Kinh Pháp Cú (PKK), Lời Mở Đầu - The Dhammapada, Preface

04 Tháng Mười Một 20188:04 CH(Xem: 3848)
Kinh Pháp Cú (PKK), Lời Mở Đầu - The Dhammapada, Preface

dhp103_B

(103. Dầu chinh phục hàng triệu người ở chiến trường, tuy nhiên,
quả thật vậy, chinh phục được chính mình là chiến thắng cao quý nhứt.
103. Though one should conquer a million men in battlefield, yet he,
indeed, is the noblest victor who has conquered himself.)



Kinh Pháp Cú (PKK), Lời Mở Đầu - The Dhammapada, Preface

Translated by Nārada Mahāthera - Người dịch: Phạm Kim Khánh, 1971
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: home.nethere.net/dsparks/Narada, budsas.net

 

Nguyên tác Pāli, Hòa thượng Narada dịch sang Anh ngữ và chú giải.
Bản dịch Việt ngữ của Phạm Kim Khánh cùng với câu chuyện dẫn tích tóm tắt và chú thích


____________________

MỤC LỤC

INDEX


[01]  Yammaka Vagga - Song Yếu (001-020)

[02]  Appamāda Vagga - Chuyên Niệm (021-032)

[03]  Citta Vagga - Tâm (033-043)

[04]  Puppha Vagga - Hoa (044-059)

[05]  Bāla Vagga - Cuồng Dại (060-075)

[06]  Paṇṇdita Vagga - Bậc Thiện Trí (076-089)

[07]  Arahanta Vagga - A-La-Hán (090-099)

[08]  Sahassa Vagga - Ngàn (100-115)

[09]  Pāpa Vagga - Ác (116-128)

[10]  Daṇḍa Vagga - Gậy gộc, hay hình phạt (129-145)

[11]  Jarā Vagga - Tuổi già (146-156)

[12]  Atta Vagga - Tự ngã (157-166)

[13]  Loka Vagga - Thế Gian (167-178)

[14]  Buddha Vagga - Phật (179-196)

[15]  Sukha Vagga - Hạnh Phúc (197-208)

[16]  Piya Vagga - Thân Ái (209-220)

[17]  Kodha Vagga - Sân Hận (221-234)

[18]  Mala Vagga - Uế Trược, hay Ô Nhiễm (235-255)

[19]  Dhammattha Vagga - Công Bằng, Chánh Hạnh (256-272)

[20]  Magga Vagga - Con Đường (273-289)

[21]  Pakiṇṇaka Vagga - Tạp Lục (290-305)

[22]  Niraya Vagga - Khổ Cảnh (306-319)

[23]  Nāga Vagga - Voi (320-333)

[24]  Taṇhā Vagga - Ái Dục (334-359)

[25]  Bhikkhu Vagga - Tỳ-khưu (360-382)

[26]  Brāhmaṇa Vagga - Bà-La-Môn (383-423)


Preface

 

1. Yamaka Vagga - The Twin Verses

2. Appamàda Vagga - Heedfulness

3. Citta Vagga - Mind

4. Puppha Vagga - Flowers

5. Bàla Vagga - Fools

6. Pandita Vagga - The Wise

7. Arahanta Vagga - The Worthy

8. Sahassa Vagga - Thousands

9. Pàpa Vagga - Evil

10. Danda Vagga - The Rod Or Punishment

11. Jarà Vagga - Old Age

12. Atta Vagga - The Self

13. Loka Vagga - The World

14. Buddha Vagga - The Buddha

15. Sukha Vagga - Happiness

16. Piya Vagga - Affection

17. Kodha Vagga - Anger

18. Mala Vagga - Impurities Or Taints

19. Dhammattha Vagga - The Just Or Righteous

20. Magga Vagga - The Way Or The Path

21. Pakinnaka Vagga - Miscellaneous

22. Niraya Vagga - Woeful State

23. Nàga Vagga - The Elephant

24. Tanhà Vagga - Craving

25. Bhikkhu Vagga - The Bhikkhu Or The Mendicant

26. Bràhmana Vagga - The Bràhmana

 

-----------

 

1st Edition 2507 - 1963

2nd Edition 2515 - 1972

3rd Edition 2522 - 1978

4th Edition 2538 - 1993

This Electronic Edition 2545 - 2002

 

(For free distribution only)




LỜI MỞ ĐẦU 

PREFACE

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammasambuddhassa

Thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Ngài là bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Biến Tri

 

-ooOoo-

 

Lời mở đầu

 

Phật giáo thích hợp cho cả hai hạng người, đại chúngtrí thức. Phật giáo có sữa cho trẻ em mà cũng có thức ăn đầy đủ cho người khỏe mạnh. Phật giáo cung ứng một lối sống cho những Hội viên của Giáo hội Tăng già và một lối sống khác cho người tại gia cư sĩ. Trên tất cả, Phật giáo truyền bá con đường Giác ngộ duy nhứt.

 

Bao nhiêu những đặc điểm trên được diễn đạt đầy đủ trong quyển Kinh Pháp cú (Dhammapada) một trong ba mươi mốt quyển hợp thành Tam Tạng (Tipitaka) tức là ba cái giỏ chứa đựng tinh hoa của giáo lý nhà Phật.

 

Mỗi ai đi tìm chơn lý, dầu theo tín ngưỡng nào, đều có thể thấy hứng thú và bổ ích khi đọc quyển sách Trí Tuệ này. Thường xuyên suy niệm về những lời vàng ngọc chứa đựng trong ấy và đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày, người nhiệt tâm hướng về đạo pháp có thể thâu hoạch một niềm vui tinh thần vượt lên cao hơn tất cả những hạnh phúc trên thế gian và có thể đạt đến trạng thái tâm cao thượng để, duyên theo đó, tự thanh lọc thân tâm mình và cố gắng rọi sáng, làm cho người khác trở nên trong sạch, bằng gương lành và lời khuyên dạy thích nghi.

 

Kinh Pháp cú không phải là sách để đọc thoáng qua như một thiên tiểu thuyết, rồi kính cẩn xếp lại, để qua một bên. Phải đọc đi, đọc lại, và xem nó như người bạn cố tri, luôn luôn ở bên cạnh để đem lại cho ta nguồn cảm hứng, nguồn an ủi, để nâng đỡ, hộ trì, và cải thiện tâm linh ta, mỗi khi cần đến.

 

Đức Phật không giảng kinh Pháp Cú dưới hình thức ta thấy ngày nay. Ba tháng sau khi Ngài nhập Niết-bàn, chư Thinh Văn A-La-Hán tụ hợp trong kỳ triệu tập đầu tiên để nghe đọc lại những lời giáo huấn của Ngài, rồi kết tập lại thành chương những kim ngôn mỹ từ đầy thi vị mà Ngài đã truyền dạy trong nhiều trường hợp khác nhau, và gọi là Dhammapada, Pháp Cú Kinh.

 

Phạn ngữ Dhamma, Bắc phạn Dharma, là một danh từ khó phiên dịch ra ngôn ngữ khác, bởi vì có rất nhiều ý nghĩa. Ta phải hiểu theo đoạn văn. Ở đây - trong chữ Dhammapada - Dhamma là Phật ngôn, hay giáo huấn của Đức Phật. Pada bao hàm ý nghĩa tiết mục, đoạn, phần, hay đường lối. Vậy, Dhammapada có thể được hiểu là "những đoạn, hay những phần của Giáo Pháp", "Đường lối của Giáo Pháp". Cũng có vài học giả dịch là "Con đường của chơn lý", "Chánh tịnh đạo", "Con đường đạo hạnh".

 

Kinh Pháp Cú (Dhammapada) gồm 423 câu Pāli êm dịu mà Đức Phật đã đọc lên trong khoảng 300 trường hợp, trên đường hoằng pháp kéo dài bốn mươi lăm năm, để thích hợp với những tâm tánh khác nhau của người nghe. Bản chú giải đồ sộ của Đại đức Buddhaghosa trình bày đầy đủ các trường hợp nào Đức Phật đã dạy những lời cao quý ấy dưới hình thức câu chuyện dẫn tích, dài hay ngắn, cùng với lối giải thích cổ truyền bản văn Pāli và các danh từ chuyên môn.

 

Bản chú giải quý báu này được ông E. M.Burlinghame phiên dịch ra Anh ngữ cho loại sách Harward Oriental Series. Cũng nên ghi nhận rằng những câu chuyện dẫn tích ấy giúp người đọc thấu hiểu câu kệ dễ dàng và minh bạch hơn.

 

Chơn lý cao thượng nằm trong những câu Pháp cú thể hiện rõ ràng giáo huấn có tánh cách luân lýtriết học của Phật giáo.

 

Ngay hai câu đầu tiên đã vắn tắt trình bày hệ thống luân lý triết học của Phật giáo. Tầm quan trọng của Tâm - lấy tâm làm khuôn vàng thước ngọc để đo lường giá trị luân lý - định luật Nhơn quả (nghiệp báo) trong Phật giáo, vấn đề đau khổhạnh phúc, trách nhiệm cá nhân v.v... cùng với hai thí dụ lấy ngay trong đời sống quen thuộc hằng ngày, tất cả bấy nhiêu được diễn đạt trong hai câu song yếu. Tiếp theo là hai tích chuyện thích đáng để làm cho vấn đề thêm sáng tỏ. Ở hàng đầu của hai câu song yếu đầu tiên có vài điểm khó hiểu, đặt biệt là danh từ Dhamma mà bản chú giải đã dài dòng phân tách. Nhờ hai tích chuyện đi liền theo sau người đọc thông hiểu rõ ràng hơn.

 

Những câu có liên quan đến tâm sân và sự dập tắt lòng sân hận có một ý nghĩa đặc biệt giữa thời đại nguyên tử này. Sức mạnh chắc chắn phải đương đầu với sức mạnh. Bom đạn sẽ gặp bom đạn. Hận thù sẽ đối diện với hận thù. Báo oán, trả thù, không bao giờ đưa đến hòa bình, an tịnh. Lời Đức Phật khuyên dạy hàng tín đồ bất bạo động của Ngài là: "Sân hận không bao giờ dập tắt sân hận, chỉ có tình thương mới diệt tâm sân". Metta, tâm Từ, là giải đáp duy nhứt trước bom đạn của thời hiện đại.

 

Trình độ luân lý cao thượng mà Đức Phật ước mong những tín đồ lý tưởng của Ngài sẽ đạt đến cũng được mô tả trong vài câu. Hai câu cuối cùng của chương đầu cho thấy rõ thái độ của Đức Phật đối với lối học từ chương và pháp hành thực tiễn. Như vậy, Giáo Pháp được ví như chiếc thuyền để độ chúng sanh vượt qua đại dương của vòng luân hồi. Chỉ riêng câu cuối cùng cũng đủ cho trọn đời một thầy Tỳ-khưu lý tưởng.

 

Câu chuyện hoàng tử Nanda, người em cùng cha khác mẹ với Đức Phật, hiển nhiên cho thấy làm cách nào Đức Phật dùng oai lực thần thông để biến đổi một thầy Tỳ-khưu có tinh thần ươn yếu, đang ôm ấp tham dục tai hại, trở thành một cá tánh trong sạch, một tinh thần tráng kiện.

 

Vì nặng lòng tôn kính Đức Phật, mặc dầu không vui, hoàng tử thọ lễ xuất gia ngay trong ngày lễ cưới của mình. Nhưng Tỳ-khưu Nanda luôn luôn tưởng nhớ vị tân nương của mình và không cố gắng tu hành. Thay vì áp dụng phương pháp răn dạy trực tiếp, Đức Phật sắp đặt một phương kế thực tiễn và hữu hiệu để đưa sự chú tâm của Tỳ-khưu Nanda về một đối tượng tương tợ, thoáng qua hình như đáng ưa thích hơn, và thành công làm cho vị này đắc quả A-La-Hán. Xem câu 13-14.

 

Hai chương đầu đề cập đến phần luân lý trong Phật giáo và được xem là đồng quan trọng cho cả hai đời sống, xuất giatại gia.

 

Chương hai là câu giải đáp hùng biện những lời chỉ trích Phật giáo là một "bàn tay chết", một tôn giáo thụ động, tiêu cực. Appamāda, một Phạn ngữ bao hàm ý nghĩa chú tâm, cẩn mật, thận trọng, trang nghiêm chuyên cần, giác tỉnh v.v... là tựa của chương 2.

 

Chính câu đầu tiên của chương này đã đổi hẳn tâm tánh vua A-Dục (Asoka), vị minh quân, trước kia có tên là Asoka con người tội lỗi, vì những hành động tàn bạo và ác độc của ông khi chưa biết Phật Pháp.

 

Đôi khi chỉ một câu nói giản dị như vừa kể trên, hay một hàng chữ đơn độc như "không nên tìm thỏa thích trong hương vị của thế gian mà phải trau dồi đời sống ẩn dật", hay chỉ vỏn vẹn một chữ có nhiều ý nghĩa như "chuyên cần", cũng đủ cho trọn một kiếp sống.

 

Câu 24, đề cập đến những nguyên nhân tạo nên tiến bộ vật chất, cho thấy rằng Phật giáo không hoàn toàn xuất thế, không đứng ngoài thế gian vật chất, như có vài lời chỉ trích vội vã có khuynh hướng làm cho người ta nghĩ như vậy.

 

Chương 3 có một ý nghĩa đặc biệt giúp ta thấu hiểu quan niệm của Phật giáo về tâm và tầm quan trọng của việc kiểm soát tâm.

 

Những chương Thân Ái, Hạnh Phúc, Khổ Cảnh, Ác, Thế Gian, Hoa, Cuồng Dại, Bậc Thiện Trí, Ái Dục v.v... tỏ ra rất hữu ích cho những ai còn say đắm dục lạc. Bản chất vô thường tạm bợ của khoái lạc vật chấtnếp sống phải có của ta trong một thế gian tương tợ cũng được chỉ dẫn trong chương này.

 

Những chương Phật, A-La-Hán, Bà-La-Môn sẽ đặc biệt thích hợp với những người có trình độ tinh thần cao. Các chương này mô tả tâm trạng của những nhơn vật thật sự giác ngộ.

 

Tuy nhiên, khi đã đọc qua những Phật ngôn vàng ngọc này, ta không nên tự mãn, cho đó là đủ. Phải đọc đi, đọc lại, suy niệm, cân nhắc cặn kẽ những câu kệ cũng như tích chuyện và rút tỉa những bài học thích đáng. Những chuyện tích hứng thú và xây dựng ấy mô tả rõ ràng tánh cách vĩ đại của Đức Phật, xem như vị giáo chủ bi, trí, dũng, luôn luôn sẵn sàng tế độ, phục vụ tất cả. Những kim ngôn mỹ từ ấy phải được áp dụng thật sự vào đời sống hằng ngày. Và chỉ đến chừng ấy ta mới có thể, một cách chơn thành và hữu lý, nói lên lời dạy trong kinh Pháp Cú: "Người thấm nhuần Giáo Pháp sống hạnh phúc".

 

Người đọc sẽ ghi nhận rằng Đức Phật dùng những chuyện ngụ ngôn rất giản dị để cho mọi người, chí đến các em bé, đều hiểu được. Như thí dụ cái bánh xe lăn theo chơn con bò kéo xe, bóng theo người, mái nhà khéo lợp, một làng đang say ngủ, ao hồ sâu thẳm và trong veo, hoa có hương thơm, ong hút mật v.v... Trí tuệ của Đức Phật đã tỏ rạng trong cách trình bày chơn lý cao thâm với những danh từ thông thường, dễ hiểu, không rườm rà phiền phức.

 

Không có câu nào trong kinh Pháp Cú mà người cư sĩ không thể hiểu được.

 

Đức Phật thường áp dụng phương pháp giảng dạy trực tiếp. Đôi khi Ngài cũng dùng oai lực thần thông - không phải phép lạ - để rọi sáng cho những người kém trí tuệ hay cụ thể chứng minh một chơn lý. Xem những câu 146, 147, 148.

 

Đối với một ngư phủ tên Ariya, có nghĩa cao quý, chỉ bậc thánh nhơn, mà Đức Phật gặp trong khi ông ấy đang đánh cá, Ngài dạy: "Người sát hại sanh linh ắt không phải là bậc Ariya". Ngư phủ Ariya liền nhận thức hành động thấp hèn của mình và về sau trở thành Thánh nhơn, đúng theo ý nghĩa của danh từ Ariya, tên mình. Xem câu 270.

 

Trong kinh Pháp Cú có nhiều thí dụ cho thấy rằng không phải Đức Phật chỉ thuyết Pháp cho hàng trí thức mà cũng giảng dạy giáo lý cho các em nhỏ và trong trường hợp này, Ngài dùng những lời lẽ của chúng nó. Tất cả mọi người đều hiểu được Ngài. Xem câu 131.

 

Trong khi soạn thảo bản dịch này tôi có tham khảo - với nhiều lợi ích - những bài viết uyên thâm về kinh Pháp Cú của vị thầy tế độ khả kính của tôi, Đại đức P. Siri Vajiranāna Mahā Nāyaka Thera, bản dịch ra tiếng cổ Tích Lan và hầu hết tất cả các bản dịch ra Anh văn có thể thâu thập được. Tôi đã đặc biệt thận trọng để không tách rời khỏi bản chú giải cổ truyền.

 

Bản dịch kinh Pháp Cú được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1940 với lời tựa của Bác sĩ Cassius A. Pereira (nay là Đại đức Kassapa Thera). Về sau, hội "Mahabodi Society" ở Ấn có ấn hành hai lần bản duyệt lại. Một bản duyệt lại khác được loại sách "Wisdom of the East Series" phát hành với lời giới thiệu của Tiến sĩ E.J. Thomas vào năm 1954 và tái bản năm 1959. Trong bản in hiện tại đã có nhiều cải tiến, nhiều chú thích được thêm vào để giúp cho những ai chưa quen thuộc với giáo lý căn bản, và nhiều câu chuyện dẫn tích cũng được trình bày vắn tắt hầu làm cho câu Phật ngôn được sáng nghĩa hơn.

 

Tôi lấy làm cảm tạ ông S.W. Wijayatilaka, nguyên Hiệu trưởng trường Ananda College, Colombo, đã cẩn thận xem lại bản thảo của tôi và đã gợi cho tôi nhiều đề nghị quý giá.

 

Tôi cũng ghi ơn hai người đệ tử Việt Nam của tôi là cô Lê Thị Sanh (Jhāyīnī) và cô Cao Thị Cúc (Citrā) đã đánh máy bản thảo này.

 

Tôi cũng có lời tán dương ông Trương Đình Dzu, một luật sư Phật tử Việt Nam lỗi lạc, nguyên là Thống Đốc Đông Nam Á của Hội Rotary đã phát tâm bố thí trong sạch, gánh chịu tất cả tổn phí để ấn hành quyển sách Phật giáo cổ điển này.

 

Ước mong hành động tạo nhiều phước báu nầy đem lại cho Ông hạnh phúc trường cửu.

 

NĀRADA

Jetavara Vihāra - Kỳ Viên Tự

Sài Gòn, 14-7-1963.

 

-ooOoo-

 

Tiểu sử Đại-đức NARADA MAHA THERA

(14/07/1898 - 02/10/1983)

 

Phạm Kim Khánh

 

Đại-đức NARADA MAHA THERA, người Tích-Lan, lúc thiếu thời học trường St Benedicte College. Vào năm 18 tuổi Ngài xuất gianhập chúng dưới sự dắt dẩn của vị Cao Tăng Pelene-Vajiranyna, Đại lão Tăng. Chính ở dưới chân của vị Cao Tăng lỗi lạc này mà Đại-đức NARADA được đào luyện chu đáo và thấm nhuần Giáo Pháp. Kế đó Ngài vào Đại Học đường Tích-Lan và về sau được bổ làm Giảng Sư về môn Đạo Đức Học và Triết Học tại Đại Học này.

 

Đại-đức NARADA nổi tiếng về kiến thức sâu rộng, và nhứt là Đạo hạnh và Từ-Bi. Ngài là tác giả của nhiều quyển sách Phật Giáogiá trị. Quyển "The Manual of Abhidhamma" (Vi-Diệu-Pháp Toát-Yếu) là bản dịch ra Anh văn phần uyên thâm nhứt của Giáo-lý nhà Phật.

 

Quyển "Dhammapada" (Kinh Pháp Cú) cũng được Ngài dịch ra Anh văn có phần chú giải. Còn quyển "The Buddha and His Teachings" (Đức PhậtPhật Pháp) là một tác phẩm xuất sắc của tác giả. Riêng quyển sau cùng này có thể được xem là sách căn bản cho ai muốn tìm hiểu Phật Giáo Nguyên Thủy. Ba quyển này đã được Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt-Nam nhờ Ông Phạm Kim Khánh phiên dịch ra tiếng Việt.

 

Đại-đức NARADA đã nhiều lần đi vòng quanh thế giới với mục đích hoằng khai Phật Pháp. Ngài đến Việt-Nam lần đầu tiên năm 1936. Lần đó, Ngài ngụ tại Linh Sơn Tự ở Cầu Muối, Sài Gòn, và có trồng tại chùa này một cây Bồ Đề mà hiện nay vẫn còn sống. Năm 1952, Ngài trở qua Việt-Nam dâng cúng viên Ngọc Xá Lợi Phật đầu tiên tôn thờ tại Việt-Nam. Kể từ đó, hằng năm Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt-Nam cung thỉnh Ngài sang Việt-Nam hoằng khai Đạo Pháp. Ngài đã tận tụy giảng dạy Giáo Lý của Đức Thế Tôn cho Phật tử Việt-Nam, và đã lần lượt dâng cúng các Ngọc Xá Lợi Phật tôn thờ tại Kỳ Viên Tự, Chùa Xá Lợi tại Sài Gòn, Thích Ca Phật Đài tại Vũng Tàu, Nha Trang, Vĩnh Long, Phật Đường Tự thuộc môn phái Phật Giáo Tứ Ân ở Phú Lâm và sau cùng ở Linh Sơn Tự, Cầu Muối, Sài Gòn. Ngài luôn luôn sát cánh với Phật tử Việt-Nam trong mùa Pháp nạn năm 1963. Nhờ sự tích cực can thiệp của Ngài trên thế giới, một phái đoàn Quốc Tế do Bác-sĩ Malaka Sekera, người Tích-Lan hướng dẫn đã được cử đến Việt-Nam điều tra trong mùa Pháp nạn này. Đại-đức NARADA đã rời Việt-Nam lần cuối cùng vào cuối tháng Ba dương lịch, năm 1975.

 

Ở khắp thế giới, Ngài nói lên tiếng nói trung thực của Giáo Pháp, tức là lời dạy rõ ràngminh bạch của Đức Phật. Ngài đã được liệt vào hàng sứ giả tiền phong của Đạo Phật, mở đường dọn lối cho những sứ giả khác.

 

Đại-đức NARADA cũng là người sáng lập ra nhiều Trung TâmHiệp Hội Phật Giáo Á-Đông cũng như ở Tây Phương. Ngài là Tăng Trưởng của Chùa VAJIRAMA ở Tích-Lan và là một Pháp Sư nổi tiếng khắp nơi, chí đến trong chốn bình dân.

 

Ngài viên tịch ngày 02-10-1983 tại Colombo, thủ đô Sri Lanka (Tích-Lan), hưởng thọ 85 tuổi.

 

(Trích quyển "Kinh Pháp Cú", Phạm Kim Khánh dịch, Paris 1984)

Preface to the Dhammapada - by Ven Nàrada

 

 

Buddhism appeals both to the masses and to the intelligentsia. It offers milk for the babe and meat for the strong. It presents one way of life to the members of the Holy Order and another to the laity. Above all, it expounds a unique Path of Enlightenment.

 

All these characteristics are featured in the Dhammapada, one of the thirty-one books that comprise the Tipitaka, the three Baskets which contain the quintessence of the Buddha's Teachings.

 

Any truth-seeker irrespective of his religious beliefs, can read this book of Wisdom with interest and profit. By constantly reflecting on these golden sayings and by translating them into action in the course of one's daily life a religious-minded person can gain spiritual bliss that transcends worldly happiness and can attain to a higher spiritual plane whereby he can purify himself and try to purify and enlighten others both by example and by precept.

 

The Dhammapada is not a book to be read superficially like a novel and shelved aside. It should be read and re-read so that it may serve as a constant companion for inspiration, solace, and edification in times of need.

 

The Dhammapada was not preached by the Buddha in the present form. Three months after the Passing Away of the Buddha, the Arahants, who assembled at the First Convocation to rehearse the Teachings of the Buddha, collected some of the poetic utterances of the Buddha, which He expounded on different occasions, arranged and classified the treatise in its present form, naming it the Dhammapada.

 

The Pali term Dhamma, Saüskrit Dharma, is one of the most difficult words to be translated into English as it has many meanings. It has to be understood according to the context. Here it is used in the sense of Sayings or Teachings of the Buddha. Pada implies sections, portions, parts, or way. Dhammapada may be rendered, "Sections or Portions of the Dhamma", "The Way of the Dhamma". It is somewhat difficult to offer a graceful English equivalent according to its literal meaning. "The Way of Truth", "The Way of Righteousness", "The Path of Virtue", are renderings that have been suggested by various scholars.

 

The Dhammapada consists of 423 melodious Pali verses, uttered by the Buddha on about 300 occasions, to suit the temperaments of the listener in the course of His preaching tours during His ministry of forty-five years. Circumstances that led to these noble utterances are presented in the form of long or short stories together with traditional interpretations of the Pali verses and technical terms, in the voluminous commentary written by Buddhaghosa. This valuable commentary has been ably translated by E. W. Burlinghame for the Harvard Oriental Series. It may be remarked that most of these verses are better understood when read with the context.

 

The gems of truth embodied in these texts aptly illustrate the moral and philosophical Teachings of the Buddha.

 

The very first two stanzas briefly represent the ethico-philosophical system of the Buddha. The importance of the mind in assessing morality, the Buddhist law of moral causation (Kamma), the problem of pain and happiness, self-responsibility, etc., accompanied by two simple homely illustrations, find expression in these twin verses. The two relevant stories clarify the points at issue. The very first line of each of these twin verses presents some difficulty, especially the term Dhammà. Commentary gives a long interpretation. The two connected stories make the matter clear.

 

The verses dealing with hatred and its appeacement are of special significance in this atomic age. Force will certainly be met with force. Bombs will be met with bombs. Vengeance will be met with vengeance. Retaliation never leads to peace. Buddha's advice to His non-violent followers is: "Hatreds never cease through hatred, but through love alone they cease". Mettà or loving-kindness is the only answer to modern bombs.

 

The high ethical standard the Buddha expects from his ideal followers are depicted in some verses. The last two verses of the first chapter indicate the Buddha's attitude towards mere learning and actual practice. The Dhamma is to be studied with the object of practising it. As such the Dhamma is compared to a raft whereby one crosses the ocean of Saüsàra. The very last verse is alone sufficient for an ideal Bhikkhu for his whole life time.

 

How the Buddha exercises His psychic powers to transform a lust-ridden, mentally sick Bhikkhu to a pure, spiritually healthy individual is evident from the story of prince Nanda, His step-brother, and the verses uttered concerning him.

 

In obedience to the Buddha, though with reluctance, prince Nanda entered the Order on his wedding day. As he was constantly thinking of his bride-elect without being intent on the Holy life, the Buddha, instead of adopting the usual direct method of instruction devised an effective practical way to divert his attention to a seemingly more desirable similar object and succeeded in making him an Arahant. See vv. 13-14.

 

The first two chapters mainly deal with the ethics of Buddhism and are of equal importance to both Bhikkhus and laymen.

 

The second chapter is a cogent answer to those critics who try to denounce Buddhism as "a dead hand". Appamàda, which denotes heedfulness, vigilance, earnestness, watchfulness and other allied meanings, is the name given to the second chapter.

 

It was the first verse on heedfulness occurring in this chapter that completely transformed the character of King Asoka the Righteous, who was originally stigmatised - Asoka the Wicked - owing to his atrocities perpetrated before his conversion to Buddhism.

 

At times a single verse like the foregoing, a solitary line like "Seek no delight in worldly favours, but cultivate seclusion", or a pregnant word like "Strive" is alone sufficient for a whole lifetime.

 

The verse 24, which deals with causes that tend to worldly progress, shows that Buddhism is not absolutely other-worldly as some hasty critics are apt to think.

 

The third chapter is of special significance as it enables one to understand the Buddhist conception of the mind and the importance of mind control.

 

The chapters on Pleasures, Happiness, Hell, Evil, World, Flowers, the Fool, the Wise, Craving, etc., will prove very helpful to those who are engrossed in material pleasures. The illusive nature of worldly happiness and the kind of life one should lead in such a deluded world are shown in these chapters.

 

The chapters on the Buddha, the Arahant, the Bràhmaua will particularly appeal to those of a higher spiritual level. They depict the moral attitude of really enlightened beings.

 

One should not rest satisfied with a mere perusal of these golden sayings. They should be read, re-read, and pondered upon, together with the accompanying stories, drawing appropriate lessons therefrom. These interesting and edifying anecdotes clearly depict the greatness of the Buddha as an energetic, compassionate and wise Teacher, ever ready to serve all. All these noble utterances should be put into actual practice in the course of one's daily life. Then only may one rightly say in the words of the Dhammapada:- "Happily he lives who drinks of the Dhamma".

 

Readers will note the simplicity of the similes employed by the Buddha, which are intelligible even to a child. Take, for instance, the similes of the cart's wheel, man's shadow, the ill-thatched house, the sleeping village, clear deep lake, fragrant beautiful flower, a bee extracting honey, etc. The wisdom of the Buddha lies in His exposition of profound truths in such plain terms.

 

There is not a single verse in the Dhammapada that can be dismissed as unintelligible to a lay reader.

 

Direct teaching is the Buddha's usual method of exposition. At times He exercises His psychic powers, not miracles, in order to enlighten His less intelligent hearers or to give an actual demonstration to a concrete truth. See vv. 146-147-148.

 

To a fisherman, named Ariya, meaning noble, whom He saw fishing, the Buddha said, "He is not an Ariya who is engaged in killing animals". The man realized his ignoble act and later became a Noble in the strictest sense of the term. See v. 270.

 

In the Dhammapada there are several instances to show that the Buddha preached not only to the intelligentsia but also to little children in their own language. He was accessible to all. See v. 131.

 

In preparing this translation I have consulted with profit the learned articles on the Dhammapada written by my revered teacher, the Venerable Pelene Siri Vajiragnana Nayaka Thera, the ancient Sinhala translation, and almost all the available English translations. Special care was taken not to deviate from the traditional commentarial interpretations.

 

My first translation of the Dhammapada appeared in 1940, with a Foreword by Dr. Cassius A. Pereira (later Kassapa Thera). Subsequently, the Mahabodhi Society of India published two revised pocket editions. Another revised edition was published in the Wisdom of the East Series in 1954 with a scholarly Introduction by Dr. E. J. Thomas, followed by a reprint in 1959. In this present latest edition several improvements have been made, copious notes have been added mainly for the benefit of those who are not acquainted with the fundamentals of the Dhamma, and relevant stories are given in brief in order to make the texts more intelligible to the readers.

 

I am grateful to Mr. S. W. Wijayatilaka, ex-Principal of Ananda College, Colombo, for carefully revising my manuscript and offering many valued suggestions.

 

NARADA MAHA THERA

Vajirarama,
Colombo 5.

9th May, 1971.



____________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1843)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2091)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1719)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1651)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1614)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1597)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1977)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1680)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1736)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1723)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1655)
27 Tháng Mười 2020(Xem: 1690)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 1663)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 1569)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 1572)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 3019)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 1016815)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 2746)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 2946)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 2605)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 2593)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 2152)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 2247)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 1819)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1931)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 2036)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 2442)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 1757)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1934)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 2111)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1845)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 2616)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 2516)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3271)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5048)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6711)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 2229)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 2215)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 2060)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1977)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 7528)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1779)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1857)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 4752)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 3715)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng