Kinh Pháp Cú (TN), Vài Lời Xin Thưa Trước & Sau - The Dhammapada, Preface

28 Tháng Mười Một 20189:25 SA(Xem: 99)
Kinh Pháp Cú (TN), Vài Lời Xin Thưa Trước & Sau - The Dhammapada, Preface

dhp134_B(Kệ số 134) Nếu biết giữ mồm trong yên-lặng, Như chuông nứt bể chẳng tiếng ngân.
Đó là người chứng-đắc Niết-bàn, Trong tâm chẳng mang niềm hiềm-hận.
Verse 134: If you can keep yourself calm and quiet like a broken gong which is no longer resonant,
you are sure to realize Nibbana, there will be no harshness in you.



Kinh Pháp Cú (TN), Vài Lời Xin Thưa Trước & Sau - The Dhammapada, Preface

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu

Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka

Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net 


_____________________

MỤC LỤC

CONTENTS


Vài lời xin thưa trước

 

[01]  Phẩm 1 - Phẩm Song-yếu

1) Tích chuyện vị Tăng mù - Kệ số 001

2) Tích chuyện chàng thanh-niên được sanh lên cõi Trời - Kệ số 002

3) Tích chuyện Trưởng-lão Thi-sa - Kệ số 003 và 004

4) Tích chuyện về nữ-quái Kha-ly - Kệ số 005

5) Tích chuyện chư Tăng ở Cô-sâm-bi - Kệ số 006

6) Tích chuyện Trưởng-lão Khả-la - Kệ số 007 và 008

7) Tích chuyện về Đề-bà-đạt-đa - Kệ số 009 và 010

8) Tích chuyện hai Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên - Kệ số 011 và 012

9) Tích chuyện về Tôn-giả Nan-đà - Kệ số 013 và 014

10) Tích chuyện người đồ-tể Thuần-đà - Kệ số 015

11) Tích chuyện ông Đàm-mi - Kệ số 016

12) Tích chuyện về tội-ác của Đề-bà-đạt-đa - Kệ số 017

13) Tích chuyện cô Sử-ma-na - Kệ số 018

14) Tích chuyện hai vị Tỳ-kheo - Kệ số 019 và 020

 

Phẩm 2 - Phẩm Không Phóng-dật

 

15) Tích chuyện Hoàng-hậu Sa-mã-hoa - Kệ số 021, 022 và 023

16) Tích chuyện người chủ ngân-hàng -Kệ số 024

17) Tích chuiyện Tôn-giả Tiểu Phan-tha-ca - Kệ số 025

18) Tích chuyện "Hội-hè tuổi trẻ vui-nhộn" - Kệ số 026 và 027

19) Tích chuyện Tôn-giả Đại Ca-diếp - Kệ số 028

20) Tích chuyện hai vị Tỳ-kheo bạn đồng-tu - Kệ số 029

21) Tích chuyện Mã-Hà - Kệ số 030

22) Tích chuyện một vị Tỳ-kheo - Kệ số 031

23) Tích chuyện Trưởng-lão Ni-ga-ma 86 - Kệ số 032

 

Phẩm 3 - Phẩm Tâm

 

24) Tích chuyện Trưởng-lão Mễ-ghi-dạ - Kệ số 033 và 034

25) Tích chuyện bà Mã-thị-Kha - Kệ số 035

26) Tích chuyện về một Tỳ-kheo bất-mãn - Kệ số 036

27) Tích chuyện Sa-di Tha-di-nê - Kệ số 037

28) Tích chuyện Trưởng-lão Chí-ta-hạt - Kệ số 038 và 039

29) Tích chuyện Năm trăm vị Tỳ-kheo tu Thiền - Kệ số 040

30) Tích chuyện vị Tỳ-kheo Phù-ti-cát - Kệ số 041

31) Tích chuyện người chăn bò Nan-đà - Kệ số 042

32) Tích chuyện về Sở-rị-gia - Kệ số 043

 

Phẩm 4 - Phẩm Hoa

 

33) Tích chuyện các vị Tỳ-kheo bàn về thế đất - Kệ số 044 và 045

34) Tích chuyện vị Tỳ-kheo quán thân như ảo-ảnh - Kệ số 046

35) Tích chuyện vua Tỳ-lưu-ly - Kệ số 047

36) Tích chuyện bà Khưu-ma-ly - Kệ số 048

37) Tích chuyện ông Cơ-sĩ-gia, kẻ giàu-có mà rít-róng - Kệ số 049

38) Tích chuyện ẩn-sĩ Phả-vị-gia - Kệ số 050

39) Tích chuyện cư-sĩ Chúc-pha-nhi - Kệ số 051 và 052

40) Tích chuyện bà tín-nữ Vi-sa-kha - Kệ số 053

41) Tích chuyện về câu hỏi của Tôn-giả A-nan - Kệ số 054 và 055

42) Tích chuyện Tôn-giả Đại Ca-diếp - Kệ số 056

43) Tích chuyện Trưởng-lão Cơ-thi-ca - Kệ số 057

44) Tích chuyện hai người bạn khác đạo - Kệ số 058 và 059

 

Phẩm 5 - Phẩm Ngu

 

45) Tích chuyện một mgười đi tìm hái hoa sen trắng - Kệ số 060

46) Tích chuyện người Sa-di của Tôn-giả Đại Ca-diếp - Kệ số 061

47) Tích chuyện người keo-kiết tên A-nan-đà - Kệ số 062

48) Tích chuyện hai người móc túi - Kệ số 063

49) Tích chuyện Trưởng-lão Ưu-đà-di - Kệ số 064

50) Tích chuyện ba mươi chàng thanh-niên - Kệ số 065

51) Tích chuyện người cùi Sở-phù-bút - Kệ số 066

52) Tích chuyện một người nông-phu - Kệ số 067

53) Tích chuyện người bán hoa Sử-mã-na - Kệ số 068

54) Tích chuyện Nữ-trưởng-lão Bích-Liên - Kệ số 069

55) Tích chuyện Trưởng-lão Giang-bửu-kha - Kệ số 070

56) Tích chuyện về ngạ-quỉ A-hi - Kệ số 071

57) Tích chuyện về ngạ-quỉ Sa-thi-cừu - Kệ số 072

58) Tích chuyện về người gia-chủ tên Tâm - Kệ số 073 và 074

59) Tích chuyện Sa-di Thi-sa - Kệ số 075

 

[02]  Phẩm 6 - Phẩm Hiền-trí

60) Tích chuyện Trưởng-lão Giả-đa - Kệ số 076

61) Tích chuyện hai vị tỳ-kheo Át-sa và Phú-na - Kệ số 077

62) Tích chuyện Tỳ-kheo Xà-nặc - Kệ số 078

63) Tích chuyện Trưởng-lão Kha-phi-na - Kệ số 079

64) Tích chuyện Sa-di Phan-di-ta - Kệ số 080

65) Tích chuyện Trưởng-lão Phát-di-gia - Kệ số 081

66) Tích chuyện tín-nữ Kha-nhã - Kệ số 082

67) Tích chuyện về mùa an-cư ở Vệ-lan-già - Kệ số 083

68) Tích chuyện Trưởng-lão Đàm-mi-kha - Kệ số 084

69) Tích chuyện những người nghe giảng pháp - Kệ số 085 và 086

70) Tích chuyện các Tỳ-kheo sau mùa an-cư - Kệ số 087, 088, 089

 

Phẩm 7 - Phẩm A-la-hán

 

71) Tích chuyện về y-sĩ Kỳ-bà hỏi Đức Phật - Kệ số 090

72) Tích chuyện Tôn-giả Đại Ca-diếp ở lại Trúc-lâm - Kệ số 091

73) Tích chuyện Trưởng-lão Lã-tha-sĩ - Kệ số 092

74) Tích chuyện Trưởng lão A-na-luật - Kệ số 093

75) Tích chuyện Trưởng-lão Ca-chiên-diên - Kệ số 094

76) Tích chuyện Trưởng-lão Xá-lợi-phất bị vu-cáo - Kệ số 095

77) Tích chuyện vị Sa-di ở Cô-sâm-bi - Kệ số 096

78) Tích chuyện về một lời nói của Đại-Đức Xá-lợi-phất - Kệ số 097

79) Tích chuyện Trưởng-lão Lê-va-ta - Kệ số 098

80) Tích chuyện về một người đàn-bà quyến-rũ - Kệ số 099

 

Phẩm 8 - Phẩm Ngàn

 

81) Tích chuyện người đao-phủ Tam-bá-đà - Kệ số 100

82) Tích chuyện về Bá-hi-gia - Kệ số 101

83) Tích chuyện Ni-cô Khuôn-đà-la - Kệ số 102 và 103

84) Tích chuyện thanh-niên Bà-la-môn Anh-tha-bút - Kệ số 104 và 105

85) Tích chuyện người cậu của Tôn-giả Xá-lợi-phất - Kệ số 106

86) Tích chuyện người cháu của Tôn-giả Xá-lợi-phất - Kệ số 107

87) Tích chuyện người bạn của Tôn-giả Xá-lợi-phất - Kệ số 108

88) Tích chuyện về cậu bé Trường-Thọ - Kệ số 109

89) Tích chuyện Sa-di Sầm-khí-ca - Kệ số 110

90) Tích chuyện Tôn-giả Khuôn-đà-na - Kệ số 111

91) Tích chuyện Trưởng-lão Xà-nô - Kệ số 112

92) Tích chuyện Nữ-Trưởng-lão Phả-tha-ca - Kệ số 113

93) Tích chuyện Nữ-Trưởng-lão Kỷ-sa-cơ - Kệ số 114

94) Tích chuyện Nữ-Trưởng-lão Bá-hư-phù - Kệ số 115

 

Phẩm 9 - Phẩm Ác

 

95) Tích chuyện vợ chồng ông Cù-lê-kha - Kệ số 116

96) Tích chuyện Tỳ-kheo Sĩ-gia-sa - Kệ số 117

97) Tích chuyện Thiên-nữ Lã-giai - Kệ số 118

98) Tích chuyện Trưởng-giả Cấp-cô-độc - Kệ số 119 và 120

99) Tích chuyện một vị tỳ-kheo cẩu-thả - Kệ số 121

100) Tích chuyện ông nhà giàu Bình-lập - Kệ số 122

101) Tích chuyện thương-gia Đại-Đà-na - Kệ số 123

102) Tích chuyện vợ chồng người thợ săn Khúc-cư - Kệ số 124

103) Tích chuyện người thợ săn Cổ-kha - Kệ số 125

104) Tích chuyện viên hồng-ngọc - Kệ số 126

105) Tích chuyện về ba nhóm Tỳ-kheo - Kệ số 127

106) Tích chuyện vương-tử Thiện-giác trang - Kệ số 128

 

Phẩm 10 - Phẩm Hình-phạt

 

107) Tích chuyện hai nhóm Tỳ-kheo đánh nhau - Kệ số 129

108) Tích chuyện một nhóm Tỳ-kheo hay doạ-nạt - Kệ số 130

109) Tích chuyện một lũ trẻ đập rắn - Kệ số 131 và 132

110) Tích chuyện Trưởng-lão Khuôn-đà-na - Kệ số 133 và 134

111) Tích chuyện các bà thọ Bát-quan-trai - Kệ số 135

112) Tích chuyện con trăn - Kệ số 136

113) Tích chuyện Tôn-giả Đại Mục-kiền-liên - Kệ số 137, 138, 139 và 140

114) Tích chuyện Tỳ-kheo Bá-hộ-thăng - Kệ số 141

115) Tích chuyện vị đại-thần San-tạ-tị - Kệ số 142

116) Tích chuyện Trưởng-lão Phí-lộ-thi - Kệ số 143 và 144

117) Tích chuyện vị Sa-di Sử-kha - Kệ số 145

 

Phẩm 11 - Phẩm Già

 

118) Tích chuyện về các bạn đạo của bà Vi-sa-kha - Kệ số 146

119) Tích chuyện nàng Sĩ-mã - Kệ số 147

120) Tích chuyện Tỳ-kheo-ni Úc-ta-ra - Kệ số 148

121) Tích chuyện các tỳ-kheo tự-phụ - Kệ số 149

122) Tích chuyện công-chúa Gia-nhã-ba - Kệ số 150

123) Tích chuyện Hoàng-hậu Mạt-lợi - Kệ số 151

124) Tích chuyện Tỳ-kheo Lã-lưu - Kệ số 152

125) Tích chuyện Đức Phật thành Đạo - Kệ số 153 và 154

126) Tích chuyện con ông Đại-đà-na - Kệ số 155 và 156

 

[03]  Phẩm 12 - Phẩm Tự-ngã

127) Tích chuyện Vương-tử Bồ-đề - Kệ số 157

128) Tích chuyện Trưởng-lão Ưu-ba-nan-đà - Kệ số 158

129) Tích chuyện Trưởng-lão Phả-đà-ni - Kệ số 159

130) Tích chuyện bà mẹ của Cưu-ma-ca-diếp - Kệ số 160

131) Tích chuyện ông Ưu-bà-sa - Kệ số 161

132) Tích chuyện về một tiền-kiếp của Đề-bà-đạt-đa - Kệ số 162

133) Tích chuyện về sự chia-rẽ Giáo-hội - Kệ số 163

134) Tích chuyện Tỳ-kheo Kha-la - Kệ số 164

135) Tích chuyện thiện-nam Chu-la - Kệ số 165

136) Tích chuyện Trưởng-lão Ất-tha-đạt - Kệ số 166

 

Phẩm 13 - Phẩm Thế-gian

 

137) Tích chuyện một tỳ-kheo trẻ - Kệ số 167

138) Tích chuyện vua Tịnh-phạn - Kệ số 168 và 169

139) Tích chuyện các tỳ-kheo quán-tưởng bọt nước - Kệ số 170

140) Tích chuyện Vương-tử Vô-uý - Kệ số 171

141) Tích chuyện Trưởng-lão Sầm-mạc-gia - Kệ số 172

142) Tích chuyện Trưởng-lão Vô-não - Kệ số 173

143) Tích chuyện cô gái quay tơ - Kệ số 174

144) Tích chuyện ba mươi tỳ-kheo đắc thần-thông - Kệ số 175

145) Tích chuyện bà Chỉnh-ca-mã - Kệ số 176

146) Tích chuyện công-đức Đại-bố-thí - Kệ số 177

147) Tích chuyện con trai ông Cấp-cô-độc - Kệ số 178

 

Phẩm 14 - Phẩm Phật-đà

 

148) Tích chuyện ba cô gái của Ma-vương - Kệ số 179 và 180

149) Tích chuyện Đức Phật từ cõi Trời Đao-lợi trở lại thế-gian - Kệ số 181

150) Tích chuyện Long-vương Y-ra-kha - Kệ số 182

151) Tích chuyện về lời thưa hỏi của Tôn-giả A-nan - Kệ số 183, 184 và 185

152) Tích chuyện vị tỳ-kheo bất-mãn - Kệ số 186 và 187

153) Tích chuyện vị Bà-la-môn Ất-ghi-đạt - Kệ số 188, 189, 190, 191 và 192

154) Tích chuyện về nơi đản-sanh của bực Thánh - Kệ số 193

155) Tích chuyện các tỳ-kheo bàn về hạnh-phước - Kệ số 194

156) Tích chuyện về tượng Phật Ca-diếp - Kệ số 195 và 196

 

Phẩm 15 - Phẩm An-lạc

 

157) Tích chuyện giải-hoà giòng-họ Thích-ca - Kệ số 197, 198 và 199

158) Tích chuyện Ma-vương khuấy Phật - Kệ số 200

159) Tích chuyện vua xứ Câu-tát-la thất-trận - Kệ số 201

160) Tích chuyện đôi vợ chồng sắp cưới - Kệ số 202

161) Tích chuyện người chăn mất con bò - Kệ số 203

162) Tích chuyện vua Ba-tư-nặc bớt ăn - Kệ số 204

163) Tích chuyện Trưởng-lão Thi-sa ngồi Thiền - Kệ số 205

164) Tích chuyện vua Trời Đế-Thích săn-sóc Phật - Kệ số 206, 207 và 208

 

Phẩm 16 - Phẩm Thân-ái

 

165) Tích chuyện ba người khất-sĩ - Kệ số 209, 210 và 211

166) Tích chuyện một gia-chủ giàu-có - Kệ số 212

167) Tích chuyện bà Vi-sa-kha khóc cháu - Kệ số 213

168) Tích chuyện các ông hoàng xứ Ly-xa - Kệ số 214

169) Tích chuyện chàng thanh-niên Anh-thi - Kệ số 215

170) Tích chuyện người nông-phu Bà-la-môn - Kệ số 216

171) Tích chuyện các thanh-niên kính-mộ Tôn-giả Ca-diếp - Kệ số 217

172) Tích chuyện vị Trưởng-lão đắc quả A-na-hàm - Kệ số 218

173) Tích chuyện gia-chủ Nan-đi-gia - Kệ số 219 và 220

 

Phẩm 17 - Phẩm Sân-hận

 

174) Tích chuyện công-chúa Lỗ-hi-nhi - Kệ số 221

175) Tích chuyện vị Thọ-thần - Kệ số 222

176) Tích chuyện cô tín-nữ Úc-ta-ra - Kệ số 223

177) Tích chuyện Tôn-giả Mục-kiền-liên hỏi Phật - Kệ số 224

178) Tích chuyện một người Bà-la-môn tự-nhận là cha Đức Phật - Kệ số 225

179) Tích chuyện nô-tỳ Phú-na - Kệ số 226

180) Tích chuyện chàng thanh-niên A-tu-la - Kệ số 227, 228, 229 và 230

181) Tích chuyện sáu vị tỳ-kheo mang guốc - Kệ số 231, 232, 233 và 234

 

Phẩm 18 - Phẩm Ô-uế

 

182) Tích chuyện con của người đồ-tể - Kệ số 235, 236, 237 và 238

183) Tích chuyện người Bà-la-môn làm việc thiện - Kệ số 239

184) Tích chuyện ham áo cà-sa của Trưởng-lão Thi-sa - Kệ số 240

185) Tích chuyện tỳ-kheo Lã-lưu-đà-di - Kệ số 241

186) Tích chuyện người bị vợ ngoại-tình - Kệ số 242 và 243

187) Tích chuyện tỳ-kheo Chu-la-sĩ - Kệ số 244 và 245

188) Tích chuyện năm người cãi nhau về ngũ-giới - Kệ số 246, 247 và 248

189) Tích chuyện vị tỳ-kheo ganh-tị - Kệ số 249 và 250

190) Tích chuyện năm người ngồi nghe pháp - Kệ số 251

191) Tích chuyện vị hào-phú Mẫn-đà-kha - Kệ số 252

192) Tích chuyện tỳ-kheo Úc-gia - Kệ số 253

193) Tích chuyện ông Tu-bạt-đà-la, vị đệ-tử chót của Đức Phật- Kệ số 254 và 255

 

Phẩm 19 - Phẩm Pháp-trụ

 

194) Tích chuyện các vị thẩm-phán - Kệ số 256 và 257

195) Tích chuyện sáu vị tỳ-kheo ba-hoa. - Kệ số 258

196) Tích chuyện Trưởng-lão Nhứt-Kệ-tụng - Kệ số 259

197) Tích chuyện Trưởng-lão Phát-di-gia - Kệ số 260 và 261

198) Tích chuyện các tỳ-kheo ganh-tị - Kệ số 262 và 263

199) Tích chuyện tỳ-kheo Hạt-tha-ca - Kệ số 264 và 265

200) Tích chuyện người Bà-la-môn tự nhận là tỳ-kheo - Kệ số 66 và 267

201) Tích chuyện các người ngoại-đạo - Kệ số 268 và 269

202) Tích chuyện người đánh cá tên là Thánh-Hiền - Kệ số 270

203) Tích chuyện các tỳ-kheo tự-mãn - Kệ số 271 và 272

 

Phẩm 20 - Phẩm Đạo

 

204) Tích chuyện các tỳ-kheo bàn về đường đi. - Kệ số 273, 274, 275 và 276

205) Tích chuyện các tỳ-kheo quán chiếu về Vô-thường, Khổ và Vô-ngã - Kệ số 277, 278 và 279

206) Tích chuyện tỳ-kheo Thi-sa lười nhác - Kệ số 280

207) Tích chuyện ngạ-quỉ đầu heo mình người - Kệ số 281

208) Tích chuyện Trưởng-lão Phổ-thi-la - Kệ số 282

209) Tích chuyện năm vị tỳ-kheo già - Kệ số 283 và 284

210) Tích chuyện con của người thợ bạc - Kệ số 285

211) Tích chuyện vị thương-gia Đại-Nghiệp - Kệ số 286

212) Tích chuyện bà Kỷ-sa-cơ - Kệ số 287

213) Tích chuyện bà Phả-tha-ca - Kệ số 288 và 289

 

[04]  Phẩm 21 - Phẩm Tạp-lục

214) Tích chuyện công-đức xưa của Đức Phật. - Kệ số 290.

215) Tích chuyện một bà hay ăn hột gà. - Kệ số 291.

216) Tích chuyện các tỳ-kheo đan dép cỏ. - Kệ số 292 và 293.

217) Tích chuyện Trưởng-lão Phát-di-gia, người thấp-lùn - Kệ số 294 và 295.

218) Tích chuyện con của người đốn củi. - Sáu bài Kệ, từ số 296 đến số 301.

219) Tích chuyện vị tỳ-kheo ở Tỳ-da-ly. - Kệ số 302.

220) Tích chuyện về vị gia-chủ Chi-ta. - Kệ số 303.

221) Tích chuyện cô Chu-la-sử. - Kệ số 304.

222) Tích chuyện Trưởng-lão độc-cư Y-kha. - Kệ số 305.

 

Phẩm 22 - Phẩm Địa-ngục

 

223) Tích chuyện bà Sơn-đà-ly. - Kệ số 306.

224) Tích chuyện Tôn-giả Mục-kiền-liên thấy ngạ-quỉ. - Kệ số 307.

225) Tích chuyện các tỳ-kheo tăng-thượng-mạn. - Kệ số 308.

226) Tích chuyện thanh-niên Khê-ma-ca. - Kệ số 309 và 310.

227) Tích chuyện vị tỳ-kheo xem nhẹ giới-cấm nhỏ. - Kệ số 311, 312, 313.

228) Tích chuyện người vợ ghen-tuông. - Kệ số 314.

229) Tích chuyện các tỳ-kheo qua muà an-cư nơi biên-ải - Kệ số 315.

230) Tích chuyện nhóm loã-thể Ni-kiền-tử. - Kệ số 316 và 317.

231) Tích chuyện nhóm người dị-giáo. - Kệ số 318 và 319.

 

Phẩm 23 - Phẩm Voi

 

232) Tích chuyện bà Mã-can-di-hoa. - Kệ số 320, 321 và 322.

233) Tích chuyện người quản-tượng. - Kệ số 323.

234) Tích chuyện người cha già bị các con ruồng-bỏ. - Kệ số 324.

235) Tích chuyện vua Ba-tư-nặc ăn quá no. - Kệ số 325.

236) Tích chuyện Sa-di Sà-nhu. - Kệ số 326.

237) Tích chuyện con voi già. - Kệ số 327.

238) Tích chuyện con voi hầu-hạ Phật. - Kệ số 328, 329 và 330.

239) Tích chuyện Ma-vương cám-dỗ Phật. - Kệ số 331, 332 và 333.

 

Phẩm 24 - Phẩm Tham-ái

 

240) Tích chuyện con cá vàng. - Kệ số 334, 335, 336 và 337.

241) Tích chuyện con heo nái - Sáu bài Kệ từ số 339 đến số 343

242) Tích chuyện tên trộm bị xử tử. - Kệ số 344

243) Tích chuyện các người tù bị xiềng-xích - Kệ số 345 và 346

244) Tích chuyện Hoàng-hậu Khê-ma - Kệ số 347

245) Tích chuyện người diễn trò nhào lộn - Kệ số 348

246) Tích chuyện người thiện-xạ - Kệ số 349 và 350

247) Tích chuyện Tôn-giả La-hầu-la bị Ma khuấy - Kệ số 351 và 352

248) Tích chuyện ẩn-sĩ Ưu-ba-ca - Kệ số 353

249) Tích chuyện Trời Đế-Thích thưa hỏi Phật - Kệ số 354

250) Tích chuyện một người tuyệt-tự - Kệ số 355

251) Tích chuyện vị Thiên-nam An-khư-ra - Kệ số 356, 357, 358, và 359

 

Phẩm 25 - Phẩm Tỳ-kheo

 

252) Tích chuyện năm vị Tỳ-kheo cãi nhau về năm căn - Kệ số 360 và 361

253) Tích chuyện vị Tỳ-kheo giết con thiên-nga - Kệ số 363

254) Tích chuyện Tỳ-kheo Cơ-khả-ly - Kệ số 363

253) Tích chuyện Trưởng-lão Pháp-hỉ - Kệ số 364.

256) Tích chuyện vị Tỳ-kheo muốn ngả theo Đề-bà - Kệ số 365 và 366

257) Tích chuyện người bố-thí hoa quả đầu mùa - Kệ số 367

258) Tích chuyện mẹ của Trưởng-lão Sơn-na - Chín bài Kệ từ số 368 đến 376

259) Tích chuyện Tỳ-kheo nhìn hoa lài rơi khi ngồi Thiền - Kệ số 377

260) Tích chuyện Trưởng-lão San-ta-kha - Kệ số 378

261) Tích chuyện Trưởng-lãi Nan-ga-la - Kệ số 379 và 380

262) Tích chuyện Tỳ-kheo Hoa-kha-ly - Kệ số 381

263) Tích chuyện Sa-di Sữ-mã - Kệ số 382

 

Phẩm 26 - Phẩm Bà-la-môn

 

264) Tích chuyện vị Bà-la-môm gọi tâng các vị Tỳ-kheo - Kệ số 383

265) Tích chuyện về hai pháp: Chỉ và Quán - Kệ số 384

266) Tích chuyện Ma-vương thưa hỏi Phật - Kệ số 385

267) Tích chuyện một vị Bà-la-môn hỏi Phật - Kệ số 386

268) Tích chuyện Tôn-giả A-nan nhìn hào-quang Phật - Kệ số 387

269) Tích chuyện một vị Bà-la-môn ẩn-sĩ - Kệ số 388

270) Tích chuyện nhẫn-nhục của Tôn-giả Xá-lợi-phất - Kệ số 389 và 390

271) Tích chuyện Ni-bà Ba-xà-ba-đề - Kệ số 391

272) Tích chuyện Tôn-giả Xá-lợi-phất lạy mỗi đêm - Kệ số 392

273) Tích chuyện vị Bà-la-môn Gia-thi-la - Kệ số 393

274) Tích chuyện vị Bà-la-môn lừa gạt - Kệ số 394

275) Tích chuyện Ni-bà Kỷ-sa-cơ tu khổ-hạnh - Kệ số 395

276) Tích chuyện vị Bà-la-môn ở Xá-vệ đến hỏi Phật - Kệ số 396

277) Tích chuyện Tỳ-kheo Úc-ga - Kệ số 397

278) Tích chuyện đấu trâu - Kệ số 398

279) Tích chuyện bốn anh em lỗ-mãng - Kệ số 399

280) Tích chuyện Tôn-giả Xá-lợi-phất bị mẹ nhiếc-móc - Kệ số 400

281) Tích chuyện Ni-bà Bích-Liên - Kệ số 401

282) Tích chuyện người nô-lệ đắc quả A-la-hán - Kệ số 402

283) Tích chuyện Ni-bà Khê-ma - Kệ số 403

284) Tích chuyện Trưởng-lão Thi-sa và vị thần-linh - Kệ số 404

285) Tích chuyện vị Tỳ-kheo bị đánh-đập - Kệ số 405

286) Tích chuyện bốn vị Sa-di - Kệ số 406

287) Tích chuyện Trưởng-lão Đại-Phan - Kệ số 407

288) Tích chuyện Trưởng-lão Phí-linh-đa - Kệ số 408

289) Tích chuyện vị Tỳ-kheo lượm vải - Kệ số 409

290) Tích chuyện Tôn-giả Xá-lợi-phất và việc dâng y - Kệ số 410

291) Tích chuyện Tôn-giả Mục-kiền-liên bị hiểu lầm - Kệ số 411

292) Tích chuyện Sa-di Lê-va-ta - Kệ số 412

293) Tích chuyện Trưởng-lão Can-đà - Kệ số 413

294) Tích chuyện Trưởng-lão Sĩ-hoa-ly - Kệ số 414

295) Tích chưyện Trưởng-lão Sơn-đà - Kệ số 415

296) Tích chuyện Trưởng-lão Gia-tị-la - Kệ số 416

297) Tích chuyện Giô-thi-ca

298) Tích chuyện Trưởng-lão Na-ta-bút (1) - Kệ số 417

299) Tích chuyện Trưởng-lão Na-ta-bút (2) - Kệ số 418

300) Tích chuyện Trưởng-lão Van-di-sa - Kệ số 419 và 420

301) Tích chuyện Ni-bà Đàm-ma - Kệ số 421

302) Tích chuyện Trưởng-lão Chi-man - Kệ số 422

303) Tích chuyện ông Đề-va-hy - Kệ số 423

 

Xin thưa nốt vài điều.

 

 

 

Preface

 

Chapter 01, Yamakavagga: Pairs

Verse 001

Verse 002

Verse 003

Verse 005

Verse 006

Verse 007

Verse 009

Verse 011

Verse 013

Verse 015

Verse 016

Verse 017

Verse 018

Verse 019

 

Chapter 02, Appamadavagga: Heedfulness

Verse 021

Verse 024

Verse 025

Verse 026

Verse 028

Verse 029

Verse 030

Verse 031

Verse 032

 

Chapter 03, Cittavagga: The Mind

Verse 033

Verse 035

Verse 036

Verse 037

Verse 038

Verse 040

Verse 041

Verse 042

Verse 043

 

Chapter 04, Pupphavagga: Flowers

Verse 044

Verse 046

Verse 047

Verse 048

Verse 049

Verse 050

Verse 051

Verse 053

Verse 054

Verse 056

Verse 057

Verse 058

 

Chapter 05, Balavagga: The Fool

Verse 060

Verse 061

Verse 062

Verse 063

Verse 064

Verse 065

Verse 066

Verse 067

Verse 068

Verse 069

Verse 070

Verse 071

Verse 072

Verse 073

Verse 075

 

Chapter 06, Panditavagga: The Wise

Verse 076

Verse 077

Verse 078

Verse 079

Verse 080

Verse 081

Verse 082

Verse 083

Verse 084

Verse 085

Verse 087

 

Chapter 07, Arahantavagga: The Arahant or Perfected One

Verse 090

Verse 091

Verse 092

Verse 093

Verse 094

Verse 095

Verse 096

Verse 097

Verse 098

Verse 099

 

Chapter 08, Sahassavagga: The Thousands

Verse 100

Verse 101

Verse 102

Verse 104

Verse 106

Verse 107

Verse 108

Verse 109

Verse 110

Verse 111

Verse 112

Verse 113

Verse 114

Verse 115

 

Chapter 09, Papavagga: Evil

Verse 116

Verse 117

Verse 118

Verse 119

Verse 121

Verse 122

Verse 123

Verse 124

Verse 125

Verse 126

Verse 127

Verse 128

 

Chapter 10, Dandavagga: Violence

Verse 129

Verse 130

Verse 131

Verse 133

Verse 135

Verse 136

Verse 137

Verse 141

Verse 142

Verse 143

Verse 145

 

Chapter 11, Jaravagga: Old Age

Verse 146

Verse 147

Verse 148

Verse 149

Verse 150

Verse 151

Verse 152

Verse 153

Verse 155

 

Chapter 12, Attavagga: The Self

Verse 157

Verse 158

Verse 159

Verse 160

Verse 161

Verse 162

Verse 163

Verse 164

Verse 165

Verse 166

 

Chapter 13, Lokavagga: The World

Verse 167

Verse 168

Verse 170

Verse 171

Verse 172

Verse 173

Verse 174

Verse 175

Verse 176

Verse 177

Verse 178

 

Chapter 14, Buddhavagga: The Buddha

Verse 179

Verse 181

Verse 182

Verse 183

Verse 186

Verse 188

Verse 193

Verse 194

Verse 195

 

Chapter 15, Sukhavagga: Happiness

Verse 197

Verse 200

Verse 201

Verse 202

Verse 203

Verse 204

Verse 205

Verse 206

 

Chapter 16, Piyavagga: Affection

Verse 209

Verse 212

Verse 213

Verse 214

Verse 215

Verse 216

Verse 217

Verse 218

Verse 219

 

Chapter 17, Kodhavagga: Anger

Verse 221

Verse 222

Verse 223

Verse 224

Verse 225

Verse 226

Verse 227

Verse 231

 

Chapter 18, Malavagga: Impurity

Verse 235

Verse 239

Verse 240

Verse 241

Verse 242

Verse 244

Verse 246

Verse 249

Verse 251

Verse 252

Verse 253

Verse 254

 

Chapter 19, Dhammatthavagga: The Just

Verse 256

Verse 258

Verse 259

Verse 260

Verse 262

Verse 264

Verse 266

Verse 268

Verse 270

Verse 271

 

Chapter 20, Maggavagga: The Path

Verse 273

Verse 277

Verse 280

Verse 281

Verse 282

Verse 283

Verse 285

Verse 286

Verse 287

Verse 288

 

Chapter 21, Pakinnakavagga: Miscellaneous

Verse 290

Verse 291

Verse 292

Verse 294

Verse 296

Verse 302

Verse 303

Verse 304

Verse 305

 

Chapter 22, Nirayavagga: Hell

Verse 306

Verse 307

Verse 308

Verse 309

Verse 311

Verse 314

Verse 315

Verse 316

Verse 318

 

Chapter 23, Nagavagga: The Elephant

Verse 320

Verse 323

Verse 324

Verse 325

Verse 326

Verse 327

Verse 328

Verse 331

 

Chapter 24, Tanhavagga: Craving

Verse 334

Verse 338

Verse 344

Verse 345

Verse 347

Verse 348

Verse 349

Verse 351

Verse 353

Verse 354

Verse 355

Verse 356

 

Chapter 25, Bhikkhuvagga: The Monk

Verse 360

Verse 362

Verse 363

Verse 364

Verse 365

Verse 367

Verse 368

Verse 377

Verse 378

Verse 379

Verse 381

Verse 382

 

Chapter 26, Brahmanavagga: The Holy Man

Verse 383

Verse 384

Verse 385

Verse 386

Verse 387

Verse 388

Verse 389

Verse 391

Verse 392

Verse 393

Verse 394

Verse 395

Verse 396

Verse 397

Verse 398

Verse 399

Verse 400

Verse 401

Verse 402

Verse 403

Verse 404

Verse 405

Verse 406

Verse 407

Verse 408

Verse 409

Verse 410

Verse 411

Verse 412

Verse 413

Verse 414

Verse 415

*Verse 416

*Verse 416

Verse 417

Verse 418

Verse 419

Verse 421

Verse 422

Verse 423

 

*These two stories have the same verse.

 



Kinh Pháp Cú (TN), Vài Lời Xin Thưa Trước & Sau 

Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu



"Thà biết ít mà biết chắc,

Khỏi tu mù và chẳng mắc tu lầm."

-- Thiện-Nhựt.

 

-ooOoo-

 

VÀI LỜI XIN THƯA TRƯỚC.

 

Kinh Pháp-Cú, tiếng Pali là Dhammapada, là quyển thứ hai trong Tiểu-Bộ-Kinh (Khuddhaka Nikàya), thuộc Tạng Kinh (Suttanta Pitaka) trong Tam-tạng Kinh-điển (Tipitaka). Kinh nầy gồm có 423 bài Kệ, văn vần bằng tiếng Pali và 305 Tích chuyện, nhắc lại trong dịp nào Đức Phật đã thốt lên các bài Kệ vừa nói.

 

Kinh Pháp-Cú được dịch ra rất nhiều thứ tiếng; bản dịch Anh-văn xưa nhứt là bản năm 1870 của Max Muller. Nhiều văn-hào trên thế-giới đã trích-dẫn và xem lời Kinh như chơn-lý của muôn đời.

 

Kinh Pháp-Cú trước đây đã được nhiều vị đại-sư Việt-nam dịch ra tiếng Việt. Gần đây có các bản: Kinh Pháp-Cú của Hoà-Thượng Thích Minh-Châu (Saigon, 1977), Kinh Pháp-Cú của Thượng-Toạ Thích Trí-Đức (Phật-học-viện Quốc-tế, 1985), Kinh Pháp-Cú của Trưởng-lão Narada, bản dịch Phạm-kim-Khánh (Paris, 1984), Suối nguồn vi-diệu của Phạm-Thiên-Thư (Saigon 1971) và nhiều bản khác nữa mà tôi chưa được biết.

 

Nhận thấy các lời dạy quí-báu của Đức Phật được kết-tập lại bằng lời thơ, có các Tích chuyện nêu rõ trong trường-hợp nào đã xãy ra khiến Đức Phật nói lên bài Kệ, tôi chẳng ngần-ngại sự ngu-dốt của mình, cố chuyển các lời văn trong Kinh sang văn-vần tiếng Việt, dễ hiểu, dễ đọc, mục-đích giúp cho các bạn đồng-tu có được tài-liệu để học-tập. Cách tôi trình-bày lại Kinh Pháp-Cú chẳng giống y như trong Kinh-Điển, nhưng tôi đã cố-gắng giữ đúng ý-nghĩa căn-bản của lời Phật dạy, nói lại bằng lời-lẽ thông-thường, người chưa rành Phật-pháp cũng có thể hiểu được.

 

Ngưỡng mong trên có các bực cao-minh chỉ-dạy thêm, chung-quanh có các đạo-hữu vui lòng khuyến-khích, tôi thành-tâm sám-hối những lỗi-lầm trong khi chép lại Kính Pháp-Cú và cầu nguyện người đọc hưởng được nhiều lợi-lạc trong khi học-tập Kinh nầy.

 

Thiện-Nhựt

Montreal, 18-11-2000.

 

 

-ooOoo-

 

 

XIN THƯA NỐT VÀI ĐIỀU.

 

Trước khi chấm dứt việc lược-dịch và tìm hiểu về KINH PHÁP CÚ, Thiện-Nhựt xin được phép thưa thêm vài điều, liên-quan đến bản Kinh và cách xử-dụng Kinh nầy trong việc tu-tập.

 

1) Kinh PHÁP-CÚ, DHAMMAPADA, là quyển thứ hai trong Tiểu-Bộ-Kinh (Khuddhaka Nikàya) thuộc Tạng Kinh (Suttanta Pitaka), trong hệ Pali. Kinh ghi lại 423 bài Kệ ngắn, được chính Đức Phật Thích-Ca nói lên suốt trong thời-gian bốn mươi năm truyền-giảng Chánh-Pháp của Ngài, để dạy cho các đệ-tử xuất-gia cũng như tại-gia. Sau khi Đức Phật nhập Niết-Bàn, các vị Trưởng-lão sợ lời vàng-ngọc của bực Đạo-sư bị quên-lãng, mới họp nhau lại, đọc-tụng để ghi nhớ. Mãi đến gần ba trăm năm sau, vào thời-đại vua A-dục (Asoka), Kinh mới được ghi bằng chữ viết, trong kỳ Kết-tập Kinh-Tạng lần thứ ba.

 

Các Tích chuyện, gồm có 303 bài, (trong bản Pali ghi là 305 bài, vì Tích-chuyện số (205) được phân ra làm ba bài: Vô-thường, Khổ và Vô-ngã) được tin rằng do Ngài Phật-Âm (Buddhaghosa) chép lại vào khoảng thế-kỷ thứ 5 sau Tây-lịch. Các Tích chuyện dẫn đến các bài Kệ đã giúp cho việc tìm hiểu Kinh Pháp-cú được dễ-dàng hơn.

 

Kinh Dhammapada được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, xem như một kho-tàng Chơn-lý rất quí-báu trong văn-chương của nhơn-loại. Bản dịch Anh-văn của Max Muller được xuất-bản năm 1870.

 

Kinh Pháp-Cú lại được xem như quyển sách gối đầu giường; các tu-sĩ Nam-tông ngay khi bước vào cửa Đạo, phải học thuộc lòng các bài Kệ trong Kinh Pháp-Cú, trước khi học các bản Kinh khác.

 

2) Giữa rừng giáo-lý cao-siêu của Đức Phật, Kinh Pháp-Cú nổi bật lên với những thí-dụ giản-dị, thông-thường, xảy ra hằng ngày, lời chỉ-dạy thật rõ-ràng và thiết-thực: đó là điễm cao-quí nhứt của Kinh Pháp-Cú, chẳng những thích-hợp cho các tu-sĩ xuất-gia theo con đường giác-ngộ và giải-thoát, mà còn có ích-lợi to-lớn trong cuộc sống ở xã-hội cho hàng tại-gia, dầu đó là người kiến-thức rộng-rãi, hay người bình-dân ít học.

 

3) Thiện-Nhựt xin chấp tay sám-hối, trong khi lược-dịch, đã bỏ bớt nhiều chi-tiết nhiệm-mầu trong các Tích chuyện, đã viết lại một cách vụng-về bằng văn-vần các bài Kệ thâm-trầm đầy ý-vị trong bản nguyên-tác bằng chữ Pali. Mục-đích là khiến cho phần dịch-thuật và tìm-hiểu được gọn-gàng và dễ hiểu mà chẳng đi xa quá với lời giảng-dạy cao-quí của Đức Từ-phụ.

 

Trong phần Tìm Hiểu, vì muốn tránh cho người đọc phải giở lại các trang phía trước xem lại các danh-từ chuyên-môn về Phật-học, nên Thiện-Nhựt đã giải-nghĩa một danh-từ rất nhiều lần. Tuy nhiên, Thiện-Nhựt nghĩ sự lập-lại đó cũng có một công-dụng là vừa nhắc-nhở người đọc nghĩa đã được học qua, vừa nhẹ-nhàng và từ-từ đưa cất vào tiềm-thức mà chẳng cần phải khổ-công ghi nhớ.

 

Ước mong to-lớn của Thiện-Nhựt là, khi các Tập sách tìm hiểu về Kinh Pháp-Cú nầy vào tay người đọc, thì chúng sẽ được xem qua, hơn thế nữa, được đọc lên cho con cháu nghe, và quí hơn nữa là đem các bài Kệ ra ngâm-nga cho chính mình nghe, và dùng để ru cho con cháu ngủ. Nếu một Tích chuyện, một bài Kệ, ngay cả một câu Kệ, mà được người chưa biết chữ Việt chỉ nghe thuật lại mà đọc lên được trôi chảy, đem kể lại cho người khác nghe thêm, chắc-chắn là giáo-lý của Đức Phật còn sống mãi và truyền-tụng mãi trong dân-gian.

 

Đọc Tích chuyện hiểu được ý-nghĩa thú-vị, tụng bài Kệ thưởng-thức lời dạy quí-báu của Đức Phật, đó là đang thấy được hương-vị của bài pháp, gọi là pháp-vị. Nhưng còn phải biết nếm pháp-vị nữa, bằng cách theo đó mà tu-tập, tự cải-tiến lấy mình. Đấy mới là cách xử-dụng đúng-đắn Kinh Pháp-Cú nầy đó.

 

Thành-tâm sám-hối về các lỗi-lầm trong khi lược-dịch và tìm hiểu, Thiện Nhựt cầu mong trên được các bực cao-minh chỉ dạy thêm, và chung quanh được các bạn đạo vui lòng khuyến-khích.

 

Montreal, 09 Tháng 04, 2001,

Thiện Nhựt kính thưa.

 

 

-ooOoo-

 

 

SÁCH THAM-KHẢO:

 

1. The Dhammaoada, Verses & Stories, Myanmar Pitaka Association, Yangon, 1990.

 

2. Dhammapada, A Practical Guide To Right Living, Venerable Buddharakkhita, Sukhi Hoti Dhamma Publications.

 

3. Kinh Pháp Cú, H.T. Minh-Châu, Phật-Học-Viện Vạn Hạnh, Saigon, 1977.

 

4. Kinh Pháp-Cú, Dhammapada, Venerable Narada, Phạm-Kinh-Khánh dịch, Paris 1981

 

5. Kinh Pháp-Cú, T.T. Trí-Đức, Phật-Học-Viện Quốc-Tế, 1985.

 

The Dhammapada: Verses and Stories

Translated by Daw Mya Tin, M.A.

 

Edited by Editorial Committee, Burma Tipitaka Association Rangoon, Burma, 1986

 

Courtesy of Nibbana.com

For free distribution only, as a gift of dhamma.

 

-ooOoo-

 

PREFACE

 

Dhammapada is one of the best known books of the Pitaka. It is a collection of the teachings of the Buddha expressed in clear, pithy verses. These verses were culled from various discourses given by the Buddha in the course of forty-five years of his teaching, as he travelled in the valley of the Ganges (Ganga) and the sub-mountain tract of the Himalayas. These verses are often terse, witty and convincing. Whenever similes are used, they are those that are easily understood even by a child, e.g., the cart's wheel, a man's shadow, a deep pool, flowers. Through these verses, the Buddha exhorts one to achieve that greatest of all conquests, the conquest of self; to escape from the evils of passion, hatred and ignorance; and to strive hard to attain freedom from craving and freedom from the round of rebirths. Each verse contains a truth (dhamma), an exhortation, a piece of advice.

 

DHAMMAPADA VERSES

 

Dhammapada verses are often quoted by many in many countries of the world and the book has been translated into many languages. One of the earliest translations into English was made by Max Muller in 1870. Other translations that followed are those by F.L. Woodward in 1921, by Wagismara and Saunders in 1920, and by A.L. Edmunds (Hymns of the Faith) in 1902. Of the recent translations, that by Narada Mahathera is the most widely known. Dr. Walpola Rahula also has translated some selected verses from the Dhammapada and has given them at the end of his book "What the Buddha Taught," revised edition. The Chinese translated the Dhammapada from Sanskrit. The Chinese version of the Dhammapada was translated into English by Samuel Beal (Texts from the Buddhist Canon known as Dhammapada) in 1878.

 

In Burma, translations have been made into Burmese, mostly in prose, some with paraphrases, explanations and abridgements of stories relating to the verses. In recent years, some books on Dhammapada with both Burmese and English translations, together with Pali verses, have also been published.

 

The Dhammapada is the second book of the Khuddaka Nikaya of the Suttanta Pitaka, consisting of four hundred and twenty-three verses in twenty-six chapters arranged under various heads. In the Dhammapada are enshrined the basic tenets of the Buddha's Teaching.

 

Verse (21) which begins with "Appamado amatapadam" meaning "Mindfulness is the way to Nibbana, the Deathless," is a very important and significant verse. Mindfulness is the most important element in Tranquillity and Insight Meditation. The last exhortation of the Buddha just before he passed away was also to be mindful and to endeavour diligently (to complete the task of attaining freedom from the round of rebirths through Magga and Phala). It is generally accepted that it was on account of this verse on mindfulness that the Emperor Asoka of India and King Anawrahta of Burma became converts to Buddhism. Both kings had helped greatly in the propagation of Buddhism in their respective countries.

 

In verse (29) the Buddha has coupled his call for mindfulness with a sense of urgency. The verse runs: "Mindful amongst the negligent, highly vigilant amongst the drowsy, the wise man advances like a race horse, leaving the jade behind."

 

Verses (1) and (2) illustrate the immutable law of Kamma, under which every deed, good or bad, comes back to the doer. Here, the Buddha emphasizes the importance of mind in all our actions and speaks of the inevitable consequences of our deeds, words and thoughts.

 

Verses (153) and (154) are expressions of sublime and intense joy uttered by the Buddha at the very moment of his Enlightenment. These two verses give us a graphic account of the culmination of the Buddha's search for Truth. They tell us about the Buddha finding the 'house-builder,' Craving, the cause of repeated births in Samsara. Having rid of Craving, for him no more houses (khandhas) shall be built by Craving, and there will be no more rebirths.

 

Verses (277), (278) and (279) are also important as they tell us about the impermanent, unsatisfactory and the non-self nature of all conditioned things; it is very important that one should perceive the true nature of all conditioned things and become weary of the khandhas, for this is the Path to Purity.

 

Then the Buddha shows us the Path leading to the liberation from round of rebirths, i.e., the Path with eight constituents (Atthangiko Maggo) in Verse (273). Further, the Buddha exhorts us to make our own effort in Verse (276) saying, "You yourselves should make the effort, the Tathagatas only show the way." Verse (183) gives us the teaching of the Buddhas. It says, "Do no evil, cultivate merit, purify one's mind; this is the teaching of the Buddhas."

 

In Verse (24) the Buddha shows us the way to success in life, thus: "If a person is energetic, mindful, pure in thought, word and deed, if he does everything with care and consideration, restrains his senses; earns his living according to the Dhamma and is not unheedful, then, the fame and fortune of that mindful person increase."

 

These are some of the examples of the gems to be found in the Dhammapada. Dhammapada is, indeed, a philosopher, guide and friend to all.

 

This translation of verses is from Pali into English. The Pali text used is the Dhammapada Pali approved by the Sixth International Buddhist Synod. We have tried to make the translation as close to the text as possible, but sometimes it is very difficult, if not impossible, to find an English word that would exactly correspond to a Pali word. For example, we cannot yet find a single English word that can convey the real meaning of the word "dukkha" used in the exposition of the Four Noble Truths. In this translation, wherever the term "dukkha" carries the same meaning as it does in the Four Noble Truths, it is left untranslated; but only explained.

 

When there is any doubt in the interpretation of the dhamma concept of the verses or when the literal meaning is vague or unintelligible, we have referred to the Commentary (in Pali) and the Burmese translation of the Commentary by the Nyaunglebin Sayadaw, a very learned thera. On many occasions we have also consulted the teachers of the Dhamma (Dhammacariyas) for elucidation of perplexing words and sentences.

 

In addition we have also consulted Burmese translations of the Dhammapada, especially the translation by the Union Buddha Sasana Council, the translation by the Sangaja Sayadaw (1805-1876), a leading Maha thera in the time of King Mindon and King Thibaw, and also the translation by Sayadaw U Thittila, an Ovadacariya Maha thera of the Burma Pitaka Association. The book by the Sangaja Sayadaw also includes paraphrases and abridgements of the Dhammapada stories.

 

DHAMMAPADA STORIES

 

Summaries of the Dhammapada stories are given in the second part of the book as it is generally believed that the Dhammapada Commentary written by Buddhaghosa (5th century A.D.) is a great help towards a better understanding of the Dhammapada. Three hundred and five stories are included in the Commentary. Most of the incidents mentioned in the stories took place during the life-time of the Buddha. In some stories, some facts about some past existences were also retold.

 

In writing summaries of stories we have not tried to translate the Commentary. We have simply culled the facts of the stories and have rewritten them briefly: A translation of the verses is given at the end of each story.

 

It only remains for me now to express my deep and sincere gratitude to the members of the Editorial Committee, Burma Pitaka Association, for having meticulously gone through the script; to Sayagyi Dhammacariya U Aung Moe and to U Thein Maung, editor, Burma Pitaka Association, for helping in the translation of the verses.

 

May the reader find the Path to Purity.

 

Daw Mya Tin

20th April, 1984

 

-ooOoo-

 

Burma Pitaka Association

Editorial Committee

 

Doctrinal Adviser: Sayadaw U Kumara, BA, Dhammcariya (Siromani, Vatamsaka).

          

Chairman: U Shwe Mra, BA., I.C.S. Retd.,

Former Special Adviser, Public Administration Division, E.S.A., United Nations Secretariat.

          

Members: U Chan Htoon, LL.B., Barrister-at-law;

Former President, World Fellowship of Buddhists.

 

Members: U Nyun, B.A., I.C.S. Retd.,

Former Executive Secretary, United Nations Economic Commission for Asia and the Far East; 

Vice-President, World Fellowship of Buddhists.

 

Members: U Myint Too, B.Sc., B.L., Barrister-at-law,

Vice-President, All Burma Buddhist Association.

 

Members: Daw Mya Tin, M.A.,

Former Head of Geography Department, Institute of Education, Rangoon.

          

Doctrinal Consultant: U Kyaw Htut, Dhammacariya;

Former Editor-in-chief of the Board for Burmese Translation of the Sixth Synod Pali Texts.

          

Editors: U Myo Min, M.A., B.L.,

Former Professor of English, Rangoon University. 

Editors: U Thein Maung, B.A., B.L

Editors: U Hla Maung, B.A., B.L.

          

Secretary: U Tin Nwe, B.Sc.

 


__________________


Xem thêm - See more articles:

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26


_________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 583)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 341)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 371)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 302)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 327)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 384)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1125)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 605)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 423)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 831)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4104)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8320)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1278)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 557652)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1713)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 730)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 932)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
27 Tháng Hai 20188:42 CH(Xem: 824)
Tôi có quen một ông bạn, ông ta nói rằng ông ta thường xuyên quên chỗ để cây bút, và ông cũng thường xuyên mất bút. Vì thế, ông chỉ xử dụng những cây bút rẻ tiền, để ông ta khỏi phải phiền muộn về chuyện mất bút. Ông lo lắng về thói quen bất cẩn nầy.
14 Tháng Hai 20188:00 SA(Xem: 1228)
* Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi, mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó. * Á a a a. Nhấp chén đầy vơi chúc người, người vui. Á a a a. Muôn lòng xao xuyến duyên đời.
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1020)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1829)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2569)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 329)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1563)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 875)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4078)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".