Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 14, Phẩm Phật - The Dhammapada, Chapter 14, The Buddha

15 Tháng Mười Một 20182:38 CH(Xem: 3952)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 14, Phẩm Phật - The Dhammapada, Chapter 14, The Buddha

Chapter14-1A

Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 14, Phẩm Phật
The Dhammapada, Chapter 14, Buddhavagga: The Buddha

(Kệ 179-196 - Verses 179-196)

Translated by Nārada Mahāthera - Người dịch: Phạm Kim Khánh, 1971
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: home.nethere.net/dsparks/Narada, budsas.net  

__________________

dhp179_B
dhp180_B
Verse-Kệ 179-180

Đức Phật vô lượng

1. Yassa jitaṁ n'āvajīyati jitamassa no yāti koci loke

Taṁ buddham anantagocaraṁ apadam kena padena nessatha.

2. Yassa jālinī visattikā - taṇhā natthi kuhiñci netave

Taṁ buddham anantagocaraṁ apadaṁ kena padena nessatha.


1. Người mà cuộc chinh phục (dục vọng) không thể thất bại1, trên thế gian này, không (dục vọng nào) đã bị khắc phục còn theo người ấy 2. Oai lực của vị Phật không dấu vết ấy 3 thật vô cùng tận 4. Ngươi sẽ dẫn dắt Ngài bằng đường lối nào? 179.

2. Người không còn bị ái dục, hỗn tạp và rối ren 5, dẫn dắt (đến kiếp sống nào). Oai lực của vị Phật không dấu vết ấy thật vô cùng tận - Ngươi sẽ dẫn dắt Ngài bằng đường lối nào 6180.

Tích chuyện

Một thiếu phụ trẻ đẹp, Māgandiyā, được người cha dẫn đến giới thiệu để làm vợ Đức Phật. Đức Phật đọc lên những câu kệ trên để chỉ rằng Ngài không còn có thể sa đọa. Chí đến ba người con gái của Ma Vương, hết sức cố gắng lấy nhan sắc quyến rũ Ngài, nhưng tất cả đều thất bại.

Chú thích

1. Không thể thất bại - vì Đức Phật đã tận diệt mọi dục vọng của tham, sân, si. Các dục vọng ấy không còn phát sanh đến Ngài được nữa. Cuộc chiến thắng tinh thần của Ngài không thể bị lay chuyển.

2. Không theo người ấy - vì mọi dục vọng đã bị tận diệt, không thể phát sanh trở lại nữa.

3. Không dấu vết - vì Đức Phật không còn dấu vết gì của tham, sân, si.

4. Oai lực vô cùng tận - vì Đức Phật toàn tri, biết tất cả mọi việc.

5. Ái dục hỗn tạp và rối ren - của tham, sân, si.

6. Nessatha - quyến rũ bằng cách đưa chúng sanh vào nanh vuốt của người chủ tâm cám dỗ.

THE BUDDHA CANNOT BE FATHOMED

1. Yassa jitam n' âvajiyati 
            jitamassa no yàti koci loke 
Tam Buddham anantagocaram 
            apadam kena padena nessatha 179.
2. Yassa jàlini visattikà 
            tauhà natthi kuhiñci netave 
Tam Buddham anantagocaram 
            apadam kena padena nessatha 180.

1. Whose conquest (of passion) is not turned into defeat, 1 no conquered (passion) of his in this world follows him 2 - that trackless 3 Buddha of infinite range, 4 by which way will you lead him? 179.


THE BUDDHA IS PASSIONLESS

2. Him in whom there is not that entangling, 5 embroiling craving to lead (to any life), him the trackless Buddha of infinite range - by which way will you lead him? 6 180.

Story

    Màgandiyà, a lovely maiden, was presented by her father to the Buddha to serve as His wife. The Buddha uttered these verses to show that He had not been tempted even when the three daughters of Màra the Evil One, made a vain attempt to entice Him by their female charms.

NOTES:

 As the Buddha had eradicated all passions of lust, hatred, and delusion they could not arise in Him any more. His spiritual victory was unconquerable.

 Because the eradicated passions do not arise again.

 Since the Buddha is devoid of the tracks (pada) of lust, hatred, and delusion.

 Being omniscient.

 Of lust, hatred, and delusion.

 Nessatha = will lead to temptation by bringing under the sway of the tempters.

 

 


dhp181_B
Verse-Kệ 181

Đức Phật được tất cả kỉnh mộ

3. Ye jhānapasutā dhīrā - nekkhammūpasame ratā

Devā' pi tesaṁ pihayanti - sambuddhānaṁ satīmataṁ.


3. Bậc thiện trí đã chuyên cần hành thiền 1, đã thỏa thích trong sự an tịnh của hạnh từ khước 2(tức Niết-bàn), những vị Phật giác tỉnh toàn hảo như vậy, chí đến chư Thiên cũng hết lòng kính mộ. 181.

Tích chuyện

Đức Phật lên cung Trời Đạo Lợi (Tāvatiṁsa) để giảng Vi Diệu Pháp cho chư Thiên nghe. Mẹ của Ngài, từ cung Trời Đấu Xuất (Tusita) cũng đến đó nghe Đức Phật thuyết pháp. Sau ba tháng, khi Đức Phật trở về, có nhiều vị Trời cung nghinh Ngài về, Đức Xá-Lợi-Phất (Sāriputta) ghi nhận rằng chư Thiên cũng đến tìm sự hướng dẫn của Đức Phật. Lúc ấy Đức Phật dạy những lời trên.

Chú thích

1.- Hành thiền - ở đây danh từ thiền (jhāna) bao gồm hai nghĩa, thiền chỉ quán (samatha) và thiền minh sát (Vipassanā).

2.- Hạnh từ khước - Nekkhamma, có nghĩa là Niết-bàn, thành đạt bằng cách diệt trừ dục vọng.

BUDDHAS ARE DEAR TO ALL

3. Ye jhànapasutà dhirà 
            nekkhammupasame ratà 
Devà' pi tesam pihayanti 
            sambuddhànam satimatam. 181.

3. The wise ones who are intent on meditation, 7 who delight in the peace of renunciation 8 (i.e., Nibbàna), such mindful perfect Buddhas even the gods hold (most) dear. 181.

Story

    The Buddha went to Tàvatimsa heaven to expound the Abhidhamma to the devas. There His mother, reborn as a deva in the Tusita heaven came to hear the Dhamma. At the end of three months when the Buddha returned to earth accompanied by the devas the Venerable Sàriputta remarked that even the devas seek the guidance of the Buddha. Thereupon the Buddha uttered this verse.

NOTES:

 Here Jhàna means both concentration (samatha) and insight (vipassanà).

 Nekkhamma implies Nibbàna, which is gained by the subjugation of passions.


dhp182_B
Verse-Kệ 182

Người tốt Phật hiếm hoi

4. Kiccho manussapaṭilābho -

kicchaṁ maccāna jīvitaṁ

Kicchaṁ saddhammasavaṇaṁ kiccho buddhānaṁ uppādo.


4.- Được sanh làm người quả thật hiếm hoi. Kiếp sống làm người quả thật khó. Nghe được Chơn Lý Tối Thượng quả thật khó. Hi hữu thay, có một vị Phật ra đời! 182.

Tích chuyện

Đức Phật đọc câu kệ trên khi đề cập đến một vị Tỳ-khưu tái sanh vào cảnh thú.

THE GOOD ARE RARE

4. Kiccho manussapatilàbho 
            kiccham maccàna jivitam
Kiccham saddhammasavauam 
            kiccho buddhànam uppàdo. 182.

4. Rare is birth as a human being. Hard is the life of mortals. Hard is the hearing of the Sublime Truth. Rare is the appearance of the Buddhas. 182.

Story

    The Buddha uttered this verse concerning a monk who was reborn as an animal.


dhp183_B
dhp184_B
dhp185_B
Verse-Kệ 183-185

Hãy tạo thiện nghiệp và làm người tốt

5. Sabbapāpassa akaraṇaṁ kusalassa upasampadā

Sacittapariyodapanaṁ etaṁ buddhāna sāsanaṁ.


5.- Không làm điều ác 1. Trau giồi việc thiện. Thanh lọc tâm. Đó là Giáo Huấn của chư Phật 2183.

Không hung bạo là đặc tánh của bậc Sa-môn

6. Khantī paramaṁ tapo titikkhā -nibbānaṁ paramaṁ vadanti buddhā

Na hi pabbajito parūpaghātī - samaṇo hoti paraṁ viheṭhayanto.


6.- Hành pháp nhẫn nại là khổ hạnh cao thượng nhứt. Niết-bàn là tối thượng, chư Phật dạy. Đúng vậy, người gây tổn hại cho kẻ khác không phải bậc xuất gia 3. Bậc Sa-môn 4không hề áp bức ai. 184.

Hãy sống đời trong sạch và cao quý

7. Anūpavādo anūpaghāto - pātimokkhe ca saṁvaro

Mattaññutā ca bhattasmim - panthañ ca sayanāsanaṁ

Adhicitte ca āyogo - etaṁ buddhāna sāsanaṁ.


7. Không lăng mạ, không gây tổn hại, tự thu thúc đúng theo Giới Luật Căn Bản 5, ẩm thực tiết độ, sống ẩn dật, chuyên cần chú niệm 6 cao thượng. Đó là Giáo Huấn của chư Phật.  185.

Tích chuyện

Khi Đại đức A Nam Đà (Ānanda) bạch hỏi Đức Phật về những việc làm của chư Phật quá khứ trong những ngày giới (uposatha), Đức Phật giảng rằng tất cả chư Phật đều dạy ba câu trên.

Chú thích

1.- Điều ác - là những điều nào bắt nguồn từ ba căn bất thiện là tham (lobha), sân (dosa), và si (moha). Những điều nào kết hợp với ba căn thiện là: Lòng quảng đại hay tâm bố thí (alobha, không tham), thiện ý hay tâm Từ (adosa, không sân) và trí tuệ (amoha, không si), được xem là điều thiện, việc làm tạo thiện nghiệp.

2.- Đạo Phật có thể tóm tắt trong câu này.

3.- Bậc xuất giaPabbajito, người sống ẩn dật, là người đã đem bỏ ô nhiễm của mình qua một bên và tách rời thế gian.

4.- Bậc Sa-môn - Samaṇo, là người đã khắc phục dục vọng.

5.- Giới căn bản - hay Giới bổnPātimokkha, là 227 giới chánh của hàng xuất gia (ngoài bảy đường lối để giảng hòa).

6.- Chuyên cần chú niệm cao thượng - Adhicitta, là tám sự thành đạt (aṭṭhasmāpatti): Bốn thiền Sắc Giới (rūpa jhāna) và bốn thiền Vô Sắc Giới (arūpa jhāna). Đó là những từng thiền cao thượng có thể giúp hành giả thành tựu năng lực thần thông.

DO GOOD AND BE GOOD

5. Sabbapàpassa akarauam 
            kusalassa upasampadà 
Sacittapariyodapanam 
            etam buddhàna sàsanam. 183.
6. Khanti paramam tapo titikkhà 
            nibbànam paramam vadanti buddhà.
Na hi pabbajito parupaghàti 
            samauo hoti param viheñhayanto. 184.
7. Anupavàdo anupaghàto 
            pàtimokkhe ca samvaro 
Mattaññutà ca bhattasmim 
            pantañ ca sayanàsanam
Adhicitte ca àyogo 
            etam buddhàna sàsanam. 185.

5. Not to do any evil, 9 to cultivate good, to purify one's mind, this is the Teaching of the Buddhas.10 183.

NON-VIOLENCE IS THE CHARACTERISTIC OF AN ASCETIC

6. Forbearing patience is the highest austerity. Nibbàna is supreme, say the Buddhas. He, verily, is not a recluse 11 who harms another. Nor is he an ascetic 12 who oppresses others. 184.

LEAD A PURE AND NOBLE LIFE

7. Not insulting, not harming, restraint according to the Fundamental Moral Code, 13 moderation in food, secluded abode, intent on higher thoughts, 14 - this is the Teaching of the Buddhas. 185.

Story

    When questioned by the Venerable Ananda as to how the previous Buddhas had observed the Uposatha (Holy Day), the Buddha replied that all the Buddhas had recited these three verses in admonition.

NOTES:

 What is associated with the three immoral roots of attachment (lobha), ill-will (dosa), and delusion (moha) is evil. What is associated with the three moral roots of generosity (alobha), goodwill or loving-kindness (adosa) and wisdom (amoha) is good.

10  The religion of the Buddha is summarised in this verse.

11  Pabbajito, one who casts aside his impurities and has left the world.

12  Samauo, one who has subdued his passions, an ascetic.

13  Pàtimokkha, these are the 220 chief rules (excluding the seven ways of settling disputes) which every bhikkhu is expected to observe.

14  Adhicitta, namely: the eight attainments (aññhasamàpatti), the four rupa jhànas and the four arupa jhànas. They are higher stages of mental concentration which enable one to gain supernormal powers.

 


dhp186_B
dhp187_B
Verse-Kệ 186-187

Khoái lạc vật chất không bao giờ thỏa mãn

8. Na kahapaṇavassena - titti kāmesu vijjati

Appassādā dukhā kāmā - iti viññāya paṇḍito. 186.

9. Api dibbesu kāmesu - ratiṁ so n'ādhigacchati

Taṇhakkhayarato hoti - sammāsambuddhasāvako.


8.9. Trận mưa vàng không làm cho hạnh tri túc phát sanh đến người dục lạc. Khoái lạc vật chất đem lại chút ít êm đềm và nhiều đau khổ. Biết như thế, người thiện trí không tìm thỏa thích trong khoái lạc, dầu ở cảnh Trời. Hàng môn đệ của đấng Toàn Giác hoan hỉ tận diệt ái dục186. 187.

Tích chuyện

Một vị Tỳ-khưu không biết tri túc, muốn rời bỏ đời sống xuất gia, ước mơ trở về thọ lãnh chút ít tài sản của cha mẹ để lại. Đức Phật giải thích rằng dục lạc không bao giờ được thỏa mãn hoàn toàn. Hạnh phúc vật chất chỉ là sự thỏa mãn của một vài ước vọng. Nhưng khi ta vừa đạt được nó thì nó đã vội lìa bỏ ta. Không bao giờ ta cho là đủ.

INSATIATE ARE SENSUAL PLEASURES

8. Na kahàpauavassena 
            titti kàmesu vijjati 
Appassàdà dukhà kàmà 
            iti viññàya paudito. 186.
9. Api dibbesu kàmesu 
            ratim so n' mdhigacchati. 
Tauhakkhayarato hoti 
            sammàsambuddhasàvako. 187.

8-9. Not by a shower of gold coins does contentment arise in sensual pleasures. Of little sweetness, and painful, are sensual pleasures. Knowing thus, the wise man finds no delight even in heavenly pleasures. The disciple of the Fully Enlightened One delights in the destruction of craving. 186-187.

Story

    A discontented monk desired to leave the Order, hoping to live on the meagre possessions left by his father. The Buddha explained that no satisfaction can arise in sense-desires.


dhp188_B
dhp189_B
dhp190_B
dhp191_B
dhp192_B
Verse-Kệ 188-192

Hãy tìm quy y Phật, pháp, tăng, để thoát khổ

10. Bahuṁ ve saraṇaṁ yanti - pabbatāni vanāni ca

Ārāmarukkhacetyāni - manussā bhayatajjitā.

11. N'etaṁ kho sāraṇaṁ khemaṁ - ṇ'etaṁ saraṇam uttamaṁ

N'etaṁ saraṇam āgamma - sabbadukkhā pamuccati.

12. Yo ca buddhañ ca dhammañ ca - saṅghañ ca saraṅam 4 gato

Cattāri ariyasaccāni - sammappaññāya passati.

13. Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ - dukkhassa ca atikkamaṁ

Ariyañcaṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ - dukkhūpasamagāminaṁ

14. Etaṁ kho saraṇaṁ khemaṁ - etaṁ saranam uttamaṁ

Etaṁ saraṇaṁ āgamma - sabbadukkhā pamuccati.


10. Con người kinh hãi đi tìm nương tựa ở nhiều nơi - đồi núi, rừng, vườn, cây cối, và đền miếu. 188.

11. Không, đó không phải là nương tựa an toàn, không phải nương tựa tối thượng. Ẩn náu như vậy không thể thoát ra khỏi phiền não189.

12. 13. 14. Người đi tìm nương tựa nơi Đức Phật, Giáo PhápTăng già, có tri kiến chơn chánh để nhận thức Tứ đế - Khổ, nguồn khổ, vượt khỏi khổ, và Bát chánh đạo, dẫn đến sự Diệt khổ.

Đó quả thật là nương tựa an toàn. Đó quả thật là nương tựa tối thượng. Tìm đến các nương tựa ấy ắt thoát ra khỏi mọi phiền não190. 191. 192.

Tích chuyện

Giáo chủ một đạo khác dạy đệ tử tìm nương tựa nơi núi, rừng v.v... để thoát khỏi đau khổ. Đức Phật giảng về hiệu quả của Tam Quy để thoát khỏi phiền não.

Chú thích

1.- Con người là nương tựa quý báu nhứt của con người. Người Phật tử tìm nương tựa (quy Y) nơi Đức Phật, Giáo PhápTăng già, xem đó là vị đạo sư, lời giáo huấn, và người hướng đạo, để thành đạt sự giải thoát của mình ra khỏi phiền não của đời sống. Đức Phật là ông thầy cao quý nhứt đã vạch ra con đường giải thoát. Giáo Phápcon đường duy nhứt. Tăng già đại diện cho các vị Thinh văn đã theo đúng con đườngtrở thành những gương sống. Ta chánh thức trở thành Phật tử sau khi thọ lễ quy y Tam Bảo một cách hiểu biết. Người Phật tử quy y, hay tìm nương tựa nơi Đức Phật, không phải để cầu xin hay hy vọng được chính Ngài hành động để giải thoát. Niềm tin mà người Phật tử trọn vẹn đặt vào Đức Phật cũng giống như niềm tin của người bệnh đặt vào một danh y, hay của trò, nơi thầy.

RELEASE FROM SUFFERING IS GAINED BY SEEKING REFUGE IN THE BUDDHA, DHAMMA AND THE SANGHA

10. Bahu ve sarauam yanti 
            pabbatàni vanàni ca 
âràmarukkhacetyàni 
            manussà bhayatajjità. 188.
11. N'etam kho sarauam khemam 
            n'etam sarauam uttamam
N'etam sarauam àgamma 
            sabbadukkhà pamuccati. 189.
12. Yo ca buddhañ ca dhammañ ca 
            saïghañ ca sarauam 
15 gato 
Cattàri ariyasaccàni 
            sammappaññàya passati. 190.
13. Dukkham dukkhasamuppàdam 
            dukkhassa ca atikkamam 
Ariyañcaññhaïgikam maggam 
            dukkhupasamagàminam. 191.
14. Etam kho sarauam khemam 
            etam sarauam uttamam 
Etam sarauam àgamma 
            sabbadukkhà pamuccati. 192.

10. To many a refuge fear-stricken men betake themselves - to hills, woods, groves, trees, and shrines. 188.

11. Nay no such refuge is safe, no such refuge is supreme. Not by resorting to such a refuge is one freed from all ill. 189.

12-14. He who has gone for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Sangha, sees with right knowledge the four Noble Truths - Sorrow, the Cause of Sorrow, the Transcending of Sorrow, and the Noble Eightfold Path which leads to the Cessation of Sorrow. This, indeed, is refuge secure. This, indeed, is refuge supreme. By seeking such refuge one is released from all sorrow. 190-192.

Story

    A teacher of an alien sect instructed his disciples to seek refuge in mountains and forests to get rid of suffering. The Buddha spoke on the efficacy of the Three Refuges for deliverance from suffering.

NOTES:

15  One's best refuge is oneself. A Buddhist seeks refuge in the Buddha, the Dhamma and the Sangha as the Teacher, the Teaching and the Taught in order to gain his deliverance from the ills of life. The Buddha is the supreme teacher who shows the way to deliverance. The Dhamma is the unique way. The Sangha represents the Taught who have followed the way and have become living examples. One formally becomes a Buddhist by intelligently seeking refuge in this Triple Gem (Tisaraua). A Buddhist does not seek refuge in the Buddha with the hope that he will be saved by a personal act of deliverance. The confidence of a Buddhist in the Buddha is like that of a sick person in a noted physician, or of a student in his teacher.


dhp193_B
Verse-Kệ 193

Hạng người cao quý thật hi hữu

15. Dullabho purisājañño 1 - na so sabbattha jāyati

Yattha so jāyatī dhīro taṁ kulaṁ sukkham edh ati.


15. Khó tìm được hạng người trí tuệ cao siêu. Người như thế không sanh ra ở bất cứ đâu. Nơi nào có người thiện trí đản sanh, gia đình ấy dồi dào hạnh phúc193.

Tích chuyện

Đại đức A-Nan-Đà (Ānanda) bạch hỏi Đức Phật những nhơn vật vĩ đại như chư Phật đản sanh ở nơi nào. Để giải đáp, Đức Phật dạy những lời trên.

Chú thích

1.- Người trí tuệ cao siêu - purrisājañño, tức là một vị Phật. 

THE NOBLE ARE RARE

15. Dullabho purisàjañño 
16 
            na so sabbattha jàyati 
Yattha so jàyati dhiro 
            tam kulam sukhamedhati. 193.

15. Hard to find is a man of great wisdom: such a man is not born everywhere. Where such a wise man is born, that family thrives happily. 193.

Story

    The Venerable ânanda wished to know from the Buddha where noble personages like the Buddhas are born. In reply the Buddha uttered this verse.

NOTES:

16  That is, a Buddha.


dhp194_B
Verse-Kệ 194

Những điều đem lại hạnh phúc

16. Sukho buddhānaṁ uppādo -sukhā saddhammadesanā

Sukhā saṅghassa sāmaggi -samaggānaṁ tapo sukho.


16. Hạnh phúc thay, chư Phật giáng sanh. Hạnh phúc thay, Giáo Pháp cao minh. Hạnh phúc thay, Tăng già hòa hiệp. Hạnh phúc thay, giới luật của người đồng tu. 194.

Tích chuyện

Đức Phật dạy những lời trên khi các vị Tỳ-khưu thảo luận về những gì đem lại hạnh phúc.

Chú thích

1.- Tăng giàSangha, là Giáo hội của những người độc thânquy chế dân chủ xưa nhứt trong lịch sử, do Đức Phật sáng lập. Nói một cách chính xác, Tăng già là những vị đệ tử cao quý của Đức Phật đã chứng ngộ bốn Đạo và bốn Quả. Những vị Tỳ-khưu ngày nay chỉ là những người đại diện cho Giáo hội.

THINGS THAT TEND TO HAPPINESS

16. Sukho buddhànam uppàdo 
            sukhà saddhammadesanà 
Sukhà saïghassa sàmaggi 
            samaggànam tapo sukho. 194.

16. Happy is the birth of Buddhas. Happy is the teaching of the sublime Dhamma. Happy is the unity of the Sangha. 17 Happy is the discipline of the united ones. 194.

Story

    When the monks were discussing which things tend to happiness the Buddha uttered this verse.

NOTES:

17  Sangha is the oldest, democratically constituted, historic, celibate Order, founded by the Buddha. Strictly speaking, the Sangha denotes those noble disciples who have realized the four Paths and four Fruits. The ordinary bhikkhus of the present day are merely their representatives.


dhp195_B
dhp196_B
Verse-Kệ 195-196

Tôn kính bậc đáng tôn kính

17. Pūjārahe pūjayato - buddhe yadi va sāvake

Papañcasamatikkhante -tiṇṇasokapariddave.

18. Te tādise pūjayato - nibbute akutobhaye

Na sakkā puññaṁ saṅkhātuṁ im' ettam' iti kena ci.


17. 18. Người tôn kính những bậc xứng đáng thọ lãnh sự tôn kính, chư Phật hay chư Thinh Văn đệ tử, những bậc đã khắc phục mọi chướng ngại 1 và đã thoát khỏi mọi phiền não âu sầu - công đức của người tôn kính cúng dường bậc an tịnh 2, bậc vô úy 3 thật là vô lượng195. 196.

Chú thích

1.- Chướng ngạipāpañca, những trở ngại như luyến ái, tà kiếnngã mạn.

2.- An tịnh - Không người đã dập tắt lửa tham.

3.- Vô úy - không sợ. Người đã dập tắt dục vọng không còn sợ. 

HONOUR TO WHOM HONOUR IS DUE

17. Pujàrahe pujayato 
            Buddhe yadi va sàvake 
Papañcasamatikkante 
            tiuuasokapariddave. 195.
18. Te tàdise pujayato 
            nibbute akutobhaye 
Na sakkà puññam saïkhàtum 
            im' ettam'iti kenaci. 196.

17-18. He who reverences those worthy of reverence, whether Buddhas or their disciples; those who have overcome the impediments 18 and have got rid of grief and lamentation - the merit of him who reverences such peaceful 19 and fearless Ones 20 cannot be measured by anyone as such and such. 195-196.

Story

    While the Buddha was dwelling at an old shrine a brahmin came to see Him and worshipped at the shrine. The Buddha admonished him that it was more commendable to reverence the Pure Ones.

NOTES:

18  Papañca = impediments or obstacles such as attachment, false views and pride.

19  Those who have extinguished the fire of lust.

20  The passionless are fearless.

 

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1843)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2096)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1719)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1651)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1614)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1597)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1977)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1680)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1736)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1723)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1655)
27 Tháng Mười 2020(Xem: 1690)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 1664)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 1569)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 1572)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 3019)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 1016821)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 2746)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 2946)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 2605)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 2593)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 2152)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 2247)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 1819)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1931)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 2036)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 2442)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 1757)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1934)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 2111)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1845)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 2616)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 2516)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3272)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5048)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6711)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 2229)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 2215)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 2061)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1977)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 7528)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1780)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1857)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 4752)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 3715)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng