Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 20, Phẩm Con Đường - The Dhammapada, Chapter 20, The Way (The Path)

21 Tháng Mười Một 201810:23 SA(Xem: 4158)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 20, Phẩm Con Đường - The Dhammapada, Chapter 20, The Way (The Path)

Chapter20-1A

Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 20, Phẩm Con Đường
The Dhammapada, Chapter 20, Maggavagga: The Way (The Path)

(Kệ 273-289 - Verses 273-289)

Translated by Nārada Mahāthera - Người dịch: Phạm Kim Khánh, 1971
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: home.nethere.net/dsparks/Narada, budsas.net  

__________________

dhp273_B
dhp274_B
dhp275_B
dhp276_B
Verse-Kệ 273-276

Bát chánh đạocon đường cao thượng nhứt hãy theo con đường ấy để đến chỗ thanh tịnh hãy theo con đường ấy để chấm dứt đau khổ, hãy tự mình cố gắng chuyên cần

1. Maggān' aṭṭhangiko seṭṭho - saccānaṁ caturo padā

Virāgo seṭṭho dhammānaṁ - dipadānañ ca cakkhumā.

2. Eso'va maggo natth' añño - dassanassa visuddhiyā

Etamhi tumhe paṭipajjatha - mārass' etaṁ pamohanaṁ.

3. Etamhi tumhe paṭipannā - dukkhassantaṁ karissatha

Akkhāto ve mayā maggo - aññāya sallasanthanaṁ.

4. Tumheti kiccaṁ ātappaṁ - akkhātāro tathāgatā

Paṭipannā pamokkhanti - Jhāyino mārabandhanā.


1. Con đường cao thượng nhứt là Bát chánh đạo. chơn lý cao thượng nhứt là Tứ đế 2. Không luyến ái 3 là trạng thái cao thượng nhứt. Cao thượng nhứt trong các loài có hai chơn là Đấng Toàn giác273.

2. Đó là con đường duy nhứt. Không còn đường nào khác dẫn đến nhãn quan thanh tịnh. Các con theo con đường này chăng? Đó là mối lo âu của Ma vương274.

3. Bước chơn vào con đường ấy, chúng con chấm dứt đau khổ. Đã học (phương cách) diệt gai chướng 4, Như Lai truyền dạy các con con đường275.

4. Chính tự các con phải kiên trì cố gắng 5. Các đấng Như Lai 6chỉ là những vị thầy. Hành giả bước chơn vào con đường sẽ thoát ra khỏi vòng trói buộc của Ma vương276.

Tích chuyện

Sau khi đi một vòng châu du hoằng Pháp, Đức Thế Tôn trở về tịnh xá, và giữa chúng Tăng có cuộc thảo luận về trạng thái gồ ghề hay bằng phẳng của các con đường đã trải qua. Đức Phật lưu ý rằng thảo luận về các con đường ấy không thích hợp cho sự giải thoát và Ngài khuyên chư Tăng nên theo con đường Bát Chánh.

Chú thích

1. Bát Chánh Đạo - là con đường "Trung Đạo" mà Đức Phật đã tìm ra để chứng ngộ Niết-bàn. Con đường gồm: Chánh Kiến (sammā diṭṭhi), Chánh Tư Duy (sammā saṁkappa), Chánh Ngữ (sammā vācā), Chánh Nghiệp (sammā kammanta), Chánh Mạng (sammā ājīva), Chánh Tinh Tấn (sammā vāyāma), Chánh Niệm (sammā sati) và Chánh Định (sammā samādhi). Đó là con đường Giác Ngộ duy nhứt. Đứng về mặt triết học, tám yếu tố ấy là tám trạng thái tinh thần (hay tâm sở) nằm trong tám loại tâm siêu thế có đối tượng là Niết-bàn.

2.- Tứ Đế - là bốn Chơn Lý Cao Quý: Khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, và con đường dẫn đến sự diệt khổ. Chơn Lý đầu tiên (khổ) phải được thông suốt, hiểu biết. Nguồn gốc của khổ (tức ái dục) phải được tận diệt. Sự diệt khổ (tức Niết-bàn) phải được chứng ngộ. Con đường dẫn đến sự diệt khổ (tức Bát Chánh Đạo) phải được phát triển. Dầu chư Phật có giáng sinh hay không, bốn Chơn Lý ấy vẫn có trên thế gian. Chư Phật đã khám phá và vạch rõ cho nhơn loại.

3.- Không luyến áiVirāya, là Niết-bàn.

4.- Gai chướng - những cây gai tham ái v.v...

5.- Kiên trì cố gắng - là tinh tấn điều phục cái dục vọng để chứng ngộ Niết-bàn.

6.- Như Lai - Khi Đức Phật nói đến Ngài, Ngài tự xưng là Như LaiTathāgata, có nghĩa "người đến như thế này".

THE EIGHTFOLD PATH IS THE BEST
FOLLOW THIS PATH FOR PURITY
FOLLOWING THIS PATH YOU CAN PUT AN END TO SUFFERING 
YOU MUST EXERT YOURSELVES

1. Maggàn' aññhaïgiko seññho 
            saccànam caturo padà 
Viràgo seññho dhammànam 
            dipadànañ ca cakkhumà. 273.
2. Eso'va maggo natth' añño 
            dassanassa visuddhiyà 
Etamhi tumhe pañipajjatha 
            màrass' etam pamohanam. 274.
3. Etamhi tumhe pañipannà 
            dukkhassantam karissatha 
Akkhàto ve mayà maggo 
            aññàya sallasatthanam. 275.
4. Tumhehi kiccam àtappam 
            akkhàtàro tathàgatà 
Pañipannà pamokkhanti 
            jhàyino màrabandhanà. 276.

1. The best of paths is the Eightfold Path. 1 The best of truths are the four Sayings. 2 Non-attachment 3 is the best of states. The best of bipeds is the Seeing One. 273.

2. This is the only Way. There is none other for the purity of vision. Do you follow this path. This is the bewilderment of Màra. 274.

3. Entering upon that path, you will make an end of pain. Having learnt the removal of thorns, 4have I taught you the path. 275.

4. Striving should be done by yourselves; 5 the Tathàgatas 6 are only teachers. The meditative ones, who enter the way, are delivered from the bonds of Màra. 276.

Story

    When the Buddha returned to the monastery after his preaching tours some bhikkhus were discussing the smooth or the rough state of the paths they had trod. The Buddha remarked that those paths were irrelevant to their emancipation and advised them to follow the Eightfold path.

NOTES:

 The Eightfold Path is the Middle Way discovered by the Buddha for the realization of Nibbàna. It consists of: right understanding(sammà diññhi), right thoughts (sammà saïkappa), right speech (sammà vàcà), right action (sammà kammanta), right livelihood (sammà àjãva), right effort (sammà vàyàma), right mindfulness (sammà sati), and right concentration (sammà samàdhi).

This is the unique path of Enlightenment. From a philosophical stand-point these eight factors are the eight mental states found in the supramundane consciousness which has Nibbàna for its object.

 They are the four Noble Truths - suffering, the cause of suffering, the destruction of suffering, and the path leading to the destruction of suffering. The first truth of suffering is to be comprehended, the cause of suffering (which is craving) is to be eradicated, the destruction of suffering (which is Nibbàna) is to be realized, the path leading to the destruction of suffering (which is the Eightfold Path) is to be developed. Whether the Buddhas arise or not these four truths exist in the world. It is the Buddhas that reveal them to mankind.

 Viràga = Nibbàna.

 Of lust etc.

 That is, to control passions in order to realize Nibbàna.

 When the Buddha refers to Himself He employs the term Tathàgata which means "who thus hath come".


dhp277_B
Verse-Kệ 277

Tất cả các vật hữu lậu đều vô thường

5. Sabbe saṅkhārā aniccā'ti - yadā paññāya passati

Atha nibbindati dukkhe - esa maggo visuddhiyā.


5. Tất cả các vật hữu lậu 1 đều vô thường": Khi sáng suốt nhận thức phân biệt điều này, ta nhàm chán phiền não 2. Đó là con đường trong sạch (Thanh Tịnh Đạo). 277.

Tích chuyện

Đức Phật nhận thấy các thầy Tỳ-khưu hành thiền với đề mục "vô thường", khuyên các thầy nên tiếp tục.

Chú thích

1.- Các vật hữu lậuSankhārā, hành, là một danh từ có nhiều nghĩa. Hành ở đây là những vật có điều kiện để phát sanh. Phải có những nguyên nhân tạo điều kiện, các vật ấy mới phát sanh nên gọi là hữu lậu, hay tùy thế. Niết-bàn là siêu thế, không nằm trong hành, sankhārā, vì không phải tùy thuộcnguyên nhân và không có thời gian.

2.- Phiền não - gây nên do sự chăm sóc thân ngũ uẩn.

TRANSIENT ARE CONDITIONED THINGS

5. Sabbe saïkhàrà aniccà'ti 
            yadà paññàya passati 
Atha nibbindati dukkhe 
            esa maggo visuddhiyà. 277.

5. "Transient are all conditioned things": 7 when this, with wisdom, one discerns, then is one disgusted with ill; 8 this is the path to purity. 277.

Story

    The Buddha, perceiving that many monks had meditated on impermanence in the past, advised them to continue that meditation.

NOTES:

 Saïkhàra is a multisignificant term. Here it is used in the sense of things conditioned by causes. Supermundane Nibbàna is not included in saïkhàra as it is not conditioned by any cause. It is causeless and timeless.

 Suffering caused by attending to the five Aggregates.


dhp278_B
Verse-Kệ 278

Tất cả các vật hữu lậu đều khổ não

6. Sabbe saṅkhārā dukkhā ‘ ti - yadā paññāya passati

Atha nibbindati dukkhe - esa maggo visuddhiyā.


6. "Tất cả các vật hữu lậu đều khổ não": Khi sáng suốt nhận thức phân biệt điều này, ta nhàm chán phiền não. Đó là con đường trong sạch (Thanh tịnh đạo). 278.

Tích chuyện

Đức Phật nhận thấy nhiều vị Tỳ-khưu hành thiền với đề mục "khổ não", khuyên các thầy nên tiếp tục.

SORROWFUL ARE ALL CONDITIONED THINGS

6. Sabbe saïkhàrà dukkhà'ti 
            yadà paññàya passati 
Atha nibbindati dukkhe 
            esa maggo visuddhiyà. 278.

6. "Sorrowful are all conditioned things": when this, with wisdom, one discerns, then is one disgusted with ill; this is the path to purity. 278.

Story

    The Buddha, perceiving that many monks had meditated on sorrow in the past, advised them to continue that meditation.


dhp279_B
Verse-Kệ 279

Tất cả đều vô ngã

7. Sabbe dhammā anattā'ti - yadā paññāya passati

Atha nibbindati dukkhe - esa maggo visuddhiyā.


7. Tất cả các pháp đều vô ngã" 1: Khi sáng suốt nhận thức phân biệt điều này, ta nhàm chán phiền não. Đó là con đường trong sạch279.

Tích chuyện

Đức Phật nhận thấy nhiều vị Tỳ-khưu hành thiền về lý vô ngã, khuyên dạy các thầy nên tiếp tục.

Chú thích

1.- Vô thường (anicca), khổ não (dukkha) và vô ngã anattā) là đặc tánh của tất cả những vật hữu lậu, hay tùy thế, tức là những gì phải do nguyên nhân tạo điều kiện để phát sanh. Do nhờ suy niệm về ba đặc tánh này mà chứng Niết-bàn. Hành giả có thể chọn đặc tánh nào thích hợp với mình nhứt trong ba đặc tánh ấy để hành.

vô ngã (anattā) là nền tảng của Phật giáo. Danh từ sankhārā, vật hữu lậu, được dùng trong hai câu đầu. Ở câu thứ ba, Đức Phật dùng danh từ dhamma, pháp. Bản chú giải gọi dhamma là uẩn (khandhā), và sankhārā bản chú giải cũng gọi là uẩn. Nếu vậy dhamma đồng nghĩa với sankhārā và như thế không có lý do nào Đức Phật dùng danh từ sankhārā ở hai câu đầu mà đến câu thứ ba lại dùng danh từ dhamma.

Saṅkhārā chỉ áp dụng cho những vật hữu lậuDhamma áp dụng cho cả hai, những vật hữu lậu và những vật vô lậu. Vậy trong câu thứ ba, các pháp, dhamma, bao gồm cả hai, các pháp hữu lậu, tại thế, và các pháp vô lậu, siêu thế. Để chỉ rằng dầu ở trạng thái Niết-bàn cũng không có một linh hồn trường tồn không biến đổi, Đức Phật dùng danh từ "Pháp", dhamma, ở câu thứ ba, là trạng thái siêu thế xác thực và không có linh hồn.

"Tất cả các thể chất đều vô ngã. Khi, do nhờ trí tuệ, ta chứng ngộ được (điều ấy), ta không chú tâm (thoát lên cao hơn) (thế gian) phiền não này. Đó là con đường trong sạch". -- Radhakrishnan. 

EVERYTHING IS SOULLESS

7. Sabbe dhammà anattà' ti 
            yadà paññàya passati 
Atha nibbindati dukkhe 
            esa maggo visuddhiyà. 279.

7. "All Dhammas are without a soul": 9 when this, with wisdom, one discerns, then is one disgusted with ill; this is the path to purity. 279.

Story

    The Buddha, perceiving that many monks had meditated on nor-soul in the past, advised them to continue that meditation.

NOTES:

 Impermanence (anicca), sorrow (dukkha) and no-soul (anatta) are the three characteristics of all things conditioned by causes. It is by contemplating them that one realizes Nibbàna. The aspirant may choose any characteristic that appeals to him most.

Anattà or no-soul is the crux of Buddhism. The term saïkhàra which is applied to any conditioned thing is used in the two previous verses, while in the third verse the term dhamma is used. The commentator interprets dhamma as the "aggregates" (khandhà). The same interpretation he gives to saïkhàra too. If by dhamma is meant saïkhàra, there is no reason for the Buddha to make a differentiation in the third verse.

Saïkhàra is applied only to those things conditioned by causes. Dhamma can be applied to both conditioned and unconditioned things and states. It embraces both conditioned and unconditioned things including Nibbàna. In order to show that even Nibbàna is free from a permanent soul the Buddha used the term dhamma in the third verse. Nibbàna is a positive supramundane state and is without a soul.

"All the elements of being are non-self. When one by wisdom realizes (this), he heeds not (is superior to) (this world of) sorrow, this is the path to purity". Radhakrishnan.


dhp280_B
Verse-Kệ 280

Kẻ lười biếng không chứng ngộ con đường

8. Uṭṭhānakālamhi nuṭṭhāno - yuvā balī ālasiyaṁ upeto

Saṁsannasaṅkappamano kusīto - paññāya maggaṁ alaso na vindati.


8. Người sống tiêu cực, uể oải, không tinh tấn chuyên cần lúc phải chuyên cần tinh tấn, người mà, dầu trẻ tuổi và khỏe mạnh, vẫn lười biếng và có tinh thần suy nhược, người ấy không có trí tuệ để chứng ngộ Con Đường280.

Tích chuyện

Nhiều vị tăng sĩ kéo nhau vào rừng hành thiền và đắc quả A-La-Hán trong lúc có một nhóm khác không chịu đi, ở lại chùa. Khi các vị ở rừng về, Đức Phật có lời chào đón thân thiện mà không có lời nào với các vị ở lại. Thái độ của Đức Phật khuyến khích và thúc đẩy các vị không đi càng tinh tấn thêm lên để cũng đắc quả A-La-Hán. Đêm đến, các vị ấy tận lực chuyên cần, nhưng không may, gặp phải trở ngại. Các vị kia phải đến hỗ trợ. Đức Phật giảng rằng người lười biếng dã dượi phải gặp nhiều khó khăn mới chứng ngộ được.

Chú thích

1.- Tinh thần suy nhượcSaṁsannasaṁkappamano, cái tâm trong ấy tư tưởng chơn chánh bị suy đồi.

THE SLOTHFUL DO NOT REALIZE THE PATH

8. Uññhànakàlamhi anuññhahàno 
            yuvà balã àlasiyam upeto
Samsannasaïkappamano kusãto 
            paññàya maggam alaso na vindati. 280.

8. The inactive idler who strives not when he should strive, who, though young and strong, is slothful, with (good) thoughts depressed, 10 does not by wisdom realize the Path. 280.

Story

    Many fellow monks excluding one who remained behind in the monastery, went to the forest and attained Arahantship. when they returned the Buddha exchanged friendly greetings with them but not with the one who had remained behind. This action of the Buddha stimulated him to strive to attain Arahantship. He strove hard in the night but unfortunately met with an accident which brought his fellow monks to attend on him. The Buddha commented on the difficulty of realization by an idler.

NOTES:

10  Samsannasaïkappamano literally, mind with right thoughts depressed.


dhp281_B
Verse-Kệ 281

Hãy thanh lọc thân, khẩu, ý

9. Vācānurakkhī manasā susaṁvuto kāyena ca akusalaṁ kayirā

Ete tayo kammapathe visodhaye ārādhaye maggaṁ isippaveditaṁ.


9. Canh phòng lời nói, thu thúc tâm, và thân không làm điều bất thiện. Hãy thanh lọc ba lối hành động và thành đạt con đường mà chư thánh hiền đã chứng ngộ281.

Tích chuyện

Một vị tăng sĩ có lời nói gây chia rẽ hai vị khác, vốn là bạn thân. Sau khi viên tịch, thầy tái sanh làm ngã quỷ có hình thù xấu xa. Đức Mục-Kiền-Liên (Moggallāna) gặp lại và trở về bạch với Đức Phật. Đức Phật giảng về hậu quả tai hại của lời nói đâm thọc, gây chia rẽ. 

PURIFY THOUGHTS, WORDS AND DEEDS

9. Vàcànurakkhã manasà susamvuto 
            kàyena ca akusalam na kayirà
Ete tayo kammapathe visodhaye 
            àràdhaye maggam isippaveditam. 281.

9. Watchful of speech, well restrained in mind, let him do nought unskilful through his body. Let him purify these three ways of action and win the path realized by the sages. 281.

Story

    A monk, having divided by slander two monks who were friends, was reborn as a hideous Peta. The Venerable Moggallàna saw him and mentioned it to the Buddha, who also had seen him on an earlier occasion. The Buddha thereupon commented on the evil consequences of slandering.


dhp282_B
Verse-Kệ 282

Hãy làm thế nào để tăng trưởng trí tuệ

10. Yogā ve jāyati bhūri - ayogā bhūrisaṅkhayo

Etaṁ dvedhā pathaṁ ñatvā bhavāya vibhavāya ca

Tath' attānaṁ niveseyya - yathā bhūri pavaḍḍhati.


10. Đúng thật vậy, do thiền định phát sanh trí tuệ. Không hành thiền, trí tuệ phai dần. Thông suốt con đường gồm hai ngõ, lợi và hại, ấy, hãy tự mình làm làm thế nào để trí tuệ phát sanh.  282.

Tích chuyện

Một vị Tỳ-khưu tên Pothila có tài học rộng, thông suốt Giáo Pháp, nhưng Đức Phật vẫn gọi là "Pothila trống rỗng" để khuyến khích thầy cố gắng đạt đến đạo quả A-La-Hán. Vị tăng sĩ hiểu ý, rút vào rừng sâu thanh vắng hành thiền. Chấp nhận lời khuyên của một Sa-di trẻ tuổi, thầy tinh tấn thực hành thiền định để đắc quả A-La-Hán. Đức Phật dùng tuệ nhãn thấy vậy, hiện thân đến trước thầy và dạy những lời trên.

ACT IN SUCH A WAY THAT YOU INCREASE YOUR WISDOM

10. Yogà ve jàyati bhuri 
            ayogà bhurisaïkhayo 
Etam dvedhà pathamñatvà 
            bhavàya vibhavàya ca
Tath' attànam niveseyya 
            yathà bhuri pavaddhati. 282.

10. Verily, from meditation arises wisdom. Without meditation wisdom wanes. Knowing this twofold path of gain and loss, let one so conduct oneself that wisdom may increase. 282.

Story

    A monk, named Poñhila, though well versed in the Dhamma was constantly addressed by the Buddha as "Empty Poñhila" in order to stimulate him to attain Arahantship. The monk took the hint and went to a distant place to meditate. Accepting the advice of a young novice, he meditated in order to attain Arahantship. The Buddha, perceiving him with His Divine Eye, projected His image before him and uttered this verse.


dhp283_B
dhp284_B
Verse-Kệ 283-284

Hãy dứt bỏ luyến ái ngày nào còn luyến ái, tâm còn bị trói buộc

11. Vanaṁ chindatha mā rukkhaṁ - vanato jāyati bhayaṁ

Chetvā vanañ ca vanathañ ca - nibbanā hotha bhikkhavo.

12. Yāvaṁ hi vanatho na chijjati - aṇumatto' pi narassa nārisu

Paṭibaddhamano va tāva so - vaccho khīrapako' va mātari.


11. Hãy đốn rừng (dục vọng) 1, nhưng không chặt cây thiệt 2. Do rừng (dục vọng) phát sanh sợ sệt. Hãy đốn ngã cả hai thứ rừng 3, rừng cây lớn và rừng cây nhỏ (của dục vọng). Này các Tỳ-khưu, hãy sống không rừng 4283.

12. Bởi vì, ngày nào còn một buội cây nhỏ (dục vọng) giữa nam và nữ chưa bị chặt ngã, ngày ấy tâm hãy còn bị trói buộc, giống như con bê đeo dính bò mẹ. 284.

Tích chuyện

Vài vị Tỳ-khưu già khóc một bà thí chủ, chết cũng lớn tuổi. Đức Phật khuyên các thầy thực hành tâm không luyến ái.

Chú thích

1.- Rừng - vana, có nghĩa là đám rừng của những dục vọng như tham ái, sân hậnsi mê.

2.- Khi Đức Phật vừa nói "hãy đốn rừng", có vài vị Tỳ-khưu hiểu sai, theo nghĩa trắng. Đọc ngay được tư tưởng sai lầm ấy Đức Phật thêm đoạn sau, dạy rõ rằng rừng đây không phải là cây thật sự mà chỉ là những dục vọng.

3.- Cây lớn và cây nhỏ - Vana có nghĩa là cây to và vanatha là những cây nhỏ. Ở đây, vana là những dục vọng lớn, có nhiều mặt năng lực và vanatha là những dục vọng nhỏ, ít năng lực hơn.

4.- Hãy sống không rừng - Tận diệt tất cả dục vọng bằng bốn Đạo, hãy làm người không dục vọng.

BE WITHOUT ATTACHMENT 
MIND IS IN BONDAGE AS LONG AS THERE IS ATTACHMENT

11. Vanam chindatha mà rukkham 
            vanato jàyati bhayam 
Chetvà vanañ ca vanathañ ca 
            nibbanà hotha bhikkhavo. 283.
12. Yàvam hi vanatho na chijjati 
            auumatto' pi narassa nàrisu 
Pañibaddhamano va tàva so 
            vaccho khãrapako' va màtari. 284.

11. Cut down the forest (of the passions 11), but not real trees. 12 From the forest (of the passions) springs fear. Cutting down both forest 13 and brushwood (of the passions), be forestless, 14 O bhikkhus. 283.

12. For as long as the slightest brushwood (of the passions) of man towards women is not cut down, so long is his mind in bondage, like the milch calf to its mother-cow. 284.

Story

    Some old monks wept when an old woman who used to minister unto them died. The Buddha advised them to practise non-attachment.

NOTES:

11  Here vana means forest of such passions as lust, hatred, and delusion.

12  When the Buddha said, "Cut down the forest", some newly ordained monks erroneously gave the expression its literal meaning. The Buddha, reading their thoughts, corrected them, stating that what he meant was not actual trees but passions.

13  Vana means big trees and vanatha means smaller trees. Here vana means the powerful passions and vanathameans the lesser passions.

14  Having eradicated all passions by means of the four Paths, be passionless.


dhp285_B
Verse-Kệ 285

Hãy phát triển con đường an tịnh

13. Ucchinda sineham attano - kumudaṁ sāradikaṁ' va pāṇinā

Santimaggam eva brūhaya - nibhānaṁ sugatena desitaṁ.


13. Hãy cắt đứt dây tình cảm như ngắt cành sen mùa thu. Hãy phát triển con đường an tịnh. Niết-bàn đã được Đức Thiện Thệ truyền dạy. 285.

Tích chuyện

Một vị Tỳ-khưu đang hành thiền về ô trược của thể xác nhưng không hiệu quả. Đức Phật thấy vậy trao cho thầy một cành sen và dạy thầy an trụ tâm vào đây. Vị Tỳ-khưu thành công, đắc những từng thiền và phát triển tâm lực. Theo lời khuyên của Đức Phật về sau thầy đắc quả A-La-Hán.

DEVELOP THE PATH OF PEACE

13. Ucchinda sineham attano 
            kumudam sàradikam' va pàuinà 
Santimaggam eva bruhaya 
            nibbànam sugatena desitam. 285.

13. Cut off your affection, as though it were an autumn lily, with the hand. Cultivate the very path of peace. Nibbàna has been expounded by the Auspicious One. 285.

Story

    A young monk was meditating on the impurities of the body but with no effect. The Buddha, perceiving his disposition, gave him a lotus as a focus for mental concentration. The monk succeeded in his meditation, gained the jhànas and developing his faculties as advised by the Buddha, later attained Arahantship.


dhp286_B
Verse-Kệ 286

Kẻ si mê khôg nhận định mối hiểm họa của sự chết

14. Idha vassaṁ vasissāmi - idha hemantagimhisu

Iti bālo vicinteti - antarāyaṁ na bujjhati.


14. "Ta sẽ sống ở đây trong mùa mưa, ở đây trong mùa thu, và mùa hạ. Kẻ cuồng dại nghĩ như vậy. Họ không nhận định mối hiểm nguy (của sự chết). 286.

Tích chuyện

Một thương gia, cùng tùy tùng gia thuộc, dừng chơn nghỉ bên bờ sông. Lúc ấy trời mưa tầm tã. Ông suy nghĩ: "Ta sẽ bán hết hàng, rồi sẽ lưu lại đây mùa này, kế mùa kia". Đức Phật nhận thấy rằng trong bảy ngày nữa ông sẽ chết. Đại đức A Nan Đà (Ānanda) đến gặp và cho ông hay về cái chết sắp đến của ông. Ông thương gia hối hận, thỉnh Đức Phậtchư Tăng về chỗ ngụ, để bát cúng dường. Đức Phật khuyên ông nên hành thiền về cái chết. Ông làm theo, đắc từng Thánh đầu tiên, và tịch diệt như Đức Phật đã tiên đoán.

THE IGNORANT REALIZE NOT THE FEAR OF DEATH

14. Idha vassam vasissàmi 
            idha hemantagimhisu 
Iti bàlo vicinteti 
            antaràyam na bujjhati. 286.

14. Here will I live in the rainy season, here in the autumn and in the summer: thus muses the fool. He realizes not the danger (of death). 286.

Story

    A merchant with his retinue halted by a river. There was heavy rain and he thought of selling his goods and spending the various seasons there. The Buddha perceived that the man would die in seven days. The Venerable ânanda called on the merchant and informed him of his impending death. He was filled with remorse and, inviting the Buddha and the Sangha, gave them alms. The Buddha advised him to meditate on death. He did so and later attained the first state of Sainthood and passed away as predicted.


 dhp287_B
Verse-Kệ 287

Cái chết nắm lấy kẻ đam mê

15. Taṁ puttapasusammattaṁ - byāsattamanasaṁ naraṁ

Suttaṁ gāmaṁ mahogho' va maccu ādāya gacchati.


15. Người say đắm, giữ tâm bám chặt vào con cái và đàn gia súc, cái chết sẽ bám lấy người ấy và cuốn đi như đám lụt to (quét sạch) cả một làng đang ngon giấc. 287.

Tích chuyện

Xem Tích chuyện phía dưới câu 114. 

DEATH SEIZES THE DOTING MAN

15. Tam puttapasusammattam 
            byàsattamanasam naram 
Suttam gàmam mahogho' va 
            maccu àdàya gacchati. 287.

15. The doting man with mind set on children and herds, death seizes and carries away, as a great flood (sweeps away) a slumbering village. 287.

Story

     A young mother named Kisà Gotami, lost her only child. As she had never come across an instance of death she carried the corpse on her hip believing the child to be ill and searching for a remedy. A wise man directed her to the Buddha who advised her to collect some mustard seed from a household where none had died. She got mustard but found no household where none had died. The Truth dawned upon her. When she returned, the Buddha preached the Dhamma to her. She became a nun. One day she observed the flickering of a lamp and reflected on the impermanence of life. The Buddha projected His image before her and uttered this stanza comparing life to a flickering lamp.


dhp288_B
dhp289_B
Verse-Kệ 288-289

Trong giờ phút lâm chung không có sự bảo trợ của ai cả

16. Na santi puttā taṇnāya - na pitā na' pi bandhavā

Antakenādhipannassa - natthi ñātisu tāṇatā.

17. Etaṁ atthavasaṁ natvā - paṇḍito sīlasaṁvuto

Nibbānagamanaṁ maggaṁ khippam' eva visodhaye.


16. Không có con cái nào để bảo trợ ta, không có cha, hay chí đến họ hàng cũng không có, bởi vì người bị cái chết tràn ngập không thể tìm sự bảo trợhọ hàng288.

17. Nhận định sự kiện ấy, người có giới hạntrí tuệ nhanh chóng mở con đường dẫn đến Niết-bàn. 289.

Tích chuyện

Một thiếu phụ tên Patācārā mất những người thân yêu gần gũi nhứt của bà trong một trường hợp vô cùng thê thảm. Bà phát điên và chạy cùng đường. Đức Phật từ bi an ủi bà và đọc những câu trên.

NO PROTECTION FROM ANY AT THE MOMENT OF DEATH

16. Na santi puttà tàuàya 
            na pità na' pi bandhavà 
Antakenàdhipannassa 
            natthiñàtisu tàuatà. 288.
17. Etam atthavasamñatvà 
            paudito sãlasamvuto 
Nibbànagamanam maggam 
            khippam eva visodhaye. 289.

16. There are no sons for one's protection, neither father nor even kinsmen; for one who is overcome by death no protection is to be found among kinsmen. 288.

17. Realizing this fact, let the virtuous and wise person swiftly clear the way that leads to Nibbàna. 289.

Story

    A woman, named Pañàcàrà, lost her near and dear ones under tragic circumstances. She went mad and was running about the street. The Buddha had compassion on her and consoled her, uttering these verses.

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1843)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2096)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 1719)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1651)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1614)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1597)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1977)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1680)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1736)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1723)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 1655)
27 Tháng Mười 2020(Xem: 1690)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 1664)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 1569)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 1572)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 3019)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 1016817)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 2746)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 2946)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 2605)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 2593)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 2152)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 2247)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 1819)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1931)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 2036)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 2442)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 1757)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1934)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 2111)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1845)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 2616)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 2516)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3272)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5048)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6711)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 2229)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 2215)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 2061)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1977)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 7528)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1780)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1857)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 4752)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 3715)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng