamādo amatapadaṁ -pamādo maccuno padaṁ

Appamattā na mīyanti - ye pamattā yathā matā.

2. Etaṁ visesato ñatvā -appamādamhi paṇḍitā

Appamāde pamodanti -ariyānaṁ gocare ratā.

3. Te jhāyino sātatikā - niccam daḷhaparakkamā

Phusanti dhīrā nibbānaṁ -yogakkhemam anuttaraṁ.


1. - Chuyên cần chú niệm 1 là con đường bất diệt 2. Phóng dật đưa đến diệt vong. Người chuyên niệm không chết 3 . Kẻ phóng dật cũng như chết. 21.

2. - Thông suốt minh bạch điều (khác biệt) này 4, người thiện trí kiên cố nhiếp tâm, hoan hỉ trong tâm niệman lạc trong cảnh giới của bậc Thánh Nhơn 522.

3. Người kiên trì hành thiền 6người vững vàng tinh tấn, vượt thoát khỏi trói buộc 7, thành tựu Niết-bàn tối thượng 8. 23.

Tích chuyện

Hoàng Hậu Māgandiyā có tật ganh tỵ, làm cho một người trong sạchSāmāvatī, mà bà coi là tình địch, bị thiêu đốt đến chết. Khi vua nghe được câu chuyện đau thương ấy thì bắt Māgandiyā phải chịu một cực hình còn tệ hại hơn nữa, cũng cho đến chết. Các vị sư muốn hiểu trong hai bà, ai thật sự chết và ai thật sự còn sống. Đức Phật dạy rằng người sống không thận trọng, không giữ tâm chuyên niệm như Māgandiyā phải được xem là đã chết và người có tâm chú niệm như Sāmāvatī là sống.

Chú thích

1. - Chuyên cần chú niệm - Appamāda, là không chao động, không lay chuyển, tức luôn luôn giữ tâm niệm, luôn luôn thận trọng hay biết mình đang làm chuyện gì, luôn luôn cố gắng hành thiện, tạo thiện nghiệp.

Tinh hoa của nền luân lý Phật giáo có thể tóm tắt trong danh từ appamāda. Lời dạy cuối cùng của Đức Phật là appamādena sampādetha - kiên trìliên tục cố gắng.

2. - Con đường bất diệtAmata, con đường đưa đến trạng thái bất diệtNibbāna (Niết-bàn), là mục tiêu tối hậu của người Phật tử. Cũng như danh từ có tánh cách tích cực này chỉ rõ, Niết-bàn không phải là tuyệt diệt hay một trạng thái hư vô như có vài người sẵn sàng tin như vậy. Niết-bàn là trạng thái trường tồn bất diệt, siêu thế, mà ngôn từ phàm tục của người tại thế không thể diễn tả được.

3. - Không nên hiểu rằng những người này không chết. Không có chúng sanh nào bất tử, chí đến chư Phật và chư vị A-La-Hán đi nữa. Ý nghĩa phải hiểu ở đây là người có tâm niệm, người đã chứng ngộ Niết-bàn, sẽ không còn tái sanh lại nữa và như vậy là không chết. Kẻ phóng dật được xem như đã chết vì không có ý muốn làm điều lành, do đó phải chịu sanh tử triền miên.

4. Biết rõ rằng có sự giải thoát cho người chuyên cần chú niệm mà không có cho kẻ phóng dật, dễ duôi.

5. Ở đây danh từ Ariyas có nghĩa là những vị hoàn toàn trong sạch như chư Phật và chư vị A-La-Hán. Cảnh giới của bậc Thánh nhơn (Ariyas) có nghĩa là ba mươi bảy Bồ đề phần (Bhodhipakkhiyadhamma, ba mươi bảy pháp, hay yếu tố dẫn đến sự giác ngộ) và chín trạng thái siêu thế. Xem chú thích câu 44 và câu 115.

6. Ở đây hành thiền bao hàm cả hai nghĩa, định tâm tức chú tâm an trụ vào một điểm (samatha) và suy niệm, tức minh sát (vipassanā).

7. Vượt thoát khỏi trói buộc - Yagakkhema, là thoát ra khỏi bốn trói buộc: ái dục (kāma), luyến ái, đeo níu theo sự sanh tồn (bhava), tà kiến (diṭṭhi), và vô minh (avijjā).

8. Niết-bàn - Nibbāna, đúng văn tựni vāna, là tách rời ra xa ái dục. Niết-bàn, Nibbāna, là trạng thái siêu thế có thể thành tựu được trong chính kiếp sống này. Cũng có thể giải thích Niết-bàn là sự dập tắt dục vọng, nhưng không phải là trạng thái hư vô. Niết-bàn là trạng thái hạnh phúc trường cửu, khi thoát ra khỏi mọi hình thức khổ đau, là kết quả của sự dập tắt hoàn toàn mọi dục vọng.

Đứng về phương diện siêu hình, Niết-bàn là dập tắt đau khổ, phiền não. Về phương diện tâm lý, Niết-bàn là diệt trừ tự ngã. Về phương diện luân lý, Niết-bàn là tận diệt Tham, Sân, Si.

THE HEEDLESS DIE; THE HEEDFUL DO NOT

1. Appamado amatapadam 
            pamado maccuno padam
Appamatta na miyanti 
            ye pamatta yatha mata. 21.
2. Etam visesato ñatva 
            appamadamhi pandita 
Appamade pamodanti 
            ariyanam gocare rata. 22.
3. Te jhayino satatika 
            niccam dalhaparakkama
Phusanti dhira Nibbanam 
            yogakkhemam anuttaram. 23.

1. Heedfulness 1 is the path to the deathless, 2 heedlessness is the path to death. The heedful do not die; 3 the heedless are like unto the dead. 21.

2. Distinctly understanding this (difference 4), the wise (intent) on heedfulness rejoice in heedfulness, delighting in the realm of the Ariyas. 5 22.

3. The constantly meditative, 6 the ever steadfast ones realize the bond-free, 7 supreme Nibbana. 823.

Story

    A jealous queen Magandiya, caused an innocent rival of hers, Samavati, to be burnt alive. The king, hearing of the pathetic incident subjected Magandiya to a worse death. The monks wished to know which of the two was actually alive and which was actually dead. The Buddha explained that the heedless, like Magandiya, should be regarded as dead, while the heedful, like Samavati, should be regarded as alive.

NOTES:

 Appamada, literally, means non-infatuation i.e., ever-present mindfulness, watchfulness or earnestness in doing good. The ethical essence of Buddhism may be summed up by this word - appamada. The last words of the Buddha were - appamadena sampadetha - strive on with diligence.

 Amata - Nibbana, the ultimate goal of Buddhists. As this positive term clearly indicates, Nibbana is not annihilation or a state of nothingness as some are apt to believe. It is the permanent, immortal, supramundane state which cannot be expressed by mundane terms.

 This should not be understood to mean that they are immortal. No being is immortal, not even Buddhas or Arahants. The idea implied herein is that the heedful, who realize Nibbana are not reborn, and so do not die. The heedless are regarded as dead because they are not intent on doing good, and are subject to repeated births and deaths.

 Knowing well that there is emancipation for the heedful, but not for the heedless.

 Here Ariyas mean the pure ones like the Buddhas and Arahants. The realm of the Ariyas means the thirty-seven factors of Enlightenment (Bodhipakkhiyadhamma) and the nine supramundane states. See notes on v.44 and v.115.

 Here meditation includes both concentration (samatha) and contemplation or insight (vipassana).

 Yogakkhema - free from the four bonds of sense-desires (kama), craving for existence (bhava), false views (diññhi), and ignorance (avijja).

 Nibbana = ni + vana, lit., departure from craving. It is a supramundane state that can be attained in this life itself. It is also explained as extinction of passions, but not a state of nothingness. It is an eternal blissful state of relief that results from the complete eradication of the passions.

Metaphysically Nibbana is the extinction of suffering; psychologically it is the elimination of egoism; ethically it is the eradication of lust, hatred and ignorance.


dhp024_B
Verse-Kệ 24

Người tinh tấn được sung túc

4. Uṭṭhānavato satimato - sucikammassa nisammakārino

Saññatassa ca dhammajīvino appamattassa yaso'bhivaḍḍhati.


4. Vinh hạnh của người tinh tấn, có tâm niệm, hành động trong sạch, thận trọng chuyên chú, tự chế, sanh sống chơn chánh, và không phóng dật, sẽ tăng trưởng vững vàng24.


Tích chuyện

Chàng thanh niên kia giàu có nhưng khiêm tốn, sống như một nông phu lam lũ, về sau được vua nâng lên địa vị cao sang, quý trọng. Khi chàng thanh niên ấy được vua giới thiệu đến Đức Phật thì Đức Phật diễn tả những đặc tánh của người sung túc như trên.

THE ENERGETIC PROSPER

4. Uññhanavato satimato 
            sucikammassa nisammakarino
Sañatassa ca dhammajivino 
            appamattassa yaso'bhivaddhati. 24.

4. The glory of him who is energetic, mindful, pure in deed, considerate, self-controlled, right-living, and heedful steadily increases. 24.

Story

    A rich but humble young man who pretended to be very poor, living like a labourer, was later elevated to a high position by the king. When he was introduced to the Buddha by the king He described the characteristics of those who prosper.


dhp025_B
Verse-Kệ 25

Do cố gắng cá nhơn, bậc thiện trí tạo thiên đàng cho chính mình

5. Uṭṭhānenappamādena - saññamena damena ca

Dīpaṁ kayirātha medhāvi -yaṁ ogho n'ābhikīrati.


5. Do kiên trì tinh tấn, nhiệt tâm, đạo hạnh, và tự chế, người thiện trí tự tạo cho mình một hải đảo mà không cơn lụt nào tràn ngập được. 25.

Tích chuyện

Cūlapanthaka là một tăng sĩ trẻ tuổi không thể học thuộc một câu kinh dài bốn hàng, mặc dầu hết sức cố gắng trọn bốn tháng. Người anh, cũng đã xuất gia, khuyên thầy nên hườn tục. Vị sư trẻ tuổi còn muốn sống đời thiêng liêng đạo hạnh. Đức Phật hiểu được tâm tánh thầy, đưa cho một cái khăn lau tay sạch và dạy thầy mỗi sáng cầm khăn, căng ra trước mặt trời. Khi cầm cái khăn đưa lên như thế với bàn tay có ít nhiều bụi và mồ hôi thì không bao lâu cái khăn trở nên dơ. Sự thay đổi trông thấy ấy làm cho thầy Tỳ-khưu trẻ tuổi suy gẫm về tánh cách vô thường của đời sống. Thầy cố gắng hành thiền và đắc quả A-La-Hán.

Chú thích

1. Một hòn đảo nổi cao trên mặt nước không thể bị ngập lụt mặc dầu những bãi đất thấp chung quanh có thể bị. Một hải đảo như thế có thể là nơi an toàn cho tất cả. Cùng thế ấy, bậc thiện trí trau dồi tuệ minh sát phải tự biến mình thành một hải đảo bằng cách thành tựu đạo quả A-La-Hán, và như vậy thì không còn bị lôi cuốn trong dòng của bốn loại ngập lụt là ái dục (kāma), tà kiến (diṭṭhi), đeo níu theo sự sanh tồn(bhava), và vô minh (avijjā).

BY THEIR EFFORTS THE WISE CREATE THEIR OWN HEAVENS

5. Uññhanenappamadena 
            sañamena damena ca 
Dipam kayiratha medhavi 
            yam ogho n'abhikirati. 25.

5. By sustained effort, earnestness, discipline, and self-control let the wise man make for himself an island, 9 which no flood overwhelms. 25.


Story

    A young monk, named Culapanthaka, could not memorize a verse of four lines despite trying for four months and he was advised by his brother monk to leave the Order. But he was reluctant to do so. The Buddha understanding his temperament, gave him a clean piece of cloth and asked him to handle it gazing at the morning sun. By his constant handling of it with his sweating hands it soon got soiled. This perceptible change made him reflect on the impermanence of life. He meditated and attained Arahantship.

NOTES:

 An island situated on a higher level cannot be flooded although the surrounding low-lying land may be inundated. Such an island becomes a refuge to all. In the same way the wise man who develops insight should make an island of himself by attaining Arahantship so that he may not be drowned by the four floods of sense-desires (kama) false beliefs (ditthi), craving for existence (bhava) and ignorance (avijja).


dhp026_B
dhp027_B
Verse-Kệ 26-27

Hãy chú niệm, không nên phóng dật

6. Pamādamanuyuñjanti - bālā dummedhino janā

Appamādañ ca medhāvī -dhanaṁ seṭṭhaṁ'va rakkhati.

7. Ma pamadamanuyuñjetha -ma kamaratisanthavaṁ

Appamatto hi jhayanto -pappati vipulaṁ sukhaṁ


6. Kẻ si mê, người cuồng sĩ, dể duôi phóng dật. Bậc thiện trí canh giữ tâm niệm như kho tàng vĩ đại nhứt. 26.

7. Không dể duôi trong phóng dật. Không đeo níu dục lạc. Đúng thật vậy, người chuyên cần hành thiền gặt hái phước báu dồi dào27.


Tích chuyện

Ấn Độ, vào một khoảng thời gian nào trong năm, có tập tục cho vài người đùa giỡn, ăn nói với bất luận lời lẽ cộc cằn nào, với bất luận ai, trong bảy ngày. Vào thời kỳ ấy, Đức Phật và các môn đệ Ngài ở lại trong tự viện. Khi thời gian bảy ngày ấy chấm dứt, những vị thiện tín mang vật thực đến chùa lưu ý rằng chắc các Ngài phải trải qua mấy ngày không vui. Đức Phật dạy rằng dầu có hành động cuồng dại như thế nào, bậc thiện trí phải luôn luôn giữ tâm chánh niệm.

BE HEEDFUL NOT HEEDLESS

6. Pamadamanuyuñjanti 
            bala dummedhino jana
Appamadañ ca medhavi 
            dhanam seññham'va rakkhati. 26.
7. Ma pamadamanuyuñjetha 
            ma kamaratisanthavam
Appamatto hi jhayanto 
            pappoti vipulam sukham. 27.

6. The ignorant, foolish folk indulge in heedlessness; the wise man guards earnestness as the greatest treasure. 26.

7. Indulge not in heedlessness; have no intimacy with sensuous delights. Verily, the earnest, meditative person obtains abundant bliss. 27.


Story

    At a certain period of the year in India it was the custom of some people to indulge in harsh speech for fun for seven days irrespective of persons. During that time the Buddha and His disciples confine themselves to the monastery. At the close of the period the devotees brought alms to the Buddha and His disciples and remarked that the Buddha must have had an unpleasant time. The Buddha replied that despite such foolish acts the wise ever live heedfully.


dhp028_B
Verse-Kệ 28

Dùng tâm niệm khắc phục phóng dật

8. Pamādaṁ appamādena - yadā nudati paṇḍito

Paññāpāsādamāruyha asoko sokiniṁ pajaṁ

Pabbataṭṭho'va bhummaṭṭhe dhīro bāle avekkhati.


8. Khi dùng tâm niệm đẩy lui phóng dật, người có tri kiến (chơn chánh) thoát khỏi phiền não, vượt lên tận đền đài trí tuệ và nhìn xuống đám người đau khổ như người khéo trèo núi, lên đến đỉnh tuyệt cao, nhìn trở tại đám vô minh còn ở dưới đất bằng 128.

Tích chuyện

Một lần nọ Đức Ma-Ha Ca-Diếp (Mahā Kassapa) cố gắng vận dụng thiên nhãn để tìm hiểu lý do sanh và tử của chúng sanh. Đức Phật xuất hiện trước mặt Ngài và dạy rằng chỉ có một vị Phật mới thông suốt được toàn thể các kiếp sanh tồn.

Chú thích

1. Chư vị A-La-Hán, đã thoát khỏi mọi phiền não, dùng nhãn quan siêu phàm của các Ngài để từ bi nhìn lại đám đông chúng sanh vô minh còn phải chịu sanh tử triền miên, nghĩa là còn ở trong vòng đau khổ. 

HEEDLESSNESS SHOULD BE CONQUERED BY HEEDFULNESS

8. Pamadam appamadena 
            yada nudati paudito
Pañapasadamaruyha 
            asoko sokinim pajam
Pabbataññho'va bhummaññhe 
            dhiro bale avekkhati. 28.

8. When an understanding one discards heedlessness by heedfulness, he, free from sorrow, ascends to the palace of wisdom and surveys the sorrowing folk as a wise mountaineer surveys the ignorant groundlings. 10 28.


Story

    The Venerable Maha Kassapa once endeavoured to comprehend by his supernormal vision the birth and death of beings. The Buddha appeared before him and said that it was only a Buddha who could comprehend the totality of existences.

 
NOTES:

10  The sorrowless Arahants look compassionately with their Divine Eye upon the ignorant folk, who, being subject to repeated births, are not free from sorrow.

dhp029_B
Verse-Kệ 29

Người kiên trì cố gắng thắng kẻ dã dượi không chú tâm

9. Appamatto pamattesu - suttesu bahujāgaro

Abalassaṁ'va sīghasso - hitvā yāti sumedhaso.


9. Chú niệm giữa đám phóng dật, tỉnh giữa đám mê, bậc thiện trí tiến nhanh như tuấn mã truy phong, bỏ lại phía sau con ngựa què già yếu. 29.

Tích chuyện

Hai vị Tỳ-khưu rút vào rừng hành thiền. Một vị kiên trì chuyên chú. Vị kia thì không. Đức Phật ca ngợi vị trước. 

THE STRENUOUS AND THE ALERT OVERTAKE THE THOUGHTLESS AND THE INDOLENT

9. Appamatto pamattesu 
            suttesu bahujagaro
Abalassam'va sighasso 
            hitva yati sumedhaso. 29.

9. Heedful amongst the heedless, wide awake amongst the slumbering, the wise man advances as does a swift horse, leaving a weak jade behind. 29.

Story

    Two monks retired to a forest to meditate. One was strenuous, the other was not. The Buddha praised the former.


dhp030_B
Verse-Kệ 30

Chuyên cần dẫn đến quyền tối thượng

10. Appamādena Maghavā - devānaṁ seṭṭhataṁ gato

Appamādaṁ pasaṁsanti -pamādo garahito sadā.


10. Nhờ đức tánh chuyên cần, Maghavà 1 tiến lên đến bậc Thiên Vương 1.Chuyên cần bao giờ cũng được tán dương. Dể duôi luôn luôn bị khinh rẻ. 30.

Tích chuyện

Nhờ nỗ lực cá nhơn và phục vụ bất cầu lợi một người thường tái sanh làm vua ở một cảnh Trời sau khi chết.

Chú thích

1. Maghavā - là một tên khác của vua Trời Đế-Thích. Túc Sanh Truyện Maghamānavaka ghi rằng trong quá khứ xa xôi có một người giàu tinh thần phục vụ xã hội đã tận dụng trọn đời sống mình trong công tác từ thiện, cùng với một nhóm bạn hữu. Sau khi chết, quả lành của hành động thiện đưa vị ấy tái sanh làm Sakka, vị vua Trời Đế-Thích.

2. Thiên VươngDeva, đúng văn tự, có nghĩa người sáng lạng, chói ngời, là một hạng chúng sanh có thể xác rất tế nhị, đến đỗi mắt thường không thể trông thấy. Hạng chúng sanh này sống trong các cảnh Trời. Cũng có những vị Trời sống trên quả địa cầu.

EARNESTNESS LEADS TO SOVEREIGNTY

10. Appamadena Maghava 
            devanam seññhatam gato
Appamadam pasamsanti 
            pamado garahito sada. 30.

10. By earnestness Maghava 11 rose to the lordship of the gods. 12 Earnestness is ever praised; negligence is ever despised. 30.


Story

    By his personal efforts and selfless service an ordinary person became after death the king of the gods.

NOTES:

11  Maghava is synonymous with Sakka, king of the gods. The Maghamanavaka Jataka relates that in the remote past a public-spirited person who had spent his whole lifetime in welfare work with the cooperation of his friends, was born as Sakka as the result of his good actions.

12  Devas. lit., sporting or shining ones, are a class of beings with subtle physical bodies invisible to the naked eye. They live in the celestial planes. There are also earth-bound deities.


dhp031_B
Verse-Kệ 31

Người chuyên cần vững tiến

11. Appamādarato bhikkhu - pamāde bhayadassi vā

Saññojanaṁ aṇuṁ thūlaṁ dahaṁ aggī'va gacchati.


11. Vị Tỳ-khưu 1 thích thú trong việc chuyên cần chú niệm và nhìn phóng dật với tâm sợ hãi sẽ tiến bộ như lửa, thiêu đốt mọi thằng thúc 2 lớn nhỏ. 31.

Tích chuyện

Một tăng sĩ vào rừng hành thiền, nhưng thất bại. Thầy đi trở về yết kiến Đức Phật. Trên đường đi, thầy gặp một đám lửa rừng to phừng phừng vồ tới, thiêu đốt tất cả cây cối lớn nhỏ. Cảnh tượng này thức tỉnh thầy, gợi ý rằng chính thầy cũng phải mạnh dạn và vững vàng tiến lên như đám lửa rừng để thiêu đốt tất cả trói buộc lớn nhỏ bằng lửa Bát chánh đạo. Đức Phật đọc tư tưởng thầy và, rải một tia sáng đến, khuyên dạy những lời trên.

Chú thích

1. Tỳ-khưu - Bhikkhu, là người đệ tử của Đức Phật đã thọ lễ xuất gia đầy đủ (Cụ Túc Giới). "Nhà sư khất thực" có thể là danh từ gần nhứt với Phạn ngữ "bhikkhu". Thầy Tỳ-khưu không phải là người trung gian giữa Thượng đế với người. Thầy Tỳ-khưu không bị ràng buộc phải sống suốt đời như vậy, nhưng, ngày nào còn đắp y vàng, thầy phải ghép mình vào nếp sống giới luật mà chính thầy đã tự nguyện nghiêm trì trong sạch. Thầy cũng tự nguyện sống đời nghèo thiếu và độc thân. Đến khi cảm thấy không thể còn giữ tròn giới luật, không thể tiếp tục đời sống thiêng liêng, thầy có thể hườn tục bất luận lúc nào.

2. Thằng thúcSamyojana, đúng nghĩa là cái gì đưa đẩy, dẫn dắt chúng sanh quanh quẩn trong đại dương của đời sống, những dây trói buộc chúng sanh vào vòng luân hồi. Có mười loại dây trói buộc (Saṁyojana, thằng thúc) là: ảo kiến về tự ngã (sakkāyadiṭṭhi, thân kiến), hoài nghi (vicikicchā), dể duôi trong nghi thức lễ bái (lầm lạc) (silābba taparāmāsa, giới cấm thủ), tham dục (kāmarāga), sân hận (paṭigha), luyến ái, đeo níu trong sắc giới (rūparāga), luyến ái, đeo níu trong vô sắc giới (arūparāga), ngã mạn (māna), phóng dật (uddhacca) và vô minh (avijjā).

Năm dây trói buộc đầu tiên có liên quan đến bờ bên nầy (oram-bhāgiya) được xem là nhỏ. Năm loại thằng thúc còn lại, liên quan đến bờ bên kia (uddhambhāgiya), là lớn.

Tận diệt ba thằng thúc đầu tiên khi đắc quả Tu-Đà-Hườn (Sotāpaṭṭi, Nhập Lưu), từng thánh đầu tiên.

Hai loại trói buộc kế được giảm bớt khi đắc Tư-Đà-Hàm (Sakādāgāmi, Nhứt Lai), từng thánh thứ nhì.

Hai loại này được tận diệt khi đắc A-Na-Hàm (Anāgāmi, Bất Lai), từng thánh thứ ba.

Khi đắc quả A-La-Hán (Arahatta, Vô Sanh) thì tận diệt năm loại dây cuối cùng.

THE HEEDFUL ADVANCE

11. Appamadarato bhikkhu 
            pamade bhayadassi va
Samyojanam auum thulam 
            daham aggi'va gacchati. 31.

11. The Bhikkhu 13 who delights in heedfulness, and looks with fear on heedlessness, advances like fire, burning all fetters 14 great and small. 31.


Story

    A monk, failing in his meditation in the forest, was coming to see the Buddha. On the way he saw a forest fire advancing, burning all things great and small. This sight induced him to think that he too should advance burning all the fetters, great and small, by the fire of the Noble Eightfold Path. The Buddha read his thought and, radiating a ray of light, advised him accordingly.

NOTES:

13  A fully ordained disciple of the Buddha is called a Bhikkhu. "Mendicant monk" may be suggested as the closest equivalent for "Bhikkhu". He is not a priest as he is no mediator between God and man. He has no vows for life but he is bound by his rules which he takes of his own accord. He leads a life of voluntary poverty and celibacy. If he is unable to live the Holy Life, he can discard the robe at any time.

14  Samyojana - lit., that which yokes beings to the ocean of life. There are ten kinds of fetters- namely: self-illusion (sakkayadiññhi), doubts (vicikiccha), indulgence in (wrongful) rites and ceremonies (silabbataparamasa), sense-desires (kamaraga), hatred (pañigha), attachment to the Realms of Form (ruparaga), attachment to the Formless Realms (aruparaga), conceit (mana), restlessness (uddhacca) and ignorance (avijja).

The first five, pertaining to This Shore (orambhagiya) are regarded as small, the rest, pertaining to the Further Shore (uddhambhagiya) as great.

The first three are eradicated on attaining the first Stage of Sainthood (Sotapatti).

The second two are attenuated on attaining the second stage of Sainthood (Sakadagami).

The second two are destroyed on attaining the third stage of Sainthood (Anagami).

The last five are eradicated on attaining the fourth stage of Sainthood (Arahatta).


dhp032_B
Verse-Kệ 32

Người chuyên cần đối diện Niết-bàn

12. Appamādarato bhikkhu - pamāde bhayadassi vā

Abhabbo parihānāya -nibbānass'eva santike.


12. Vị Tỳ-khưu thích thú trong chuyên cần chú niệm và nhìn phóng dật với tâm sợ hãi không còn phải rơi trở xuống1. Vị ấy đã đối diện với Niết-bàn. 32.

Tích chuyện

Có một tăng sĩ độ lượngtri túc. Đức Phật giải thích rằng sở dĩ vị ấy được như vậy là nhờ trong quá khứ đã có kết hợp chặt chẽ với Ngài và ghi nhận rằng những ai có nếp sống như thầy Tỳ-khưu kia đã đứng trước Niết-bàn.

Chú thích

1. Rơi trở xuống - từ mức độ tinh thần mà Ngài đã đạt đến.

THE HEEDFUL ARE IN THE PRESENCE OF NIBBâNA

12. Appamadarato bhikkhu 
            pamade bhayadassi va
Abhabbo parihanaya 
            Nibbanass'eva santike. 32.

12. The Bhikkhu who delights in heedfulness, and looks with fear on heedlessness, is not liable to fall. 15 He is in the presence of Nibbana. 32.

Story

A monk was frugal and contented. The Buddha attributed those characteristics to the monk's close association with Him in the past and remarked that monks of his type were already in the presence of Nibbana.

NOTES:

15  From his spiritual heights which he has attained.

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1843)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2091)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1719)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1651)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1614)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1597)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1977)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1680)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1736)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1723)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1655)
27 Tháng Mười 2020(Xem: 1690)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 1663)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 1569)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 1572)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 3019)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 1016814)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 2746)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 2946)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 2605)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 2593)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 2152)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 2247)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 1819)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1931)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 2036)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 2442)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 1757)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1934)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 2111)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1845)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 2616)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 2516)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3271)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5048)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6711)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 2229)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 2215)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 2060)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1977)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 7528)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1779)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1857)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 4752)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 3715)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng