Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 05, Phẩm Ngu - The Dhammapada, Chapter 05, The Fool

03 Tháng Mười Hai 201811:10 SA(Xem: 84)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 05, Phẩm Ngu - The Dhammapada, Chapter 05, The Fool

Chapter05-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 05, Phẩm Ngu
The Dhammapada, Chapter 05, Balavagga: The Fool

(Kệ 60-75 - Verses 60-75)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp060_B
Verse-Kệ 060

(45).- Tích chuyện một người đi tìm hái hoa sen trắng - Kệ số 060

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc một người đàn-ông, theo lịnh Vua Ba-tư-nặc, đi xa để tìm hái hoa bạch-liên.

 

Thuở ấy, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, một hôm ra khỏi thành đi dạo, gặp một thiếu-phụ trẻ đẹp đang đứng bên cửa sổ trong nhà. Vua trầm-trồ khen ngợi sắc đep của người đàn-bà ấy và trong lòng nổi lên ý-định muốn xâm-chiếm lấy. Nhưng người đàn-bà ấy đã có chồng. Vua liền cho mời hai vợ chồng người thiếu-phụ vào làm việc trong hoàng-cung. Người chồng được lịnh vua, phải đi đến một nơi cách xa thành Xá-vệ hơn mười hai dặm đường, để hái hoa bạch-liên và lấy đất-sét đỏ đem về kịp trong buổi chiều cùng ngày, để Vua dùng khi tắm rửa. Nếu về chẳng đúng giờ, người chồng sẽ bị xử tử: nhà vua muốn giết người chồng để chiếm lấy người vợ.

 

Sáng sớm hôm ấy, người chồng vội-vàng mang giỏ cơm, từ-giả vợ, lên đường đi đến điạ-phận của Điạ-Long-Vương, nơi có hoa sen trắng và đất sét đỏ màu lửa. Dọc đường, anh dừng chơn, nghỉ mệt, đem cơm ra mời các khách bộ-hành cùng ăn. Đến ao sen rộng lớn minh-mông, anh chẳng biết cách nào tìm hái được hoa bạch-liên và móc đất sét đỏ, nên mới đứng bên bờ ao, lấy cơm ra, rải xuống ao và khấn to lên: "Hởi các vị thần-linh canh-giữ ao sen nầy, xin hãy nhận thực-phẩm cúng-dường của con và giúp con có được bông sen trắng cùng đất-sét đỏ, đem về cho Vua, trước khi mặt trời lặn, vì nếu chậm, con sẽ bị vua xử tử!" Bấy giờ, vua Điạ-Long nghe thấy, mới hiện thân lên làm một người già-cả, cầm một bó hoa sen và nắm đất-sét đỏ, đem đến cho người chồng. Tạ ơn xong, người chồng vội-vã lên đường quay về thành.

 

Chiều hôm ấy, Vua Ba-tư-nặc sợ người chồng trở về kịp thời, nên ra lịnh đóng cửa thành sớm hơn mọi khi. Người chồng về đến thành, thấy cửa đã đóng, liền đến bên vách thành, trét đất sét lên tường, cậm bó hoa sen xuống đất, cất cao giọng, nói to lên: "Hởi dân-chúng trong thành!

 

Nhà Vua muốn giết tôi để cướp vợ tôi, sai tôi đi hái hoa bạch-liên và lấy đất-sét đỏ, phải về trước khi mặt trời lặn. Mặt trời còn đang đỏ-ối kia, mà cửa thành lại đóng chặt. Xin hãy làm chứng cho tôi đã về kịp thời." Nói xong, người chồng bỏ đi, hướng về Kỳ-viên-tự nơi Đức Phật ngụ, để tìm nơi nương-tựa.

 

Suốt đêm ấy, vua Ba-tư-nặc trằn-trọc mãi, chẳng ngủ được, trong lòng nung-nấu vì ý-định gian-ác, muốn giết người chồng để chiếm người vợ. Vào khoảng nửa đêm, tai nhà Vua nghe văng-vẳng tiếng kêu than, khóc-lóc rền-rĩ của bốn người đang đau-khổ, từ dưới điạ-ngục vang lên. Sáng ra, nhìn thấy vẻ bơ-phờ của nhà Vua, nghe vua nói mất ngủ, hoàng-hậu Mạt-lợi mới khuyên vua đến thưa-thỉnh cùng Đức Phật. Theo lời, Vua ngự đến chùa Kỳ-viên, nơi đây gặp lại người chồng, đang ngồi hầu bên cạnh Đức Phật. Nghe nhà vua kể lại việc nghe tiếng kêu-khóc trong đêm qua, Đức Phật bảo đó là tiếng kêu khóc của bốn chàng thanh-niên giàu-có, vào thời Đức Phật Ca-diếp, thường hay gian-dâm với vợ người, nay còn đang phải chịu hình-phạt khổ-sở, bị chất đồng-đỏ nấu sôi trong cảnh điạ-ngục Dương-đồng. Nhà vua sực-tỉnh lại, cảm thấy ăn-năn về ý-định đen-tối của mình muốn chiếm vợ của người khác.

 

Bấy giờ, nhà vua mới thưa với Đức Phật: "Bạch Thế-tôn! Một đêm mất ngủ, con nằm trằn-trọc, thấy đêm dài vô-tận!" Người chồng ngồi gần đó, cũng thưa với Đức Phật: "Bạch Thế-tôn! Khi con cố đi nhanh qua quảng đường dài hơn chục dặm, lòng con cảm thấy ngao-ngán, mệt-mỏi vì đường xa!" Lúc ấy, Đức Phật mới bảo cả hai, đường xa, đêm dài, còn chưa lâu, chưa dài bằng cuộc sống sanh-tử mãi trong cõi Luân-hồi!"

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người trằn-trọc thấy đêm dài vô-tận;

Kẻ mỏi chơn ngao-ngán dặm đường xa.

Hạng ngu-khờ chưa thông Chánh-pháp,

Cõi Luân-hồi, biết thuở nào ra!

(Kệ số 060.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Bạch-liên: Bạch = trắng; Liên = sen; Bạch-liên là hoa sen trắng. Trong bản Kinh tiếng Pali gọi đó là Kamuda.

 

- Đất-sét đỏ: chất đất dùng khi tắm rửa ngày xưa, như sà-bông ngày nay. Trong bản Kinh tiếng Pali, gọi đất đó là Arunavati.

 

- Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la: tên thật bằng tiếng Pali là vua Pasenadi, nước Kosala.

 

- Xử tử: Xử = xét tội; tử = chết. Xử tử là kết tội phải bị chết

 

- Điạ-phận: Điạ = đất; Phận = khu, vùng; Điạ-phận là vùng đất.

 

- Điạ-Long-Vương: Điạ = đất; Long = rồng; Vương = vua. Điạ-Long-Vương là vua Rồng đất.

 

- Trằn-trọc: nằm trên giường mà ngủ chẳng được, thao-thức mãi.

 

- Bơ-phờ: nhọc-mệt, vẻ mặt hốc-hác.

 

- Mạt-lợi: tên thật của hoàng-hậu tiếng Pali là Mallikà.

 

- Đức Phật Ca-diếp: tên Đức Phật nầy tiếng Pali là Kassapa. Đức Phật Ca-diếp giáng-sanh trước Đức Phật Thích-ca. Ngài là vị Phật thứ sáu trong số bảy vị Phật của Hiền-kiếp.

 

- Gian-dâm: gian-dối lấy vợ hay chồng của người khác.

 

- Điạ-ngục Dương-đồng: Điạ-ngục = ngục-thất nơi các người chết đang chịu hình-phạt vì tội-ác đã làm lúc còn sống. Điạ-ngục Dương-đồng, tiếng Pali là Lohakumbhi Niraya, nơi đó tội-nhơn bị chất đồng đỏ nấu sôi, cứ một thời-gian lâu mới được trồi lên mặt chảo, kêu khóc chẳng thành lời. Trong điạ-ngục Dương-đồng có bốn chàng thanh-niên lúc sống ở trần-thế, giàu-có mà gian-dâm với vợ người khác.

 

- Sực-tỉnh: bỗng-nhiên tỉnh-ngộ lại, nhận biết lỗi của mình.

 

- Luân-hồi: Luân = bánh xe; Hồi = quay trở lại. Chữ Luân-hồi, trong Phật-học, dùng để chỉ số-phận của chúng-sanh phải sanh ra rồi chết đi để phải sanh lại nữa, chịu các cảnh khổ-vui của cuộc đời. Muốn thoát khỏi cõi Luân-hồi, phải thông-hiểu Chánh-pháp, tu-tập tiêu-diệt các phiền-não, lậu-hoặc, dứt bỏ được sự tham-ái bám-víu vào cuộc sống sướng ít khổ nhiều nầy, mà chứng cảnh vô-sanh, nhập vào Niết-bàn được an-vui mãi mãi, khỏi phải tái-sanh nữa.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa: (1) chê-trách ý-định gian-ác của vua Ba-tư-nặc, muốn chiếm lấy vợ của người khác; (2) so-sánh sự ngao-ngán của người mỏi chơn phải đi xa, của người trằn-trọc ban đêm chẳng ngủ được, với số-phận tái-sanh nhiều lần của chúng-sanh ở cõi Luân-hồi.

 

Gian-dâm, hay tà-dâm, là phạm vào giới thứ ba trong năm điều cấm của ngũ-giới mà người Phật-tử tu tại-gia phải tuân theo. Gian-dâm là thông-dâm với chồng hay vợ của kẻ khác. Đối với giới tỳ-kheo, phải dứt tuyệt việc hành-dâm, nghĩa là phải sống độc-thân trọn đời.

 

Đức Phật so-sánh con đường dài thăm-thẳm của Luân-hồi với đoạn đường xa, với đêm dài chẳng ngủ được, để chỉ cho ta thấy cuộc Luân-hồi, phải tái-sanh trong vòng sanh-tử, là dài-dặc, như người bước đi mãi trong đêm tối. Người thường, chẳng hiểu Chánh-pháp, chỉ biết một đời sống trăm năm mà thôi, tưởng rằng sau khi chết là hết. Đó là điều sai-lầm lớn, vì trước khi sanh ra đời nầy, đã có đời trước, và sau khi chết đi, còn phải tái-sanh vào đời sau. Tại sao vậy? Đó là vì khi sống, chúng-sanh đã tạo nên nghiệp; khi dứt cuộc sống nầy, nghiệp sẽ kéo ta đi tái-sanh. Ai làm lành, sanh vào cõi lành; ai làm ác, sanh vào cõi dữ. Cứ thế tiếp-tục mãi chẳng ngừng, trừ phi biết tu-tập để chứng được Niết-bàn vô-sanh.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 060:

 

Bài Kệ, sau khi so-sánh cõi Luân-hồi với dặm đường xa, với đêm dài trằn-trọc, mách cho cách thoát khỏi: phải thông-hiểu Chánh-pháp và chuyên-tâm tu-tập để dứt nghiệp mà chứng cảnh Niết-bàn vô-sanh. Chỉ có người ngu-khờ, chẳng biết đến Chánh-pháp, mới trôi lăn mãi trong vòng đau-khổ của Luân-hồi.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ cảnh khổ của Luân-hồi.

 

2.- Có Luân-hồi thật-sự hay không? Đây là câu hỏi mà các người chẳng tin nơi Đạo Phật, thường đặt ra. Ta chớ nên để mất thì-giờ, bàn-cãi vô-ích với họ về việc nầy. Chỉ nên tự-hỏi: nếu thật có Luân-hồi, mà chẳng chịu tin, thì số-phận của mình sẽ ra sao? Tin thì có lợi, chẳng tin lỗ-lã biết chừng nào mà kể.

The Story of a Person

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (60) of this book, with reference to a certain young man and King Pasenadi of Kosala.

One day King Pasenadi, while going out in the city, happened to see a beautiful young woman standing at the window of her house and he instantly fell in love with her. So the king tried to find ways and means of getting her. Finding that she was a married woman, he sent for her husband and made him serve at the palace. Later, the husband was sent on an impossible errand by the king. The young man was to go to a place, a yojana (twelve miles) away from Savatthi, bring back some Kumuda lotus flowers and some red earth called 'arunavati' from the land of the dragons (nagas) and arrive back at Savatthi the same evening, in time for the king's bath. The king's intention was to kill the husband if he failed to arrive back in time, and to take the wife for himself.

Hurriedly taking a food packet from his wife, the young man set out on his errand. On the way, he shared his food with a traveller. He also threw some rice into the water and said loudly, "O guardian spirits and dragons inhabiting this river! King Pasenadi has commanded me to get some Kumuda lotus flowers and arunavati red earth for him. I have today shared my food with a traveller; I have also fed the fish in the river; I now share with you the benefits of the good deeds I have done today. Please get the Kumuda lotus and arunavati red earth for me." The king of the dragons, hearing him, took the appearance of an old man and brought the lotus and the red earth.

On that evening, King Pasenadi, fearing that the young husband might arrive back in time, had the city-gates closed early. The young man, finding the city-gates closed, placed the red earth on the city-wall and stuck the flowers on the earth. Then he declared loudly, "O citizens! Be my witnesses! I have today accomplished my errand in time as instructed by the king. King Pasenadi, without any justification, plans to kill me." After that, the young man left for the Jetavana monastery to take shelter and find solace in the peaceful atmosphere of the monastery.

Meanwhile, King Pasenadi, obsessed with sexual desire, could not sleep, and kept thinking out how he would get rid of the husband in the morning and take his wife. At about midnight, he heard some eerie sounds; actually, these were the doleful voices of four persons suffering in Lohakumbhi Niraya . Hearing those weird voices, the king was terrified. Early in the morning, he went to the Buddha, as advised by Queen Mallika. When the Buddha was told about the four voices the king heard in the night, he explained to the king that those were the voices of four beings, who were the sons of rich men during the time of Kassapa Buddha, and that now they were suffering in Lohakumbhi Niraya because they had committed sexual misconduct with other people's wives. Then, the king came to realize the depravity of the deed and the severity of the punishment. So, he decided then and there that he would no longer covet another man's wife. "After all, it was on account of my intense desire for another man's wife that I was tormented and could not sleep the whole of last night," he reflected. Then King Pasenadi said to the Buddha, "Venerable Sir, now I know how long the night is for one who cannot sleep." The young man who was close at hand also said, "Venerable Sir, because I had travelled the full distance of a yojana yesterday, I, too, know how long the journey of a yojana is to one who is weary."

Combining their two statements, the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 60: Long is the night to one who is wakeful; long is (the journey of) one yojana to the traveller who is tired; long is samsara (round of rebirths) to the fool, who is ignorant of the true Dhamma (the Teaching of the Buddha).


At the end of the discourse, the young man attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 60
Annatarapurisa Vatthu

Digha jagarato ratti1
digham santassa yojanam2
digho balana samsaro
saddhammam avijanatam.

Verse 60: Long is the night to one who is wakeful; long is (the journey of) one yojana to the traveller who is tired; long is samsara (round of rebirths) to the fool, who is ignorant of the true Dhamma (the Teaching of the Buddha).



1. Balavagga: Chapter on the Fool. Bala is the opposita of pandita; it means those who are ignorant, stupid and mentally dull. They cannot think or act right.

2. yojanam/yojana: a measure of length, about twelve miles.


dhp061_B
Verse-Kệ 061

(46).- Tích chuyện người Sa-di của Tôn-giả Đại Ca-diếp - Kệ số 061

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến người Sa-di của Tôn-giả Đại Ca-diếp.

 

Thuở ấy, Tôn-giả Đại Ca-diếp ngụ gần thành Vương-xá, có hai người Sa-di theo hầu; một người biết tuân theo lời dạy, kính-cẩn, lễ-độ với Tôn-giả; còn người kia thì chẳng được như thế. Khi Tôn-giả chỉ-dạy bổn-phận của người tu-hành đối với bực trưởng-thượng, thì người sau nầy tỏ ra rất bất-mãn. Một hôm, người ấy đến nhà một người tín-nữ, nói dối rằng Tôn-giả Đại Ca-diếp bị bịnh; người tín-nữ liền dưng-cúng thực-phẩm ngon, nhờ đem về cho Tôn-giả dùng. Người Sa-di ấy nhận lời, nhưng dọc đường ăn hết cả. Đến khi Tôn-giả biết chuyện đó, mới quở-trách về tội nói dối, thì anh ta lại tỏ ra căm-giận. Sánh hôm sau, khi Tôn-giả và người Sa-di kia đi khất-thực, thì anh ta ở lại tịnh-xá, đập vỡ cả chậu, bát, son chảo, rồi nổi lửa đốt cháy cả căn nhà.

 

Bấy giờ có một vị tỳ-kheo ở Vương-xá-thành, đến Kỳ-viên-tự yết-kiến Đức Phật, thuật lại việc Tôn-giả Đại Ca-diếp bị người Sa-di đốt cháy cả tịnh-xá, Đức Phật mới bảo, nếu chẳng gặp được người tốt, thì cứ nên sống một mình, còn hơn là làm bạn với người ngu.

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Tìm bạn đường, mà tìm chưa gặp

Kẻ bằng mình, hoặc bậc hơn mình.

Thà rằng cứ ở độc-cư,

Còn hơn kết bạn người ngu, kẻ khờ.

(Kệ số 061.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Đại Ca-diếp: tên thật của Tôn-giả tiếng Pali là Mahàkassapa.

 

- Sa-di: người tu-sĩ vào chùa tập-sự tu-hành. Sau hai năm, nếu đủ tuổi, sẽ được thọ-giới tỳ-kheo. Tiếng Pali là Sàmanera, ở chùa Việt gọi là chú tiểu, chú điệu.

 

- Tịnh-xá: Tịnh = yên-tịnh, thanh-tịnh; Xá = nhà. Tịnh-xá là ngôi nhà nhỏ, thanh-vắng, để làm nơi tu-hành.

 

- Bất-mãn: Bất = chẳng; Mãn = vừa ý. Bất-mãn là giận, chẳng được vừa lòng.

 

- Độc-cư: Độc = cô-độc, ở một mình, chẳng có bạn-bè; Cư = ở.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện chê thái-độ tu-hành của người Sa-di: chẳng biết nghe lời thầy dạy, tỏ ra bất-mãn khi bị quở trách về tội nói dối. Ý-nghĩa của Tích chuyện là chớ nên thân-cận với người ngu, kẻ khờ, vì sẽ gặp những điều bất-lợi do họ gây ra cho mình.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 061:

 

Bài Kệ khuyên ta nên chọn người bạn đường. Thông-thường chữ bạn đường có nghĩa là người cùng đi chung đường với mình; lại còn có nghĩa là người bạn chung sống cả đời với mình, chồng hay vợ. Ở đây, Tôn-giả có hai người đệ-tử, một người tốt, một người xấu. Đức Phật bảo, thà rằng ở độc-cư, chớ chọn đệ-tử ngu-khờ mà bị thiệt-hại. Thật ra Tôn-giả Đại Ca-diếp chẳng phải kết-bạn với hai người đệ-tử, mà chính là thâu-nhận họ để chỉ-dạy đạo cho họ. Lời khuyên của Đức Phật về việc chọn bạn để sống chung có tầm-mức rộng-rãi hơn: thà ở một mình, nếu chẳng gặp người bằng mình hay hơn mình mà kết bạn. Bằng mình, hay hơn mình, ở đây, có nghĩa là bằng hay hơn về đức-hạnh, chớ chẳng có nghĩa là giàu-có, sang-trọng hơn mình, vì nếu chọn như thế sẽ mang tiếng là quá trọng danh-lợi, quyền-thế, điều mà người tu-hành phải tránh.

 

HỌC TẬP:

 

Học thuộc lòng bài Kệ; để ghi nhớ trong việc chọn bạn mà chơi. Một khi đã kết-thân rồi, ta phải tỏ lòng trung thành với nhau, vì thế, cần chọn lựa kỹ-lưỡng trước khi kết bạn.

The Story of a Resident Pupil of Thera Mahakassapa

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (61) of this book, with reference to a resident pupil of Thera Mahakassapa.

When Thera Mahakassapa was residing near Rajagaha, he had two young bhikkhus staying with him. One of them was respectful, obedient and dutiful to the thera, but the other one was not. When the old thera chided the latter for his slackness in his duties, he was very much offended. On one occasion, he went to the house of a lay-disciple of the thera, and lied to them that the thera was ill. Thus, he got some choice food from them for the thera; but he ate the food on the way. When admonished by the thera for this he was extremely angry. The next day, when the thera was out on his alms-round, the young foolish bhikkhu stayed behind, broke the pots and pans and set fire to the monastery.

When a bhikkhu from Rajagaha told the Buddha about this, the Buddha said that it would have been much better for Thera Mahakassapa to live alone than to live with a foolish companion.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 61: If a person seeking a companion cannot find one who is better than or equal to him, let him resolutely go on alone; there can be no companionship with a fool.


At the end of the discourse, the bhikkhu from Rajagaha attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 61
Mahakassapa saddhiviharika Vatthu

Carance nadhigaccheyya
seyyam sadisamattano
ekacariyaram dalham kayira
natthi bale sahayata.

Verse 61: If a person seeking a companion cannot find one who is better than or equal to him, let him resolutely go on alone; there can be no companionship with a fool.


dhp062_B
Verse-Kệ 062

(47).- Tích chuyện người keo-kiết tên A-nan-đà - Kệ số 062

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến ông A-nan-đà là người giàu-có lớn mà rất rít-róng, chẳng hề chịu bố-thí cho ai cả.

 

Thuở ấy ở nước Xá-vệ có một người rất giàu, gia-sản lên đến tám triệu tiền vàng, nhưng rất rít-róng, chẳng dám ăn-tiêu, chẳng hề chịu bố-thí cho người nghèo-khổ. Ông ta thường dạy con là Mã-la-sĩ rằng: "Con đừng tưởng là nhà ta giàu-có lớn. Con chẳng nên bố-thí cho ai, mà phải lo làm sao cho của-cải mỗi ngày một tăng thêm, nếu không sẽ bị phá-sản." Ông ta có năm hủ vàng chôn dấu trong nhà; đến khi chết, quên chẳng kịp chỉ chỗ cho người con.

 

A-nan-đà thác-sanh vào một làng chuyên nghề đi ăn xin, ở nước Xá-vệ. Khi mẹ ông ta mang thai, cả làng bị khốn-khó vì đi xin chẳng được ai cho như ngày trước. Các vị bô-lão trong làng, nghi rằng trong làng hiện đang có kẻ bất-hạnh, đem đến điều không may cho cả xóm, mới bàn cùng nhau, tìm xem nhà nào là nhà gây ra sự xui-xẻo đó. Sau khi phân-tách, chia ra từng nhóm, họ nhận thấy chính người đàn-bà mang thai kia là nguyên-nhơn, nên đuổi bà ta ra khỏi làng. Người đàn-bà bất-hạnh nọ, sau sanh ra được một đứa con rất xấu-xí, mặt mũi gớm-ghiếc, trông thấy rất ghê-tởm. Mỗi khi đi ẵm con đi xin, chẳng ai dám nhìn mà cho tiền bố-thí. Hôm nào bỏ con ở nhà, đi xin mới được đủ tiền nuôi miệng. Khi đứa con biết đi, bà ta cho nó một cái bát để tự đi xin ăn lấy, rồi bỏ nó luôn. Bấy giờ, đứa bé lang-thang đi khắp nước Xá-vệ, bỗng sực nhớ đến tiền-kiếp của nó, nhà cửa rất giàu-có. Nó liền đi trở lại nhà cũ, nhưng lũ con của Mã-la-sĩ trông thấy gương mặt gớm-ghiếc của nó, khóc thét lên, nên bọn đầy-tớ lấy gậy đuổi nó đi khỏi.

 

Lúc bấy giờ, Đức Phật và chư Tăng đang đi khất-thực ở thành Xá-vệ, Ngài thấy cảnh-tượng ấy, biết đến tiền-kiếp của A-nan-đà rít-róng như thế nào, đã dạy con ra sao, mới sai đệ-tử mời Mã-la-sĩ đến tu-viện nói chuyện. Đức Phật bảo Mã-la-sĩ rằng, đứa bé ăn mày kia chính là cha của anh ta vào kiếp trước. Mã-la-sĩ chẳng tin. Đức Phật nói thêm, cha anh chôn năm hủ vàng trong nhà, khi chết chưa kịp chỉ chỗ cho anh. Mã-la-sĩ theo lời chỉ-dạy của Phật, về nhà đào lên, được vàng, mới tin lời Phật. Kể từ ấy, Mã-la-sĩ trở nên một Phật-tử tại-gia rất thuần-thành.

 

Bấy giờ Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

"Đây, con Ta!". "Đấy, của Ta!"

Người ngu tham-ái sanh ra ưu-phiền.

Sao chẳng biết "Ta" riêng còn chẳng có,

Nói làm chi "con ta đó", "của ta đây"?

(Kệ số 062.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Keo-kiết: hà-tiện, rít-róng, kẹo, bỏn-xẻn.

 

- A-nan-đà: tên thật người nầy tiếng Pali là Ànanda. Đừng lầm với Tôn-giả A-nan-đà là vị đại-đệ-tử của Đức Phật.

 

- Gia-sản: Gia = nhà; Sản = của-cải . Gia-sản là tiền của trong nhà.

 

- Mã-la-sĩ: tên thật người con nầy tiếng Pali là Mùlasiri.

 

- Phá-sản: Phá = bị hư hao; Bị phá-sản là bị nghèo đi, hết tiền.

 

- Thác-sanh: sanh trở lại.

 

- Bất-hạnh: Bất = chẳng; Hạnh = may-mắn. Bất-hạnh là chẳng may, vô-phước, gặp điều rủi-ro.

 

- Bô-lão: các người già-cả và minh-mẫn.

 

- Tiền-kiếp: Tiền = trước kia; Kiếp = đời sống. Tiền-kiếp là đời sống trước đời hiện-tại.

 

- Tham-ái: lòng tham bám-víu vào cuộc sống sướng ít khổ nhiều nầy, khiến cho phải trôi lăn trong cõi Luân-hồi mãi.

 

- Ưu-phiền: sự phiền-muộn, buồn-khổ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại cuộc đời và kiếp tái-sanh của một con người rít-róng, giàu-có mà chẳng dám tiêu-xài, chẳng chịu bố-thí. Vì quá bỏn-xẻn trong lối sống, nên theo nghiệp phải tái-sanh làm kẻ nghèo-khổ.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của Tích chuyện là tiền-bạc, con-cái chẳng thể mang theo để giúp-đỡ cho ta trong kiếp sống sau nầy, chỉ có sự bố-thí, hào-phóng ( = bố-thí rộng-rãi) mới đem lại hạnh-phúc vào các đời sau.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 062:

 

Bài Kệ, nhơn Tích chuyện nói lên hai điều quan-trọng: (1) vì tham-luyến về tiền-bạc, con-cái, mà con người phải chịu phiền-não; (2) quan-niệm VÔ-NGÃ trong giáo-lý nhà Phật.

 

- Về sự tham-luyến.- Tham-ái, tham-luyến là một tình-cảm tríu-mến, bám chặt vào điều mình ham-thích. Chính sự bấu-víu nầy làm nguyên-nhơn khiến cho chúng-sanh phải tái-sanh mãi trong vòng sanh-tử của cõi Luân-hồi, để theo-đuổi vào điều mình ham-thích. Ngay trong cuộc sống hiện-tại, vì sự tham-luyến, mà con người phải chịu nhiều phiền-lụy, như có tiền chẳng dám tiêu-dùng, lo tích-trữ, chịu thiếu-thốn, "làm mọi‘’ cho đồng tiền, mỗi khi phải chi-tiêu thì xót-xa trong bụng.

 

- Về quan-niệm VÔ-NGÃ: Đây là quan-niệm căn-bản trong giáo-lý nhà Phật. Vô-ngã là chẳng có cái Ta, cái Ngã. Thông-thường mọi người nói: Ta có thân Ta, có nhà Ta, có con-cái của Ta. Phật-học gọi Ta là Ngã, những điều của Ta đó, là Ngã-sở. Phật-học cho rằng Ngã và Ngã-sở đều rỗng-rang, giả-tạm, chẳng có thật, tuy thấy có đó, nhưng rồi sẽ tiêu-tán đi, chẳng bền-vững. Người tu-hành chẳng tham-luyến vào điều giả-tạm, mà phải biết quí-trọng đến điều chơn-thật, bền-vững. Điều chơn-thật, bền-vững đó, chính là Phật-tánh có sẵn nơi mọi chúng-sanh; Phật-tánh là khả-năng giác-ngộ và giải-thoát khỏi cảnh Luân-hồi. Còn tấm thân nầy, ta gọi là Ta đó, do năm uẩn hợp-thành, sẽ có lúc năm uẩn rời nhau ra mà thân bị diệt chết. Chỉ có Phật-tánh mới tồn-tại, hằng còn, nhưng người thường chẳng biết đến để noi theo mà tu-tập thoát khổ.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ; lưu-ý về quan-niệm Vô-ngã.

 

2.- Tập dứt bỏ sự luyến-ái:

 

- mỗi khi mất-mát một vật chi, đừng quá tiếc-rẻ.

 

- nên bố-thí rộng-rãi để diệt bỏ bụng xẻn-tham.

The Story of Ananda, the Rich Man

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (62) of this book, with reference to a miserly rich man, named Ananda.

There was once a very wealthy man named Ananda in Savatthi. Although he possessed eighty crores, he was very reluctant to give anything in charity. To his son, Mulasiri, he used to say, "Don't think the wealth we have now is very much. Do not give away anything from what you have, for you must make it grow. Otherwise your wealth will dwindle away." This rich man had five pots of gold buried in his house and he died without revealing their location to his son.

Ananda, the rich man, was reborn in a village of beggars, not far from Savatthi. From the time his mother was pregnant, the income of the beggars decreased; the villagers thought there must be a wicked and unlucky one amongst them. By dividing themselves up into groups and by the process of elimination, they came to the conclusion that the pregnant beggar woman must be the unfortunate one. Thus, she was driven out of the village. When her son was born, the son proved to be extremely ugly and repulsive. If she went out begging by herself, she would get as before, but if she went out with her son she would get nothing. So, when the boy could go out by himself, his mother placed a plate in his hand and left him. As he wandered about in Savatthi, he remembered his old house and his past existence. So he went into the house. When the sons of his son Mulasiri saw him, they were frightened by his ugly looks and began to cry. The servants then beat him and threw him out of the house.

The Buddha who was on his alms-round saw the incident and asked the Venerable Ananda to fetch Mulasiri. When Mulasiri came, the Buddha told him that the young beggar was his own father in his previous existence. But Mulasiri could not believe it. So, the Buddha directed the beggar boy to show where he had buried his five pots of gold. Then only, Mulasiri accepted the truth and from that time he became a devoted lay-disciple of the Buddha.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 62: "I have sons, I have wealth"; with this (feeling of attachment) the fool is afflicted. Indeed, he himself is not his own, how can sons and wealth be his?

Dhammapada Verse 62
Anandasetthi Vatthu

Putta1 ma'tthi dhanam ma' tthi
iti balo vihannati
atta hi attano natthi
kuto putta kuto dhanam.

Verse 62: "I have sons, I have wealth"; with this (feeling of attachment) the fool is afflicted. Indeed, he himself is not his own, how can sons and wealth be his?



1. putta: sons also means both son and daughter.


dhp063_B
Verse-Kệ 063

(48).- Tích chuyện hai người móc túi - Kệ số 063

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến hai người làm nghề móc túi.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có hai người chuyên sống về nghề móc túi trộm tiền của kẻ khác. Một hôm, cả hai theo chơn một nhóm Phật-tử vào chùa Kỳ-viên nghe Đức Phật giảng-pháp. Một người lắng nghe lời Phật dạy, còn một người thừa cơ các Phật-tử mãi lo nghe, để móc túi họ lấy tiền-bạc. Sau buổi giảng-pháp, cả hai quay về nhà nấu cơm ăn. Người móc túi được tiền, mua đồ ăn ngon nấu trong bếp; còn anh kia chẳng có tiền, phải ăn nhờ vào bạn. Người vợ anh móc túi liền nói mỉa-mai anh kia: "Anh là người quá thông-minh, biết nghe lời Phật dạy, nên chẳng kiếm được tiền, nay phải đến nhà tôi ăn nhờ vào của chồng tôi vừa kiếm ra." Nghe nói thế, anh nầy nghĩ rằng: ‘Bà ta là người ngu mà cứ tưởng mình và chồng mình là người có trí, nên mới mỉa-mai chê-trách ta như vậy."

 

Sau đó, anh cùng với thân-nhơn trở lại yết-kiến Đức Phật ở chùa Kỳ-viên. Khi nghe anh kể lại lời mỉa-mai của người vợ bạn móc túi của anh, Đức Phật mới nói lên bài Kệ ngắn sau đây:

 

Người ngu biết mình ngu,

Chẳng ngu đến chừng ấy.

Người ngu nhận mình trí,

Đấy là người chí ngu.

(Kệ số 063.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Mìa-mai: nói lời chua-ngoa, thầm chê kẻ khác.

 

- Thân-nhơn = người bà-con.

 

- Yết-kiến = đến gặp người trưởng-thượng.

 

- Chí ngu = ngu hết sức là ngu.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc hai người móc túi, đến nghe Đức Phật giảng-pháp. Một người biết mình còn ngu-dại làm nghề bất-lương, nên lắng nghe lời giảng. Còn người kia, tự cho mình là người khôn, biết thừa cơ-hội để móc túi những kẻ đang chăm-chú nghe lời Phật.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: thừa cơ-hội người ta chăm-chú nghe pháp mà móc túi, là một hành-động rất ngu-khờ, vì tạo nên tội-lỗi, sau phải chịu quả-báo xấu. Chẳng biết sự ngu-khờ đó, mà lại tưởng mình khôn-lanh biết thừa cơ-hội, đó là sự dại-dột đến tột-bực: chỉ trông thấy mối lợi nhỏ, chẳng biết quả-báo tai-hại về đời sau.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 063:

 

Bài Kệ phân-tách hai trường-hợp:

 

- Người ngu biết mình ngu: biết được mình ngu chẳng còn ngu đến chừng ấy, vì đã biết được mình. Nếu mình biết mình còn ngu, mình mới lo học-hỏi thêm, mới có cơ-hội để thành người trí.

 

- Người ngu tự-nhận mình là người trí: chẳng biết được mình, lại thêm kiêu-căng nhận mình là người khôn, thì còn cái ngu nào bằng, cho nên bài Kệ mới nói là chí ngu, hết sức ngu! Tại sao lại chí ngu? Chí ngu vì khi tự nhận mình đã khôn rồi, đâu chịu học-hỏi thêm, thành ra chẳng có cơ-hội mở mang trí thông-minh của mình, sống mãi trong sự ngu-tối.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của bài Kệ: đừng bao giờ tự-nhận mình là người trí, hãy khiêm-nhường nhận sự thiếu thông-minh của mình để học hỏi thêm điều hay lẽ phải.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, nhớ lấy để giữ lấy tánh khiêm-nhường.

 

2.- Khi bị ai chê là ngu, đừng nổi giận. Hãy bình-tâm xét xem mình đã ngu ở điểm nào mà sửa-chữa lại. Hành-động nầy là hành-động khôn-ngoan, để trả lời cho người đã chê mình ngu vừa qua.

 

3.- Nên thành-thật cám ơn kẻ chê mình ngu, vì kẻ ấy đã giúp cơ-hội cho mình được khôn thêm.

The Story of Two Pick-Pockets

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (63) of this book, with reference to two pick-pockets.

On one occasion, two pick-pockets joined a group of lay-disciples going to the Jetavana monastery, where the Buddha was giving a discourse. One of them listened attentively to the discourse and soon attained Sotapatti Fruition. However, the second thief did not attend to the discourse as he was bent on stealing only; and he managed to snatch a small sum of money from one of the lay-disciples. After the discourse they went back and cooked their meal at the house of the second thief, the one who managed to get some money. The wife of the second thief taunted the first thief, "You are so wise, you don't even have anything to cook at your house." Hearing this remark, the first thief thought to himself, "This one is so foolish that she thinks she is being very smart." Then, together with some relatives, he went to the Buddha and related the matter to him.

To the man, the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 63: The fool who knows that he is a fool can, for that reason, be a wise man; but the fool who thinks that he is wise is, indeed, called a fool.


At the end of the discourse, all the relatives of the man attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 63
Ganthibhedakacora Vatthu

Ya balo mannati balyam
panditovapi tena so
balo ca panditamani
sa ve baloti vuccati.

Verse 63: The fool who knows that he is a fool can, for that reason, be a wise man; but the fool who thinks that he is wise is, indeed, called a fool.


dhp064_B
Verse-Kệ 064

(49).- Tích chuyện Trưởng-lão Ưu-đà-di - Kệ số 064

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Ưu-đà-di.

 

Thuở ấy, có Trưởng-lão Ưu-đà-di là một tỳ-kheo tánh hay khoe-khoang, muốn được mọi người khen tặng mình là người thông-hiểu rành-rẽ về Chánh-pháp, nên hay lên ngồi nơi các vị Trưởng-lão thường thuyết-pháp. Một hôm có một nhóm du-tăng đến viếng chùa, trông thấy Trưởng-lão Ưu-đà-di, mới đến thưa hỏi về ngũ uẩn. Trưởng-lão Ưu-đà-di chẳng thể giảng-giải được thế nào là năm uẩn, vì Trưởng-lão chẳng thông-suốt Chánh-pháp. Các vị du-tăng rất ngạc-nhiên, nhận thấy một vị tỳ-kheo lớn tuổi, đã ở lâu bên cạnh Phật mà chẳng hiểu được thế nào là tấm thân năm uẩn, chẳng rành về lục căn và lục trần.

 

Bấy giờ, để trả lời chỗ họ thắc-mắc, Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người ngu dầu mãi bên người trí,

Chánh-pháp còn chẳng tí hiểu rành;

Khác nào cái muỗng múc canh,

Múc thời có múc, chẳng sành vị ngon.

(Kệ số 064.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Trưởng-lão: Trưởng = lớn; Lão = già-cả. Trong Phật-học, chữ Trưởng-lão dùng để chỉ các vị tu-hành lâu năm, đức-hạnh cao. Tiếng Pali là Thera; phái nữ là Theri.

 

- Ưu-đà-di: tên thật của Trưởng-lão, tiếng Pali là Udàyi.

 

- Du-tăng: Du = đi đó đây; Tăng = nam tu-sĩ. Các vị du-tăng thường đi đây đó, để tìm thầy học-hỏi thêm về Đạo-pháp.

 

- Ngũ-uẩn, năm uẩn: năm nhóm tụ-họp tạm thời tạo nên thân-tâm con người. Đó là sắc-uẩn, thân-thể vật-chất, và bốn uẩn thuôc về tâm: thọ-uẩn, các tình-cảm; tưởng-uẩn, các tư-tưởng, hành-uẩn, các hành-động, và thức-uẩn, các sự hiểu-biết.

 

- Lục-căn: Lục = sáu; Căn = nơi phát-xuất ra, nguồn-gốc. Lục căn là các giác-quan giúp ta biết được cảnh bên ngoài và tư-tưởng bên trong. Lục căn gồm có: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

 

- Lục trần: Trần = bụi-bặm. Chữ Lục-trần trong Phật-học dùng để chỉ sáu hình-thái của cảnh vật bên ngoài và ý bên trong. Đó là: sắc (màu-sắc, hình-dáng), thanh (tiếng động), hương (mùi), vị (vị nếm), xúc (sự đụng-chạm), pháp (sự-vật bên ngoài gợi lên ý bên trong).

 

- Sành = hiểu rành-rẽ, thấu đáo.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, chê Trưởng-lão Ưu-đà-di ở gần bên Phật lâu ngày mà chẳng thông-hiểu được Chánh-pháp.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 064:

 

Bài Kệ ví người ngu ở gần người trí, mà chẳng biết học-hỏi thêm điều gì, tựa như cái muỗng ngâm trong tô canh mà chẳng biết gì đến vị ngon của canh cả.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ; mỗi khi đến chùa nghe giảng Kinh-kệ, nên tìm hiểu cho rành-rẽ hầu ứng-dụng vào việc tu-hành; chớ lơ-là, nghe xong rồi ra khỏi cổng chùa, bao nhiêu lời giảng đều cuốn theo chiều gió!

 

2.- Tập thưa hỏi với các bực thiện-tri-thức:

 

- đem những điều mình còn thắc-mắc ra hỏi, đừng e-lệ sợ bị chê là dốt;

 

- thử nhìn lại thân-tâm mình, xét xem sắc-uẩn, thọ-uẩn,... là gì, tại sao thân năm uẩn nầy lại vô-thường và vô-ngã.

 

- học thuộc lòng lục căn, lục trần gồm có những gì, để biết kềm-chế các giác-quan chẳng chạy theo cảnh-vật bên ngoài khiến cho tâm phải vọng-động.

The Story of Thera Udayi

While residing at tho Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (64) of this book, with reference to Thera Udayi, a pretentious bhikkhu.

Thera Udayi would often go and sit on the platform from which learned theras delivered their discourses. On one occasion, some visiting bhikkhus, taking him for a very learned thera, put to him some questions on the five aggregates (khandhas). Thera Udayi could not answer, because he did not know anything of the dhamma. The visiting bhikkhus were greatly astonished to find that one staying in the same monastery with the Buddha knew so very little about the khandhas and the ayatanas (sense-bases and sense-objects).

To them, the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 64: A fool, even though he is associated with a wise man all his life, does not understand the Dhamma, just as a ladle does not know the taste of soup.


At the end of the discourse, all the visiting bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verse 64
Udayitthera Vatthu

Yavajivampi ce balo
panditam payirupasati
na so dhammam vijanati
dabbi suparasam yatha.

Verse 64: A fool, even though he is associated with a wise man all his life, does not understand the Dhamma, just as a ladle does not know the taste of soup.


dhp065_B
Verse-Kệ 065

(50).- Tích chuyện ba mươi chàng thanh-niên - Kệ số 065

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến ba mươi chàng thanh-niên ở Phả-vị-kha.

 

Thuở ấy, có một nhóm thanh-niên tại làng Phả-vị-kha dẫn một dâm-nữ vào rừng để hành-lạc. Người dâm-nữ lén đánh cắp các vật trang-sức và bỏ trốn đi. Trong khi bọn thanh-niên lùng kiếm trong rừng, thì họ gặp được Đức Phật và chư Tăng đi ngang qua đó. Họ dừng lại, nghe Đức Phật thuyết-pháp và một số ít trong nhóm thanh-niên chứng được quả-vị Tu-đà-huờn. Các thanh-niên ấy liền xin Đức Phật cho gia-nhập Tăng-đoàn, và theo Đức Phật về chùa Kỳ-viên. Trong một thời-gian ngắn cư-trú tại đây, các thanh-niên ấy đã tỏ ra rất chuyên-cần tu-tập, giữ gìới thật thanh-tịnh và theo hạnh đầu-đà để thanh-lọc thân-tâm. Đến khi Đức Phật thuyết-giảng Kinh Tương-Ưng Vô-Thỉ (Anamatagga Samyutta), tất cả ba mươi chàng thanh-niên ở làng Phả-vị-kha đều chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán.

 

Khi các vị tỳ-kheo khác tỏ ra ngạc-nhiên trước sự thành-đạt nhanh-chóng của đoàn thanh-niên Phả-vị-kha, Đức Phật liền nói lên bài Kệ sau:

 

Người khôn một lúc bên người trí,

Chánh-pháp liền thông chí ngọn-ngành,

Khác nào cái lưỡi nếm canh,

Canh chua, canh ngót, đều sành vị ngon.

(Kệ số 065.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Phả-vị-kha: tên thật làng nầy tiếng Pali là Pàveyyaka.

 

- Dâm-nữ: người đàn-bà bán dâm ( = làm điếm).

 

- Hành-lạc: Hành = làm; Lạc = vui. Hành-lạc là mua vui về thể-xác.

 

- Vật trang-sức: đồ-vật quí-giá đeo trong người để trang-điểm.

 

- Hạnh đầu-đà: tiếng Pali là Dhutanga; đây là lối tu khổ-hạnh. Người khéo giữ hạnh đầu-đà vào thời Đức Phật là Tôn-giả Đại Ca-diếp.

 

- Kinh Tương-ưng Vô-thỉ: trong các bản Kinh thuộc Tương-ưng nầy, Đức Phật diễn-giảng về thuyết Luân-hồi, cắt nghĩa tại sao chúng-sanh phải trôi lăn mãi qua vô-lượng kiếp tái-sanh sống đi chết lại.

 

- Thông chí ngọn-ngành: thông-suốt rành-rẽ cả đầu-đuôi gốc ngọn, chẳng sót chỗ nào.

 

- Canh chua, canh ngót: Thiện-Nhựt tôi xin thành-tâm sám-hối, vì trong bản nguyên-tác chẳng có bốn chữ "Canh chua, canh ngót" nầy, tôi sở dĩ thêm vào, là để cho gọn câu văn. Canh ngót là canh rau ngót.

 

- Sành: biết rành-rẽ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc ba mươi chàng thanh-niên biết bỏ các thú-vui nhục-dục, nghe lời Phật dạy mà tu-tập chứng được quả-vị A-la-hán. Họ sở dĩ thành-công nhanh-chóng, là nhờ vào trí-huệ thông-minh, chí kiên-quyết tu-tập và giữ giới-hạnh đầu-đà.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 065:

 

Thử so-sánh với bài Kệ trước, số 064: người ngu ở mãi bên người trí, cũng chẳng học được gì, còn người khôn dầu ở bên người trí một thời-gian ngắn, cũng sớm thông-thạo được Chánh-pháp.

 

Trái với bài Kệ số 064 so-sánh người ngu như cái muỗng vô-tri, chẳng biết mùi-vị của canh, bài Kệ số 065 khen người khôn như cái lưỡi nhạy cảm, nếm biết được mùi-vị thơm ngon của các loại canh.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, so-sánh với bài Kệ trước, và cố-gắng thưa hỏi thêm để sớm trở thành người khôn.

 

2.- Thử soát lại xem mình đã hiểu bổn-phận của người Phật-tử tu tại-gia như thế nào: Thọ Tam-quy là gì? Tại sao lại quy-y? Giữ ngũ giới là giữ những giới nào? Tại sao? Nếu còn ngập-ngừng, phải mau thưa hỏi các vị tu-hành nơi chùa.

The Story of Thirty Bhikkhus from Paveyyaka

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (65) of this book, with reference to thirty bhikkhus from Paveyyaka.

Thirty youths from Paveyyaka were, on one occasion, enjoying themselves with a prostitute in a forest, when the prostitute stole some of their valuable ornaments and ran away. While searching for her in the forest, they met the Buddha on the way. As the Buddha delivered them a discourse the youths attained Sotapatti Fruition, and all of them joined the Order of the Buddha and followed him to the Jetavana monastery. While staying at the monastery, they strictly observed the austerity or purification practice (dhutanga). Later, when the Buddha delivered the Anamatagga Sutta (Discourse on Countless Existences), all those bhikkhus attained arahatship.

When other bhikkhus commented that Paveyyaka bhikkhus were very quick in attaining arahatship, the Buddha replied to them in verse, as follows:

Verse 65: An intelligent man, even though he is associated with a wise man only for a moment, quickly understands the Dhamma, just as the tongue knows the taste of soup.


Dhammapada Verse 65
Timsapaveyyakabhikkhu Vatthu

Muhuttamapi ce vinnu
panditam payirupasati
khippam dhammam vijanati
jivha suparasam yatha.

Verse 65: An intelligent man, even though he is associated with a wise man only for a moment, quickly understands the Dhamma, just as the tongue knows the taste of soup.


dhp066_B
Verse-Kệ 066

(51).- Tích chuyện người cùi Sở-phù-bút - Kệ số 066

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến ông Sở-phù-bút là người cùi.

 

Thuở ấy có một người cùi tên là Sở-phù-bút, ngồi bên ngoài đám đông đang tụ-tập nghe Đức Phật giảng pháp, mà chứng được quả-vị Tu-đà-huờn. Đến khi đám đông giải-tán, anh Sở mới lặng-lẽ bước theo sau chơn Đức Phật và chư Tăng mà đi về chùa Kỳ-viên. Dọc đường, có vị Thiên-đế là Sắc-ca muốn thử xem tín-tâm của anh Sở có kiên-cố chăng, mới hiện-hình lên làm một người giàu-có, nói với anh Sở: ‘Này anh kia, tôi xem anh đang nghèo-khó, bịnh-tật, phải sống nhờ vào lòng từ-thiện của mọi người. Nay tôi sẽ ban cho anh thật nhiều của-cải, nếu anh chịu từ-khước đừng tin-tưởng vào Phật, Pháp và Tăng nữa. Anh chịu không?" Anh Sở thẳng-thắng trả lời: ‘Thưa ông, ông lầm lắm. Tôi là người giàu-có, đủ cả bảy món thánh-tài của bực Thánh-giả. Một là tín-tâm; hai là giới-hạnh; ba là tâm tàm; bốn là tâm quí; năm là đa-văn; sáu là trí-huệ; bảy là xả-ly. Bấy nhiêu điều đó còn quí hơn tài-sản của ông cho tôi."

 

Vị Thiên-đế liền đến bên Phật, trước khi Sở-phù-bút tới chùa. Thiên-đế thuật lại những lời đối-đáp của anh Sở cho Đức Phật nghe. Đức Phật nói: "Cho dầu có một trăm vị Thiên-đế như ông đến dụ-dỗ anh Sở cũng chẳng thành-công khiến anh ta chẳng tin vào Phật-pháp." Vừa lúc ấy, anh Sở tới nơi, trình với Đức Phật rằng, anh vừa chứng được quả-vị Tu-đà-huờn, sau khi nghe Phật giảng-pháp. Sau đó, anh rời chùa ra về. Dọc đường, anh Sở bị một con bò cái hung-hăng húc vào người, anh ngả ra chết tại chỗ.

 

Bấy giờ chư Tăng nghe thấy, mới đến thưa cùng Phật và hỏi chẳng biết anh Sở được tái-sanh về cõi nào. Đức Phật đáp: "Anh Sở hiện đang tái-sanh vào cõi Trời Đao-lợi, nhờ chứng được quả-vị Tu-đà-huờn. Trong một kiếp trước, anh Sở đã phun-nhổ vào một vị Bích-chi-Phật, nên kiếp nầy phải sanh làm người cùi-hủi. Trong một kiếp khác, anh Sở đã giết một người dâm-nữ, nên nay bị ngưòi ấy, đầu-thai làm con bò húc chết để trả thù."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người ngu là kẻ thù chính họ;

Làm ác, vì chẳng có trí khôn,

Phải chịu quả đắng-cay khổ-sở.

(Kệ số 066.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Người cùi: người bị bịnh phung ( =phong) lở-lói, rụng móng tay, móng chơn, nhức-nhối, khổ-sở. Còn gọi là bịnh hủi.

 

- Sở-phù-bút: tên thật người cùi nầy tiếng Pali là Suppabuddha.

 

- Thiên-đế Sắc-ca: tên vị Vua Trời nầy tiếng Pali là Sakka.

 

- Tín-tâm: Tín = lòng tin-tưởng vào Phật-pháp; tâm = lòng. Tiếng Pali là Saddhà.

 

- Kiên-cố = bền-chặc, vững-chắc, chẳng lung-lay.

 

- Từ-thiện: Từ = nhơn-từ, thương người; Thiện = lành. Từ-thiện là lòng thương người nghèo khó, muốn giúp đỡ họ.

 

- Bảy món Thánh-tài: Thánh = bực đã giác-ngộ và giải-thoát; trái với phàm-phu; Tài = tài-sản, của-cải. Bảy món Thánh-tài là bảy đức-tánh của bực Thánh-giả, quí-báu hơn của-cải vật-chất.

 

- Giới-hạnh: Giới = điều răn-cấm; Hạnh = hạnh-kiểm. Giới-hạnh là sự giữ-gìn các giới-cấm; tiếng Pali là Sila.

 

- Tâm tàm: Tàm = biết hổ-thẹn trong lòng khi lỡ làm điều quấy. Tiếng Pali là Hiri.

 

- Tâm Quí: Quí = biết lo-sợ khi lỡ làm điều quấy (sợ quả-báo xấu). Tiếng Pali là Ottappa.

 

- Đa-văn: Đa = nhiều; Văn = nghe. Đa-văn là người nghe nhiều, học rộng. Tôn-giả A-nan là người đa-văn bực nhứt vào thời Đức Phật Thích-ca.

 

- Trí-huệ: ở đây là trí thông-minh đưa ta đến bờ giác-ngộ và giải-thoát, trong Phật-học gọi là Trí-huệ Bát-nhã; tiếng Pali là Pannà.

 

- Xả-ly: Xả = buông-bỏ, chẳng luyến-tiếc; Ly = lià xa. Tiếng Pali là Upekkha.

 

- Cõi Trời Đao-lợi: cõi Trời nầy, tiếng Pali là Tàvatimsa.

 

- Bích-chi-Phật: phiên-âm tiếng Pali là Paccekabuddha; Bích-chi-Phật là vị tu-hành vào thời chẳng có Phật giáng-sanh, quán-chiếu pháp Mười Hai Nhơn-Duyên mà chứng-quả. Còn gọi là Duyên-giác, Độc-giác.

 

- Quả đắng-cay: Quả = quả-báo, kết-quả của việc đã làm lúc trước. Trái nghĩa với chữ nguyên-nhơn, nhơn-duyên. Quả-báo đắng-cay là trong đời nầy phải chịu nhiều điều khổ-sở.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa: (1) lời đối-đáp giữa anh Sở-phù-bút và Thiên-đế Sắc-ca, liên-quan đến bảy món Thánh-tài; (2) quả-báo xấu mà người cùi Sở-phù-bút phải gánh chịu trong đời nầy.

 

Tại sao gọi bảy đức-tánh của bực Thánh là Thất Thánh-tài? Bảy đức-tánh quí-báu nầy giúp ta đến nơi giác-ngộ và giải-thoát khỏi cuộc sống khổ-sở, nên cao-quí hơn tiền-bạc, của-cải.

 

Theo Luật Nhơn-Quả, hễ làm ác thì phải chịu quả-báo xấu trong đời nầy hay các đời sau. Quả-báo chẳng trỗ liền theo hành-động, mà chờ đủ cơ-duyên mới kết-thành, có thể kéo dài qua nhiều đời.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 066:

 

Thử phân-tách từng câu của bài Kệ:

 

- Người ngu là kẻ thù chính họ: người ngu tạo điều ác gây ra quả-báo khổ-sở, cũng như kẻ thù gây đau-khổ cho mình. Vì thế, sự ngu-dốt của mình là kẻ thù của chính mình, cần phải tu-học dẹp bỏ sự si-mê.

 

- Làm ác, vì chẳng có trí-khôn: người ngu chỉ trông thấy mối lợi nhỏ trước mắt, chẳng phân-biệt được điều lành với việc ác, chẳng trông xa biết đến Luật Nhơn-quả sau nầy, nên mới phạm tội. Đó chẳng qua vì thiếu trí-khôn, chẳng phân-biệt được thiện và ác.

 

- Phải chịu quả đắng-cay, khổ-sở: đây là hậu-quả chắc-chắn sẽ xãy ra, hoặc trong đời nầy, hoặc về đời sau. Cứ nhìn đến cảnh khổ của người cùi Sở-phù-bút là biết được quả đắng-cay xãy ra như thế nào.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ để tự răn mình, mỗi khi sắp làm điều sai

 

2.- Học thuộc lòng Thất Thánh-tài (thất = bảy); tự xét xem mình đang có được món nào; còn đang thiếu món nào, ráng tập để có được. 

The Story of Suppabuddha, the Leper

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (66) of this book, with reference to Suppabuddha, a leper.

Suppabuddha, the leper, while sitting at the back of the crowd and listening attentively to the discourse given by the Buddha, attained Sotapatti Fruition. When the crowd had dispersed, he followed the Buddha to the monastery as he wished to tell the Buddha about his attainment of Sotapatti Fruition. Sakka, king of the devas, wishing to test the leper's faith in the Buddha, the Dhamma and the Samgha, appeared to him and said, "You are only a poor man, living on what you get by begging, with no one to fall back on. I can give you immense wealth if you deny the Buddha, the Dhamma and the Samgha and say that you have no use for them." To this, Suppabuddha replied. "I am certainly not a poor man, with no one to rely on. I am a rich man; I possess the seven attributes which the ariyas possess; I have faith (saddha), morality (sila), sense of shame to do evil (hiri), sense of fear to do evil (ottappa), learning (sula), generosity (caga) and knowledge (panna).

Then, Sakka went to the Buddha ahead of Suppabuddha and related the conversation between himself and Suppabuddha. To him the Buddha replied that it would not be easy even for a hundred or a thousand Sakkas to coax Suppabuddha away from the Buddha, the Dhamma and the Samgha. Soon after this, Suppabuddha arrived at the monastery and reported to the Buddha about his attainment of Sotapatti Fruition. On his way back from the Jetavana monastery, Suppabuddha was gored to death by an infuriated cow, who, in fact, was an ogress assuming the form of a cow. This ogress was none other than the prostitute who was killed by Suppabuddha in one of his previous existences and who had vowed to have her revenge on him.

When the news of Suppabuddha's death reached the Jetavana monastery, the bhikkhus asked the Buddha where Suppabuddha was reborn and the Buddha replied to them that Suppabuddha was reborn in Tavatimsa deva realm. The Buddha also explained to them that Suppabuddha was born a leper because, in one of his previous existences, he had spat upon a paccekabuddha.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 66: With themselves as their own enemies, fools lacking in intelligence, move about doing evil deeds, which bear bitter fruits.


Dhammapada Verse 66
Suppabuddhakutthi Vatthu

Caranti bala dummedha
amitteneva attana
karonta papakam kammam
yam hoti katukapphalam.

Verse 66: With themselves as their own enemies, fools lacking in intelligence, move about doing evil deeds, which bear bitter fruits.


dhp067_B
Verse-Kệ 067

(52).- Tích chuyện một người nông-phu - Kệ số 067

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một người nông-phu cầm thuốc độc.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có một bọn trộm-cắp vào nhà một người giàu-có, lấy mất một số tiền-bạc lớn, đem chia nhau rồi giải-tán. Một đứa trong bọn, lãnh phần, trên đường về, đánh rơi một gói vàng ở dọc đường mà không hay biết.

 

Bấy giờ, vào sáng sớm, sau cơn Thiền-định, Đức Phật quán-thấy có một người nông-phu trong làng kia, đã đến cơ-duyên chứng-được quả-vị Tu-đà-huờn, nên Ngài cùng chư Tăng đi khất-thực ngang qua đó. Người nông-phu trông thấy Đức Phật, liền cung-kính làm lễ, rồi mới tiếp-tục cày-bừa. Đức Phật nhìn thấy bên vệ đường có gói vàng, mới nói với Tôn-giả A-nan: "Này A-nan, ông có thấy một con rắn rất độc đó không?" Tôn-giả A-nan cũng nhìn thấy gói vàng đó, mới thưa cùng Phật: "Bạch Thế-tôn, vâng, đó là một con rắn thật độc." Nói xong, cả đoàn tiếp-tục lên đường.

 

Người nông-phu nghe Đức Phật và Tôn-giả A-nan nói có rắn độc bên đường, mới dừng cày lại, đến bên vệ đường tìm xem con rắn, nhưng chỉ thấy một gói vàng của ai bỏ quên đó. Anh ta liền cầm lên, đem vào bụi rậm, bỏ đấy, rồi trở ra làm việc như cũ. Lúc ấy, người nhà giàu hay tin bị mất trộm, mới cùng đầy-tớ, theo dấu, rượt theo bọn cắp. Đến nơi người nông-phu đang cày ruộng, họ nom theo dấu chơn, xông vào bụi rậm, lấy lại được túi vàng. Họ bắt anh nông-phu, đánh đập anh và giải anh đến đền vua để kết tội. Vua ra lịnh xử tử người nông-phu vì tội trộm. Các người lính được lịnh dẫn người nông-phu ra pháp-trường để giết chết. Dọc đường, người nông-phu cứ lập đi, lập lại mãi câu nói: "Này A-nan, ông có thấy con rắn độc đó không? - Bạch Thế-tôn, vâng đó là một con rắn thật độc." Bọn lính chẳng hiểu ý-nghĩa tại sao người nông-phu cứ lảm-nhảm nói mãi như vậy, mới dẫn anh ta trở lại đền Vua, và trình lên Vua sự-việc như thế. Vua nghĩ có lẽ anh nông-phu vô-tội và muốn được Đức Phật đứng ra làm chứng cho sự vô-tội của anh, mới truyền dẫn anh đến gặp Đức Phật. Nghe Đức Phật thuật lại việc thấy gói vàng ban sáng, nhà Vua biết anh nông-phu vô-tội, mới tha cho. Vua nói: "Nếu người nông-phu nầy chẳng nhắc lại lời của Đức Phật, thì đã bị xử-tử rồi." Đức Phật bảo: "Người hiền-trí chẳng hề làm việc gì mà phải hối-tiếc về sau."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Hành-động ác, làm xong thì hối-quá.

Lệ tràn mi, sợ quả-báo về sau.

(Kệ số 067.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Giải-tán = rời nhau mà đi phân-tán, mỗi người một ngả.

 

- Vệ đường = lề đường.

 

- Xử tử = kết tội phải chết.

 

- Pháp-trường: Pháp = pháp-luật; Trường = nơi, chỗ. Pháp-trường là nơi xử tử các tội-nhơn bị tử-hình.

 

- Hiền-trí: Hiền = hiền-lành, ngay-thẳng; Trí = thông-minh. Người hiền-trí là người có trí thông-mình, làm lành lánh dữ.

 

- Hối-tiếc; Hối-quá: Hối = ăn-năn; Tiếc =tiếc rẻ; Quá = tội-lỗi. Hối-tiếc là tiếc rẻ; Hối-quá là ăn-năn đã lỡ phạm tội.

 

- Lệ = nước mắt. Lệ tràn mi là khóc lóc, chảy nước mắt.

 

- Quả-báo: kết-quả của hành-động đã làm trước kia. Quả-báo có thể xãy ra trong đời nầy, hay về các đời sau.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Ý-nghĩa chánh-yếu của Tích chuyện là xem gói vàng bỏ bên đường như con rắn độc. Tại sao gọi đó là con rắn độc? Bị rắn độc cắn, nọc độc có thể giết chết người. Gói vàng bỏ quên kia, nếu tham-lam mà lấy, sau bị người chủ biết, sẽ bị tù-tội; tai-hại cũng như nọc độc của con rắn giết người. Bài học của Tích chuyện là chớ nên tham-lam lấy của rơi.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 067:

 

Bài Kệ số 067 định-nghĩa thế nào là hành-động ác. Hành-động ác, làm xong thì tỏ ra hối-tiếc, lo-lắng vì sợ bị quả-báo xấu.

 

Thông-thường, muốn biết một hành-động lành hay dữ, người ta xét đến hành-động ấy có đem lại lợi-ích hay gây ra tổn-hại. Nếu có lợi cho mình mà có hại cho người khác, thì đó là hành-động xấu. Dầu trong hiện-tại có đem lợi cho mình ít nhiều, nhưng vì gây thiệt-hại cho kẻ khác, nên hành-động ấy trở nên xấu-ác, mà hậu-quả bất-lợi sẽ đến với người chủ-động về sau.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ; ghi nhớ để khỏi bị cám-dỗ làm việc ác.

 

2.- Tập tánh ngay-thẳng cho trẻ con:

 

- đi đường thấy có tiền rơi, lượm lên đem cho người ăn xin

 

- trong lớp, lượm được cây viết chì, đem lên trình Thầy để trả lại cho người mất.

 

- đi xe buýt, thấy trên ghế có cây dù bỏ quên, cầm lấy giao cho người tài-xế, để đem hoàn lại cho người chủ., v.v. 

The Story of a Farmer

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (67) of this book, with reference to a farmer who handled poison.

One day, some thieves having stolen some valuables and cash from the house of a rich man came to a field. There, they divided the stolen property among themselves and dispersed; but a packet containing one thousand in cash, having dropped from one of the thieves, was left behind unnoticed.

Early in the morning on that day, the Buddha, on surveying the world with his supernormal power, perceived that a farmer, cultivating near that field, would attain Sotapatti Fruition on that very day. So, the Buddha went there, accompinied by the Venerable Ananda. The farmer on seeing the Buddha paid obeisance to him and continued to plough the field. The Buddha seeing the packet of money said to the Venerable Ananda, "Ananda, look at that very poisonous snake," and Ananda replied, "Venerable Sir, yes, it is, indeed, a very poisonous snake!" Then, both the Buddha and the Venerable Ananda continued their way.

The farmer, hearing them, went to find out if there really was a snake and found the packet of money. He took the picket and hid it in a place. The owners of the property coming after the thieves came to the field, and tracing the footprints of the farmer, found the packet of money. They beat the farmer and took him to the king, who ordered his men to kill the farmer. On being taken to the cemetery, where he was to be killed, the farmer kept on repeating, "Ananda, look at that very poisonous snake. Venerable Sir, I see the snake; it is, indeed, a very poisonous snake!" When the king's men heard the above dialogue between the Buddha and the Venerable Ananda being repeated all the way, they were puzzled and took him to the king. The king surmised that the farmer was calling upon the Buddha as a witness; he was therefore taken to the presence of the Buddha. After hearing from the Buddha everything that had happened in the morning, the king remarked, "If he had not been able to call upon the Buddha as a witness of his innocence, this man would have been killed." To him, the Buddha replied, "A wise man should not do anything that he would repent after doing it."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 67: That deed is not well done, if one has to repent for having done it, and if, with a tearful face, one has to weep as a result of that deed.


At the end of the discourse, the farmer attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 67
Kassaka Vatthu

Na tam kammam katam sadhu
yam katva anutappati
yassa assumukho rodam
vipakam patisevati.

Verse 67: That deed is not well done, if one has to repent for having done it, and if, with a tearful face, one has to weep as a result of that deed.


dhp068_B
Verse-Kệ 068

(53).- Tích chuyện người bán hoa Sử-mã-na - Kệ số 068

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến người bán hoa tên là Sử-mã-na.

 

Thuở ấy, ở thành Vương-xá, có một người bán hoa tên là Sử-mã-na, mỗi ngày cung-cấp hoa tươi cho vua Tần-bà-sa-la. Một hôm, anh mang hoa đến đền vua, dọc đường gặp Đức Phật đang cùng chư Tăng đi khất-thực, ánh hào-quang rực-rỡ toả ra. Anh Sử trông thấy cảnh trang-nghiêm đó, mới phát-tâm dâng hoa cúng-dường lên Đức Phật. Trong đầu anh nghĩ, cho dầu vua có đuổi anh ra khỏi thành, cho dầu Vua có buộc tội chết cho anh đi nữa, vì chẳng đem hoa đúng hẹn, anh cũng muốn được đến bên Phật mà dâng hoa lên cho Ngài. Nghĩ xong, anh liền đem tất cả bó hoa rải lên trên đỉnh đầu Đức Phật, hai bên và sau lưng Ngài. Lạ lùng thay, các bông hoa chẳng rơi xuống đất, mà lơ-lửng trên không, kết thành một cái lọng che đầu Phật, làm thành một bức tường hoa hai bên và sau lưng Phật. Mỗi bước chơn của Phật bước tới, các cánh hoa bay theo, chẳng rời. Dân chúng trong thành nô-nức rủ nhau ra ngắm xem cảnh-tượng đẹp-đẽ đó. Lòng anh Sử tràn-ngập một niềm phỉ-lạc vô-biên.

 

Bấy giờ, vợ của Sử-mã-na đến hoàng-cung, tâu cùng Vua Tần-bà-sa-la, là chồng bà đã đem hết hoa ra dâng cúng Phật rồi, nên hôm nay chẳng có hoa để đem dâng vua. Nhà Vua nghe nói có Đức Phật đi đến, mới ngự ra thành, trông thấy quang-cảnh trang-nghiêm, Đức Phật đang đi dưới tàng hoa đẹp, hào-quang sáng chói, mới thỉnh Phật vào thành cúng-dường thực-phẩm. Sau buổi ngọ-trai, Đức Phật quay về tịnh-xá, nhà Vua đi tiễn một quãng đường. Trở về hoàng-cung, Vua cho gọi Sử-mã-na đến, thưởng cho tám con voi, tám con ngựa, tám người nô-lệ nam, tám người nô-lệ nữ, tám người đầy-tớ gái và tám ngàn đồng tiền.

 

Nơi tịnh-xá, khi Đức Phật bước vào Hương-phòng, thì các bó hoa tự-nhiên rơi xuống đất. Ngài A-nan bạch Phật: "Sử-mã-na dưng-hoa cúng-dường như thế được công-đức gì?" Đức Phật bảo: "Sử-mã-na dâng hoa cúng-dường Phật mà chẳng nghĩ đến mạng-sống, vì có thể bị tội với vua, sẽ được công-đức rất to lớn: trong nhiều kiếp Luân-hồi, Sử-mã-na sẽ khỏi phải sa vào nẻo dữ, rồi sau cùng sẽ chứng được quả-vị Bích-chi-Phật." Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Hành-động thiện, làm xong không tiếc-rẻ,

Quả-báo lành, mặt đầy vẻ vui-tươi.

(Kệ số 068.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Sử-mã-na: tên thật của người bán hoa, tiếng Pali là Sumana.

 

- Hào-quang = ánh-sáng năm màu rực-rỡ toả ra từ Đức Phật.

 

- Tần-bà-sa-la: tên thật vị vua nước Ma-kiệt-đà (Magadha) nầy, tiếng Pali là Bimbisàra.

 

- Vương-xá: tên thành nầy, tiếng Pali là Ràjagaha.

 

- Phát-tâm = trong lòng nẩy ra ý-định tốt.

 

- Lọng = cây dù lớn bằng lụa để che cho các người sang-trọng.

 

- Phỉ-lạc = niềm vui rộng-lớn từ trong lòng toả ra mặt-mũi.

 

- Vô-biên = chẳng có bờ-bến nào, hết sức rộng lớn.

 

- Hương-phòng: căn phòng có hương thơm dành riêng cho Đức Phật, tiếng Pali là Gandhakuti.

 

- Nẻo dữ: tái-sanh vào cõi ác-đạo như điạ-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh

 

- Bích-chi-Phật: xem lại bài trước.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể kại việc ông Sử-ma-na phát-tâm dâng hoa cúng-dường Phật, mà chẳng nghĩ đến mạng-sống của mình bị lâm nguy. Làm được công-đức nầy, lòng ông Sử tràn-đầy niềm phỉ-lạc. Theo lời Đức Phật ông Sử nhờ đó mà chẳng sa vào ác-đạo khi tái-sanh và về sau sẽ chứng được quả-vị Bích-chi-Phật. Đó là hành-động thiện đem lại quả-báo tốt, đúng theo Luật Nhơn-Quả.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 068:

 

Trái với bài Kệ số 067 ở trước, bài Kệ nầy nói về hành-động thiện. Hành-động thiện, làm xong, thì chẳng tiếc rẻ; trái lại người làm việc thiện, biết sẽ được quả-báo lành về sau, nên trong hiện-tại, lòng rất vui-thích. Đó là lợi-ích của việc thiện.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, nhớ lại bài Kệ trước, để phân-biệt các hành-động thiện và ác.

 

2.- Điều quan-trọng trong việc cúng-dường là sự thành-tâm, chẳng phải vì mong-muốn được quả-báo tốt, mà chỉ vì lòng thành-kính đối với Phật là bực đại-giác đã chỉ dạy ta con đường thoát khổ. Quả-báo tốt thế nào cũng đến, chẳng cần phải mong-cầu, tự nó sẽ đến về sau. 

The Story of Sumana, the Florist

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (68) of this book, with reference to Sumana the florist.

A florist, named Sumana, had to supply King Bimbisara of Rajagaha with jasmin flowers every morning. One day, as he was going to the king's palace he saw the Buddha, with a halo of light-rays radiating from him, coming into town for alms-food accompanied by many bhikkhus. Seeing the Buddha in his resplendent glory, the florist Sumana felt a strong desire to offer his flowers to the Buddha. Then and there, he decided that even if the king were to drive him out of the country or to kill him, he would not offer the flowers to the king for that day. Thus, he threw up the flowers to the sides, to the back and over and above the head of the Buddha. The flowers remained hanging in the air; those over the head formed a canopy of flowers and those at the back and the sides formed walls of flowers. These flowers followed the Buddha in this position as he moved on, and stopped when the Buddha stopped. As the Buddha proceeded, surrounded by walls of flowers, and a canopy of flowers, with the six-coloured rays radiating from his body, followed by a large entourage, thousands of people inside and outside of Rajagaha came out of their houses to pay obeisance to the Buddha. As for Sumana, his entire body was suffused with delightful satisfaction (Piti).

The wife of the florist Sumana then went to the king and said that she had nothing to do with her husband failing to supply the king with flowers for that day. The king, being a Sotapanna himself, felt quite happy about the flowers. He came out to see the wonderful sight and paid obeisance to the Buddha. The king also took the opportunity to offer alms-food to the Buddha and his disciples. After the meal, the Buddha returned in the Jetavana monastery and the king followed him for some distance. On arrival back at the palace King Bimbisara sent for Sumana and offered him a reward of eight elephants, eight horses, eight male slaves, eight female slaves, eight maidens and eight thousand in cash.

At the Jetavana monastery, the Venerable Ananda asked the Buddha what benefits Sumana would gain by his good deed done on that day. The Buddha answered that Sumana, having given to the Buddha without any consideration for his life, would not be born in any of the four lower worlds (Apaya) for the next one hundred thousand worlds and that eventually he would become a paccekabuddha. After that, as the Buddha entered the Perfumed Hall (Gandhakuti) the flowers dropped off of their own accord.

That night, at the end of the usual discourse, the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 68: That deed is well done if one has not to repent for having done it, and if one is delightful and happy with the result of that deed.

Dhammapada Verse 68
Sumanamalakara Vatthu

Tanca kammam katam sadhu
yam katva nanutappati
yassa patito sumano
vipikam patisevati.

Verse 68: That deed is well done if one has not to repent for having done it, and if one is delightful and happy with the result of that deed.




dhp069_B
Verse-Kệ 069

(54).- Tích chuyện Nữ-trưởng-lão Bích-Liên - Kệ số 069

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Nữ-trưởng-lão Bích-Liên.

 

Thuở ấy ở nước Xá-vệ có một cô thiếu-nữ rất đẹp và hiền-thục. Vẻ đẹp sắc-sảo và tánh-nết hiền-hoà của cô, được mọi người khen-tặng và gọi cô là nàng Bích-Liên, đoá hoa sen màu xanh-biếc. Nhiều bực vương-tôn, công-tử, hào-phú đều gấm-ghé xin cưới làm vợ. Nhưng cô chẳng ưng ai cả, lại muốn xuất-gia vào làm ni-cô trong chùa. Sau khi được thọ-giới Tỳ-kheo-ni, ni-cô tinh-tấn tu-hành; trong một kỳ toạ-thiền, ngồi chăm-chú nhìn vào ngọn đèn, quán-chiếu về đề-tài thiền-quán là hoả-đại, ni-cô Bích-liên chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán.

 

Sau đó, ni-cô Bích-Liên dựng một cái cốc nhỏ nơi rừng Hắc-lâm để tịnh-tu trong cảnh độc-cư. Vào một buổi sáng nọ, ni-cô mang bình bát vào làng khất-thực. Một kẻ bất-lương tên là Nan-đà, vốn là con người cậu của ni-cô, lẻn vào cốc, trốn dưới gầm giường. Khi ni-cô trở về, hắn nhảy ra cưỡng-bức; vì sức yếu, ni-cô chống-cự chẳng lại, bị hắn hãm-hiếp. Sau khi thoả-mãn thú-tánh, hắn bước ra ngoài; bỗng đất nứt ra, hút hắn sa ngay vào điạ-ngục A-tỳ.

 

Khi được biết thảm-trạng của ni-cô, Đức Phật nói lên bài Kệ sau:

 

Hành-vi ác còn chưa chín-rục,

Tưởng như là mật ngọt, người ngu.

Đến khi nó đã chín muồi,

Phải mang quả khổ khóc vùi, người ngu.

(Kệ số 069.)

 

Bấy giờ, Đức Phật sai thỉnh vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đến tịnh-xá, trình-bày cùng Vua sự nguy-hiểm của các ni-cô phải sống độc-cư trong rừng và yêu-cầu vua bảo-vệ họ, tránh sự tái-diễn thảm-trạng bị cưỡng-hiếp đó. Vua hứa sẽ cho xây cất nữ-tu-viện ở gần thành, để các tỳ-kheo-ni có chỗ an-toàn mà tu-tập.

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Nữ-Trưởng-lão: vị tỳ-kheo-ni tu lâu năm, đức hạnh cao. Tiếng Pali là Theri. Phái nam gọi là Thera, trưởng-lão.

 

- Bích-Liên: Bích = màu xanh biếc; Liên = hoa sen. Tên thật của vị ni-cô, tiếng Pali là Uppalavannà.

 

- Đề-tài thiền-quán: trong khi ngồi Thiền, chuyên-tâm suy-tư về một đề-tài. Ở đây, ni-cô suy-tư về lửa, hay là hoả-đại.

 

- Cốc = cái am nhỏ, cất nơi thanh-vắng để tu-hành.

 

- Độc-cư: Độc = cô-độc, ở một mình; Cư = ở, cư-trú, cư-ngụ.

 

- Cưỡng-bức: dùng sức mạnh mà hiếp người phụ-nữ.

 

- Hãm-hiếp: dùng võ-lực xâm-phạm tiết-hạnh người phụ-nữ.

 

- Thú-tánh: thoả-mãn thú-vui xác-thịt, cách dã-man như loài thú.

 

- Điạ-ngục A-tỳ: tên điạ-ngục, nơi chịu hình-phạt chẳng ngừng. Tiếng Pali là Avìci Niraya.

 

- Thảm-trạng: Thảm = bi-thảm, đau-đớn; Trạng = tình-trạng.

 

- Chín-rục = Chín muồi = đã đầy-đủ nhơn-duyên đưa đến hậu-quả.

 

-Tái-diễn: Tái = lập lại;diễn =xãy ra.Tái-diễn là việc cũ xãy ra lần nữa.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại cuộc đời đạo-hạnh của một vị ni-sư trẻ-đẹp chẳng may bị cưỡng-hiếp. Hành-động xấu-ác của kẻ dâm-ô xâm-phạm tiết-hạnh của ni-cô, bị quả-báo nhãn-tiền ( =trước mắt), ngay sau khi hãm-hiếp: bị đất nứt hút sâu vào điạ-ngục A-tỳ.

 

Ý-nghĩa quan-trọng: làm ác bị quả-báo dữ, theo Luật Nhơn-Quả.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 069:

 

Bài Kệ nói về hậu-quả mau và chậm của hành-động xấu-ác. Khi chưa thấy hậu-quả, người ngu tưởng rằng hành-động xấu đem lại lợi-lạc cho mình, như mật ngọt; nhưng đến khi quả-báo xấu trỗ ra, bị khổ-sở, bấy giờ người ngu sẽ khóc vùi vì đau-khổ.

 

HỌC TẬP:

 

Học thuộc lòng bài Kệ, để răn mình, tránh bị điều ác cám-dỗ.

The Story of Theri Uppalavanna

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (69) of this book, with reference to Theri Uppalavanna.

Once there was a young daughter of a rich man in Savatthi. Because she was so beautiful, with looks so tender and sweet, like a blue lotus flower, she was called "Uppalavanna", the blue lotus. The fame of her beauty spread far and wide and there were many suitors: princes, rich men and many others. But she decided that it would be better for her to become a bhikkhuni, a female member of the Buddhist Order. One day, after lighting a lamp, she kept her mind fixed on the flame and meditating on the fire kasina (object of concentration) she soon achieved Magga Insight and finally attained arahatship.

Some time later, she moved to the 'Dark Forest' (Andhavana) and lived in solitude. While Theri Uppalavanna was out on her alms-round, Nanda, the son of her uncle, came to her monastery and hid himself underneath her couch. Nanda had fallen in love with Uppalavanna before she became a bhikkhuni; his intention obviously was to take her by force. When Uppalavanna returned she saw Nanda and said, "You fool! Do no harm, do not molest." But he would not be stopped. After satisfying himself, he left her. As soon as he stepped on the ground, the earth opened wide and he was swallowed up.

Hearing about this, the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 69: As long as the evil deed does not bear fruit, the fool thinks it is sweet like honey; but when his evil deed does bear fruit, the fool suffers for it.


At the end of the discourse, many attained Sotapatti Fruition.

The Buddha next sent for King Pasenadi of Kosala and told him about the dangers that bhikkhunis living in forests had to face from irresponsible persons obsessed with sex. The king then promised to build monasteries for bhikkhunis only in towns or close to the towns.

Dhammapada Verse 69
Uppalavannattheri Vatthu

Madhumva mannati balo
yava papam na paccati
yada ca paccati papam
atha dukkham nigacchati.

Verse 69: As long as the evil deed does not bear fruit, the fool thinks it is sweet like honey; but when his evil deed does bear fruit, the fool suffers for it.




 dhp070_B
Verse-Kệ 070

(55).- Tích chuyện Trưởng-lão Giang-bửu-kha - Kệ số 070

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Giang-bửu-kha.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có một người con nhà giàu-có, tên là Giang-bửu-kha, vì nghiệp-quả xấu của các đời trước, nên có hai tập-quán lạ-lùng: ngủ trên mặt đất, chẳng nằm giường chiếu, và ăn phân của chính mình, thay vì dùng cơm như mọi người. Lớn lên, cha mẹ gởi theo học đạo với nhóm ẩn-sĩ loã-thể. Khi các người ẩn-sĩ biết được thói-quen xấu hay ăn phân của Giang, họ liền đuổi Giang đi khỏi. Giang lang-thang đây đó, đứng một chân, miệng há-hốc. Có ai hỏi, Giang nói mình chỉ sống nhờ không-khí, chẳng ăn uống, cho nên mới mở miệng ra hoài. Chỉ đứng một chơn thôi, vì sợ mặt đất chẳng chịu đựng nổi sức nặng của thân mình. Giang thường tự-hào bảo rằng: "Tôi chẳng bao giờ ngồi xuống và chẳng bao giờ ngủ cả." Nhiều người tưởng thật, mới dưng-cúng thực-phẩm ngon cho Giang. Y chỉ vít lấy một chút xíu đồ ăn và nói với người hiến cơm rằng: "Ta thọ-nhận bấy nhiêu cũng đủ tạo công-đức cúng-dường cho anh rồi. Thôi, đi đi! ‘’ Thái-độ kỳ-dị của Giang đã khiến cho mọi người tặng cho anh ta biệt-hiệu là con chó sói.

 

Một hôm, trong cơn thiền-quán, Đức Phật nhận thấy cơ-duyên đã đến cho Giang-bửu-kha chứng được đạo-quả A-la-hán. Buổi chiều hôm ấy, Đức Phật đi đến chỗ Giang trú-ngụ, và xin Giang chỉ cho mình một chỗ để nghỉ qua đêm. Giang liền chỉ hang đá bên cạnh. Vào khoảng canh ba đêm ấy, các vị Thiên-đế xuống yết-kiến Đức Phật, từ Tứ Thiên-vương, Vua Trời Đế-Thích, đến cả Đại-Phạm Thiên-vương, lần lượt đến đảnh-lễ Phật, hào-quang sáng chói cả vùng. Sáng ra, Giang-bửu-kha tới hỏi Phật có thấy ánh hào-quang ban đêm không. Khi nghe Đức Phật thuật lại việc các Thiên-vương đến đảnh-lễ, Giang liền nói: "Ngài hẳn là một bực siêu-nhơn được các vua Trời đảnh lễ. Tôi tu khổ-hạnh hơn bốn mươi lăm năm nay, đứng một chơn, chỉ sống bằng không-khí chẳng hề ăn uống, thế mà chẳng có vị Trời nào đảnh-lễ tôi cả." Đức Phật đáp: "Này Giang-bửu-kha, anh có gạt người khác thì được, chớ nói dối ta chẳng được đâu. Ta biết rõ, trong bốn mươi lăm năm, anh chỉ ăn phân thế cơm, và tối ngủ nằm dưới đất." Rồi Đức Phật lại thuật chuyện tiền-kiếp của Giang cho Giang nghe. Vào thời Đức Phật Ca-diếp, Giang đã ngăn trở một vị Trưởng-lão không cho đến nhà một thí-chủ, chỉ để một mình Giang nhận thực-phẩm cúng-dường mà thôi. Khi ra về, thí-chủ nhờ mang cơm về cho vị Trưởng-lão, thì Giang đem vứt đi hết. Vì tội-ác đó mà kiếp nầy, Giang mới ăn phân và ngủ trên mặt đất. Nghe đến đó, Giang rùng mình hoảng-sợ, ăn-năn tội-lỗi, và xin Đức Phật cho quy-y để gia-nhập Tăng-đoàn. Đức Phật liền đem Chánh-pháp ra giảng-dạy cho Giang nghe. Giang tinh-tấn tu-hành, chẳng bao lâu chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Sau đó, có mấy người đệ-tử cũ của Giang ngày xưa, đến tịnh-xá Kỳ-viên, thấy Giang ở đó, mới ngạc-nhiên hỏi. Giang cho biết, bây giờ đã quy-y Phật-pháp, làm đệ-tử của Đức Phật. Đức Phật mới nói với các người đệ-tử cũ của Giang rằng: "Thầy cũ của các ông, mặc dầu trong hơn bốn mươi năm tu khổ-hạnh, ăn rất ít, nhưng công-đức đó chẳng bằng một phần mười sáu của sự tu-tập và chứng-quả ngày nay."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Tháng nầy qua tháng nọ,

Người ngu tu khổ-hạnh,

Ăn ít, vít bằng ngọn cỏ kusa.

So ra hắn chẳng bằng phần mười sáu

Của bực sành Chơn-lý pháp hữu-vi.

(Kệ số 070.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Giang-bửu-kha: tên thật vị trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Jambuka.

 

- Nghiệp-quả = hành-động của kiếp đã qua có ảnh-hưởng đến đời sống của kiếp hiện-tại.

 

- Tập-quán = thói quen.

 

- Ẩn-sĩ = tu-sĩ ở nơi xa-vắng, sống khổ-hạnh.

 

- Loã-thể: Loã = loã-lồ, chẳng mặc quần-áo, chỉ vấn khố che phiá dưới. Thể = thân-thể.

 

- Tự-hào: tự cho mình là giỏi, khoe-khoang.

 

- Hiến = tặng, đem cho.

 

- Thiên-đế: Thiên = trời; Đế = vua. Thiên-đế là vua trên cõi Trời.

 

- Tứ Thiên-Vương: bốn vị Vua Trời trị-vì ở bốn phương trên cõi Trời Dục-giới: Trì-quốc (Đông), Tăng-trưởng (Nam), Quảng-mục (Tây) và Đa-văn (Bắc). Tiếng Pali là Càtumahàràjika.

 

- Đại-Phạm Thiên = vua Trời cõi Sắc-giới, tiếng Pali là Mahàbrahmà

 

- Đảnh-lễ: lạy, làm lễ chào-kính, cúi đầu sát đất.

 

- Siêu-nhơn: Siêu = vượt lên trên; Nhơn = người. Bực siêu-nhơn là người tài-năng vượt lên trên người thường.

 

- Tu khổ-hạnh: tu ép-xác, tưởng lầm rằng hễ càng ép-xác là càng được giải-thoát.

 

- Ăn ít, vít bằng ngọn cỏ kusa: Kusa là tên một loại cỏ, lá nhỏ. Câu nầy có nghĩa là ăn rất ít,như dùng lá cỏ kusa khều chất ăn vào miệng.

 

- Chơn-lý: Sự-thật.

 

- Pháp hữu-vi: Pháp = tất cả sự sự, vật-vật; Hữu = có; Vi = làm. Các pháp hữu-vi là những sự-vật có hình-thể, do tạo nên mà có, và vì thế mà chẳng bền-vững, vô-thường; thí-dụ như ngôi nhà, bàn-ghế. Trái với pháp hữu-vi là pháp vô-vi, những sự-việc chẳng có hình-tướng mà thường-hằng, chẳng biến-đổi, chẳng phải do sự tạo-tác mà nên, thí-dụ như Sự-Thật, Phật-tánh. Người tu-hành để được giải-thoát, chẳng chạy theo các pháp hữu-vi để tham-luyến, mà hướng về các pháp vô-vi để thanh-lọc thân-tâm, phát-triển trí-huệ hầu sớm ra khỏi cảnh Luân-hồi sanh-tử khổ-đau.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện có hai ý-nghĩa: (1) Giang-bửu-kha mang hai tật xấu ăn phân và nằm ngủ trên mặt đất, là do quả-báo của kiếp trước đã vứt bỏ thức ăn cúng-dường cho một vị Trưởng-lão; (2) việc tu khổ-hạnh, ép-xác là sai-lầm, chẳng đưa đến sự giác-ngộ và giải-thoát.

 

Nhờ gặp được Phật chỉ-dạy cho Chánh-pháp, Giang mới biết bỏ lối tu khổ-hạnh mà theo đúng đường tu phát-triển Trí-huệ để được giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 070:

 

Bài Kệ chê-trách lối tu khổ-hạnh ( = ép-xác), hành-hạ thân-thể như đứng mãi một chơn chẳng ngồi, ăn thật ít chỉ để khỏi chết đói, như thế chẳng làm phát-triển được Trí-huệ, để có thể được giác-ngộ và giải-thoát. Đức Phật cho rằng tu khổ-hạnh như thế, tháng nầy qua tháng nọ, mà công-đức chẳng bằng một phần mười sáu của người đã thông-hiểu Chơn-lý các pháp hữu-vi nói trong Chánh-pháp.

 

Tu-hành để giải-thoát khỏi cảnh khổ của Luân-hồi, phải dựa vào Trí-huệ, giúp ta phân-biệt được việc nào vô-thường, việc nào thường-hằng. Tránh chẳng để các pháp hữu-vi cám-dỗ mà tham-luyến, biết sự bền-vững của các pháp vô-vi mà noi theo, người Phật-tử tu-tập Thiền-định, mở mang Trí-huệ, nhờ đó mà giác-ngộ và giải-thoát, sớm chứng được lẽ vô-sanh của Niết-Bàn tịch-diệt.

 

Tóm lại, bài Kệ dạy ta, giữa hai con đường (1) lợi-dưỡng, chạy theo các tiện-nghi vật-chất thái-quá, và (2) khổ-hạnh, ép-xác, hành-hạ thân-thể, ta phải chọn con đường Trung-đạo, biết giữ-gìn sức khoẻ để phát-triển Trí-huệ, mới mong sớm đến ngày thành-công viên-mãn.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ; ứng-dụng vào việc tu-hành hằng ngày: ăn uống đầy-đủ, giữ-gìn sức-khoẻ, đồng thời siêng-năng tu Thiền-định.

 

2.- Phá bỏ các sự hiểu-lầm về việc ăn chay: nhiều người cứ tưởng tu tại-gia là phải ăn chay trường, càng ăn khắc-khổ càng được phước. Đó là điều sai-lầm lớn.

 

- Ăn chay cốt là để diệt bỏ ý sát-sanh. Nếu trong khi ăn chay mà còn nghĩ đến thịt, đến cá, thì việc ăn chay chẳng đem lại công-đức gì, vì ý sát-sanh vẫn còn đó. Mặt khác, ăn chay thì phải ăn đầy-đủ các chất bổ-dưỡng, chẳng nên ăn quấy-quá, cơm với muối sả mà thôi, sẽ mất sức rồi đau-ốm, thì việc tu-hành chẳng tiến-bộ được.

 

- Dọn thức ăn chay, chẳng nên làm các món chay trông giống món ăn mặn, như chiên mì-căn làm con cá, kho cà-tím làm cá-trê; như thế, gợi lên sự thèm-thuồng các món mặn, và chưa bỏ được ý-nghĩ sát-sanh.

The Story of Thera Jambuka

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (70) of this book, with reference to Thera Jambuka.

Jambuka was the son of a rich man in Savatthi. Due to his past evil deeds he was born with very peculiar habits. As a child, he wanted to sleep on the floor with no proper bed, and to take his own excreta for food instead of rice. When he grew older, his parents sent him to the Ajivakas, the naked ascetics. When those ascetics found out about his peculiar food habits they drove him away. At nights he ate human excreta and in the day time stood still on one leg and kept his mouth open. He used to say that he kept his mouth open because he only lived on air and that he stood on one leg because it would otherwise be too heavy for the earth to bear him. "I never sit down, I never go to sleep," he boasted and on account of this, he was known as Jambuka, a 'jackal'.

Many people believed him and some would come to him with offerings of choice food. Then Jambuka would refuse and say, "I do not take any food except air." When pressed, he would take just a little of the food with the tip of a blade of grass and say, "Now go, this little will give you enough merit." In this way, Jambuka lived for fifty-five years, naked and taking only excreta.

One day, the Buddha saw in his vision that Jambuka was due to attain arahatship within a short time. So, in the evening, the Buddha went to where Jambuka was staying and asked for some place to spend the night. Jambuka pointed out to him a mountain-cave not far from the stone slab on which he himself was staying. During the first, second and third watches of the night, the Catumaharajika devas, Sakka and Mahabrahma came to pay homage to the Buddha in turn. On all the three occasions, the forest was lit up and Jambuka saw the light three times. In the morning, he walked over to the Buddha and enquired about the lights.

When told about the devas, Sakka and Mahabrahma coming to pay homage to the Buddha, Jambuka was very much impressed, and said to the Buddha, "You must, indeed, be a wonderfully great person for the devas, Sakka and Mahabrahma to come and pay homage to you. As for me, even though I have practised austerely for fifty-five years, living only on air and standing only on one leg, none of the devas, nor Sakka, nor Mahabrahma has ever came to me" To him, the Buddha replied, "O Jambuka! You have been deceiving other people, but you cannot deceive me. I know that for fifty-five years you have been eating excreta and sleeping on the ground."

Furthermore, the Buddha explained to him how in one of his past existences during the time of Kassapa Buddha, Jambuka had prevented a thera from going with him to the house of a lay-disciple where alms-food was being offered and how he had also thrown away the food that was sent along with him for that thera. It was for those evil deeds that Jambuka had to be eating excreta and sleeping on the ground. Hearing that account, Jambuka was horrified and terror-stricken, and repented for having done evil and for having deceived other people. He went down on his knees and the Buddha gave him a piece of cloth to put on. The Buddha then proceeded to deliver a discourse; at the end of the discourse Jambuka attained arahatship and joined the Buddhist Order on the spot.

Soon after this, Jambuka's pupils from Anga and Magadha arrived and they were surprised to see their teacher with the Buddha. Thera Jambuka then explained to his pupils that he had joined the Buddhist Order and that he was now only a disciple of the Buddha. To them, the Buddha said that although their teacher had lived austerely by taking food very sparingly, it was not worth even one-sixteenth part of his present practice and achievement.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 70: Even though, month after month, the fool (living in austerity) takes his food sparingly with the tip of a grass blade, he is not worth even one-sixteenth part of those who have comprehended the Truth (i.e., the ariyas).

Dhammapada Verse 70
Jambukatthera Vatthu

Mase mase kusaggena
balo bhunjeyya bhojanam
na so sankhatadhammanam
kalam agghati solasim.

Verse 70: Even though, month after month, the fool (living in austerity) takes his food sparingly with the tip of a grass blade, he is not worth even one-sixteenth part of those who have comprehended the Truth (i.e., the ariyas).


dhp071_B
Verse-Kệ 071

(56).- Tích chuyện về ngạ-quỉ A-hi - Kệ số 071

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một ngạ-quỉ tên là A-hi.

 

Thuở ấy, Tôn-giả Đại Mục-kiền-liên cùng với tỳ-kheo Lạt-kha-na đi khất-thực tại một làng ở gần thành Vương-xá. Dọc dường, Tôn-giả chợt nhìn thấy một điều gì, mỉm cười rồi tiếp-tục đi, chẳng nói gì cả. Đến khi về đến tịnh-xá, tỳ-kheo Lạt-kha-na mới hỏi, tại sao lúc nẩy Tôn-giả đã mỉm-cười. Tôn-giả đáp: "Tôi nhìn thấy một ngạ-quỉ đầu người mình rắn, nên mới mỉm-cười."

 

Đức Phật nghe thấy, cũng bảo rằng: "Vào ngày ta chứng đắc đạo-quả Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, ta cũng trông thấy ngạ-quỉ đó." Rồi Đức Phật liền kể lại tiền-kiếp của ngạ-quỉ đó. Vào một thời xa-xưa, có một vị Bích-chi-Phật được nhiều người tôn-sùng. Dân-chúng đi lại để đảnh-lễ Ngài nơi tịnh-xá, phải trải qua một cánh đồng. Người chủ cánh đồng sợ dân-chúng qua lại nhiều, dẫm lên lúa má của mình, nên thừa dịp vị Bích-chi-Phật đi vắng, lén đốt cháy ngôi tịnh-xá. Vị Bích-chi-Phật phải dời đi nơi khác. Các người đệ-tử của Ngài tức-giận, mới giết chết người chủ ruộng. Người nầy tái-sanh vào điạ-ngục Vô-gián A-tỳ, vì hành-động xấu-ác đó mà chịu hình-phạt trong nhiều kiếp. Đến kiếp nầy, y mang thân-hình ngạ-quỉ, để trả nốt quả-báo.

 

Đức Phật kết-luận: "Một hành-động xấu chẳng đem đén quả-báo xấu ngay tức-khắc, nhưng nghiệp-quả vẫn theo đuổi mãi người phạm tội cũng như viên than hồng còn ngún mãi dưới đống tro."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Việc làm ác đâu liền trỗ quả,

Như sữa tươi đâu đã đông ngay,

Âm-thầm theo đốt người ngu-dốt,

Như cục than hồng ngún dưới tro.

( Kệ số 071.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Ngạ-quỉ: còn gọi là Ngã-quỉ, là quỉ-đói, một loại chúng-sanh trong đường dữ, bụng to mà cổ nhỏ, luôn luôn đói khát.

 

- Lạt-kha-na: tên thật của vị tỳ-kheo, tiếng Pali là Lakkhana.

 

- Đạo-quả Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác: dịch nghĩa chữ A-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề ( Anuttara Sanyak Sambodhi) tức là quả-vị Phật. Vô-thượng = chẳng còn gì cao hơn nữa; Chánh-đẳng = đẳng-cấp chơn-chánh nhứt; Chánh-giác = giác-ngộ đứng-đắn nhứt.

 

- Bích-chi-Phật: tiếng Pali là Paccekabuddha, bực tu-hành tự-giác, vào thời chẳng có Phật, nhờ quán-chiếu Lý Mười-hai Nhơn-Duyên mà giác-ngộ; còn gọi là Duyên-giác, Độc-giác. Theo đẳng-cấp các bực đại-giác, từ dưới lên trên: A-la-hán, Duyên-giác, Độc-giác, Bích-chi-Phật, Bồ-tát và Phật.

 

- Điạ-ngục Vô-gián: tên điạ-ngục nặng tội nhứt, tội-nhơn chịu hình-phạt chẳng ngừng ( = vô-gián, chẳng gián-đoạn), tiếng Pali là Avìci Niraya, dịch âm là A-tỳ diạ-ngục.

 

- Trỗ quả: hành-động ác sanh ra hậu-quả xấu, cũng như cây đơm bông, kết trái vậy.

 

- Đông: đông-đặc lại.

 

B-. Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện nêu lên hậu-quả dài lâu, từ ngục Vô-gián đến thân-hình quỉ-đói, của một hành-động xấu-ác: đốt tịnh-xá của vị Bích-chi-Phật đang tu-hành.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 071:

 

Bài kệ nhắc lại ý-nghĩa của Tích chuyện: chẳng có cách nào trốn thoát quả-báo của một hành-động xấu. Tuy chẳng khởi-phát ngay liền sau hành-động, ví như sữa tươi chẳng đông-đặc ngay; nhưng quả-báo vẫn theo đuổi người phạm-tội mãi mãi, tựa như viên than hồng còn ngún dưới tro chẳng tắt.

 

HỌC TẬP:

 

Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ về Luật Nhơn-Quả.

The Story of Ahipeta*

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (71) of this book, with reference to a peta-ghost.

The Chief Disciple Maha Moggallana was on one occasion going on an alms-round with Thera Lakkhana in Rajagaha. On seeing something, he smiled but said nothing. When they were back at the monastery, Thera Maha Moggallana told Thera Lakkhana that he smiled because he saw a peta-ghost with the head of a human being and the body of a snake. The Buddha then said that he himself had seen that very peta-ghost on the day he attained Buddhahood. The Buddha also explained that, a very long time ago, there was a paccekabuddha, who was respected by many. People going to his monastery had to traverse a field. The owner of the field, fearing that his field would be damaged by too many people going to and from the monastery, set fire to it. Consequently, the paccekabuddha had to move to some other place. The disciples of the paccekabuddha, being very angry with the land-owner, beat him and killed him. On his death he was reborn in Avici Niraya. In his present existence, he was serving out the remaining term of the evil consequences (kamma) as a peta-ghost.

In conclusion, the Buddha said, "An evil deed does not bear fruit immediately, but it invariably follows the evil doer. There is no escape from the consequences of an evil deed."


Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 71: An evil deed does not immediately bear fruit, just as the newly-drawn milk does not curdle at once; but it follows the fool burning him like live coal covered with ashes.


Ahipeta = Ahi + petaahi  = snake + peta  =  peta-ghost, an ever-hungry spirit or ghost. In this instance a ghost with the head of a human being and the body of a snake.

Dhammapada Verse 71
Ahipeta Vatthu

Na hi papam katam kammam
sajju khiramva muccati
dahantam balarnanveti
bhasmacchannova pavako.

Verse 71: An evil deed does not immediately bear fruit, just as the newly-drawn milk does not curdle at once; but it follows the fool burning him like live coal covered with ashes.


dhp072_B
Verse-Kệ 072

(57).- Tích chuyện về ngạ-quỉ Sa-thi-cừu - Kệ số 072

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến ngạ-quỉ Sa-thi-cừu.

 

Thuở ấy, Tôn-giả Đại Mục-kiền-liên, cùng với tỳ-kheo Lạt-kha-na, đang đi khất-thực; bỗng Tôn-giả nhìn thấy một ngạ-quỉ với một cái đầu to lớn dị-thường. Về đến tịnh-xá, Tôn-giả thưa trình với Phật. Đức Phật nói: "Đó là ngạ-quỉ Sa-thi-cừu, trong một tiền-kiếp, có tài quăng đá, trăm phát trăm trúng. Một hôm, Sa-thi-cừu xin người Thầy cho phép mình thử tài ném đá xem. Vị Thầy bảo, đừng ném vào trâu, bò hay người đi đường, vì phải bồi-thường thiệt-hại. Chỉ nên chọn một mục-tiêu nào chẳng có chủ hay người chăn-giữ mà ném.

 

Vừa lúc ấy, Sa-thi-cừu trông thấy một vị Bích-chi-Phật đi khất-thực ngang qua đấy. Anh ta nghĩ vị tu-sĩ nầy chẳng có thân-nhơn, chẳng có ai đi theo coi chừng, vậy đó là một mục-tiêu lý-tưởng cho anh ta thử tài ném đá. Anh ta liền quăng một hòn đá nhỏ, vào lỗ tai bên trái, rồi xuyên qua lỗ tai bên mặt của vị Bích-chi-Phật. Khi về đến am, vị Bích-chi-Phật ngả ra chết. Các người đệ-tử biết chuyện, tìm đến giết chết Sa-thi-cừu để trả thù. Sa-thi-cừu chết đi, lọt vào điạ-ngục A-tỳ, chịu hình-phạt nhiều kiếp; đến kiếp nầy, tái-sanh dưới thân-hình ngạ-quỉ, đầu to dềnh-dàng, luôn bị một cái búa đồng nóng đỏ đập vào liên-tiếp. Đó là để trả nốt nghiệp-quả mà y đã gây ra, vì thử tài ném đá vào đầu vị Bích chi-pPhật.

 

Đức Phật kết-luận: "Người ngu mà có tài khéo-léo chỉ tổ hại mình mà thôi!"

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chỉ có hại cho thân,

Người ngu tập thuật khéo;

Danh-vọng và kiến-thức

Tiêu-diệt mất công-đức,

Bổ đầu anh bể nứt.

(Kệ số 072.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Sa-thi-cừu: tên ngạ-quỉ nầy, tiếng Pali là Satthikùtapeta.

 

- Trúc-lâm: Trúc = cây tre, cây trúc; Lâm = rừng. Vua Tần-bà-sa-la dưng-cúng vườn trúc gần thành Vương-xá, để cất Tịnh-xá Trúc-lâm.

 

- Các chữ Ngạ-quỉ, Bích-chi-Phật, Lạt-kha-na, điạ-ngục A-tỳ, xin xem lại bài trước ở trang 192.

 

- Mục-tiêu: Mục = con mắt; tiêu = cái nêu để nhắm vào mà bắn.

 

- Lý-tưởng: ở đây mục-tiêu lý-tưởng có nghĩa là mục-tiêu tốt nhứt

 

- Am = căn nhà nhỏ để thờ-cúng, hay để ở tu-hành.

 

- Dềnh-dàng = to-lớn quá, kềnh-càng.

 

-Thuật = kỹ-thuật, sự khéo-léo.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Cũng như bài trước, Tích chuyện kể lại hậu-quả của hành-động ác phải gánh chịu trong nhiều kiếp. Mặt khác, Tích chuyện nêu lên sự ngu-khờ của Sa-thi-cừu, nghe thầy nói nên chọn mục-tiêu chẳng có chủ, liền nhắm vào nhà tu-hành mà ném đá. Vì chẳng có trí thông-minh, nên tài khéo ném đá trở lại hại anh ta, chẳng những bị giết chết kiếp nầy, mà còn bị hình-phạt ở điạ-ngục và đầu-thai làm ngạ-quỉ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 072:

 

Bài Kệ nêu lên sự nguy-hiểm cho người ngu khi tập làm khéo, vì thuật khéo đó, nếu chẳng biết sử-dụng đúng đường, sẽ trở lại hại mình.

 

Ba câu Kệ sau nói về danh-vọng và kiến-thức làm tiêu-diệt mất công-đức. Danh-vọng dễ làm người say-mê, kiêu-căng và ỷ tài, thường đưa đến cái hại cho thân. Kiến-thức là sự hiểu-biết; nếu biết nhiều mà chẳng có đức-hạnh, sự hiểu-biết cũng có thể khiến ta theo con đường tà, có hại. Bài Kệ bảo rằng danh-vọng và kiến-thức bổ đầu ta, đó là vì cả hai thường cám-dỗ, xúi-dục người ngu hành-động liều-lĩnh, dễ gây tai-hại cho người và cho mình.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để tự răn mình, đừng ham "làm khéo".

 

2.- Ghi nhớ hai Tích chuiyện số 56 và 57: đây là những thí-dụ chứng-minh được nói trong Kinh-sách về Luật Nhơn-Quả.

The Story of Satthikutapeta

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (72) of this book with reference to a peta-ghost named Satthikutapeta.

The Chief Disciple Maha Moggallana saw this enormous peta-ghost while going on an alms-round with Thera Lakkhana. In this connection, the Buddha explained that Satthikutapeta, in one of his previous existences, was very skilful in throwing stones at things. One day, he asked permissions from his teacher to try out his skill. His teacher told him not to hit a cow, or a human being as he would have to pay compensation to the owner or to the relative, but to find a target which was ownerless or guardianless.

On seeing the paccekabuddha, the idiots lacking in intelligence, thought the paccekabuddha, having no relative or guardian, would be an ideal target. So he threw a stone at the paccekabuddha who was on an alms-round. The stone entered from one ear and came out of the other. The paccekabuddha expired when he reached the monastery. The stone-thrower was killed by the disciples of the paccekabuddha and he was reborn in Avici Niraya. Afterwards, he was reborn as a peta-ghost and had since been serving the remaining term of the evil consequences (kamma) of his evil deed. As a peta-ghost his enormous head was being continuously hit with red-hot hammers.

In conclusion, the Buddha said, "To a fool, his skill or knowledge is of no use; it can only harm him."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 72: The skill of a fool can only harm him; it destroys his merit and his wisdom (lit., it severs his head).

Dhammapada Verse 72
Satthikutapeta Vatthu

Yavadeva anatthaya
nattam balassa jayati
hanti balassa sukkamsam
1
muddhamassavipatayam.

Verse 72: The skill of a fool can only harm him; it destroys his merit and his wisdom (lit., it severs his head).


1. sukkamsasukka + amsa :  sukka means white, bright, pure or good; amsa means portion. According to the Commentary, sukkamsa means merit.

2. muddha: head, top, summit. According to the Commentary, it means knowledge.


dhp073_B
dhp074_B
Verse-Kệ 073-074

(58).- Tích chuyện về người gia-chủ tên Tâm - Kệ số 073 và 074

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến Tỳ-kheo Sử-đạt-ma và một người gia-chủ tên Tâm.

 

Thuở ấy có người gia-chủ tên Tâm, một hôm gặp được Tôn-giả Ma-nam là một trong năm người đệ-tử đầu-tiên của Đức Phật, đang đi khất-thực. Ông Tâm dâng-cúng thực-phẩm rồi được nghe giảng-pháp và chứng-đắc được quả-vị Tu-đà-huờn. Sau đó, ông Tâm dựng một tịnh-xá trong vườn xoài của mình, tiếp-đón chư Tăng, cúng-dường mọi nhu-cầu và mời Tỳ-kheo Sử-đạt-ma về làm trụ-trì.

 

Một hôm, hai vị đại-đệ-tử của Đức Phật là Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên đến viếng tịnh-xá trong vườn xoài. Sau khi nghe Tôn-giả Xá-lợi-phất giảng-pháp, ông Tâm chứng được quả-vị A-na-hàm. Ông liền thỉnh hai vị đại-đệ-tử ngày mai đến nhà thọ-thực. Hôm sau, khi hai Tôn-giả đến nhà, ông Tâm liền đến mời Tỳ-kheo Sử-đạt-ma cùng dự buổi ngọ-trai. Vị tỳ-kheo thấy ông Tâm mời mình sau khi thỉnh hai vị kia, cho rằng ông Tâm khinh-dễ mình mới từ-chối. Ông Tâm ngõ lời xin lỗi nhiều lần, tỳ-kheo Sử mới chịu đến, nhưng chẳng vào ngồi. Khi nhìn thấy lễ-vật dâng-cúng lên hai vị đại-đệ-tử, tỳ-kheo Sử trong lòng nổi lên ganh-tị, đứng dậy to-tiếng nói với ông Tâm: "Ta chẳng thèm ở tịnh-xá nầy nữa!" rồi bỏ ra đi.

 

Tỳ-kheo Sử-đạt-ma liền đó đi đến chùa Kỳ-viên, thưa-trình sự-việc nơi nhà ông Tâm lên Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy tỳ-kheo Sử-đạt-ma, ông đã có lỗi hỗn-hào với gia-chủ Tâm, ông nên đến xin lỗi đi." Vâng lịnh Đức Phật, tỳ-kheo Sử đến xin lỗi gia-chủ, nhưng ông Tâm vẫn chưa vừa lòng. Tỳ-kheo Sử mới trở lại chùa Kỳ-viên lần nữa để thưa với Phật. Đức Phật nhận thấy, bấy giờ, sự kiêu-mạn nơi tâm của tỳ-kheo Sử đã giảm mất đi nhiều, mới bảo ông ta rằng: ‘Nầy tỳ-kheo Sử-đạt-ma, một vị tỳ-kheo đứng-đắn chẳng bao giờ nói: "Đây là chùa của tôi, đây là đệ-tử của tôi, đây là đàn-việt của tôi!" Tại sao? Vì khi nói lên như thế, thì khiến cho sự tham-luyến, sự kiêu-mạn trong lòng ngày càng gia-tăng."

 

Rồi Đức Phật nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Kẻ ngu-tăng ham danh chẳng xứng,

Trong Tăng-đoàn, dành đứng chỗ cao;

Nơi tu-viện, đòi cao quyền-thế,

Ngoài đời, muốn kẻ thế tôn-sùng.

(Kệ số 073.)

 

"Hãy để cho người Tăng, kẻ tục

Nghĩ, nhờ ta công-tác mới thành.

Trong mọi việc, dầu to, dầu nhỏ,

Ai cũng đều theo lịnh của Ta!"

Đó là tham-vọng người ngu-dại,

Khiến cho dục, mạn, lại gia-tăng.

(Kệ số 074.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Tâm: tên nguời gia-chủ nầy, tiếng Pali là Citta.

 

- Sử-đạt-ma: tên vị tỳ-kheo nầy tiếng Pali là Sudhamma.

 

- Ma-nam: tên vị Tôn-giả nầy tiếng Pali là Mahànàma. Cùng với các ông Kiều-trần-như, Át-bệ, Bạt-đề và Ca-diếp là những người được nghe Đức Phật thuyết-giảng Kinh Chuyển Pháp-Luân lần đầu-tiên tại vườn Lộc-Uyển, sau khi Đức Phật vừa thành Đạo.

 

- Tu-đà-huờn: đây là quả-vị thứ nhứt, thấp nhứt. Ba quả-vị kia là Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán. A-la-hán là bực Thánh, còn ba quả-vị trước là bực Hiền.

 

-Trụ-trì: vị tỳ-kheo coi-sóc và cai-quản một tu-viện.

 

- Ganh-tị = ghen-ghét, cà-nanh.

 

- Kiêu-mạn = kiêu-căng, phách-lối.

 

- Đàn-việt: người thí-chủ, tin-tưởng đạo Phật, năng cúng-dường. Tiếng Pali là dànapati.

 

- Ngu-tăng: vị Tăng thiếu trí thông-minh.

 

- Kẻ thế, kẻ tục = những người ở ngoài đời, chưa xuất-gia đi tu.

 

- Dục, mạn: Dục = dục-vọng, lòng ham-muốn, tham-luyến; Mạn = kiêu-mạn, kiêu-căng, phách-lối.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một vị tỳ-kheo vì lòng ganh-tị và kiêu-mạn mà có lời hỗn-hào với một người gia-chủ ( = chủ nhà) đã thành-tâm cúng-dường một ngôi tịnh-xá. Biết nghe lời dạy của Đức Phật, tỳ-kheo Sử-đạt-ma đến xin lỗi ông Tâm là người gia-chủ, nhờ đó mà lòng kiêu-mạn nơi vị tỳ-kheo được diệt-bỏ.

 

Kiêu-mạn, ganh-tị là những món độc khiến cho tâm chẳng được thanh-tịnh; người tu-hành cần phải diệt-bỏ, cũng như đối với ba món độc căn-bản là tham, sân, si.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 073 và 074:

 

Trong hai bài Kệ nầy, Đức Phật chê-trách thái-độ ngu-dốt, kiêu-mạn và ham-muốn của các người ngu-tăng:

 

- Ham danh chẳng xứng: ham-muốn được người đời trọng-vọng, trong khi mình chẳng có đức-độ gì, chẳng xứng-đáng gì;

 

- Nơi Tăng-đoàn, dành đứng chỗ cao: ham đứng, ngồi vào chỗ dành riêng cho các bực Trưởng-lão;

 

-Nơi tu-viện, đòi cao quyền-thế: trong chùa, đòi có nhiều quyền-hành cai-quản, chỉ-huy mọi người;

 

- Ngoài đời, muốn kẻ thế tôn-sùng: ham-muốn được các thiện-nam, tín-nữ ngoài đời trọng-vọng mình;

 

- Thường khoe-khoang: "Hãy để cho mọi người nghĩ rằng nhờ mình mà các công-tác được thành-tựu", hay dành công với người khác;

 

- Thường tự-hào: "Mọi việc lớn, nhỏ, phải theo lịnh của Ta!", tự xem mình như người lãnh-đạo, có quyền chỉ-huy mọi người.

 

Các thái-độ xấu đó chỉ làm gia-tăng sự kiêu-căng, phách-lối, có hại cho sự thanh-lọc thân-tâm, nên cần phải luôn luôn xét mình mà diệt-bỏ.

 

HỌC TẬP:

 

Tuy hai bài Kệ nói đến các ngu-tăng, nhưng người Phật-tử tại-gia cũng nên học thuộc lòng, để ghi nhớ, tập tánh khiêm-nhường, mỗi khi đi đến chùa làm công-quả.

The Story of Citta the Householder

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (73) and (74) of this book, with reference to Thera Sudhamma and Citta the householder.

Citta, a householder, once met Thera Mahanama, one of the group of the first five bhikkhus (Pancavaggis), going on an alms-round, and invited the thera to his house. There, he offered alms-food to the thera and after listening to the discourse given by him, Citta attained Sotapatti Fruition. Later, Citta built a monastery in his mango grove. There, he looked to the needs of all bhikkhus who came to the monastery and Bhikkhu Sudhamma was installed as the resident bhikkhu.

One day, the two Chief Disciples of the Buddha, the Venerable Sariputta and the Venerable Maha Moggallana, came to the monastery and after listening to the discourse given by the Venerable Sariputta, Citta attained Anagami Fruition. Then, he invited the two Chief Disciples to his house for alms-food the next day. He also invited Thera Sudhamma, but Thera Sudhamma refused in anger and said, "You invite me only after the other two." Citta repeated his invitation, but it was turned down. Nevertheless, Thera Sudhamma went to the house of Citta early on the following day. But when invited to enter the house, Thera Sudhamma refused and said that he would not sit down as he was going on his alms-round. But when he saw the things that were to be offered to the two Chief Disciples, he envied them so much that he could not restrain his anger. He abused Citta and said, "I don't want to stay in your monastery any longer," and left the house in anger.

From there, he went to the Buddha and reported everything that had happened. To him, the Buddha said, "You have insulted a lay-disciple who is endowed with faith and generously. You'd better go back to him and own up your mistake." Sudhamma did as he was told by the Buddha, but Citta would not be appeased; so he returned to the Buddha for the second time. The Buddha, knowing that the pride of Sudhamma had dwindled by this time, said, "My son, a good bhikkhu should have no attachment; a good bhikkhu should not be conceited and say 'This is my monastery, this is my place, these are my lay-disciples,' etc., for in one with such thoughts, covetousness and pride will increase."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 73: The foolish bhikkhu desires praise for qualities he does not have, precedence among bhikkhus, authority in the monasteries, and veneration from those unrelated to him.

 

Verse 74: "Let both laymen and bhikkhus think that things are done because of me; let them obey me in all matters, great and small." Such being the thoughts of the fool, his greed and his pride grow.


At the end of the discourse, Sudhamma went to the house of Citta, and this time they got reconciled; and within a few days, Sudhamma attained arahatship.

Dhammapada Verses 73 and 74
Cittagahapati Vatthu

Asantam bhavanamiccheyya
purekkharanca bhikkhusu
avasesu ca issariyam
pujam parakulesu
ca.

Mameva kata mannantu
gihi
2 pabbajita ubho
mamevativasa assu
kiccakiccesu kismici
iti balassa sankappo
iccha mano ca vaddhati.

Verse 73: The foolish bhikkhu desires praise for qualities he does not have, precedence among bhikkhus, authority in the monasteries, and veneration from those unrelated to him.

Verse 74: "Let both laymen and bhikkhus think that things are done because of me; let them obey me in all matters, great and small." Such being the thoughts of the fool, his greed and his pride grow.




dhp075_B
Verse-Kệ 075

(59).- Tích chuyện Sa-di Thi-sa - Kệ số 075

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Sa-di tên là Thi-sa, tu ẩn-cư trong rừng.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ có một người trẻ tuổi tên là Thi-sa, con nhà rất giàu-có; người cha năng dâng-cúng thực-phẩm cho chư Tăng đi khất-thực. Cha của Thi-sa thường thỉnh Tôn-giả Xá-lợi-phất đến nhà thọ-thực, nên Thi-sa có dịp gặp được Tôn-giả. Năm lên bảy tuổi, Thi-sa được Tôn-giả Xá-lợi-phất nhận làm đệ-tử và làm Sa-di tại chùa Kỳ-viên. Trong thời-gian ngụ tại chùa, anh em, bà con thường đến thăm-viếng Thi-sa, mang quà tặng đến biếu. Thi-sa nhận thấy các buổi thăm-viếng như thế thường làm rộn cho mình và mất thì-giờ cho việc tu-hành. Thi-sa mới xin Đức Phật chỉ-dạy cho một đề-tài thiền-quán, và xin phép đi vào rừng, tu-tập một mình. Mỗi khi, Thi-sa vào làng khất-thực, các thí-chủ dưng cúng phẩm-vật, Thi-sa chỉ thốt lên mấy lời ngắn-ngủi: "Nguyện-cầu thí-chủ được an-lạc. Nguyện-cầu thí-chủ thoát khỏi mọi khổ-đau của cuộc đời." Rồi Thi-sa tiếp-tục lên đường, trở về am-cốc vắng-vẻ một mình. Thi-sa tinh-tấn tu-tập ngày đêm, chẳng bao lâu đắc được đạo-quả A-la-hán.

 

Sau mùa an-cư kiết-hạ, Tôn-giả Xá-lợi-phất và đông-đảo tỳ-kheo tháp-tùng, được phép Đức Phật, vào rừng viếng thăm Sa-di Thi-sa. Các thiện-nam, tín-nữ trong làng rất mừng, dâng-cúng lễ-vật, và thỉnh-cầu Tôn-giả thuyết-pháp cho nghe. Nhưng Tôn-giả từ-khước và bảo: " Sa-di Thi-sa trú-ngụ ở đây, sẽ thuyết-pháp cho các vị nghe." Nhưng một thiện-nam lại bảo: "Thầy Thi-sa chỉ biết nói có hai câu: Nguyện-cầu thí-chủ được an-lạc. Nguyện-cầu thí-chủ thoát khỏi mọi khổ-đau của cuộc đời!" mà thôi, thì thuyết-pháp làm sao?" Tôn-giả Xá-lợi-phất liền bảo Thi-sa: "Thi-sa, con hãy giảng Chánh-pháp cho mọi người nghe; con hãy chỉ làm cách nào để được an-lạc và giải-thoát được mọi khổ-đau của cuộc đời."

 

Vâng lịnh Thầy, Thi-sa bước lên toà ngồi, trong mấy giờ đồng-hồ, thao-thao bất tuyệt, giảng-giải thế nào là ngũ uẩn, lực căn, lục trần, thế nào là ba-mươi-bảy phẩm trợ Đạo, thế nào là con đường dẫn tới đạo-quả A-la-hán và Niết-Bàn. Và chấm-dứt lời giảng bằng câu kết-luận sau đây:

 

"Đấy, các bực đã chứng-đắc đạo-quả A-la-hán được giải-thoát mọi khổ-đau của cuộc đời và hằng sống trong cảnh an-lạc. Còn những kẻ khác cứ trôi-lăn mãi trong cảnh khổ-não của cuộc tử-sanh Luân-hồi."

 

Tôn-giả Xá-lợi-phất hết lời ngợi-khen Sa-di Thi-sa đã khéo giảng-giải Chánh-pháp thật rành-rẽ. Dân-chúng nghe pháp, nhiều ngưòi thán-phục, mà cũng có một số người còn thắc-mắc tại sao Thi-sa thông-hiểu Chánh-pháp như thế, mà ngày thường chỉ thốt lên có hai câu nguyện-cầu như thế. Bấy giờ tại chùa Kỳ-viên, Đức Phật quán-thấy tâm-trạng của dân-chúng còn phân-vân, nên hôm sau, Ngài cùng chư Tăng vào làng khất-thực. Sau buổi ngọ-trai và giảng-pháp, Đức Phật bảo dân chúng rằng: ‘Các ông rất may-mắn có được thầy Thi-sa ở vùng nầy; nhờ đó mà chư tăng thường đến viếng làng."

 

Tối hôm đó, tại chùa Kỳ-viên, chư Tăng thưa cùng Đức Phật: "Thầy Thi-sa đã làm được một việc khó làm: ở đây được nhiều người hiến-tặng phẩm-vật, thế mà thầy đã từ-khước để đi vào rừng sâu tu-tập khổ-hạnh một mình." Đức Phật bảo: "Nầy các tỳ-kheo, cho dầu sống nơi thành-thị hay ở chốn thôn-quê, một vị tỳ-kheo giữ đúng giới-hạnh chẳng bao giờ chú-trọng đến của-cải vật-chất được hiến-tặng. Nếu biết tập hạnh viễn-ly, xa-lià con đường lợi-dưỡng, danh-vọng của thế-gian, mà siêng tu-tập Thiền-định thì sẽ sớm chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Một đường dẫn đến lợi thế-gian,

Một nẻo đưa ta tới Niết-bàn.

Thông-hiểu rõ hai đường sai-biệt,

Vị tỳ-kheo, đệ-tử Phật-đà,

Chẳng chút đắm-say mùi danh-lợi

Nỗ-lực hành-trì hạnh viễn-ly.

(Kệ số 075.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Sa-di: người mới vào chùa tập-sự tu-hành, chưa thọ-giới Tỳ-kheo. Tiếng Pali là Sàmenara.

 

- Thi-sa: tên thật của vị Sa-di nầy, tiếng Pali là Tissa. Đừng lầm với vị tỳ-kheo Thi-sa, trùng tên, nói ở Tích chuyện số 3, trang 9.

 

- Năng dâng cúng: Năng = siêng-năng, thường hay làm.

 

- Thọ-thực: Thọ = nhận; Thực = ăn.

 

- Đệ-tử: Đệ = em, Tử = con. Đệ-tử là học-trò.

 

- Thí-chủ: Thí = bố-thí, hiến-tặng; Thí-chủ là người hiến-tặng.

 

- An-lạc: An = yên-ổn; Lạc = vui.

 

- Am-cốc: Am, Cốc = căn nhà nhỏ nơi xa vắng, để ở ẩn-cư.

 

- An-cư kiết-hạ: vào ba tháng mùa mưa, các vị tỳ-kheo quay về chùa tu-tập, chẳng đi ra ngoài, sợ dẫm lên côn-trùng, giết-hại sâu-bọ.

 

- Tháp-tùng: đi theo.

 

- Thiện-nam, tín-nữ: những người đàn-ông, đàn-bà tin-tưởng vào Đạo Phật, thường dưng-cúng lễ vật đến chư Tăng-ni.

 

- Thao-thao bất tuyệt: nói rất trôi chảy, chẳng ngừng.

 

- Ngũ uẩn: năm uẩn: (1) sắc-uẩn, (2) thọ-uẩn, (3) tưởng-uẩn, (4)hành-uẩn, (5) thức-uẩn.

 

- Lục căn: (1) mắt, (2) tai, (3) mũi, (4) lưỡi, (5) thân, (6) ý.

 

- Lục trần: (1) sắc, (2)thanh, (3)hương, (4)vị, (5) xúc, (6) pháp.

 

- Ba-mươi-bảy phẩm trợ Đạo: giúp ta sớm được giác-ngộ và giải-thoát; gồm có (a) 4 niệm-xứ, (b) 4 chánh-cần, (c)4 như-ý-túc, (d) 5 căn, (e) 5 lực, (f) 7 giác-chi, (g) 8 Thánh-đạo. Tiếng Pali là Bodhipakkhiya Dhamma. Muốn biết thêm chi-tiết, xem Phật-Học Phổ-Thông, quyển 3.

 

- Quán-thấy: nhìn thấy qua cơn Thiền-định.

 

- Phân-vân: còn nghi-ngờ, chưa tin, chưa chắc.

 

- Viễn-ly: Viễn = xa, rời; Ly = lià. Hạnh viễn-ly là hạnh xa-lià, chẳng tham-luyến, rời-bỏ, từ-khước mọi danh-lợi.

 

- Lợi-dưỡng = lối sống thụ-hưởng tiện-nghi vật-chất thật đầy-đủ.

 

- Phật-đà: phiên-âm chữ Buddha, Phật là hiểu-biết, giác-ngộ.

 

- Hành-trì: Hành = làm; Trì = giữ. Hành- trì là tuân theo đầy-đủ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện khen-ngợi một vị Sa-di trẻ tuổi biết thực-hành hạnh viễn-ly, tránh xa các lợi-dưỡng của thế-tục, vào rừng tu-tập Thiền-định.

 

Hạnh viễn-ly là hạnh khước-từ các lợi-lạc về vật-chất, tránh xa các thú-vui của thế-tục, dẹp-bỏ sự tham-luyến, hướng về sự giác-ngộ và giải-thoát. Đây là hạnh cao-quí, tương-đương với tâm xả, là một trong bốn tâm vô-lượng của Bồ-tát-đạo: Từ là ban vui, Bi là cứu khổ, Hỉ là chung vui cùng kẻ thành-công, Xả là buông-bỏ, chẳng bấu-víu vào để tham-luyến.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 075:

 

Thử phân-tách bài Kệ nầy, như sau:

 

- Một đường dẫn đến lợi thế-gian: đây là lối sống của người ở thế-gian, lấy lợi làm mục-tiêu để tranh-đấu trong cuộc sống còn. Lợi ở thế-gian gồm có tiền-tài, nhà-cửa, vợ đẹp con khôn, quyền-thế, địa-vị...

 

- Một nẻo đưa ta tới Niết-bàn: đây là lối sống xuất-thế, nghĩa là chẳng màng đến cảnh danh-lợi của thế-gian, vượt qua lối sống tranh-đua giành-giựt ở đời, để tiến lên mục-tiêu giác-ngộ và giải-thoát của cảnh-giới an-vui thường-hằng của Niết-Bàn, khỏi còn bị khổ-đau của sự tái-sanh trong cõi Luân-hồi nữa.

 

-Thông-hiểu rõ hai đường sai-biệt: biết rõ sự hơn kém giữa hai lối sống; lối thứ nhứt thoả-mãn các thú-vui tạm-bợ ở một đời; lối thứ hai là lối sống từ-khước mọi tiện-nghi vật-chất, để khắc-phục các phiền-não khiến tâm thanh-tịnh, đạt được niềm vui vĩnh-cửu là được giải-thoát.

 

- Ba câu chót: đây là thái-độ đứng-đắn của tỳ-kheo, chẳng đắm-say mùi danh-lợi, xa-lià mọi dục-lạc, nỗ-lực tu-tập để chứng Niết-bàn.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ mục-tiêu tu-tập, bền-chí trong việc dứt-bỏ sự thèm-khát, sự tham-luyến.

 

2.- Thử tập vài điều dễ làm về Hạnh viễn-ly:

 

- Các món "ghiền" như ăn trầu, hút thuốc, ăn ớt, mê tuồng cải-lương, nhâm-nhi rượu đế, v.v. thử tập nhịn một vài lần, xem sao.

 

- Ghế mình thường ngồi, chén mình thường cầm, nay bị người khác lỡ dùng, thử xét xem trong bụng mình lúc ấy ra thế nào?

The Story of Samanera Tissa of the Forest Monastery

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (75) of this book, with reference to Tissa, a samanera, who dwelt in a forest monastery.

Tissa was the son of a rich man from Savatthi. His father used to offer alms-food to the Chief Disciple Sariputta in their house and so Tissa even as a child had met the Chief Disciple on many occasions. At the age of seven he became a novice (samanera) under the Chief Disciple Sariputta. While he was staying at the Jetavana monastery, many of his friends and relatives came to see him, bringing presents and offerings. The samanera found these visits to be very tiresome; so after taking a subject of meditation from the Buddha, he left for a forest monastery. Whenever a villager offered him anything, Tissa would just say 'May you be happy, may you be liberated from the ills of life,' ("Sukhita hotha, dukkha muccatha"), and would go on his own way. While he stayed at the forest monastery, he ardently and diligently practised meditation, and at the end of three months he attained arahatship.

After the vassa, the Venerable Sariputta accompanied by the Venerable Maha Moggallana and other senior disciples paid a visit to Samanera Tissa, with the permission of the Buddha. All the villagers came out to welcome the Venerable Sariputta and his company of four thousand bhikkhus. They also requested the Venerable Sariputta to favour them with a discourse, but the Chief Disciple declined; instead, he directed his pupil Tissa to deliver a discourse to the villagers. The villagers, however, said that their teacher Tissa could only say "May you be happy, may you be liberated from the ills of life", and asked the Chief Disciple to assign another bhikkhu in his place. But the Venerable Sariputta insisted that Tissa should deliver a discourse on the dhamma, and said to Tissa, "Tissa, talk to them about the dhamma and show them how to gain happiness and how to be liberated from the ills of life."

Thus, in obedience to his teacher, Samanera Tissa went up the platform to deliver his discourse. He explained to the audience the meaning of the aggregates (khandhas), sense bases and sense objects (ayatanas), elements of the perpetuation of the Teaching (Bodhipakkhiya Dhamma), the Path leading to arahatship and Nibbana, etc. Finally he concluded, "And thus, those who attain arahatship are liberated from all the ills of life and have Perfect Peace; all the rest will still wander about in the round of rebirths (samsara)."

The Venerable Sariputta praised Tissa for having expounded the dhamma so well. Dawn was approaching when he finished his exposition, and all the villagers were very much impressed. Some of them were surprised that Samanera Tissa knew the dhamma so well, but they were also dissatisfied with him because formerly he had talked so little about the dhamma to them; the others were happy and contented to find the samanera to be so learned and felt that they were very lucky to have him amongst them.

The Buddha, with his supernormal power, saw from the Jetavana monastery these two groups of villagers and appeared before them. His intention in coming to the village was to clear up the misunderstanding amongst the first group of villagers. The Buddha arrived while the villagers were preparing alms-food for the bhikkhus. So, they had the opportunity to offer alms-food to the Buddha as well. After the meal, the Buddha addressed the villagers, "O lay disciples, all of you are so lucky to have Samanera Tissa amongst you. It is on account of his presence here that I myself, my Chief Disciples, senior disciples and many other bhikkhus now pay you a visit." These words made them realize how fortunate they were to have Samanera Tissa with them and they were satisfied. The Buddha then delivered a discourse to the villagers and the bhikkhus, and consequently, many of them attained Sotapatti Fruition.

After the discourse, the Buddha returned to the Jetavana monastery. In the evening, the bhikkhus said in praise of Tissa to the Buddha, "Venerable Sir, Samanera Tissa had performed a very difficult task; he was so well provided with gifts and offerings of all kinds here in Savatthi, yet he gave up all these to go and live austerely in a forest monastery." To them the Buddha replied, "Bhikkhus, a bhikkhu, whether in town or in village, should not live for the sake of gifts and offerings, if a bhikkhu renounces all good prospects or worldly gain and diligently practises the dhamma in solitude, he is sure to attain arahatship."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 75: Indeed, the path that leads to worldly gain is one and the Path that leads to Nibbana is another. Fully comprehending this, the bhikkhu, the disciple of the Buddha, should not take delight in worldly gain and honour, but devote himself to solitude, detachment and the realization of Nibbana.


Dhammapada Verse 75
Vanavasitissasamanera Vatthu

Anna hi labhupanisa
anna nibbanagamini
evametam abhinnaya
bhikkhu Buddhassa savako
sakkaram nabhinandeyya
vivekamanubruhaye
1.

Verse 75: Indeed, the path that leads to worldly gain is one and the Path that leads to Nibbana is another. Fully comprehending this, the bhikkhu, the disciple of the Buddha, should not take delight in worldly gain and honour, but devote himself to solitude, detachment and the realization of Nibbana.


1.Vivekamanubruhaye (vivekam + anubruhaye)Viveka - solitary seclusion. According to the Commentary, the three kinds of vivekas arekayaviveka (seclusion of the body or solitude); cittaviveka (detachment of the mind from human passions) and upadhiviveka (Nibbana).


End of Chapter Five: The Fool (Bilavagga)

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 583)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 341)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 371)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 302)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 327)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 384)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1125)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 605)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 423)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 831)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4104)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8320)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1278)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 557654)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1713)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 730)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 932)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
27 Tháng Hai 20188:42 CH(Xem: 824)
Tôi có quen một ông bạn, ông ta nói rằng ông ta thường xuyên quên chỗ để cây bút, và ông cũng thường xuyên mất bút. Vì thế, ông chỉ xử dụng những cây bút rẻ tiền, để ông ta khỏi phải phiền muộn về chuyện mất bút. Ông lo lắng về thói quen bất cẩn nầy.
14 Tháng Hai 20188:00 SA(Xem: 1228)
* Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi, mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó. * Á a a a. Nhấp chén đầy vơi chúc người, người vui. Á a a a. Muôn lòng xao xuyến duyên đời.
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1020)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1829)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2569)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 329)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1563)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 875)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4078)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".