Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 03, Phẩm Tâm - The Dhammapada, Chapter 03, The Mind

01 Tháng Mười Hai 201811:55 SA(Xem: 78)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 03, Phẩm Tâm - The Dhammapada, Chapter 03, The Mind

Chapter03-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 03, Phẩm Tâm
The Dhammapada, Chapter 03, Cittavagga: The Mind

(Kệ 33-43 - Verses 33-43)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp033_B
dhp034_B
Verse-Kệ 033-034

(24).- Tích chuyện Trưởng-lão Mễ-ghi-dạ - Kệ số 033 và 034

 

Vào một thời kia, Đức Phật trú tại núi Ca-la-ca, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Mễ-ghi-Dạ và cách điều-phục tâm.

 

Thuở ấy, Trưởng-lão Mễ-ghi-Dạ làm thị-giả hầu-cận bên Đức Phật. Sáng hôm ấy, trong khi đi khất-thực, trưởng-lão nhận thấy có một khu vườn xoài rất xinh-xắn và thanh-nhã, liền khởi lên ý-nghĩ muốn được đến đấy để toạ-thiền. Về đến tịnh-xá, Trưởng-lão bèn thưa với Phật, xin phép được đến hành-thiền tại vườn xoài. Bấy giờ, các tỳ-kheo còn đi vắng, nhưng thấy trưởng-lão muốn đi quá, nên Đức Phật đồng-ý cho đi.

 

Trưởng-lão ra đi, đến vườn xoài, ngồi bên gốc cây to và bắt đầu hành-thiền. Nhưng cả ngày hôm ấy, tâm của trưởng-lão cứ lang-thang chạy đi đó đây và trưởng-lão cảm thấy chẳng có chút tiến-bộ nào về định-tâm. Chiều về, trưởng-lão vào trình Phật, thưa với Đức Phật rằng, suốt thời-gian ngồi thiền, tâm của trưởng-lão bị các tư-tưởng tham-dục, sân-hận và bạo-hành xâm-lấn, khiến trưởng-lão chẳng định-tâm được.

 

Đức Phật mới dạy rằng, tâm rất dễ bị kích-thích, hay thay-đổi, biến-chuyển rất nhanh-chóng; vì thế, ta phải biết cách điều-phục tâm. Rồi Đức Phật nói lên hai bài kệ sau đây:

 

Tâm giao-động, tâm hay cảm-nhiễm;

Khó giữ tâm, khó kiểm-soát tâm.

Như thợ khéo vót tên thẳng-tắp,

Bực hiền-lương khéo tập trực-tâm.

(Kệ số 033.)

Như con cá bắt lià khỏi nước,

Thoi-thóp nằm sóng-sượt bên đàng,

Tâm kia rung-động bàng-hoàng,

Khi lià cảnh-giới giác-quan bên ngoài;

Cám-dỗ ác-ma thoát được ngay!

(Kệ số 034.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Mễ-ghi-Dạ: tên thật bằng tiếng Pali là Meghiya.

 

-- Thị-giả: thị = hầu-cận; phục-thị; ở bên cạnh để nghe lịnh sai-khiến; giả = người. Vị thị-giả nổi-tiếng của Phật Thích-ca là Ngài A-nan.

 

- Thanh-nhã: thanh = thanh-tú, đẹp-đẽ; nhã = văn-nhã, u-nhã; đẹp mà dịu-hiền.

 

- Toạ-thiền: toạ = ngồi; thiền = tâm lắng-yên, vắng-vẻ. Thiền, tiếng Phạn đủ chữ là thiền-na (Dhyana). Trước, dịch là suy-tư; sau, dịch là tĩnh-lự, suy-nghĩ trong yên-lặng. Thiền là đường-lối tu-hành khiến cho tâm được an-tịnh.

 

- Định-tâm: định = dừng lại, đứng yên, chẳng thay đổi; tâm = lòng

 

- Bạo-hành: bạo = hung-bạo, dữ-tợn; hành = hành-động.

 

- Kích-thích: nghĩa gốc là lấy gươm đâm vào; nghĩa rộng và thông-thường là dễ bị ảnh-hưởng, dễ bị làm cảm-động, hay thay đổi.

 

- Điều-phục: điều = điều-khiển, sai khiến; phục = hàng-phục, bắt phải tuân theo. Điều-phục Tâm là buộc Tâm phải ở yên, chẳng được chạy lung-tung, giữ cho có định-tâm, có sự chú-tâm, sự chú-ý.

 

- Giao-động: động-đậy mãi, chẳng ở yên, hay lo-lắng, bối-rối.

 

- Cảm-nhiễm: cảm =cảm-động; nhiễm = dính theo, lây.

 

- Vót tên: chuốt mũi tên cho trơn láng, sắc-bén.

 

- Hiền-lương: người hiền và tốt. Ở đây có nghĩa là hiền-trí, người có trí-huệ làm điều phải, điều lành.

 

- Trực-tâm: trực = thẳng. Trực-tâm là tâm ngay-thẳng, chẳng cong-queo, chẳng dấu-diếm, chẳng giả-dối.

 

- Thoi-thóp: thở hơi yếu-ớt, sắp chết đến nơi.

 

- Nằm sóng-sượt: nằm chẳng cựa quậy, như sắp chết.

 

-Bàng-hoàng: lo-lắng, khắc-khoải.

 

- Cảnh-giới: môi-trường, nơi sanh-sống, chỗ đang ở.

 

- Giác-quan: giác = biết; quan = cơ-quan, bộ-phận. Ta có năm giác-quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và da.

 

- Cám-dỗ: dụ-dỗ.

 

- Ác-ma: ác = xấu-ác; ma = kẻ vô-hình dụ-dỗ, gạt-gẫm, hại người.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tich chuyện thuật lại việc Trưởng-lão Mễ-ghi-Dạ ngồi Thiền mà chẳng đác định-tâm và được Đức Phật chỉ dạy cách điều-phục Tâm.

 

Lời chỉ dạy của Đức Phật nằm gọn trong hai bài Kệ.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 033 và 034:

 

1.- Bài Kệ số 033: Đức Phật dạy, Tâm rất khó giữ, rất khó kiểm-soát. Tại sao? Vì tâm (1) hay giao-động, (2) dễ cảm-nhiễm. Cũng như người thợ làm tên khéo vót mũi tên cho thật thẳng, thật bén, người hiền-trí khéo tập cho Tâm thật ngay-thẳng, gọi là trực-tâm. Nói cách khác, việc tu-hành quan-trọng là biết điều-phục tâm, biết kiểm-soát tâm, biết làm chủ lấy tâm. Bằng cách nào? Phật chỉ cách đó trong bài Kệ sau.

 

2.- Bài Kệ số 034: Đức Phật chỉ cách hàng-phục tâm, nghĩa là cách làm chủ lấy tâm mình, điều-khiển, chấn-chỉnh, sửa đổi tâm cho ngay-thẳng, để được trực tâm. Phật đưa ra thí-dụ: con cá bị bắt ra khỏi nước, hết vùng-vẫy được, nằm sóng-sượt đó, tùy ý người bắt, muốn làm sao thì làm. Cùng thế ấy, nếu biết lìa cảnh-giới của các giác-quan, tức là chẳng chạy theo cảnh-vật bên ngoài (như mắt chớ nhìn, tai chớ nghe, mũi chớ ngữi, trong khi ngồi thiền), thì tâm phải dừng lại, đứng yên, quay vào bên trong: đó là cách cột con vượn Tâm lại, chẳng cho nó chuyền cành nữa. Lại còn một ích-lợi to-lớn nữa là tránh cho tâm khỏi bị cảm-nhiễm, khỏi bị lôi-kéo, khỏi bị cám-dỗ. Ai cám-dỗ tâm? Bài kệ nói là ác-ma cám-dỗ. Đó là một cách nói, vậy thôi; chớ thật ra, vì mắt có nhìn, thì tâm mới bị lôi-kéo; tai có nghe, thì tâm mới bị trì-níu. Có ma hay không chẳng cần biết, chỉ cần biết: (1) mắt nhìn mà chẳng thấy; (2) tai nghe tiếng mà chẳng để tâm vào, thì chắc-chắn tâm thoát được cám-dỗ ngay, để được lắng yên.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của hai bài Kệ: muốn hàng-phục Tâm, trước hết phải biết giữ-gìn các giác-quan, trong khi toạ-Thiền.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng ngay hai bài Kệ và thử tập chế-phục các giác-quan như được nói trong Phần Ý-Nghĩa của hai bài Kệ. Trong bài tới, sẽ xin đề-nghị vài cách nho-nhỏ, dễ làm, để hàng-phục tâm.

The Story of Thera Meghiya

While residing on the Calika Mountain, the Buddha uttered Verses (33) and (34) of this book, with reference to Thera Meghiya.

At that time, Thera Meghiya was attending upon the Buddha. On one occasion, on his return from alms-round, the thera noticed a pleasant and beautiful mango grove, which he thought was an ideal spot for meditation. He asked the Buddha's permission to let him go there, but as the Buddha was alone at that time, he was told to wait for awhile until the arrival of some other bhikkhus. The thera was in a hurry to go and so he repeated his request again and again, until finally the Buddha told him to do as he wished.

Thus, Thera Meghiya set out for the mango grove, sat at the foot of a tree and practised meditation. He stayed there the whole day, but his mind kept wandering and he made no progress. He returned in the evening and reported to the Buddha how all the time he was assailed by thoughts associated with the senses, ill will and cruelty (kama vitakka, byapada vitakka and vihimsa vitakka).

So, the Buddha told him that as the mind is easily excitable and fickle, one should control one's mind.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 33: The mind is excitable and unsteady; it is difficult to control and to restrain. The wise one trains his mind to be upright as a fletcher straightens an arrow.

 

Verse 34: As a fish quivers when taken out of its watery home and thrown on to dry ground, so does the mind quiver when it is taken out of the sensual world to escape from the realm of Mara (i.e., kilesa vatta, round of moral defilements).


At the end of the discourse, Thera Meghiya attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 33 and 34
Meghiyatthera Vatthu

Phandanam capalam cittam
durakkham
dunnivarayam2
ujum karotimedhavi
usukarova tejanam.

Varijova thale khitto
okamokata ubbhato
pariphandatidam cittam
maradheyyam pahatave.

Verse 33: The mind is excitable and unsteady; it is difficult to control and to restrain. The wise one trains his mind to be upright as a fletcher straightens an arrow.

Verse 34: As a fish quivers when taken out of its watery home and thrown on to dry ground, so does the mind quiver when it is taken out of the sensual world to escape from the realm of Mara (i.e., kilesa vatta, round of moral defilements).


1. durakkham: difficult to keep the mind fixed on a single object when meditating.

2. dunnivarayam: difficult to restrain the mind from drifting towards sensual pleasures.

3. ujum karoti: straightens:
    (a) the fletcher straightens the arrow,
    (b) the wise man trains his sensuous, unruly mind by means of Tranquillity and Insight Development Practice (Samatha and Vipassana). (The Commentary)


dhp035_B
Verse-Kệ 035

(25).- Tích chuyện bà Mã-thị-Kha - Kệ số 035

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị Tỳ-kheo tu Thiền, nhờ sự hỗ-trợ của một tín-nữ là bà Mã-thị-Kha mà chứng-đắc được quả-vị A-la-hán.

 

Thuở ấy, có sáu mươi vị tỳ-kheo, sau khi nhận được đề-tài quán-tưởng của Đức Phật chỉ-dạy, liền đến ngôi làng dưới chơn núi mà hành-thiền, trong suốt mùa mưa. Thân-mẫu của vị chủ làng là bà Mã-thị-Kha hằng ngày dưng cúng thực-phẩm lên các vị tỳ-kheo. Bà cho xây cất tịnh-xá để các vị tu-hành có nơi trú mưa ẩn gió, khiến các vị có thể qua được mùa mưa trong tiện-nghi. Một hôm, bà Mã đến thưa hỏi một nhóm tỳ-kheo về đường-lối tu-tập. Họ chỉ-dạy bà cách quán-tưởng ba mươi hai chỗ dở-bẩn trong thân-thể con người; đó là phép quán thân bất-tịnh, dẫn đến sự thông-hiểu thấu-đáo về cảnh già-lão suy-yếu và huỷ-diệt của tấm thân. Bà Mã theo đó mà thực-hành thật tinh-cần, và chẳng bao lâu bà chứng-đắc được Đạo và Quả của ba ngôi-vị đầu-tiên của hàng Thanh-văn, ngay trước cả một số vị tỳ-kheo khác còn đang tu-tập.

 

Với đạo-lực đã chứng-đắc, bà Mã mở được thiên-nhãn nhìn thấy tâm-trạng của các vị tỳ-kheo còn chưa chứng-đắc. Bà nhận thấy rằng, nếu được nuôi-dưỡng bằng các thực-phẩm thanh-khiết và bổ-dưỡng, các vị tỳ-kheo tinh-tấn hành-thiền sẽ chóng chứng được đạo-quả. Bà Mã liền chọn và chuẩn-bị thức ăn rất tốt đem dưng-cứng, khiến cho phần lớn các vị siêng-năng hành-thiền nhờ đó mà sớm đắc được đạo-quả A-la-hán.

 

Đến cuối mùa an-cư, các vị tỳ-kheo quay trở về Kỳ-viên-tự, thưa trình lên Đức Phật, nhờ sự hỗ-trợ đắc-lực của bà Mã-thị-Kha mà tất cả tỳ-kheo an-cư được đầy-đủ sức-khoẻ, thoải-mái, chẳng phải lo-lắng chi đến thực-phẩm, nhờ đó mà nỗ-lực dễ-dàng để tiến tu. Các vị tỳ-kheo còn trình rằng, bà Mã còn có khả-năng biết được tư-tưởng của họ, nên bà đã hiến-tặng đúng các món ăn mà mỗi người riêng mong muốn có được.

 

Bấy giờ có một vị tỳ-kheo nghe các vị khác khen-ngợi bà Mã, mới thỉnh-cầu Đức Phật chỉ-dạy cho một đề-tài quán-tưởng và đến tịnh-xá ở làng của bà Mã mà hành-thiền. Tại đây, vị ấy được bà Mã cung-cấp cho đầy-đủ thực-phẩm và các tiện-nghi khác. Khi vị ấy có ý muốn gặp bà Mã, bà liền đi đến, mang theo đúng các món ăn mà vị ấy mong muốn. Sau khi thọ-thực xong, vị tỳ-kheo mới hỏi bà Mã, có đúng chăng bà đọc được tư-tưởng của người khác. Bà Mã lẫn tránh câu trả lời trực-tiếp, bảo rằng, các bực đã chứng được tha-tâm-thông thì hành-động như thế nầy, thế nọ. Vị tỳ-kheo liền ngẫm-nghĩ: "Nếu mình còn giữ những tư-tưởng chẳng tinh-khiết của phàm-phu, thế nào bà Mã cũng nhận thấy được." Rồi, vị ấy khởi tâm lo-sợ xấu-hổ với vị tín-nữ, mới bỏ quay về Kỳ-viên-tự, để thưa trình lại với Đức Phật. Nghe vị tỳ-kheo ấy bạch sự lo-lắng ấy, Đức Phật bảo ông cứ trở lại làng của bà Mã mà hành-thiền, chỉ cần thực-hành cho thật đúng mỗi một việc nầy: kiểm-soát kỹ-lưỡng tất cả tư-tưởng mình trong lúc hành thiền. Vị tỳ-kheo vâng lời trở lại tịnh-xá trong làng, ông tiếp-tục được bà Mã cung-cấp thực-phẩm ngon như trước. Nhờ chẳng còn lo-lắng như trước nữa, vị tỳ-kheo tinh-cần tu-tập, chẳng bao lâu chứng được đạo-quả A-la-hán.

 

Khi nhắc đến vị tỳ-kheo nói trên, nhờ sự hỗ-trợ của bà Mã về thực-phẩm, trong thời-gian tu thiền, Đức Phật có đọc lên bài Kệ sau đây:

 

Tâm rất khó cho ta nắm giữ,

Nhẹ-nhàng, nhanh-nhẹn, nó bay cao;

Rồi đáp xuống chỗ nào nó thích.

Hàng-phục được tâm là tuyệt-đích,

Chế-ngự tâm thuần, hạnh-phước cao!

(Kệ số 035.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Tín-nữ: tín = tin-tưởng; nữ = phụ-nữ, đàn-bà, cô gái. Tín-nữ là người phụ-nữ tu tại-gia, tin-tưởng nơi Đức Phật và Chánh-pháp. Còn gọi là ưu-bà-di (Upasikà) hay cận-sự-nữ.

 

- Mã-thị-Kha: tên thật bằng tiếng Pali là Màtikamàtà.

 

- Thân-mẫu: người mẹ của mình.

 

- Chủ làng: người đứng đầu trong làng, như Ông Cả.

 

- Tiện-nghi: tiện = tiện-lợi; nghi = đúng chỗ. Tiện-nghi là những việc thích-đáng, vừa phải, khiến cho thân-tâm được thoải-mái.

 

- Quán thân bất-tịnh: quán = suy-tưởng sâu-xa; bất-tịnh = chẳng sạch-sẽ. Đây là phép quán đầu-tiên trong phép Quán Tứ-niệm-xứ. Người thực-hành phép quán thân bất-tịnh, xem xét kỹ-lưỡng bên trong thân-thể mình chứa đầy các chất dơ-bẩn. Có tất cả 32 chỗ bất-tịnh trong thân, xin kể ra một số chánh là: máu, mủ, đờm, dãi, nước tiểu, phẩn, ghèn, cứt ráy, v.v. Biết quán thân bất-tịnh đúng cách tâm sẽ sanh ra nhàm-chán thân-thể bất-tịnh mà dứt được sự luyến-ái vào thân, thấy được sự suy-giảm từ-từ của thân đi đến sự huỷ-diệt; nhờ đó mà tâm hướng về sự giải-thoát khỏi cảnh sanh-tử của Luân-hồi.

 

- Suy-yếu: suy = giảm mất sức-lực. Muôn vật, với thời-gian đều bị suy-yếu lần lần, đó là sư-thật mà người thường hay quên, cứ lo theo đuổi các thú-vui vật-chất tạm-thời.

 

- Ba ngôi-vị đầu-tiên của hàng Thanh-văn: đó là Tu-đà-huờn (Nhập-Lưu), Tư-đà-hàm (Nhứt-Lai), và A-na-hàm (Bất-Lai).

 

-Đạo-lực: đạo = con đường tu-tập; lực = sức mạnh. Người có đạo-lực cao chứng được các quyền-năng tâm-linh mà người chẳng tu chẳng thể có được.

 

- Thiên-nhãn: thiên = Trời; nhãn = mắt. Người đắc được thiên-nhãn, tâm nhìn thấy các vật ở xa, chẳng bị ngăn-cách. Chẳng phải là được thêm một cặp mắt nào mới, đấy chỉ là tâm thanh-tịnh nhìn được xa.

 

- Thanh-khiết: thanh = trong, sạch; khiết = sạch.

 

- Đắc-lực: đắc = được; lực = sức. Đắc-lực là vừa giỏi, khéo vừa thành-công.

 

- Câu trả lời trực-tiếp: lời đáp thẳng. Bà Mã chẳng đáp thẳng là bà có được tha-tâm-thông, nhưng lời nói của Bà khiến cho vị tỳ-kheo đoán được là bà có khả-năng đọc được tư-tưởng người khác.

 

- Tha-tâm-thông: tha = kẻ khác; tâm = lòng; thông = biết rõ.

 

- Tuyệt-đích: tuyệt = hơn tất cả; đích = nơi nhìn vào; cái ấy. Theo nghĩa thông-thường, tuyệt-đích là hay, giỏi, khéo hơn hết. Theo nghĩa ở đây, đó là cái mục-đích cao nhứt mà mình nhắm vào khi tu: giữ tâm.

 

- Chế-ngự: chế = chế-phục, điều-khiển, làm chủ được; phục = hàng-phục, khiến phải tuân theo lịnh, chẳng cho chống-cãi . Chế-ngự Tâm là nắm giữ tâm, làm chủ được tâm.

 

- Tâm thuần: tâm thuần-thục, chẳng còn bay nhảy, biết đứng yên, chẳng sanh vọng-tưởng, chứng được định-tâm và phát-sanh huệ.

 

- Hạnh-phước cao: ở đây, ý bài Kệ muốn nói đến hạnh-phước cao nhứt là chứng được quả-vị vô-sanh của cảnh-giới Niết-bàn thường vui.

 

- Hỗ-trợ: hỗ = đắp đổi bên nầy qua bên kia; trợ = giúp-đỡ. Hỗ-trợ là giúp-đỡ lẫn nhau.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa:

 

a.- Bà Mã giúp thực-phẩm cho các vị tỳ-kheo; các vị nầy chỉ-dạy giúp Bà cách tu-hành: đây là ý-nghĩa quan-trrọng của việc cúng-dường chư Tăng. Đem dâng-cúng lễ-vật cho người tu-hành chơn-chánh là việc quí vì đem lại phước-đức lớn cho người thí-giả. Nhưng chưa đủ! Chưa đủ, vì người thí-giả chẳng những tạo phước bằng cách dâng-cúng, mà còn phải biết thưa hỏi về cách tu-tập riêng cho mình. Vị tỳ-kheo biết cách chỉ-dạy đúng đường cho các thiện-nam, tín-nữ, là đang bố-thí ngược lại cho người giúp mình: bố-thí pháp-tu ( =pháp-thí). Đấy mới thật là sự hỗ-trợ: hai bên giúp-đỡ lẫn nhau, tiến tu để cùng được giải-thoát.

 

b.- Lời dạy của Đức Phật: giữ tâm mình thật kỹ-lưỡng, đã khiến cho vị tỳ-kheo biết cách TU TÂM. Nói tu-hành, nghĩa là sao? Tu là sửa lại cho đúng. Sửa cái chi? Sửa cái tâm cho thanh-tịnh và giữ tâm ấy trong-sạch luôn. Như thế, sớm chứng được định-tâm, sớm phát được huệ. Đường-tu giản-dị chỉ có thế, nhưng phải cố gắng giữ tâm thanh-tịnh suốt đời. Giúp vào việc giữ tâm nầy là (1)phải giữ năm giới-tu cho thật cẩn-thận, chẳng hề lơ-là; (2)phải siêng bố-thí.

 

Ngoài ra, Tích chuyện còn dạy ta một điều khá quan-trọng: ăn-uống phải đầy-đủ thì việc tu-hành mới mau tấn-tới. Đây là điều mà một số người tại-gia thường lãng quên: hôm nào ăn chay thì ăn sơ-sịa, quấy-quá cho qua bữa, thiếu chất bỗ-dưỡng, xem việc ăn chay như trả nợ!

 

Phải chuẩn-bị bữa cơm chay thật tươm-tất, khiến cho con cháu trong nhà thích ăn chay và mong đến ngày ăn chay.

 

B.- Ý-nghĩa của bài Kệ số 035:

 

Bài kệ nầy mang một ý-nghĩa rất quan-trọng, gói gọn trong hai chữ TÂM THUẦN. Như đã biết, tu là tu Tâm. Tu tâm đến mức tâm được thuần, là thành-công viên-mãn. Tâm thuần là sao? Người luyện được tâm thuần cũng như người luyện tập ngựa cho thuần. Ngựa thuần khéo biết ý của chủ, theo lịnh của chủ, chạy êm, chạy nhanh. Tâm thuần cũng thế, biết dừng lại, biết quay vào trong, biết theo đúng con đường tu-hành, lúc nào cũng trong-sạch và an-tịnh. Làm sao cho tâm thuần? Đây là một nỗ-lực khó, phải bền-chí: kiểm-soát tâm ở mỗi biến-chuyển của tâm.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ và xin thường đọc lại ít nhứt một lần mỗi ngày.

 

2.- Xin đọc lại bài Kệ số 034 ở bài trước và phối-hợp với bài nầy để tự mình đặt ra cách TU TÂM cho chính mình. Xin đề-nghị vài cách nho-nhỏ, dễ làm, mà có hiệu-quả lớn:

 

- kiểm-soát các giác-quan: khi làm việc gì, chú-ý vào việc ấy, đừng nghe, đừng thấy các việc khác. Thí-dụ, đang ăn, thì chỉ lo ăn, mà chẳng vừa ăn vừa xem Ti-vi. Thí-dụ khác, đang đọc sách, thì chỉ đọc sách, chẳng nghe nhạc; hay xem xong một đoạn cho kỹ rồi hãy nghe nhạc sau.

 

- giữ tâm trong khi ăn: trong khi ăn, thường nói chuyện với nhau mới vui. Đành là thế! Nhưng người siêng tu thì tạm hy-sinh cái vui nói chuyện trong khi ăn, để, tay gắp thức ăn, trong tâm niệm thầm: tay gắp; đưa thức ăn vào miệng nhai, tâm niệm thầm: nhai. Đến khi nuốt, cũng niệm: nuốt. Như thế, cho hết một chén cơm. Thử tập như thế thì ăn lâu hơn, người ta ăn xong hết, mình còn ngồi lại, coi cũng kỳ-kỳ, thành ra ăn ít đi; nhờ đó mà ... sụt cân, bớt .. phì!

 

- khi mình cau-có giận ai: nếu kịp thời biết được mình đang giận, thì hãy quay vào trong, nghe coi hơi thở mình như thế nào, tim mình đập nhanh như thế nào, rồi lấy tay vuốt mặt ba cái, để vuốt cái giận mất đi!

The Story of A Certain Bhikkhu

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (35) of this book, with reference to a certain bhikkhu.

On one occasion, sixty bhikkhus, after obtaining a subject of meditation from the Buddha, went to Matika village, at the foot of a mountain. There, Matikamata, mother of the village headman, offered them alms-food; she also built a monastery for them, so that they could stay in the village during the rainy season. One day she asked the group of bhikkhus to teach her the practice of meditation. They taught her how to meditate on the thirty-two constituents of the body leading to the awareness of the decay and dissolution of the body. Matikamata practised with diligence and attained the three Maggas and Phalas together with Analytical Insight and mundane supernormal powers, even before the bhikkhus did.

Rising from the bliss of the Magga and Phala she looked with the Divine Power of Sight (Dibbacakkhu) and saw that the bhikkhus had not attained any of the Maggas yet. She also learnt that those bhikkhus had enough potentiality for the attainment of arahatship, but that they needed proper food. So, she prepared good, choice food for them. With proper food and right effort, the bhikkhus developed right concentration and eventually attained arahatship.

At the end of the rainy season, the bhikkhus returned to the Jetavana monastery, where the Buddha was in residence. They reported to the Buddha that all of them were in good health and in comfortable circumstances and that they did not have to worry about food. They also mentioned about Matikamata who was aware of their thoughts and prepared and offered them the very food they wished for.

A certain bhikkhu, hearing them talking about Matikamata, decided that he, too, would go to that village. So, taking a subject of meditation from the Buddha he arrived at the village monastery. There, he found that everything he wished for was sent to him by Matikamata, the lay-devotee. When he wished her to come she personally came to the monastery, bringing along choice food with her. After taking the food, he asked her if she knew the thoughts of others, but she evaded his question and replied, "People who can read the thoughts of others behave in such and such a way." Then, the bhikkhu thought, "Should I, like an ordinary worldling, entertain any impure thought, she is sure to find out." He therefore got scared of the lay-devotee and decided to return to the Jetavana monastery. He told the Buddha that he could not stay in Matika village because he was afraid that the lay-devotee might detect impure thoughts in him. The Buddha then asked him to observe just one thing; that is, to control his mind. The Buddha also told the bhikkhu to return to Matika village monastery, and not to think of anything else, but the object of his meditation only. The bhikkhu went back. The lay-devotee offered him good food as she had done to others before, so that he might able to practise meditation without worry. Within a short time, he, too, attained arahatship.

With reference to this bhikkhu, the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 35: The mind is difficult to control; swiftly and lightly, it moves and lands wherever it pleases. It is good to tame the mind, for a well-tamed mind brings happiness.


At the end of the discourse, many of those assembled attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 35
Annatarabhikkhu Vatthu

Dunniggahassa lahuno
yatthakamanipatino1
cittassa damatho sadhu
cittam dantam sukhavaham2.

Verse 35: The mind is difficult to control; swiftly and lightly, it moves and lands wherever it pleases. It is good to tame the mind, for a well-tamed mind brings happiness.


1. yatthakamanipatino: moving about wherever it pleases, landing on any sense object without any control.

2. sukhavaham: brings happiness, fortune, satisfaction, etc., and also, Maggas, Phalas and Nibbana. (The Commentary)


dhp036_B
Verse-Kệ 036

(26).- Tích chuyện về một Tỳ-kheo bất-mãn - Kệ số 036

 

Vào một thời kia, Đức Phật trú tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một tỳ-kheo bất-mãn.

 

Thuở ấy, có một chàng thanh-niên, con của một chủ ngân-hàng, sống tại nước Xá-vệ. Người thanh-niên ấy thưa hỏi vị ty-kheo thường đến khất-thực tại nhà anh, anh phải làm gì để tránh mọi khổ-đau cho đời anh. Vị tỳ-kheo liền bảo, hãy chia tài-sản của anh ra làm ba phần: một phần để kinh-doanh, một phần để nuôi gia-đình, còn một phần thì đem ra bố-thí. Người thanh-niên làm y theo lời dạy đó. Một thời-gian sau, thanh-niên ấy lại hỏi vị tỳ-kheo, nên tiếp-tục làm những gì nữa. Vị tỳ-kheo bảo, trước hết là quy-y Tam-Bảo và giữ đúng năm giới tại-gia; kế đó sẽ thực-hành Thập Thiện-nghiệp-đạo, rồi sau cùng khước-từ đời sống thế-tục và gia-nhập Tăng-đoàn để đi tu. Chàng thanh-niên thi-hành theo thứ-lớp, đúng lời dạy và trở thành một vị tỳ-kheo.

 

Vào chùa, vị tân tỳ-kheo được một vị giáo-thọ dạy cho Chánh-pháp trong Tam-Tạng kinh-điển, và một vị giáo-thọ khác dạy Luật-Tạng. Bấy giờ, vị ấy cảm thấy có quá nhiều điều để học-hỏi và phải nhớ kỹ để thi-hành. Có nhiều giới-cấm thật nghiêm-nhặt đến nổi lắm lúc chẳng còn chút tự-do cá-nhơn để duỗi cánh tay nữa! Vị tỳ-kheo ấy sanh ra bất-mãn, nghĩ rằng có lẽ tốt hơn quay về với cuộc sống thế-tục trong gia-đình. Hậu-quả của sự bất-mãn rất nặng khiến cho vị ấy xao-lãng các bổn-phận của tỳ-kheo, thân-thể trở nên gầy-ốm. Khi Đức Phật được biết đến tình-trạng của vị tỳ-kheo ấy, Ngài dạy rằng: "Này tỳ-kheo, con chỉ cần giữ gìn tâm con cho thật kỹ-lưỡng, ngoài ra chẳng cần kiểm-soát thêm gì nữa cả." Rồi Đức Phật liền đọc lên bài Kệ sau đây:

 

Tâm rất khó cho ta nhìn thấy,

Mỏng-manh, tế-nhị, chạy khắp nơi;

Rồi ngừng lại chẳng rời nơi thích.

Người hiền kềm-thúc tâm mình,

Tâm khéo giữ-gìn, được hạnh-phước cao.

(Kệ số 036.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Bất-mãn: bất = chẳng có; mãn = đầy; vừa ý, mãn nguyện, thoả-mãn. Bất-mãn là chẳng bằng lòng, chẳng vừa ý.

 

- Tài-sản: tiền-của.

 

- Kinh-doanh: làm ăn, dùng vào nghề-nghiệp sanh-sống; trù-hoạch công việc làm ăn.

 

- Quy-y Tam-Bảo: tìm về nương-tựa nơi Phật, Pháp và Tăng.

 

- Năm giới tại-gia: thường gọi là ngũ-giới: chẳng sát-sanh, chẳng trộm-cắp, chẳng tà-dâm, chẳng nói dối và chẳng uống rượu.

 

- Thập Thiện-nghiệp đạo: thập = mười; thiện = lành; nghiệp = hành-động; đạo = đường-tu. Mười điều Thiện: chẳng sát-sanh, chẳng trộm-cắp, chẳng tà-dâm. chẳng nói dối, chẳng nói lưỡi hai chiều, chẳng nói lời thô-ác, chẳng nói lời vô-nghĩa, chẳng tham, chẳng giận, chẳng có tà-kiến.

 

- Kềm-thúc: giữ-gìn chặt-chẽ, bó-buộc phải theo.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyên:

 

Tích chuyện thuật lại cuộc đời đi tu của một tỳ-kheo. Trước, khi còn ở nhà, được chỉ dạy chia tài-sản ra ba phần, lấy một phần để bố-thí: đó là để tạo phước cho đời sau được giàu-có. Kế đó được chỉ-dạy nên giữ gìn năm giới của người tu tại-gia: đó tu theo nhơn-thừa, nghĩa là để đời sau được tái-sanh lại làm người. Sau, lại được dạy thi-hành Thập-thiện: đó là đường-tu Thiên-thừa, nghĩa là đời sau sẽ được sanh lên cõi Trời sung-sướng. Sau cùng được bảo nên xuất-gia làm tỳ-kheo: đó là đường-tu giải-thoát khỏi cảnh Luân-hồi. Ba đường trước còn dễ nhớ, dễ làm vì chỉ có một điều: bố-thí; chỉ có năm điều: ngũ giới; chỉ có mười điều: thập-thiện. Đến khi học giới tỳ-kheo: 250 điều và Tam-tạng Kinh-điển thì nhiều quá, học chẳng xuễ. Đức Phật tóm lại cho gọn thành ra có một điều duy-nhứt: giữ gìn tâm cho kỹ-lưỡng. Đó là con đường tu tâm để được giải-thoát. Xem thế thì biết, thiên kinh vạn quyển ( = ngàn cuốn kinh, vạn cuốn sách), chỉ tóm lại có một điều: Tu Tâm!

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ:

 

Bài Kệ số 036, giống bài Kệ số 035, ở lời văn và ý-nghĩa; cả hai mô-tả tâm nơi ba câu đầu, và khuyên ta nên tu tâm ở hai câu sau.

 

Tu Tâm như thế nào, trong bài trước đã nói qua, xin khỏi nhắc lại. Chỉ xin nhấn mạnh một điều: Kinh Phật, giới-luật, có rất nhiều, nhưng chỉ cần hiểu, nhớ và thi-hành đúng một điều duy-nhứt:TU TÂM. Ta hãy thán-phục cách dạy của Đức Phật: dạy rất giản-dị, ít mà đủ, lại có hiệu-quả. Xin xem lại Tích chuyện của Tỳ-kheo Tiểu Phan-tha-ka, trang 69, và so-sánh với mẩu chuyện ở đây thì thấy rõ tài dạy-dỗ khéo-léo của Đức Phật.

 

Học-tập

 

1. Học thuộc lònh bài Kệ nầy. Hãy nhớ lại cả hai bài trước đó. Trọn ba bài đ ều nói về việc tu-tâm. Học thuộc lòng rất tốt, nhưng chưa đủ, phải thực-hành mới có hiệu-quả.

 

2.- Có một cách để nhớ đủ mười điều thiện: chia ra,

 

- ba điều nói về thân: (1) chẳng sát-sanh, (2) chẳng trộm-cắp, (3) chẳng tà-dâm;

 

- bốn điều nói về miệng: (1) chẳng nói dối, (2) chẳng nói lưỡi đôi chiều, (3) chẳng nói lời thô-ác, (4) chẳng nói lời vô-nghĩa;

 

- ba điều nói về ý: (1) chẳng tham, (2) chẳng giận, (3) chẳng có tà-kiến.

 

Giữ được ba nơi thân, miệng, ý đều lành,là giữ cho ba nghiệp được thanh-tịnh. Đó là căn-bản cho mọi đường-tu, chẳng chỉ riêng Thiên-thừa.

 

Xin giải-thích thêm vài điều trong Thập-Thiện:

 

- tà-dâm có nghĩa là đã có vợ-chồng mà còn lang-chạ, xâm-phạm tiết-hạnh của người khác. Đối với tỳ-kheo, cấm hẳn việc dâm-dục, phải theo hạnh độc-thân.

 

- nói lưỡi đôi chiều là nói đâm thọc, gặp người nầy nói vầy, gặp người kia nói khác, cố ý gây chia rẽ, gieo thêm giận-hờn.

 

- nói lời vô-nghĩa là nói chuyện tầm-phào, ngồi lê đôi mách.

 

- tà-kiến: có nhiều tà-kiến, nhưng cần nhớ biết ba tà-kiến nầy để tránh: thân-kiến, chấp lấy thân làm ta; thường-kiến, cho rằng có linh-hồn bất-diệt, đoạn-kiến, cho rằng chết là hết, chẳng có Luân-hồi.

The Story of A Certain Disgruntled Bhikkhu

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (36) of this book, with reference to a young disgruntled bhikkhu who was the son of a banker.

Once, there lived in Savatthi, the son of a banker. This young man asked the bhikkhu, who used to come to his house for alms, what he should do to be liberated from the ills of life. The bhikkhu instructed him to divide his property into three parts; one part to do business with, one part to support the family and one part to give in charity. He did as he was told and again asked what else should be done next. So he was further instructed; first to take refuge in the Three Gems* and to observe the five precepts; secondly, to observe the ten precepts; and thirdly, to renounce the world and enter the Buddhist religious Order. The young man complied with all these instructions and became a bhikkhu.

As a bhikkhu, he was taught the Abhidhamma** by one teacher and the Vinaya by another. Being taught in this way, he felt that there was too much to be learnt, that the disciplinary rules were too strict and too many, so much so that there was not enough freedom even to stretch out one's hands. He thought that it might be better to return to the life of a householder. As a result of doubt and discontent, he became unhappy and neglected his duties; he also became thin and emaciated. When the Buddha came to know about this, he said to the young bhikkhu, "if you can only control your mind, you will have nothing more to control; so guard your own mind."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 36: The mind is very difficult to see, very delicate and subtle; it moves and lands wherever it pleases. The wise one should guard his mind, for a guarded mind brings happiness.


At the end of the discourse, the young bhikkhu and many others attained arahatship.

Three Gems: The Three Gems are the Buddha, the Dhamma and the Samgha, (i.e., the Buddha, the Teaching of the Buddha, and the Buddhist religious Order).

** Abhidhamma: the third great division of the Pitaka comprising the Buddha's philosophical exposition of ultimate realities.

Dhammapada Verse 36
Ukkanthitabhikkhu Vatthu

Sududdasam sunipunam
yatthakamanipatinam
cittam rakketha medhavi

cittam guttam sukhavaham.

Verse 36: The mind is very difficult to see, very delicate and subtle; it moves and lands wherever it pleases. The wise one should guard his mind, for a guarded mind brings happiness.


dhp037_B
Verse-Kệ 037

(27).- Tích chuyện Sa-di Tha-di-nê - Kệ số 037

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Sa-di Tha-di-nê và Trưởng-lão Tăng-ga-ra.

 

Thuở ấy, có một vị Trưởng-lão ở nước Xá-vệ, tên là Tăng-ga-ra, có người cháu gọi mình bằng cậu, tên là Tha-di-nê. Tha-di-nê còn nhỏ tuổi, được thâu-nhận vào chùa, làm Sa-di. Bấy giờ, Sa-di Tha-di-nê nhận được hai bộ cà-sa cúng-dường; sau mùa an-cư kiết-hạ, mới đến gặp Trưởng-lão Tăng-ga-ra, để chia lại cho cậu mình một bộ áo. Nhưng Trưởng-lão từ-chối chẳng nhận, bảo rằng Trưởng-lão đã có đủ ba bộ y rồi. Sa-di Tha-di-nê rất buồn lòng, thấy cậu chẳng chịu chia-xẻ phước-báu cùng mình.

 

Hôm ấy, Sa-di Tha-di-nê đang đứng hầu, quạt mát cho Trưởng-lão. Trong đầu chú Sa-di liền khởi lên ý-nghĩ, mình cúng-dường cho cậu mình, mà cậu chẳng nhận, thôi thì mình còn ở lại chùa làm chi nữa, hãy cứ quay về sống đời sống thế-tục. Rồi mình đem bán bớt một chiếc áo, lấy tiền mua một con dê-cái để nuôi. Chẳng bao lâu, dê đẻ con, mình sẽ có một đàn dê, đủ tiền để cưới một cô vợ. Năm sau, vợ mình sanh một đứa con, mình sẽ dẫn vợ con để đảnh-lễ cậu mình ở tu-viện. Mình dùng một chiếc xe nhỏ để đưa vợ con đi. Dọc đường, mình muốn bồng con lên, nhưng vợ mình cãi lại, bảo để con cho nàng bồng, còn mình hãy cứ đẩy xe đi. Mình chẳng chịu, vói tay bồng con, vợ mình giựt lại, khiến con té xuống đất. Mình tức quá, mới lấy cây gậy đuổi dê, gõ mạnh vào đầu vợ mấy cái...

 

Suy-nghĩ miên-man như thế, Sa-di Tha-di-nê trở cán quạt khỏ vào đầu Trưởng-lão một cái đau-điếng. Trưởng-lão ngẩng lên nhìn chú Sa-di, đọc được tư-tưởng của chú, liền nói: "Cháu muốn đánh vợ cháu, sao lại nhè cái đầu trọc của nhà sư già nầy mà đập, đau thế!" Tha-di-nê mới bừng tỉnh cơn mộng, sợ quá sợ, vì cậu mình đã biết được ý-nghĩ trong đầu mình. Vừa xấu-hổ, vừa lo-lắng, Sa-di Tha-di-nê vụt bỏ chạy ra khỏi chùa. Các vị tăng trẻ tuổi và mấy chú tiểu trong chùa vội rượt theo bắt lại và dẫn Sa-di Tha-di-nê đến trước mặt Đức Phật.

 

Khi nghe kể lại câu chuyện, Đức Phật mới bảo rằng, tâm có khả-năng nghĩ đến một việc ở xa, thật xa, và mọi người tu-hành chăm-chỉ phải biết cách gìn-giữ tâm, phải khiến cho tâm rửa sạch được ba món độc tham, sân, si. Bấy giờ, Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Tâm lang-thang đi xa,

Nó chạy rong một mình;

Nó chẳng hình, chẳng sắc,

Ẩn trong hang động sâu.

Ai điều-phục tâm nầy,

Thoát vòng vây bọn ma.

(Kệ số 037.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Sa-di: tiếng Phạn phiên-âm, Sramanera, người còn trẻ tuổi vào chùa tập-sự tu, chưa thọ-giới Tỳ-kheo.

 

- Tha-di-nê: tên thật bằng tiếng Pali rất dài: Sangharakkhita Bhàgineyya, Thiện-Nhựt lấy chữ sau để đặt tên tiếng Việt cho dễ đọc.

 

- Tăng-ga-ra: tên thật bằng tiếng Pali là Sangharakkhita.

 

- Ba bộ y: theo giới-luật tỳ-kheo, mỗi người chỉ giữ lại cho mình có ba bộ áo. Mục-đích của giới nầy là để diệt lòng tham tích-trữ của cải và tránh sự khoe-khoang về cách ăn-mặc.

 

- Cơn mộng: mộng = chiêm-bao; ngủ mê, trong đầu mơ nghĩ đến chuyện chẳng thật. Ở đây, chú Sa-di đang ngủ đứng!

 

- Chú tiểu: tiếng thông-thường để gọi các vị Sa-di.

 

- Chạy rong: chạy đi chơi lang-thang chẳng có mục-đích gì.

 

- Ở trong hang động sâu: ở đây, ý muốn nói đến trái tim ở trong buồng ngực. Thông-thường, người ta cho rằng tâm là trái tim; nhưng như bài Kệ nói rõ, nó vô-hình, nó là phần tâm-linh ở bên trong, chẳng có nơi xác-định trên thân-thể.

 

- Điều-phục: điều = điều-khiển, nắm lấy quyền làm chủ để sai-khiến; phục = hàng-phục, khuất-phục, bắt buộc phải theo lịnh của người chủ. Ở đây, điều-phục tâm là biết kềm-giữ tâm, chẳng cho nó chạy rong.

 

- Bọn ma: ở đây, ý muốn nói: thoát được sự cám-dỗ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1).- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc một chú Sa-di đang quạt hầu một vị Trưởng-lão, vì đang mơ-mộng, nên chú trở cán quạt, khỏ vào đầu vị Trưởng-lão. Khi biết tư-tưởng trong đầu mình bị người khác đọc thấy được, chú xấu-hổ chạy đi, nhưng sau đó, được Đức Phật chỉ-dạy cách kềm tâm lại, chẳng cho nó chạy rong nữa.

 

Ý-nghĩa quan-trọng nầy: kềm-giữ tâm, đã được nói rõ trong ba bài Kệ trước.

 

(2).- Ý-nghĩa của bài Kệ số 037:

 

Bài Kệ có hai phần chánh:

 

a.- Ba câu đầu mô-tả Tâm:

 

1) Tâm chẳng có hình-sắc. Tại sao? Vì tâm chỉ vào phần tâm-linh, chẳng phải là vật-chất mà có hình-dáng và màu sắc.

 

2) Tâm ẩn trong hang động sâu: Câu nầy có thể hiểu Tâm là trái tim, ở sâu trong buồng ngực. Nhưng hiểu như thế, tuy cũng đúng, nhưng chưa đầy-đủ, vì ta chẳng thể xác-định phần vô-hình của Tâm ở vào chỗ nào nhứt-định trong thân-thể ta cả. Ở đầu chăng? Không, trong đầu chỉ có óc, tuy rằng nhờ óc mà ta suy-nghĩ được, nhưng đó còn chưa hẳn là Tâm. Ở trong bụng chăng? Không, trong bụng chỉ có dạ-dày ( =bao-tử), ruột và các bộ-phận khác của bộ tiêu-hoá. Ở trong ngực chăng? Không, ở trong ngực có phổi để thở, và tim để đưa máu đi khắp châu-thân) Có lẽ nên hiểu chữ hang động sâu, như là một nơi kín đáo nào đó bên trong ta. Tuy chẳng biết rõ đích-xác chỗ nào, nhưng ta có thể nắm-bắt được Tâm, bằng cách hễ Tâm đang nghĩ gì, mình biết ngay là Tâm đang nghĩ điều đó. Vậy, cần chi xác-định Tâm ở đâu, chỉ cần biết nắm-giữ Tâm lại là đủ.

 

3) Nó chạy rong một mình, đi lang-thang rất xa: đó là hai đặc-tánh của cái Tâm chưa được điều-phục. Nó chạy rong một mình, bỏ thân-thể đang đứng hay nằm, ngồi, ở đây. Nó lang-thang đi thật xa, theo sự tưởng-tượng của nó. Chẳng những đi xa, nó còn quay về dĩ-vãng, hướng về tương-lai, lại thêm tạo ra những việc giả-tưởng nữa.

 

b.- Hai câu chót: ích lợi của sự điều-phục Tâm. Biết nắm-giữ Tâm, biết kiểm-soát Tâm, biết điều-phục Tâm, thì thoát khỏi sự cám-dỗ, mà bài Kệ gọi là vòng vây bọn Ma. Tại sao lại bị cám-dỗ? Trong hai bài Kệ trước, số 035 và 036, có nói: nó bay cao rồi đáp xuống nơi nào nó thích; nó chạy khắp nơi, rồi ngừng lại chẳng rời nơi thích. Tại nó thích, cho nên nó mới bị cám-dỗ.

 

Chung qui, vấn-đề đặt ra là làm cách nào để điều-phục tâm cho có hiệu-quả; xin xét đến vấn-đề nầy ở Phần Học-Tập.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ.

 

2.- Đã biết Tâm rất khó nắm-giữ, rất khó kiểm-soát, muốn điều-phục Tâm, cần phải kiên-nhẫn, thực-hành luôn luôn, mới có hiệu-quả. Xin đề-nghị vài cách để biết nắm-giữ Tâm trước đã.

 

1) Khi rỗi-rảnh chẳng có việc gì cần làm, chính lúc đó là Tâm hay đi lang-thang: muốn giữ-gìn Tâm lúc nầy, cần phải niệm thầm trong đầu một bài Kệ. Bất cứ bài Kệ nào mình nhớ, phải đọc thầm trong đầu trọn bài, chỗ nào quên, lấy sách ra đọc lại, kỳ đến thuộc làu mới thôi. Trong thời-gian nầy, đang giữ Tâm một cách hữu-hiệu. Xin nhớ, phải đọc thầm cả bài Kệ, chẳng thiếu chữ nào. Khi thiếu, Tâm thường hẹn, để lúc nào đó sẽ giở sách ra xem lại. Nếu chiều theo ý-nghĩ lười nầy, Tâm sẽ đi lang-thang ngay.

 

2) Trong khi tụng kinh ở Chánh-điện, thường hay lo ra, nghĩ đến việc sẽ làm sau thời kinh. Đó là: cái miệng đọc tụng mà cái bụng đi chợ! Trong lúc bụng đi chợ như thế, nếu nghe tiếng chuông mà sực-tỉnh, nên sửa lại cặp kiếng, hay vuốt mặt một cái, rồi chăm-chú vào lời Kinh, dầu có hiểu hay chẳng hiểu cũng chẳng sao, miễn là mình biết mình đang đọc chữ gì, câu gì. Đấy là kéo Tâm về với hiện-tại và tại đây đó.

The Story of Thera Samgharakkhita

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (37) of this book, with reference to the nephew of Thera Samgharakkhita.

Once, there lived in Savatthi, a senior bhikkhu by the name of Samgharakkhita. When his sister gave birth to a son, she named the child after the thera and he came to be known as Samgharakkhita Bhagineyya. The nephew Samgharakkhita, in due course, was admitted into the Order. While the young bhikkhu was staying in a village monastery he was offered two sets of robes, and he intended to offer one to his uncle, the thera.

At the end of the vassa he went to his uncle to pay respect to him and offered the robe to the thera. But, the uncle declined to accept the robe, saying that he had enough. Although he repeated his request, the thera would not accept. The young bhikkhu felt disheartened and thought that since his uncle was so unwilling to share the requisites with him, it would be better for him to leave the Order and live the life of a layman.

From that point, his mind wandered and a train of thoughts followed. He thought that after leaving the Order he would sell the robe and buy a she-goat; that she-goat would breed quickly and soon he would make enough money to enable him to marry; his wife would give birth to a son. He would take his wife and child in a small cart to visit his uncle at the monastery. On the way, he would say that he would carry the child; she would tell him to drive the cart and not to bother about the child. He would insist and grab the child from her; between them the child would drop on the cart-track and the wheel would pass over the child. He would get so furious with his wife that he would strike her with the goading-stick.

At that time he was fanning the thera with a palmyra fan and he absentmindedly struck the head of the thera with the fan. The thera, knowing the thoughts of the young bhikkhu, said, "You were unable to beat your wife; why have you beaten an old bhikkhu?" Young Samgharakkhita was very much surprised and embarrassed at the words of the old bhikkhu; he also became extremely frightened. So he fled. Young bhikkhus and novices of the monastery chased him and finally took him to the presence of the Buddha.

When told about the whole episode, the Buddha said that the mind has the ability to think of an object even though it might be far away, and that one should strive hard for liberation from the bondage of passion, ill will and ignorance.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 37: The mind wanders far and moves about alone: it is non-material; it lies in the cave (chamber) of the heart. Those who control their mind will be free from the bonds of Mara.


At the end of the discourse the young bhikkhu attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 37
Samgharakkhitatthera Vatthu

Durangamam ekacaram1
asariram guhasayam2
ye cittam samyamissanti

mokkhanti marabandhana.

Verse 37: The mind wanders far and moves about alone: it is non-material; it lies in the cave (chamber) of the heart. Those who control their mind will be free from the bonds of Mara.


1. ekacaram: walking alone, moves about alone, it means conceiving one thought at a time, i.e., one thought arises only when another ceases.

2. guhasayam: lit., lying, or sleeping in a cave; mind lies and arises continually in the cave (chamber) of the heart (hadayavatthu), the seat of consciousness.


dhp038_B
dhp039_B
Verse-Kệ 038-039

(28).- Tích chuyện Trưởng-lão Chí-ta-hạt - Kệ số 038 và 039

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến trường-hợp của Trưởng-lão Chí-ta-hạt, bảy lần thọ-giới Tỳ-kheo.

 

Thuở ấy, có một người ở nước Xá-vệ, vì đi tìm một con bò đi lạc suốt buổi sáng trong rừng sâu, nên đói quá. Anh liền ghé vào một ngôi chùa, xin cơm ăn. Trong khi ăn, anh ngẫm-nghĩ, mình làm việc vất-vả cả ngày mà chẳng có được thức ăn ngon như vầy, chi bằng mình cứ xin vào chùa tu thì sướng hơn. Sau bữa ăn, anh ta liền xin phép được xuất-gia, và được thu-nhận vào Tăng-đoàn. Tại tu-viện, anh thi-hành đầy-đủ bổn-phận của một vị rỳ-kheo và nhờ có thực-phẩm đầy-đủ, nên anh béo mập ra. Sau một thời-gian, anh cảm thấy buồn chán, mỗi ngày phải mang bình-bát đi khất-thực, nên xin quay về nhà, trở lại đời sống thế-tục. Về nhà được mấy hôm, anh lại cảm thấy cuộc sống nơi đây cực-khổ quá, nên trở lại chùa, xin được đi tu lại, và được chấp-nhận. Cứ thế, cả thảy, sáu bận thọ giới Tỳ-kheo, sáu lần hoàn-tục. Các vị tăng-nhơn trong chùa gọi chàng ta là tỳ-kheo Tâm-bất-định.

 

Đến lần thứ bảy trở về nhà, vợ anh mang bầu. Một đêm, anh ta đi vào phòng vợ, thấy vợ nằm ngủ, bụng phình to, hơi thở ngáy ồ-ồ, nước dãi chảy thòng xuống mép. Trông thấy cảnh-tượng đó, trong tâm anh khởi lên sự nhàm-chán thân-xác nầy, vừa dơ-bẩn, lại vừa vô-thường. Anh lẩm-bẩm: "Bất-tịnh! Vô-thường!", rồi quay ra ngoài, lẳng lặng thay y-phục trở lại chùa. Bấy giờ, chư Tăng từ-khước chẳng cho anh xuất-gia nữa. Năn-nỉ hồi lâu, bảo đây là lần chót, nhứt-định đi tu luôn, anh mới được thâu-nhận lại. Bẵng đi một thời-gian khá lâu, thấy anh chẳng xin trở về thăm nhà, các bạn đồng tu mới hỏi anh lý-do. Anh bảo: "Tôi đã xuất-gia nhiều lần mà chẳng được, đó là vì còn nhớ tưởng đến người đàn-bà, vợ tôi. Nay tôi nhận thấy thân con người là bất-tịnh và cơn vô-thường chợt đến, nên tôi nhứt quyết rời hẳn đời sống thế-tục." Các vị tỳ-kheo nghe nói thế, chưa cho đó là sự-thật, nên đến thưa trình cùng Đức Phật.

 

Đức Phật bảo: "Tỳ-kheo Chí-ta-hạt nay đã đắc đạo-quả A-la-hán, tâm trở nên kiên-cố rồi. Trước kia, đi đi lại lại là vì tâm ông ta chưa ổn-định và chưa hiểu thấu Chánh-pháp. Nay với quả-vị A-la-hán, ông ta đã vượt qua cả điều thiện lẫn điều ác." Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Tâm người còn lao-chao,

Chánh-pháp chửa thấm vào,

Niềm tin còn lỏng-lẻo

Bao giờ đạt trí cao?

(Kệ số 038.)

 

Tâm người lià tham-ái,

Hận-thù đều đã giải,

Vượt trên điều thiện, ác,

Đấy là bực Đại-giác.

(Kệ số 039.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Chí-ta-hạt: tên thật bằng tiếng Pali là Cittahattha.

 

- Thọ-giới Tỳ-kheo: còn gọi là thọ Cụ-túc-giới, nghĩa là làm lễ hứa nhận sẽ tuân theo 250 giới-điều của Tỳ-kheo.(Cụ-túc = đầy-đủ)

 

- Xuất-gia: xuất = ra khỏi; gia = nhà. Xuất-gia là rời nhà vào chùa đi tu. Những người còn sống đời thế-tục mà tu-hành theo Chánh-pháp, gọi là tu tại-gia.

 

- Bình-bát: cái chén to như cái tô; bằng gỗ hay bằng đồng, các vị khất-sĩ dùng đựng thức-ăn vừa đi xin được.

 

- Hoàn-tục: hoàn = trở lại, trở về; tục = thế-tục, đời sống thường- nhơn, có gia-đình.

 

- Tâm bất-định: Tâm = lòng; bất = chẳng; định = yên. Thầy tỳ-kheo Chí-ta-hạt cứ nay ở chùa mai về nhà, lúc tu lúc không, tấm lòng cứ thay đổi luôn, nay vầy mai khác, đó là tâm bất-định, chẳng kiên-cố.

 

- Mang bầu: tiếng bình-dân, có nghĩa là mang thai, có con trong bụng.

 

- Vô-thường: vô = chẳng; thường = luôn luôn. Vô-thường, danh-từ chuyên-môn về Phật-học nầy có nghĩa là muôn sự-vật có hình-tướng đều chẳng bền-vững, nay tuy thấy có đó, nhưng rồi sẽ bị tiêu-huỷ vào một ngày nào đó. Còn một nghĩa nữa, cơn vô-thường chợt đến, có nghĩa là cái chết đến bất-chợt, chẳng biết chắc được trước vào lúc nào.

 

- Bất-tịnh: bất = chẳng; tịnh = sạch. Xin xem lại bài Bà Mã thi-Kha, các trang 93 đến 97, về phép Quán thân bất-tịnh (trang 95).

 

- Kiên-cố: kiên = cứng; cố = vững, yên. Tâm kiên-cố nhứt quyết theo điều gì, thì theo luôn, chẳng đổi bụng, hay thối-chí.

 

- Vượt qua cả điều thiện và điều ác: vì đã thông-suốt Chánh-pháp, tâm trở nên thanh-tịnh, cho nên lúc nào cũng nghĩ đến việc lành; đối với thái-độ thiện-ác của người khác, cũng chẳng chỉ-trích, phê-bình. Đó là tâm vô-phân-biệt, rất khó tập, vì thông-thường ai cũng khen điều thiện mà chê điều ác. Hễ còn khen chê là tâm còn xao-động; vì thế, phải giữ cho bình-thản, thì tâm mới kiên-cố.

 

- Lao-chao: xao-động, nghiêng-ngửa, thay-đổi lung-tung.

 

- Chửa thấm vào: chưa thông-hiểu được rõ.

 

- Đạt Trí cao: Trí cao ở đây muốn nói đến Trí-huệ Bát-nhã Ba-la-mật, cái Trí-huệ đưa người tu-hành đến bờ giác-ngộ và giải-thoát. Đạo Phật chủ trương Từ-bi và Trí-huệ; Trí-huệ đây là Trí cao nói trong bài Kệ.

 

- Tham-ái: tham = ham muốn quá; ái = thích, tríu-mến. Sự tham-ái là sự ham-muốn bám vào các thú vui vật-chất tạm-thời, để phải sống trong sự đau-khổ triền-miên của cảnh sanh-tử Luân-hồi. Muốn diệt Khổ, phải bỏ tiệt sự tham-ái, đừng tríu-mến gì nữa.

 

- Giải: mở ra. Hận thù đều đã giải, là đã buông-bỏ mọi thù-giận.

 

- Đại-Giác: đại = lớn; giác = hiểu rõ. Bực Đại-Giác có nghĩa là Đức Phật. (Phật = giác). Hiểu rõ gì? Hiểu rõ lẽ sống chết của mọi chúng-sanh. Nói cách khác, đã thông-hiểu hoàn-toàn về Bốn Chơn-Lý Nhiệm-mầu. Tu đến cấp A-la-hán cũng gọi là bực Đại-giác.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại một vị tỳ-kheo tâm chẳng kiên-cố, đến lần thứ bảy thọ-giới tỳ-kheo mới tu thành-công. Tại sao? Vì độ trước, vị ấy cứ nhớ nhà, bỏ chùa quay về với vợ. Đến lần thứ sáu về nhà, nhơn khi nhìn thấy người vợ nằm ngủ trong tư-thế chẳng được đẹp-đẽ, thầy Chí-ta-hạt sực nhớ đến phép quán thân bất-tịnh, ngộ được lẽ Vô-thường, mới quyết-chí trở lại chùa, tu-hành cho đến ngày thành-công viên-mãn.

 

Đức Phật cho rằng trước kia tâm của thầy Chí-ta-hạt còn chưa ổn-định, sau nhờ thấu-hiểu Chánh-pháp, vượt qua được mọi điều thiện, ác, nên chứng-đắc được quả-vị A-la-hán.

 

(2).- Ý-nghĩa hai bài Kệ số 038 và 039:

 

a.- Bài Kệ 038 nói đến Tâm tu-hành chưa kiên-cố:

 

- Tâm người còn lao-chao: đó là tâm hay xao-động, hay thay đổi, thiếu kiên-quyết, gặp khó thì lùi, chẳng bền-chí;

 

- Chánh-pháp chửa thấm vào: chưa thật-sự đem Chánh-pháp ra thi-hành trên bản-thân mình một cách chuyên-cần;

 

- Niềm tin còn lỏng-lẻo: chưa vững tin nơi Tam-Bảo vì còn bị cám-dỗ, vì còn hoài-nghi;

 

Hậu-quả: việc tu-hành lơ-là, chẳng thể nào đạt được Trí-Huệ để đi đến mục-tiêu giác-ngộ và giải-thoát.

 

b.- Bài Kệ 039 nói đến Tâm và Tuệ đều được giải-thoát:

 

- Tâm người lià tham-ái: bỏ được sự tham-ái là dứt được mối độc lớn, hết bấu-víu vào các thú-vui của đời sống thế-tục;

 

- Hận-thù đều đã giải: Tâm diệt bỏ được mối độc to lớn thứ hai là sân-hận, chẳng còn bị nghịch-cảnh trì-níu;

 

- Vượt lên trên các điều thiện, ác: Tâm hoàn-toàn quân-bình, an-nhiên, chẳng xao-động trước cảnh thuận, nghịch, nhờ đó Trí-huệ phát-sanh, kiên-cố theo con đường giải-thoát.

 

Kết-quả: tu-hành tinh-tấn, đạt mục-tiêu giác-ngộ và giải-thoát.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng hai bài Kệ, và nhớ cho THẤM vào Tâm mình bằng cách giữ đúng giới-luật, tinh-tấn hành-thiền, theo đúng Chánh-pháp

 

2.- Muốn cho Tâm tu-hành kiên-cố, cần nhớ đến mục-tiêu:

 

- giải-thoát Tâm khỏi hai mối độc: tham và sân;

 

- giải-thoát Trí khỏi mối độc: si-mê.

The Story of Thera Cittahattha

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (38) and (39) of this book, with reference to Thera Cittahattha.

A man from Savatthi, after looking for his lost ox in the forest, felt very hungry and went to a village monastery, where he was given the remains of the morning meal. While taking his food, it occurred to him that even though he worked hard every day he could not get such good food and that it might be a good idea to become a bhikkhu. So he asked the bhikkhus to admit him into the Order. At the monastery, he performed the duties of a bhikkhu and as there was plenty of food he soon gained weight. After some time, he got weary of going round for alms-food and returned to the life of a lay man. A few days later, he felt that life at home was too strenuous and he went back to the monastery to be admitted as a bhikkhu for a second time. For a second time, he left the Order and returned to home-life. Again, he went back to the monastery for a third time and left it. This shuttling process went on for six times, and because he acted only according to his whims he was known as Thera Cittahattha.

While he was going back and forth between his home and the monastery, his wife became pregnant. One day, during his last stay at home, he happened to enter the bedroom while his wife was asleep. She was almost naked as the clothes she was wearing had partially fallen off. She was also snoring loudly through her nose and mouth and saliva was trickling down her mouth. Thus, with her mouth open and her bloated stomach, she looked just like a corpse. Seeing her thus, he instantly came to perceive the impermanent and unpleasant nature of the body, and he reflected, "I have been a bhikkhu for several times and it is only because of this woman that I have not been able to remain as a bhikkhu." Hence, taking the yellow robe with him he left his home for the monastery for the seventh time. As he went along he repeated the words "impermanence" and "unpleasantness" (anicca and dukkha) and thus attained Sotapatti Fruition on the way to the monastery.

On arrival at the monastery he asked the bhikkhus to admit him into the Order. They refused and said, "We cannot admit you as a bhikkhu. You have been shaving your head so often that your head is like a whetting stone." Still, he entreated them to admit him into the Order just once more and they complied. Within a few days, the bhikkhu Cittahattha attained arahatship together with Analytical Insight. Other bhikkhus, seeing him staying on for a long time in the monastery, were surprised and they asked him the reason why. To this, he replied. "I went home when I still had attachment in me, but now that attachment has been cut off" The bhikkhus, not believing him, approached the Buddha and reported the matter. To them, the Buddha said, "Thera Cittahattha was speaking the truth; he shifted between home and monastery before because at that time, his mind was not steadfast and he did not understand the Dhamma. But at this moment, Thera Cittahattha is already an arahat; he has discarded both good and evil."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 38: If a man's mind is unsteady, if he is ignorant of the true Dhamma, and if his faith is wavering, then his knowledge will never be perfect.
 
Verse 39: If a man's mind is free from passion, if he is free from ill will, if he has abandoned both good and evil, and if he is vigilant, for such a man there is no danger.


Dhammapada Verses 38 and 39
Cittahatthatthera Vatthu

Anavatthitacittassa
saddhammam avijanato
pariplavapasadassa
panna na paripurati.

Anavassutacittassa
ananvahatacetaso
punnapapapahinassa
1
natthi jagarato2 bhayam.

Verse 38: If a man's mind is unsteady, if he is ignorant of the true Dhamma, and if his faith is wavering, then his knowledge will never be perfect.

Verse 39: If a man's mind is free from passion, if he is free from ill will, if he has abandoned both good and evil, and if he is vigilant, for such a man there is no danger.


dhp040_B
Verse-Kệ 040

(29).- Tích chuyện Năm trăm vị Tỳ-kheo tu Thiền - Kệ số 040

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc năm trăm vị tỳ-kheo vào rừng sâu để thực-tập thiền-định.

 

Thuở ấy, có năm trăm vị tỳ-kheo được Đức Phật chỉ-dạy cho đề-tài quán-chiếu, cùng nhau vào rừng sâu, cách thành Xá-vệ hơn một trăm do-tuần. Nơi đây, các vị ấy tìm thấy một điạ-điểm u-nhã rất thích hợp cho việc hành-thiền. Bấy giờ, các vị thọ-thần canh giữ khu rừng, nghĩ rằng có các tu-sĩ đến ngụ trong rừng, thì nên đem hết quyến-thuộc của họ xuống ở dưới đất, để tỏ lòng kính-trọng. Họ những tưởng đoàn tỳ-kheo đến tạm-trú một vài đêm rồi sẽ di-chuyển đi nơi khác. Nào dè, các vị ty-kheo vẫn lưu lại suốt hai tuần-lễ rồi mà chưa dời gót. Các thọ-thần thấy như thế thì quyến-thuộc của họ phải chịu thiếu-thốn tiện-nghi lâu ngày, mới bàn cùng nhau tìm cách doạ-nhát các tu-sĩ để phải sợ mà sớm bỏ đi. Họ liền cùng nhau phát ra những tiếng ma kêu quỉ hú, biến thành những thi-ma chẳng có đầu, hoặc có đầu mà chẳng có thân, v.v. Quả thật, các vị tỳ-kheo nhát gan, sợ cuống lên, mới quay về trình với Đức Phật. Đức Phật bảo: "Đó là tại các ông còn chưa mang võ-khí khi vào rừng. Đây, Như-Lai chỉ-dạy cho võ-khí đó: các ông hãy học thuộc bài Kệ về Tâm Từ nầy, và khi trở lại chỗ cũ, tới ven rừng, nên thành-tâm đọc tụng và rải Tâm Từ đến mọi chúng-sanh."

 

Bài Kệ "Rải Tâm Từ" như sau:

 

"Hướng về cảnh Niết-bàn an-tịnh,

Tạo phước lành cho cõi nhơn-thiên,

Người rải Tâm Từ khắp mọi miền,

Hiền-hoà, khiêm-nhường và trực-tính."

 

Sau khi học thuộc bài Kệ, các vị tỳ-kheo trở lại khu rừng. Vừa đến bià rừng, tất cả thành-tâm đọc-tụng vang lên bài Kệ và tâm hướng về các chúng-sanh trong rừng mà rải lòng Từ. Các vị thọ-thần nghe thấy, nhận được làn sóng tư-tưởng hiền-hoà của Tâm Đại-từ rộng lớn tràn ngập, mới phát lòng Từ hướng về các vị tỳ-kheo, chào mừng và hết lòng ủng-hộ. Nhờ đó, trong mùa an-cư tại khu rừng, các vị tỳ-kheo đã tinh-tấn hành-thiền, đắc được định-tâm.

 

Bấy giờ, Đức Phật từ Kỳ-viên-tự, quán thấy cảnh tu-hành tinh-tấn của các vị tỳ-kheo, Ngài mới phóng hào-quang đến khu rừng, khiến cho tâm các vị tỳ-kheo trông thấy được Đức Phật và nghe Ngài dạy thêm: "Này các vị tỳ-kheo! Như các ông đã nhận thấy, tấm thân thể-chất nầy cũng như cái hủ bằng sành dễ bể, nó chẳng thường còn và rất mong-manh..." Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Biết thân nầy như hủ sành dễ vỡ,

Phòng-hộ tâm như củng-cố thành-trì.

Vung gươm trí dẹp tan Ma cám-dỗ.

Chiến-thắng rồi vẫn trụ chỗ giác-tâm,

Chẳng tham-đắm trong vinh-quang thắng-lợi.

(Kệ số 040.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Do-tuần: đơn-vị đo chiều dài, vào khoảng 12 dặm; tiếng Pali là yojana.

 

- U-nhã: u = thanh-u, êm-ả; nhã = đẹp.

 

- Thọ-thần: thọ = cây to lớn, lâu năm; thần: thần-linh, một hạng chúng-sanh vô-hình-sắc, có thần-thông, Phật-học xếp vào hạng giữa cõi người và cõi Trời.

 

- Quyến-thuộc: quyến = gia-quyến; thuộc = thuộc về. Quyến-thuộc kể cả con cái, họ-hàng và các tôi-tớ.

 

- Thi-ma: thây ma; thây người chết.

 

- Tâm Từ: lòng thương rộng lớn, chẳng phân-biệt thân sơ, muốn cho mọi người được yên-vui.

 

- Như-Lai: Đức Phật thường tự-xưng là Như-Lai. Như là như thế; Lai là đến, Ngài đến cõi nầy như thế. Tiếng Pali là Tathàgata.

 

- Rải Tâm Từ: trong Tâm chỉ nghĩ về sự thương-mến và đem nguồn an-vui đến cho người mà mình đang nghĩ tới. Muốn rải tâm Từ có hiệu-quả, phải thật thành-tâm.

 

- Cõi nhơn-thiên: cõi Trời và cõi người.

 

- Trực-tính: trực = ngay-thẳng; tính = tánh.

 

- Ủng-hộ: giúp-đỡ.

 

- Dễ vỡ: dễ bể.

 

- Phòng-hộ: giữ-gìn cẩn-thận.

 

- Củng-cố: làm cho bền-vững thêm lên.

 

- Gươm Trí: Trí-huệ được ví như cây gươm cắt bỏ được các sự ràng-buộc của các cám-dỗ, các phiền-não và các tà-kiến.

 

- Giác-tâm: giác = biết thấu-đáo; chẳng còn mê-muội, chẳng bị phiền-não, chẳng bị cám-dỗ; thấy rõ con đường giải-thoát.

 

- Vinh-quang thắng-lợi: thành-công rực-rỡ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích-chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc các vị Tỳ-kheo vào rừng tu Thiền, sợ ma. Đức Phật dạy cho võ-khí chống lại: đem Tâm Từ rải lên khắp chúng-sanh. Võ-khí nầy chẳng phải chống lại ma, đàn-áp ma, mà chính là để cảm-hoá mọi chúng-sanh bằng tình thương rộng-rãi. Nó hữu-hiệu nhờ sự thành-tâm của mình, sẽ được sự cảm-ứng của kẻ khác.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ "Rải Tâm Từ":

 

Đây là bài Kệ quan-trọng (Rất tiếc, Thiện Nhựt chẳng đủ sức để diễn lại cho đầy-đủ ý-nghĩa ra tiếng Việt, xin sám-hối!). Từ-Bi là điều thứ nhứt phải tu-tập trong Đạo Phật.

 

a.- Hai câu đầu: Hướng về cõi Niết-Bàn an-tịnh. Đây là mục-đích ban vui của lòng Từ, muốn mọi chúng-sanh được yên-vui, chẳng phải là thú-vui thường-tình của thế-tục, mà là niềm vui được giải-thoát, tự-tại.

 

b.- Hai câu chót: các đức-tánh của người có tâm Từ.

 

- khắp mọi miền: ý muốn nói, đem an-vui lại cho tất cả, chẳng phân-biệt thân hay sơ, bạn hay thù.

 

- Hiền-hoà, khiêm-nhường và trực-tánh: sự hiền-hoà đí trước, bỏ mọi sự bạo-động, lấy tình-thương xoá bỏ hận-thù; sự khiêm-nhường, chẳng kiêu-căng, chẳng tự xem mình hơn kẻ khác, chịu sự thua-lỗ cho mình để giúp kẻ khác mà chẳng tự-hào; trực-tánh là tâm ngay-thẳng, chẳng che-dấu, chẳng giả-vờ. Còn hai đức-tánh nữa, Thiện Nhựt dịch chẳng hết trong bài Kệ: đó là sự đắc-lực, giúp người cho thật có hiệu-quả, chẳng chỉ dùng lời nói suông, hay an-ủi bằng miệng mà thôi; và sự cẩn-mật, luôn luôn canh-phòng tâm mình chẳng cho khởi lên một ý ác nào đối với bất cứ mọi chúng-sanh và sẵn-sàng ra tay giúp-đỡ tất cả.

 

(3).- Ý-nghĩa của bài Kệ số 040:

 

Đây là bài Kệ cũng quan-trọng chẳng kém bài Kệ "Rải Tâm Từ", vì đây là bài dạy về Trí-Huệ, điểm quan-trọng thứ hai của Đạo Phật: Từ-bi và Trí-huệ. Xin phân-tách từng câu:

 

a.- Biết thân nầy như hủ sành dễ vỡ: "Biết" được như thế là đã có Trí-huệ rồi, vì người thường si-mê, chấp thân nầy còn hoài, lo bồi-đắp cho thân béo-mập ra, chẳng lo tu-hành để giải-thoát khỏi khổ-đau của Luân-hồi sanh-tử triền-miên.

 

b.- Phòng-hộ Tâm như củng-cố thành-trì: "Biết" phòng-hộ Tâm là biết điều-phục Tâm, giữ-gìn Tâm, kiểm-soát Tâm, khiến cho ba nghiệp được thanh-tịnh, đó là con đường giải-thoát. Cái biết nầy rất quí.

 

c.- Vung gươm Trí dẹp tan Ma cám-dỗ: "Biết" dẹp tan sự cám-dỗ thì chẳng sa-đoạ. Nhờ đâu? Nhờ Trí-huệ sáng-suốt, bén như gươm, nên chặt bỏ được sự quyến-rũ, khỏi phải sa vào tội-lỗi, thẳng đến mục-tiêu giải-thoát.

 

d.- Chiến-thắng rồi vẫn trụ chỗ giác-tâm: "Biết" như thế là biết khiêm-nhường, chẳng tự-mãn, chẳng tự-cao: thắng mà chẳng kiêu! Thắng cái gì? - Tự thắng lấy mình, mình thắng tật xấu của mình, đó là chiến-thắng vẻ-vang nhứt. Trụ chỗ giác-tâm là trụ thế nào? Lúc nào cũng phải theo dõi từng biến-chuyển trong tâm mình: nay vừa thắng đây, hãy coi chừng, đừng quá tự-hào, kẻo lại rơi vào vết xấu cũ. Trụ vào giác-tâm luôn luôn, đó là điều khó, chính nó mới đánh-giá đạo-hạnh kẻ tu-hành.

 

e.- Chẳng tham-đắm trong vinh-quang thắng-lợi: Đây là lời khuyên mà có rất nhiều vị tu-hành ngày nay quên mất: tự xem mình như bực ... Tổ-sư, nhìn mọi người như còn đang thấp-kém, và đòi hỏi được sự kính-nễ, tôn-sùng của kẻ khác. Mặc dầu có được thành-công, ta cứ nên âm-thầm giữ sự khiêm-nhường như buổi ban đầu, mới quí.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng hai bài Kệ, ráng tìm cách ứng-dụng trong cuộc sống hằng ngày.

 

2.- TỪ-BI và TRÍ-HUÊ là hai khẩu-hiệu căn bản của Đạo Phật. Muốn tập Tâm từ-bi và luyện Trí-huệ, cần hiểu rõ hai nguyên-tắc chánh nầy:

 

- Từ-bi là ban vui, cứu khổ cho mọi chúng-sanh; nên bắt đầu nơi các người thân trước dễ làm hơn, và phải biết quên mình.

 

- Trí-huệ là thông-suốt được Chánh-pháp; phải bắt đầu học ít mà hiểu chắc.

 

3.- Xin đề-nghị vài việc làm nho-nhỏ, có thể giúp ta phát-triển lòng Từ sau nầy:

 

- Ngăn-cấm sắp nhỏ chẳng được bắt bướm, chuồn-chuồn chơi, rồi bứt cánh, bẻ cẳng. Hãy dạy chúng, nếu chúng đứt tay chảy máu, sao lại khóc, còn con côn-trùng bị bứt cẳng, bộ chẳng biết đau sao?

 

- Hễ trẻ xin phép đi bắn chim, bắt cá thia-thia, đừng cho phép: giải-thích cho chúng hiểu sự đau-đớn của loài chim, loài cá, khi phải lià nơi chúng quen sanh-sống. Đề-nghị với chúng các thú tiêu-khiển khác, lành-mạnh hơn, hiền-hoà hơn.

 

- Trong số các món đồ-chơi của trẻ em ở Âu-Mỹ, có nhiều món gợi lên sự bạo-động. Nếu có thể, khuyên chúng đừng quá mê mà đòi mua, giải-thích cho chúng biết thế nào là lòng nhơn-từ.

 

- Đối với người lớn, thi-hành tâm Từ dễ nhứt là bố-thí. Hiến-tặng tiền-của xây cất các cơ-sở xã-hội, y-tế, tôn-giáo là điều quí, nhưng chẳng phải mọi người đều có thể làm nổi; nhưng để ra một vài đồng tặng người hành-khất, đâu có khó. Lợi trước mắt cho người cho là dẹp được lòng bỏn-xẻn, kế đó tập cho mình có thói quen của lòng Từ.

 

- Hãy tập ăn chay ít nhứt mỗi tháng một lần, ăn đầy đủ chất bổ, rau cải thanh-khiết. Đó là giữ giới sát-sanh trong ngày ấy. Nếu đang ngồi đọc sách, bị muỗi cắn, đừng đập mạnh cho chết, rồi lấy tay chà ... cho đã ngứa và đã ... giận. Hãy chịu khó thổi vào nó để nó bay đi, tha cho nó sống thêm một ngày, ngày mà mình ... ăn chay!

 

- Đừng dùng thuốc giết sâu bọ để xịt sân cỏ, vườn rau. Muốn trị sâu ở rau cải trong vườn, pha loảng xà-bông với nước, tưới lên.

The Story of Five Hundred Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (40) of this book, with reference to five hundred bhikkhus.

Five hundred bhikkhus from Savatthi, after obtaining a subject of meditation from the Buddha, travelled for a distance of one hundred yojanas* away from Savatthi and came to a large forest grove, a suitable place for meditation practice. The guardian spirits of the trees dwelling in that forest thought that if those bhikkhus were staying in the forest, it would not be proper for them to live with their families in the trees. So they descended from the trees, thinking that the bhikkhus would stop there only for one night. But the bhikkhus were still there at the end of a fortnight; then it occurred to them that the bhikkhus might be staying there till the end of the vassa. In that case, they and their families would have to be living on the ground for a long time. So, they decided to frighten away the bhikkhus, by making ghostly sounds and frightful apparitions. They showed up with bodies without heads, and with heads without bodies, etc. The bhikkhus were very upset and left the place and returned to the Buddha, to whom they related everything. On hearing their account, the Buddha told them that this had happened because previously they went without any weapon and that they should go back there armed with a suitable weapon. So saying, the Buddha taught them the entire Metta Sutta (discourse on Loving-Kindness) beginning with the following stanza:

Karaniyamattha kusalena
Yanta santam padam abhisamecca
Sakko uju ca suhuju ca
Suvaco c'assa mudu anatimani.

[The above stanza may be translated as: "He who is skilled in (acquiring) what is good and beneficial, (mundane as well as supra-mundane), aspiring to attain Perfect Peace (Nibbana) should act (thus): He should be efficient, upright, perfectly upright, compliant, gentle and free from conceit."]

The bhikkhus were instructed to recite the sutta from the time they came to the outskirts of the forest grove and to enter the monastery reciting the same. The bhikkhus returned to the forest grove and did as they were told. The guardian spirits of the trees receiving loving-kindness from the bhikkhus reciprocated by readily welcoming and not harming them. There were no more ghostly sounds and ungainly sights. Thus left in peace, the bhikkhus meditated on the body and came to realize its fragile and impermanent nature.

From the Jetavana monastery, the Buddha, by his supernormal power, learned about the progress of the bhikkhus and sent forth his radiance making them feel his presence. To them he said, "Bhikkhus just as you have realized, the body is, indeed, impermanent."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 40: Knowing that this body is (fragile) like an earthern jar, making one's mind secure like a fortified town, one should fight Mara with the weapon of Knowledge. (After defeating Mara) one should still continue to guard one's mind, and feel no attachment to that which has been gained (i.e., jhana ecstasy and serenity gained through meditation).


At the end of the discourse, the five hundred bhikkhus attained arahatship.

yozana: a measure of length about twelve miles.

Dhammapada Verse 40
Pancasatabhikkhu Vatthu

Kumbhupamam kayamimam viditva
nagarupam cittamidam thapetva
yodhetha maram panna vudhena
jitanca rakkhe anivesano siya
1.

Verse 40: Knowing that this body is (fragile) like an earthern jar, making one's mind secure like a fortified town, one should fight Mara with the weapon of Knowledge. (After defeating Mara) one should still continue to guard one's mind, and feel no attachment to that which has been gained (i.e., jhana ecstasy and serenity gained through meditation).


1. anivesano siya: not to be attached; in this Context not to be attached to jhana ecstasy and serenity gained through meditation, but to proceed further with Insight meditation practices until the attainment of arahatship. (The Commentary)


dhp041_B
Verse-Kệ 041

(30).- Tích chuyện vị Tỳ-kheo Phù-ti-cát - Kệ số 041

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Tỳ-kheo mắc bịnh ghẻ lở, thân-thể hôi-hám, có biệt-hiệu là Phù-ti-Cát.

 

Sau khi được Đức Phật chỉ-dạy cho một đề-tài thiền-quán, Tỳ-kheo Phù-ti-Cát liền tinh-tấn thực-hành thiền-định, cho đến khi ông vướng phải bịnh ghẻ lở. Nhiều mụn nhỏ nổi lên khắp mình, chẳng bao lâu mụn vỡ, mủ máu chảy lan, bốc mùi hôi-hám. Áo cà-sa bị dính, đóng cứng những máu và mủ. Các vị tăng-nhơn đồng-tu đều lánh xa; cả các người đệ-tử của tỳ-kheo Phù-ti-Cát cũng chẳng dám đến gần.

 

Bấy giờ, trong cơn thiền-định, Đức Phật quán thấy tình-cảnh đáng thương của Tỳ-kheo Phù-ti-Cát, Ngài soi thấy và biết rằng chẳng bao lâu vị tỳ-kheo nầy sẽ chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán. Ngài liền đi đến cốc của tỳ-kheo Phù-ti-Cát, ra ngoài căn nhà chứa củi, nhúm lửa lên và nấu nước nóng. Kế đến, Đức Phật bước vào thăm Tỳ-kheo Phù-ti-Cát, hiện đang nằm trên giường bệnh có một mình. Đức Phật liền giơ tay nhắc đầu giường lên, định đem tỳ-kheo ra sau để tắm. Lúc ấy, các người đệ-tử của Phù-ti-Cát bước vào phụ khiêng thầy đi tắm rửa. Một người giặt sạch bộ cà-sa và sấy khô. Sau khi tắm rửa sạch-sẽ, ăn mặc tươm-tất xong, Tỳ-kheo Phù-ti-Cát được nghe Phật giảng. Đức Phật đứng ở đầu giường, nói rằng, thân-thể con người chẳng bao lâu cũng mất đi sự sống; thân ấy trở nên vô-dụng đâu khác chi khúc gỗ bỏ nằm dài trên mặt đất bên đường.

 

Lúc bấy giờ, tỳ-kheo Phù-ti-Cát cảm thấy khoẻ-khoắn, dễ chịu, liền nhập-định và chứng được quả A-la-hán, kế đó thở hơi cuối cùng.

 

Đức Phật kết thúc thời pháp bằng bài kệ sau đây:

 

Chẳng bao lâu, thân nầy

Nằm dài trên mặt đất;

Hởi ôi! Thần-thức mất,

Như khúc cây vô-dụng.

(Kệ số 041.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Phù-ti-Cát: tên thật bằng tiếng Pali là Tissa, có biệt-hiệu là Pùtigattatissa.

 

- Biệt-hiệu: biệt = riêng biệt; hiệu = tên. Biệt-hiệu là tên riêng, hoặc tự mình đặt ra cho mình, hay do các người khác đặt ra gán cho mình.

 

- Nhập-định: nhập = vào; định = tình-trạng của tâm vắng-vẻ, yên-tịnh, chẳng có vọng-tưởng, chẳng bị cảnh-vật trì níu, chẳng bị ý bên trong lôi cuốn.

 

- Thần-thức: thần = thuộc về tinh-thần, phần tâm-linh; thức = biết. Chữ thần-thức là danh-từ chuyên-môn trong Phật-học, chỉ đến phần tâm-linh sâu-kín bên trong, gọi là thức a-lại-da (tiếng Phạn là alaya), có nghĩa là kho-tàng chứa những chủng-tử của những việc đã làm qua. (Chủng-tử: chủng = trồng; tử = hột; chủng-tử có nghĩa là hột giống sanh ra nghiệp-báo; tức là đã làm việc ác, được ghi lại thành chủng-tử, về sau nẩy mầm sanh ra hậu-quả xấu, phải chịu; cũng như đã làm việc lành, có chủng-tử lành, về sau sẽ hưởng được thành-quả tốt. Vì thế, thức a-lại-da còn được gọi là nghiệp-thức, cái thức tàng-trử và sanh ra nghiệp-báo. )

 

Theo sự tin-tưởng trong Phật-học, tâm con người có tám thức: (1)nhãn-thức (cái biết do nơi mắt), (2) nhĩ-thức (do tai), (3)tị-thức (do mũi), (4) thiệt-thức (do lưỡi), (5)thân-thức (do thân hay do da), (6)ý-thức (do tâm), (7)mạt-na-thức (tiếng Phạn là màna, gợi lên ý-nghĩ) và (8) a-lại-da thức (phần thật sâu-kín trong tâm). Theo thuyết Luân-hồi, khi con người chết, thân và tâm tan rả, chỉ có thần-thức hay a-lại-da-thức là còn, và thoát ra khỏi thân-tâm để đi tìm nơi nhập vào thai mẹ mà tái-sanh, sống đời sống kế-tiếp.

 

Ở trong bài Kệ, nói thần-thức mất, có nghĩa là thần-thức đã lìa khỏi thể-xác; thân-thể lúc chết đã mất thần-thức, chớ chính thần-thức vẫn còn. Thông-thường người ta bảo, sau khi chết thì hồn-viá đi đầu thai; Phật-học chẳng tin có linh-hồn nào cả, chỉ có thần-thức lià khỏi xác mà thôi.

 

- Vô-dụng: vô = chẳng; dụng = dùng. Vô-dụng là chẳng dùng được vào việc gì cả.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1).- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, kể lại việc một tỳ-kheo chuyên-tâm tu Thiền-định, chẳng may vướng phải bịnh ghẻ lở, thân-thể hôi-hám. Nhờ Đức Phật giúp cho tắm rửa sạch-sẽ, thân trở nên thoải-mái, nhập-định được chứng quả A-la-hán và thở hơi cuối cùng sau đó.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là khi chết, phần thể-xác tan rả, phần tâm-linh là thần-thức vẫn còn, sẽ theo nghiệp-báo mà tái-sanh. Ở đây, vị tỳ-kheo đắc A-la-hán, chứng được cảnh vô-sanh (vô = chẳng; sanh = sống trở lại ở cõi nhơn-gian), nên thoát khỏi vòng tái-sanh của Luân-hồi.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 041:

 

Bài Kệ nhấn mạnh đến sự vô-thường của thân-tâm; thân nầy chẳng bao lâu cũng phải chết, nằm bất-động như một khúc gỗ, vô-dụng chẳng dùng vào việc chi được. Vậy, chớ nên quyến-luyến thân quá lắm. Còn phần tâm-linh, chỉ riêng có thần-thức còn tồn-tại, lià khỏi xác mà đi tái-sanh theo nghiệp-báo. Nếu tu chứng được quả A-la-hán, sẽ khỏi phải tái-sanh, từ đây sống vĩnh-viễn trong cảnh an-lạc của Niết-bàn.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, thường nhắc đi nhắc lại trong đầu, để nhớ rằng, đến ngày nào đó, thân-thể nầy chẳng còn nữa. Hiện nay, phải lo cho thân nầy được đầy-đủ tiện-nghi, nhưng chớ nên quá quyến-luyến.

 

2.- Xin nhắc lại: thân-tâm con người do năm uẩn kết thành trong lúc sống, khi lià đời, thân tan rả, chỉ có thần-thức theo nghiệp-báo mà tái-sanh. Để nhớ: năm uẩn gồm có (1)sắc-uẩn (thân-thể vật-chất), (2)thọ-uẩn (các tình-cảm), (3)tưởng-uẩn (các tư-tưởng), (4) hành-uẩn (các hành-động), (5)thức-uẩn (các sự hiểu-biết). Muốn nhớ tám thức trong thức-uẩn cần nhớ: năm thức trước (nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân) liên-quan đến năm giác-quan; còn ba thức sau: ý-thức, mạt-na-thức và a-lại-da-thức là phần tâm-linh nằm trong Tâm. Ý-thức nằm lộ, dễ nhận thấy; mạt-na-thức, ẩn tiềm-tàng đâu đây trong tâm, còn thức a-lại-da là kho chứa chủng-tử, sâu-kín chẳng thể dùng Tâm để biết đến được. Muốn biết rõ về các thức, phải học thêm về Duy-Thức-học, cũng gần giống với Tâm-lý-học.

The Story of Tissa, the Thera with a Stinking Body

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (41) of this book, with reference to Thera Tissa.

After taking a subject of meditation from the Buddha, Thera Tissa was diligently practising meditation when he was afflicted with a disease. Small boils appeared all over his body and these developed into big sores. When these sores burst, his upper and lower robes became sticky and stained with pus and blood, and his whole body was stinking. For this reason, he was known as Putigattatissa, Tissa the thera with stinking body.

As the Buddha surveyed the universe with the light of his own intellect, the thera appeared in his vision. He saw the sorrowful state of the thera, who had been abandoned by his resident pupils on account of his stinking body. At the same time, he also knew that Tissa would soon attain arahatship. So, the Buddha proceeded to the fire-shed, close to the place where the thera was staying. There, he boiled some water, and then going, to where the thera was lying down, took hold of the edge of the couch. It was then only that the resident pupils gathered round the thera, and as instructed by the Buddha, they carried the thera to the fire-shed, where he was washed and bathed. While he was being bathed, his upper and lower robes were washed and dried. After the bath, the thera became fresh in body and mind and soon developed one-pointedness of concentration. Standing at the head of the couch, the Buddha said to him that this body when devoid of life would be as useless as a log and would be laid on the earth.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 41: Before long, alas, this body, deprived of consciousness, will lie on the earth, discarded like a useless log.

At the end of the discourse Thera Tissa attained arahatship together with Analytical Insight, and soon passed away.

Dhammapada Verse 41
Putigattatissatthera Vatthu

Aciram vata' yam kayo
pathavim adhisessati
chuddho apetavinnano
niratthamva kalingaram.

Verse 41: Before long, alas, this body, deprived of consciousness, will lie on the earth, discarded like a useless log.


dhp042_B
Verse-Kệ 042

(31).- Tích chuyện người chăn bò Nan-đà - Kệ số 042

 

Vào một thời kia, Đức Phật và các tỳ-kheo đi qua một làng, nước Câu-tát-la, trong một kỳ giảng-pháp, có nói đến Nan-đà là một người chăn bò.

 

Thuở ấy có một người tên là Nan-đà, làm nghề chăn bò, gia-đình cũng khá-giả, thường đến nhà người chủ là ông Cấp-cô-độc, để nghe Đức Phật giảng pháp. Một hôm, sau khi nghe Đức Phật giảng, Nan-đà bạch với Phật xin thỉnh Phật và chư Tăng về nhà để cúng-dường. Đức Phật bảo, nay chưa phải thời, để khi khác.

 

Sau đó, cùng với chư Tăng có dịp đi qua làng Nan-đà trú-ngụ, Đức Phật quán thấy đã đến lúc nên giảng-dạy giáo-pháp cho Nan-đà, nên Ngài cùng các tăng-nhơn ghé vào. Nan-đà cung-kính dâng thực-phẩm cúng-dường, đủ cả năm món ngưu-vị thật là tinh-khiết. Sau khi được nghe Đức Phật giảng-dạy, Nan-đà chứng được đạo-quả Tu-đà-huờn. Khi Đức Phật và chư Tăng ra về, Nan-đà mang bình-bát của Đức Phật, theo tiễn chơn một quảng đường, rồi mới trở lại nhà.

 

Vào lúc đó, có một người thợ-săn là kẻ thù cũ của Nan-đà, dùng cung bắn chết Nan-đà ở dọc đường. Các vị tỳ-kheo đi sau, thấy thân-thể Nan-đà nằm sóng-sượt bên vệ đường, mới đến trình Đức Phật. Họ bạch: "Bạch Thế-tôn, chỉ vì Nan-đà đã mời Phật đến cúng-dường và theo tiễn chơn Phật mà bị bắn chết." Đức Phật đáp: "Dầu cho Như-Lai có đến nhà Nan-đà hay chẳng đến đi nữa, thì Nan-đà cũng chẳng thể nào tránh được sự chết-chóc, vì chẳng ai mà chẳng chết cả. Này các tỳ-kheo! Nếu tâm-ý mà tà-ác thì sẽ gây tai-hại cho mình còn hơn là một kẻ thù hay một tên trộm, cướp gây ra cho ta nữa."

 

Rồi, Đức Phật nói lên bài kệ sau đây:

 

Kẻ địch-thủ hại người địch-thủ,

Lũ oan-gia hại lũ oan-gia,

Chưa hại bằng tâm tà, ý ác

Đẩy thân nầy đọa-lạc trầm-luân.

(Kệ số 042.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Câu-tát-la: tên nước nầy bằng tiếng Pali là Kosala.

 

- Nan-đà: tên bằng tiếng Pali là Nanda. Đừng lầm người chăn bò nầy với vị đại-đệ-tử của Phật là Nanda, vốn là vị hoàng-tử dòng họ Thích.

 

- Cấp-cô-độc: tên thật của vị đại-trưởng-giả nầy bằng tiếng Pali là Anàthapindika. Nhà rất giàu, ông mua khu vườn của Thái-tử Kỳ-đà cất tịnh-xá Kỳ-viên, dưng cúng Đức Phật và chư Tăng. Ông hay bố-thí, cứu-giúp kẻ bần-cùng, cô-đơn, nên được biệt-hiệu là Cấp-cô-độc (cấp = cung-cấp, giúp đỡ; cô-độc = ở một mình, đơn-côi.)

 

- Chưa phải thời: chưa phải đúng lúc thuận-tiện.

 

- Năm món ngưu-vị: ngưu = con bò (thuỷ-ngưu mới là con trâu); vị = mùi-vị của món ăn. Năm món ngưu-vị lấy từ sữa bò chế ra: sữa, kem, bơ sống, bơ chín và đề-hồ (đề-hồ ngày nay ta gọi là phô-mai, fromage.)

 

- Tinh-khiết: trong-sạch.

 

-Tu-đà-huờn: quả-vị thứ nhứt của hàng Thanh-văn. Tiếng Pali là Sotàpatti có nghĩa là bước vào giòng nước Thánh, nên còn được dịch là Nhập-Lưu. Lại có nghĩa là chỉ còn phải tái-sanh lại cõi người bảy lần nữa, nên được gọi là Thất-Lai. Tu-hành khi diệt được trong tâm các mối kết-sử nầy thì chứng được đạo-quả Tu-đà-huờn: (1) thân-kiến, xem tấm thân nầy là Ta, của Ta, lo bồi-bổ, gìn-giữ nó mãi cho còn hoài-hoài; bỏ được thân-kiến, bằng cách quán thân bất-tịnh, biết thân bên trong dơ-bẩn, biết thân vô-thường, nên sanh ra nhàm-chán các thú-vui vật-chất về thân-thể; (2) Nghi-hoặc, chẳng tin-tưởng vào Chánh-pháp; (3) giới-cấm-thủ, mê-tín tin vào các sự cúng-kiến theo tà-đạo, như cúng Ông Địa, Ông Bình-vôi, Bà Chuối-Sứ, v.v.

 

- Một quảng đường: một khúc đường ngắn.

 

- Bên vệ đường: bên lề đường.

 

- Địch thủ: địch = chống-cự nhau; thủ = tay. Địch-thủ là người chống-đối, thù-nghịch với mình.

 

- Oan-gia: oan = thù-oán, oan-trái; gia = nhà. Oan-gia là kẻ thù lâu đời với nhau.

 

- Đoạ-lạc: đoạ = rơi xuống thấp; lạc = rớt xuống. Đoạ-lạc là phải sa vào chỗ thấp-kém, đê-hèn, khổ-sở.

 

- Trầm-luân: trầm = chìm, luân = giợn sóng trên mặt nước. Trầm-luân có nghĩa bóng là bị chìm đắm trong biển khổ; ở đây, có nghĩa là phải trôi lăn trong các cõi ác của Luân-hồi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc một gia-chủ thỉnh Phật và chư Tăng đến nhà để cúng-dường, được nghe pháp và chứng quả-vị Tu-đà-huờn. Sau khi tiễn chơn Đức Phật, trên đường trở về nhà, gia-chủ bị người thợ-săn là kẻ thù cũ bắn chết. Nhơn cái chết do kẻ thù gây ra nầy, Đức Phật dạy, cái hại do tâm tà ý ác còn lớn hơn cái chết do kẻ thù gây ra, vì tâm tà ý ác lôi kéo ta trôi lăn mãi trong các cõi ác của Luân-hồi.

 

(2) Ý-nghĩa của bài kệ số 042:

 

- Cái hại do kẻ địch-thủ, kẻ oán-thù gây ra: Cái hại nầy dầu lớn mấy đi nữa cũng hạn-chế trong một đời người. Kẻ địch-thủ có thể gây hại về tài-sản, danh-dự; kẻ oan-gia có thể gây hại về tánh-mạng. Nhưng họ chỉ hại được trong một đời mà thôi.

 

- Cái hại do tâm tà ý ác kéo dài nhiều đời, vì tạo nên nghiệp-báo: Tâm tà, ý ác tạo nên hành-động xấu-dữ làm nguyên-nhơn khiến cho hậu-quả trong tương-lai là phải sa vào ba đường dữ của Luân-hồi: (1) địa-ngục, chịu hình-phạt chẳng gián-đoạn qua nhiều đời-kiếp; (2) ngạ-quỉ, làm thân quỉ đói, khổ-sở; (3) súc-sanh, trong thân-hình thú-vật, thiếu trí thông-minh, chẳng biết bao giờ thoát khỏi cảnh si-mê.

 

- Ý-nghĩa chánh-yếu của bài Kệ là khuyên ta nên gìn-giữ Tâm, điều-phục Tâm sao cho được thanh-tịnh, biết theo đường lành nẻo phải.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ.

 

2.- Xem lại Phần HọcTập ở các Bài trước về cách giữ-gìn Tâm-ý cho trong-sạch.

The Story of Nanda, the Herdsman

While on a visit to a village in the kingdom of Kosala, the Buddha uttered Verse (42) of this book, with reference to Nanda, the herdsman.

Nanda was a herdsman who looked after the cows of Anathapindika. Although only a herdsman, he had some means of his own. Occasionally, he would go to the house of Anathapindika and there he sometimes met the Buddha and listened to his discourses. Nanda requested the Buddha to pay a visit to his house. But the Buddha did not go to Nanda's house immediately, saying that it was not yet time.

After some time, while travelling with his followers, the Buddha went off his route to visit Nanda, knowing that the time was ripe for Nanda to receive his teaching properly. Nanda respectfully received the Buddha and his followers; he served them milk and milk products and other choice food for seven days. On the last day, after hearing the discourse given by the Buddha, Nanda attained Sotapatti Fruition. As the Buddha was leaving that day, Nanda carrying the bowl of the Buddha, followed him for some distance, paid obeisance and turned back to go home.

At that instant, a hunter who was an old enemy of Nanda, shot him down. The bhikkhus who were following the Buddha, saw Nanda lying dead. They reported the matter to the Buddha, saying, "Venerable Sir, because you came here, Nanda who made great offerings to you and accompanied you on your return was killed as he was turning back to go home." To them, the Buddha replied, "Bhikkhus, whether I came here or not, there was no escape from death for him, as a wrongly directed mind can do oneself much greater harm than an enemy or a thief can."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 42: A thief may harm a thief; an enemy may harm an enemy; but a wrongly directed mind can do oneself far greater harm.

Dhammapada Verse 42
Nandagopalaka Vatthu

Diso1 disam yam tam kariya
veri va pana verinam
micchapanihitam cittam
papiyo nam tato kare.

Verse 42: A thief may harm a thief; an enemy may harm an enemy; but a wrongly directed mind can do oneself far greater harm.2


1. diso: lit.; an enemy; a thief in this context. (The Commentary)

2. According to the Commentary, the mind, wrongly set on the ten-fold evil path, will cause ruin and destruction not only in this life, but also, even in a hundred. thousand future existences in Apaya.


dhp043_B
Verse-Kệ 043

(32).- Tích chuyện về Sở-rị-gia - Kệ số 043

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến chuyện chàng thanh-niên Sở-rị-Gia, bị thay đổi phái tính, trở thành phụ-nữ.

 

Thuở ấy, ở thành-phố Sở-rị-Gia có một chàng thanh-niên giàu có, cũng tên là Sở-rị-Gia, một hôm cùng với các bạn, ngồi trên chiếc xe lộng-lẫy, đi tắm. Dọc đường, gặp một vị Trưởng-lão tên là Khắc-ca-gia, tướng-mạo trang-nghiêm, đang sửa lại áo cà-sa cho ngay-ngắn để vào thành-phố khất-thực. Nhìn thấy nước da vàng ánh, đẹp-đẽ của vị Trưởng-lão, chàng thanh-niên Sở-rị-Gia bỗng nổi lên ý-nghĩ trong đầu: "— kià! Ta muốn "cưới" vị tỳ-kheo nầy làm vợ! Hay là, vợ ta ở nhà phải có được một làn da đẹp-đẽ như vị Trưởng-lão nầy!" Tư-tưởng bất-chánh nầy vừa khởi lên, thì lạ thay, Sở-tị-Gia lại biến thành một cô gái, đẹp với làn da óng-ánh vàng chói. Sở-rị-Gia cảm thấy xấu-hổ, ngồi chung xe với các thanh-niên khác, nên bỏ xuống và trốn đi xa.

 

Trên đường đi trốn, thiếu-nữ Sở-rị-Gia bán chiếc nhẫn đeo tay để có tiền quá-giang xe đi đến thị-trấn Tắc-xi-la. Một người khách đồng-hành vào thị-trấn, gặp một vị công-tử giàu-có đang kén vợ, liền mách có một thiếu-nữ rất đẹp đã ngồi cùng xe với mình. Vị công-tử tìm đến gặp cô Sở-rị-Gia và xin cưới cô ngay. Và trong cuộc sống mới, "bà" Sở-rị-Gia sanh được hai đứa con trai, cùng với hai người con trai trước, khi "bà" còn là thanh-niên.

 

Một hôm, có người khách-thương từ thành Sở-rị-gia đến thị-trấn Tắc-xi-la buôn bán. "Bà" Sở-rị-Gia nhận ra được người quen cũ, mới cho mời về nhà đãi-đằng. Vị khách-thương rất ngạc-nhiên, thấy bà chủ nhà là người lạ với mình, sao tỏ ra thân-mật. "Bà" Sở liền hỏi thăm tin-tức ở thành-phố cũ, về gia-cảnh của người khách-thương cùng các nhà láng-diềng; sau đó, bà mới kể lại câu chuyện mình bị biến-đổi phái-tính như thế nào. Bấy giờ vị khách thương mới tin và khuyên, bà nên đến gặp vị Trưởng-lão Khắc-ca-gia ngỏ lời xin sám-hối. Bà Sở làm y theo lời khuyên, thỉnh Trưởng-lão về nhà cúng-dường thực-phẩm, nghe giảng-pháp, xong rồi ra qùi trước Trưởng-lão mà tỏ lời hối-tiếc. Vị Trưởng-lão bảo:

 

"Xin nữ-thí-chủ đứng dậy, bần-tăng xin chấp-nhận lời sám-hối của bà!" Tức thì, "bà" Sở liền biến trở lại thành "ông" Sở-rị-Gia như khi trước.

 

Kể từ khi trở lại thành đàn-ông, Sở-rị-Gia thường suy-gẫm về sự biến-đổi vô-thường của cuộc sống, sao trong một đời mà mình vừa làm cha hai đứa con trai trước, lại vừa làm mẹ hai đứa sau. Chẳng bao lâu, Sở-rị-Gia nhàm-chán cuộc sống thế-tục, liền xin xuất-gia và được Trưởng-lão Khắc-ca-gia thâu-nhận làm đệ-tử. Nơi tu-viện, các bạn đồng-tu thường hỏi tỳ-kheo Sở-rị-Gia, trong lòng thương con nào nhiều nhứt, con gọi mình bằng cha, hay con gọi mình bằng mẹ? Thật-tình, tỳ-kheo Sở-rị-Gia đáp, con mình sanh từ bụng mình thì thương hơn. Sau đó, thường bị theo hỏi mãi điều đó, ty-kheo Sở-rị-Gia buồn-chán, mới xin ẩn-cư, sống riêng một mình trong cốc vắng, để chuyên-tâm tu-tập thiền-định. Chẳng bao lâu, chứng-đắc quả-vị A-la-hán. Các vị tỳ-kheo đồng-tu lại hỏi về câu hỏi cũ nữa. Tỳ-kheo Sở-rị-Gia đáp: "Trước kia, tôi tríu-mến các con do tôi sanh ra; nay tôi xem tất cả bốn đứa đều như nhau, chẳng quyến-luyến đứa nào cả." Các vị tỳ-kheo tưởng rằng Sở-rị-Gia chẳng nói lên Sự-thật, mới đến bạch với Đức Phật.

 

Đức Phật bảo: "Tỳ-kheo Sở-rị-Gia đã nói lên Sự-Thật; tâm của vị A-la-hán đã cắt đứt sự luyến-ái, đem tình-thương mà trải rộng ra đến mọi người, chẳng có sự phân-biệt, kỳ-thị. Tỳ-kheo Sở-rị-Gia, với tâm-ý thiện-lành đã thực-hiện được niềm an-lạc cao-thượng, mà cha hay mẹ của mình, dầu có thương mình đến đâu đi nữa, cũng chẳng ban-cấp được niềm an-lạc đó cho mình."

 

Bấy giờ, Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Cha mẹ, họ-hàng làm chửa được

Sao cho mình hưởng phước dài lâu.

Tâm thành, ý thiện, riêng làm được,

Tự tạo cho mình phước-lạc cao.

(Kệ số 043.)

 

TÌM HIỂU:

 

Xin Chú-ý:

 

Trước khi Tìm Hiểu và Học-Tập bài nầy, Thiện-Nhựt xin có vài lời lưu-ý người đọc:

 

1.- Thiện-Nhựt do-dự rất nhiều chẳng biết có nên dịch Tích-chuyện nầy hay không, vì câu chuyện nhuốm vẻ hoang-đường: chỉ một ý-nghĩ xấu đã biến-đổi tức-khắc phái-tính của một người, từ người nam ra thành người nữ.

 

2.- Tuy nhiên, suy-nghĩ kỹ về việc học-tập Kinh-Kệ, chúng ta chẳng nên quá chú-trọng đến sự chính-xác của sự-tích do người kết-tập viết lại, để tìm cách kiểm-nhận theo lối khoa-học ngày nay tìm bằng-chứng, mà nên tìm hiểu và học-tập Ý-nghĩa chánh-yếu, nằm ẩn bên dưới Tích chuyện. Tích-chuyện có thể chẳng đúng một trăm phần trăm với thực-tế của đời sống thế-tục mà chúng ta đang sống, nhưng Sự-thật chứa trong lời dạy của Đức Phật đúng cả muôn đời. Sự-thật đó, trong bài nầy, là sự thương-yêu, quyến-luyến có tánh-cách thiên-vị: thương con mình đẻ ra hơn là con ghẻ, con nuôi, con riêng của chồng hay vợ. Tình thương mà Đức Phật dạy là Tình thương rộng-lớn, bao la, trải khắp mọi loài chúng-sanh, chẳng cứ gì riêng thương con cháu của mình, đó là Tâm Từ, mà mọi người Phật-tử phải cố luyện-tập.

 

3.- Vì lẽ trên đây, Thiện-Nhựt mong-mỏi người đọc nên tìm thấy lời dạy chơn-thật và quí-báu của Đức Phật trong Kinh-Kệ, và dẹp bỏ qua ý-định tìm cách kiểm-chứng sự xác-thực của các sự-kiện được kể lại. Chuyện có thể khó cho ta, vào thời-đại nầy, trong hoàn-cảnh sanh-sống nầy, hiểu được và dễ tin được. Nhưng đó chẳng phải là điều chánh-yếu. Điều chánh-yếu là phải biết tìm hiểu và học-tập lời dạy của Đức Phật.

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Sở-rị-Gia: tên thật của thành-phố và đồng thời tên của nhơn-vật chánh trong Tích-chuyện, bằng tiếng Pali là Soreyya.

 

- Phái-tính: chỗ khác nhau giữa người nam và người nữ.

 

- Nước da, màu da: màu-sắc của làn da trên thân-thể.

 

-Bất-chánh: bất = chẳng; chánh = ngay-thẳng.

 

- Khắc-ca-gia: tên thật của Trưởng-lão bằng tiếng Pali là Mahàkaccàyana. Mahà là lớn, thường được dịch là Đại.

 

- Quá-giang: quá = đi qua; giang = sông. Ở đây, chữ quá-giang có nghĩa là đi nhờ xe. Thường hay nói có giang.

 

- Tắc-xi-la: tên thật của thị-trấn nầy bằng tiếng Pali là Taxila.

 

- Đồng-hành: đồng = cùng, chung; hành = đi. Bạn đồng-hành là người cùng đi chung với nhau.

 

- Gia-cảnh: gia = nhà; cảnh = tình-cảnh. Gia-cảnh là tình-cảnh ở nhà mạnh-giỏi ra sao.

 

- Sám-hối: nghĩa thông-thường là xin lỗi. Nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, sám là tiếng Phạn ksamayati, có nghĩa hối-tiếc về lỗi-lầm đã lỡ làm qua; hối là tiếng Hán-Việt, có nghĩa là hối-tiếc. Ráp hai chữ lại, thường được dùng để chỉ hai việc phải có, khi mình thật-sự thành-tâm xin sám-hối: (1) nhìn-nhận lỗi-lầm mình đã làm và xin nhận tội; (2) hứa từ rày về sau, chẳng hề tái-phạm nữa.

 

- Nữ-thí-chủ: nữ = người đàn-bà, phụ-nữ; thí = bố-thí; chủ = chủ. Thí-chủ, Thí-giả là người bố-thí, dưng-cúng lễ-vật cho người tu-hành.

 

- Bần-tăng: bần = nghèo; tăng = tu-sĩ. Bần-tăng là tiếng tự-xưng của người tu-sĩ nghèo.

 

- Vô-thường: vô = chẳng; thường = thường còn; Vô-thường là chẳng bền-vững, có đó rồi mất đó.

 

- Cốc: căn nhà nhỏ, chỉ có một phòng, dành cho tu-sĩ tu ẩn-cư.

 

- Quyến-luyến, Tríu-mến, Luyến-ái: thương nhiều và bám-víu vào, rời ra chẳng được. Tình thương quyến-luyến, tríu-mến, luyến-ái nầy, Đức Phật dạy phải dẹp bỏ, vì nó chính là lòng tham-ái, nguyên-nhơn gây ra khổ-đau, khiến ta bám vào đời sống thế-tục mà chẳng đi tìm giải-thoát khỏi cảnh sanh-tử của Luân-hồi.

 

- Kỳ-thị: đối-đãi cách khác nhau vì chẳng đồng giai-cấp, màu da, v.v.; có tánh thiên-vị, thương kẻ nầy lại ghét bỏ kẻ khác.

 

- Niềm an-lạc cao-thượng: niềm vui cao-cả, bền-vững; ở đây có nghĩa là niềm vui được giải-thoát, sống trong cảnh-giới Niết-Bàn an-lạc.

 

- Ban-cấp: đem cho.

 

- Phước-lạc cao: đó chính là niềm vui được hưởng trong cảnh-giới an-lạc, trường-cửu của Niết-Bàn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1).- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện có hai phần: phần đầu kể lại việc vì sao Sở-rị-Gia bị biến-đổi từ người nam ra người nữ; phần sau thuật lại việc tu-hành của Sở-rị-Gia được thành-công, chứng quả-vị A-la-hán. Ta nên lướt qua phần thứ nhứt và tìm hiểu kỹ ở phần thứ nhì, nhứt là lời Phật dạy về sự dứt bỏ niềm luyến-ái trong tâm.

 

a.- Việc thay đổi phái-tính: theo Tích-chuyện, chỉ vì trong tâm khởi lên ý-nghĩ bất-chánh đối với vị trưởng-lão mà Sở-rị-Gia phải thành người nữ. Sự thay đổi phái-tính, trong hiện-trạng của y-khoa, chẳng phải là chẳng có: với thuật giải-phẫu y-khoa ngày nay đã có nhiều người nam được đổi thành người nữ về thể-xác và ngược lại. Nhưng Tích-chuyện nhấn mạnh ở điểm: chỉ vì ý-định bất-chánh trong tâm mà bị biến thành người nữ. Chuyện đúng hay sai sự-thực, ngày nay chúng ta khó lòng kiểm-chứng. Nhưng điều quan-trọng, chẳng phải là sự biến-đổi phái-tính, mà sự quyết-tâm tu-hành sau nầy của Sở-rị-Gia. Chỗ thành-công của Sở-rị-Gia là do việc dứt bỏ sự luyến-ái thiên-vị, thương con chính mình đẻ ra, để có được một tấm lòng thương-yêu tất cả đồng-đều nhau của tâm Từ.

 

b.- Lời Phật dạy ở phần cuối Tích-chuyện: cha, mẹ dầu có thương con, để tiền-của cho con hưởng, cũng chỉ đem hạnh-phước một đời mà thôi. Còn hạnh-phước chơn-thật, lâu-bền là hạnh-phước sống trong cảnh Niết-bàn, phải do mình tự-tạo lấy, hạnh-phước nầy sanh ra do tâm thành, ý-thiện, nói cách khác, là do biết tu-hành đúng cách để được giải-thoát.

 

(2).- Ý-nghĩa bài Kệ số 043:

 

Ý-nghĩa bài Kệ được tóm gọn trong lời Phật dạy ở đoạn cuối của Tích chuyện: bỏ lòng luyến-ái, để Tâm được thanh-tịnh.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng cả hai bài Kệ số 042 và 043, để biết nên giữ-gìn Tâm-ý cho thanh-tịnh.

 

2.- Ứng-dụng: Con cái trong nhà, chẳng nên có con cưng, con ghét, nên thương chúng đồng-đều, đừng dành món ngon nầy cho một đứa, các đứa khác phải nhịn; đừng bắt chỉ một đứa làm nặng làm luôn, còn các đứa khác thì khỏi.

The Story of Soreyya

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (43) of this book, with reference to Soreyya, the son of a rich man of Soreyya city.

On one occasion, Soreyya accompanied by a friend and some attendants was going out in a luxurious carriage for a bath. At that moment, Thera Mahakaccayana was adjusting his robes outside the city, as he was going into the city of Soreyya for alms-food. The youth Soreyya, seeing the golden complexion of the thera, thought, "How I wish the thera were my wife, or else that the complexion of my wife were like that of his." As the wish arose in him, his sex changed and he became a woman. Very much ashamed, he got down from the carriage and ran away, taking the road to Taxila. His companions missing him, looked for him, but could not find him.

Soreyya, now a woman, offered her signet ring to some people going to Taxila, to allow her to go along with them in their carriage. On arrival at Taxila, her companions told a young rich man of Taxila about the lady who came along with them. The young rich man, finding her to be very beautiful and of a suitable age for him, married her. As a result of this marriage two sons were born; there were also two sons from the previous marriage of Soreyya as a man.


One day, a rich man's son from the city of Soreyya came to Taxila with five hundred carts. Lady-Soreyya recognizing him to be an old friend sent for him. The man from Soreyya city was surprised that he was invited, because he did not know the lady who invited him. He told the lady-Soreyya that he did not know her, and asked her whether she knew him. She answered that she knew him and also enquired after the health of her family and other people in Soreyya city. The man from Soreyya city next told her about the rich man's son who disappeared mysteriously while going out for a bath. Then the Lady-Soreyya revealed her identity and related all that had happened, about the wrongful thoughts with regard to Thera Mahakaccayana, about the change of sex, and her marriage to the young rich man of Taxila. The man from the city of Soreyya then advised the lady-Soreyya to ask pardon of the thera. Thera Mahakaccayana was accordingly invited to the home of Soreyya and alms-food was offered to him. After the meal, the lady-Soreyya was brought to the presence of the thera, and the man from Soreyya told the thera that the lady was at one time the son of a rich man from Soreyya city. He then explained to the thera how Soreyya was turned into a female on account of his wrongful thoughts towards the respected thera. Lady-Soreyya then respectfully asked pardon of Thera Mahakaccayana. The thera then said, "Get up, I forgive you." As soon as these words were spoken, the woman was changed back to a man. Soreyya then pondered how within a single existence and with a single body he had undergone change of sex and how sons were born to him, etc. And feeling very weary and repulsive of all these things, he decided to leave the household life and joined the Order under the thera.


After that, he was often asked, "Whom do you love more, the two sons you had as a man or the other two you had as a wife?" To them, he would answer that his love for those born of the womb was greater. This question was put to him so often, he felt very much annoyed and ashamed. So he stayed by himself and with diligence, contemplated the decay and dissolution of the body. He soon attained arahatship together with the Analytical Insight. When the old question was next put to him he replied that he had no affection for any one in particular. Other bhikkhus hearing him thought he must be telling a lie. When reported about Soreyya giving a different answer, the Buddha said, "My son is not telling lies, he is speaking the truth. His answer now is different because he has now realized arahatship and so has no more affection for anyone in particular. By his well-directed mind my son has brought about in himself a well-being which neither the father nor the mother can bestow on him."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 43: Not a mother, nor a father, nor any other relative can do more for the well-being of one than a rightly-directed mind can.


At the end of the discourse many attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 43
Soreyya Vatthu

Na tam mata pita kayira
anne vapi ca nataka
sammapanihitam cittam
seyyaso
1naim tato kare.

Verse 43: Not a mother, nor a father, nor any other relative can do more for the well-being of one than a rightly-directed mind can.


1. seyyaso: still better; here it means much better service; because it (the rightly-directed mind) can lead one to the well-being of a man and of a deva and even to the realization of Nibbana.


End of Chapter Three: The Mind (Cittavagga)

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 583)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 341)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 371)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 302)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 327)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 384)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1125)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 605)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 423)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 831)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4104)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8320)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1278)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 557658)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1713)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 730)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 932)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
27 Tháng Hai 20188:42 CH(Xem: 824)
Tôi có quen một ông bạn, ông ta nói rằng ông ta thường xuyên quên chỗ để cây bút, và ông cũng thường xuyên mất bút. Vì thế, ông chỉ xử dụng những cây bút rẻ tiền, để ông ta khỏi phải phiền muộn về chuyện mất bút. Ông lo lắng về thói quen bất cẩn nầy.
14 Tháng Hai 20188:00 SA(Xem: 1228)
* Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi, mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó. * Á a a a. Nhấp chén đầy vơi chúc người, người vui. Á a a a. Muôn lòng xao xuyến duyên đời.
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1020)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1829)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2569)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 329)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1563)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 875)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4078)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".