Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 06, Phẩm Hiền-trí - The Dhammapada, Chapter 06, The Wise

04 Tháng Mười Hai 20186:22 SA(Xem: 78)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 06, Phẩm Hiền-trí - The Dhammapada, Chapter 06, The Wise

Chapter06-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 06, Phẩm Hiền-trí
The Dhammapada, Chapter 06, Panditavagga: The Wise

(Kệ 76-89 - Verses 76-89)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp076_B
Verse-Kệ 076

(60).- Tích chuyện Trưởng-lão Giả-đa - Kệ số 076

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Giả-đa, trước vốn là một người Bà-la-môn nghèo-khó.

 

Thuở ấy, có một người Bà-la-môn nghèo-khó tên là Giả-đa, đến sống ở một tu-viện, làm công-việc tạp-dịch trong chùa và được các tỳ-kheo nuôi cơm, cung-cấp cho những nhu-cầu cần-thiết trong đời sống hằng ngày. Giả-đa rất mong-muốn được gia-nhập Tăng-đoàn, nhưng chẳng được các vị Tỳ-kheo khuyến-khích.

 

Sáng sớm hôm ấy, Đức Phật trong cơn Thiền-định, quán-sát khắp pháp-giới, thấy Giả-đa có đủ cơ-duyên để chứng-đắc quả-vị A-la-hán. Ngài liền đi đến tu-viện, gặp Giả-đa, và được Giả-đa trình rằng lòng mình mong-muốn được xuất-gia thọ-giới Tỳ-kheo, nhưng các tu-sĩ trong chùa chẳng ai hoan-nghinh việc ấy cả. Đức Phật nhận thấy lòng thành của Giả-đa, mới cho tập-họp chư Tăng lại và hỏi rằng: ‘Này các vị tỳ-kheo, trong số các vị ở đây, có ai còn nhớ một hành-động thiện mà Giả-đa đã làm cho mình không?" Tôn-giả Xá-lợi-phất liên thưa rằng: ‘Con còn nhớ Giả-đa có lần đã nhường cho con một muỗng cơm." Đức Phật bảo: "Nếu quả thật như vậy, tại sao ông chẳng giúp-đỡ người thí-chủ của ông là Giả-đa được giải-thoát khỏi mọi khổ-đau của cuộc đời?" Tôn-giả hiểu ý Phật, mới thâu-nhận Giả-đa làm đệ-tử, chỉ dạy cho Chánh-pháp và đường-lối tu-hành để được thoát khổ. Chẳng bao lâu, Giả-đa tinh-tấn tu-hành, vâng theo lời giáo-huấn của Tôn-giả Xá-lợi-phất, và chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán.

 

Vào một dịp khác, Đức Phật đến viếng tu-viện, các tỳ-kheo trình Phật sự-việc Giả-đa biết nghe theo lời hướng-dẫn của Tôn-giả Xá-lợi-phất mà chuyên-cần, tinh-tấn tu-hành. Đức Phật khuyên mọi người nên noi gương tốt của Giả-đa, biết nghe lời thầy dạy, khi bị quở-phạt chẳng nên oán-trách thầy.

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Gặp ai vạch lỗi mình, rồi chỉ-dạy,

Đó là người hiền-trí, phải noi theo,

Như theo kẻ dẫn đường tìm kho báu.

Được kết-hợp với người hiền như thế,

Lợi lớn cho mình, chẳng tệ chi đâu.

(Kệ số 076.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Giả-đa: tên thật của Trưởng-lão, tiếng Pali là Ràdha.

 

- Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ trong xã-hội Ấn-độ. Có bốn giai-cấp: (1) Bà-la-môn, (2) Sát-đế-lợi (vua, quan), (3) Phệ-xá (buôn-bán), (4) Thủ-đà-la (nông-dân, thợ-thuyền).

 

- Công-việc tạp-dịch = công-việc lặt-vặt.

 

- Nhu-cầu = các điều cần-dùng.

 

- Pháp-giới: thế-giới, tất cả sự-vật trên hoàn-cầu. Tiếng thường là thế-giới; tiếng chuyên-môn Phật-học là pháp-giới. Pháp = tất cả sự-vật.

 

- Hoan-nghinh: Hoan =vui, hoan-hỉ; Nghinh = đón. Hoan-nghinh là vui lòng tiếp-nhận.

 

- Xá-lợi-phất: tên thật của Tôn-giả, tiếng Pali là Sariputta ( =con bà Sari). Tôn-giả là đại-đệ-tử của Đức Phật, nổi tiếng là đệ-nhứt Trí-huệ. Tôn-giả thường được Đức Phật mời lên ngồi chung, để thuyết-pháp. Hiện còn ngôi tháp thờ Tôn-giả, tại làng Na-lan-đà, Ấn-độ.

 

- Được giải-thoát mọi khổ-đau của cuộc đời: Ý Phật muốn bảo, chỉ cho cách tu-hành để được giải-thoát.

 

- Thí-chủ: Thí = hiến-tặng, cho; Chủ = người chủ; Thí-chủ, hay Thí-giả, là người đem của-cải ra bố-thí. Còn gọi là đàn-việt.

 

- Đệ-tử = học-trò.

 

- Chánh-pháp = đường-lối tu-hành đúng-đắn.

 

- Giáo-huấn = dạy-dỗ, huấn-luyện.

 

- Hiền-Trí: hiền-lành và có Trí-huệ. Còn gọi là Thiện-tri-thức.

 

- Kết-hợp = làm bạn, sống gần bên.

 

- Tệ = xấu, ác.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Trưởng-lão Giả-đa, một người Bà-la-môn giúp việc trong chùa, nhờ sự can-thiệp của Đức Phật mà được Tôn-giả Xá-lợi-phất thâu-nhận làm đệ-tử, rồi nghe theo lời dạy của thầy, tinh-tấn tu-hành, đắc được quả-vị A-la-hán.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của Tích chuiyện là nếu gặp được bực hiền-trí chỉ-dạy cho mình, thì nên cố-gắng tuân theo, chẳng nên bất-mãn khi bị quở-trách vì lỗi-lầm.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 076:

 

Thử phân-tách bài Kệ:

 

- Gặp ai vạch lỗi mình, rồi chỉ-dạy: khi bị ai chỉ-trích mình, chớ nên nóng-giận vì tự-ái; trái lại hãy bình-tỉnh nghe lời người chỉ-dạy, để sửa đổi lại theo con đường phải.

 

- Đó là người hiền-trí, phải noi theo: người vạch lỗi mình rồi chỉ-dạy cho mình là muốn cho mình trở nên người tốt, vì thế mình nên nghe theo lời người ấy chỉ-dạy. Người như thế là bực hiền-trí: hiền, vì muốn cho mình được tốt hơn lên; trí, vì người nhận thấy rõ lỗi của mình và chỉ cho mình cách sửa lại.

 

- Như theo kẻ dẫn đường tìm kho-báu: Kho-báu ở đây có nghĩa là điều quí-báu, tức là con đường chơn-thiện, đưa ta tới nơi giác-ngộ và giải-thoát, như trường-hợp của Trưởng-lão Giả-đa, theo lời dạy của Tôn-giả Xá-lợi-phất, để tu-tập chứng được quả-vị cao-quí là quả A-la-hán, vĩnh-viễn thoát mọi khổ-đau của cuộc đời.

 

- Được kết-hợp với người hiền như thế, Lợi lớn cho mình, chẳng tệ hơn: đây là lợi-lạc to lớn được sống gần bên người hiền-trí, nhờ đó mà ta trở nên người chơn-thiện, chẳng có tệ-hại chút nào cả.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ: chẳng nên tự-ái sằng, mỗi khi nghe ai chỉ-trích và chỉ-dạy cho mình. Người ấy là người ơn của mình.

The Story of Thera Radha

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (76) of this book, with reference to Thera Radha, who was at one time a poor old Brahmin.

Radha was a poor brahmin who stayed in the monastery doing small services for the bhikkhus. For his services he was provided with food and clothing and other needs, but was not encouraged to join the Order, although he had a strong desire to become a bhikkhu.

One day, early in the morning, when the Buddha surveyed the world with his supernormal power, he saw the poor old brahmin in his vision and knew that he was due for arahatship. So the Buddha went to the old man, and learned from him that the bhikkhus of the monastery did not want him to join the Order. The Buddha therefore called all the bhikkhus to him and asked them, "Is there any bhikkhu here who recollects any good turn done to him by this old man?" To this question, the Venerable Sariputta replied, "Venerable Sir, I do recollect an instance when this old man offered me a spoonful of rice." "If that be so," the Buddha said, "shouldn't you help your benefactor get liberated from the ills of life?" Then the Venerable Sariputta agreed to make the old man a bhikkhu and he was duly admitted to the Order. The Venerable Sariputta guided the old bhikkhu and the old bhikkhu strictly followed his guidance. Within a few days, the old bhikkhu attained arahatship.

When the Buddha next came to see the bhikkhus, they reported to him how strictly the old bhikkhu followed the guidance of the Venerable Sariputta. To them, the Buddha replied that a bhikkhu should be amenable to guidance like Radha, and should not resent when rebuked for any fault or failing.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 76: One should follow a man of wisdom who rebukes one for one's faults, as one would follow a guide to some buried treasure. To one who follows such a wise man, it will be an advantage and not a disadvantage.

Dhammapada Verse 76
Radhatthera Vatthu

Nidhinamva pavattaram
yam passe vajjadassinam
niggayhavadim medhavim
tadisam panditam bhaje
tadisam bhajamanassa
seyyo hoti na papiyo.

Verse 76: One should follow a man of wisdom who rebukes one for one's faults, as one would follow a guide to some buried treasure. To one who follows such a wise man, it will be an advantage and not a disadvantage.


dhp077_B
Verse-Kệ 077

(61).- Tích chuyện hai vị tỳ-kheo Át-sa và Phú-na - Kệ số 077

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến hai vị tỳ-kheo tên là Ất-sa và Phú-na vi-phạm giới-luật.

 

Thuở ấy, ở làng Kỳ-tà, nước Xá-vệ, tại một tu-viện nọ, có hai vị tỳ-kheo tên là Ất-sa và Phú-na, cùng với năm trăm đồ-đệ, sống về nghề trồng-trọt rau-cải và cây ăn trái. Vì chẳng theo hạnh khất-sĩ nên các vị tu-sĩ nầy đã vi-phạm giới-luật. Bấy giờ, Đức Phật nghe tin đó, mới sai hai vị đại-đệ-tử là Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên đi đến làng Kỳ-tà, và ra lịnh cho các tỳ-kheo chẳng được sanh-sống về nghề trồng-trọt nữa. Đức Phật căn-dặn: "Nếu họ chẳng vâng lời, các ông đừng ngần-ngại chi mà đuổi họ ra khỏi chùa, vì hành-động vi-phạm giới-luật của họ gây tai-hại lớn, làm giảm mất lòng tin-tưởng của dân-chúng vào đạo-pháp."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Hãy nghe ông ấy rầy la,

Giúp mình, chỉ dạy, tránh xa đường tà.

Người hiền quí-mến ông ta,

Chỉ có kẻ dữ mới là ghét ông.

(Kệ số 077.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Ất-sa: tên thật vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Assaji

 

- Phú-na: tên thật vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Punabhasuka.

 

- Kỳ-tà: tên thật làng nầy, tiếng Pali là Kìtàgiri.

 

- Vi-phạm giới-luật: làm trái với điều răn-cấm.

 

- Hạnh khất-sĩ: Hạnh = hanh-kiểm, lối sống; Khất =đi xin ăn; Sĩ = người; tu-sĩ. Đức Phật đặt ra hạnh khất-sĩ để buộc chư tăng-ni chẳng được có nghề sanh lợi, phải cúi mình xuống đi xin ăn, để diệt lòng kiêu-mạn, và có dịp gặp-gỡ dân-chúng cúng-dường để chỉ-dạy Đạo cho họ.

 

- Giới-luật: các điều răn-cấm trong Đạo, cốt để ngăn-ngừa tội-ác.

 

- Đường tà: Tà = cong-queo, xiêng-xéo; Đường tà là đường tội-lỗi

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện nêu lên sự vi-phạm giới-luật của hai vị tỳ-kheo: có nghề sanh lợi và chẳng theo hạnh khất-sĩ. Tại sao lại cấm tu-sĩ có nghề sanh lợi? Vì khi sanh lợi, ta thường mong muốn có nhiều lợi, đó là lòng tham, cần phải diệt bỏ. Tại sao phải theo hạnh khất-sĩ? Hạnh nầy diệt lòng kiêu-mạn, vì phải dẹp lòng tự-ái xuống để đi xin ăn mà sống. Hạnh nầy tạo nên cơ-hội gặp-gỡ giữa người tu-sĩ và dân-chúng, để có thể chỉ-dạy đường tu cho họ.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của Tích chuyện: người tu-hành mà vi-phạm giới-luật sẽ làm giảm lòng tin của dân-chúng vào Đạo-pháp.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 077:

 

Bài Kệ nói về sự chỉ-dạy nghiêm-khắc, rầy la, của bực hiền-trí. Bực hiền-trí thấy lỗi-lầm của con-em, cần phải quở-trách để chúng đừng tái-phạm, lại nên chỉ cho chúng con đường phải mà theo.

 

Trước lời thẳng-thắn quở-trách, người biết điều thì sẽ thầm cám ơn bực đã chỉ-dạy mình; còn kẻ hung-dữ, trái lại thì oán-ghét, xem như gặp kẻ thù. Đó là lẽ thường-tình ở đời, người tu-hành chớ nên bắt-chước làm theo kẻ dữ.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ nầy, cùng với bài Kệ trước, để ghi nhớ, chớ có tự-ái sằng, mỗi khi bị quở, nên tỏ lòng biết ơn người chỉ-dạy mình

 

2.- Biết rằng, lời phải thường trái tai, khó nghe, nhưng đối với những người mình có trách-nhiệm dìu-dắt, chớ nên sợ mếch lòng mà chẳng quở-trách. Một lỗi nhỏ bỏ qua, sẽ khiến con-em xem thường mà phạm lỗi nặng hơn. 

The Story or Bhikkhus Assaji and Punabbasuka

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (77) of this book, with reference to bhikkhus Assaji and Punabbasuka.

Bhikkhus Assaji and Punabbasuka and their five hundred disciples were staying at Kitagiri village. While staying there they made their living by planting flowering plants and fruit trees for gain, thus violating the rules of Fundamental Precepts for bhikkhus.

The Buddha hearing about these bhikkhus sent his two Chief Disciples Sariputta and Maha Moggallana, to stop them from committing further misconduct. To his two Chief Disciples the Buddha said, "Tell those bhikkhus not to destroy the faith and generosity of the lay disciples by misconduct and if anyone should disobey, drive him out of the monastery. Do not hesitate to do as I told you, for only fools dislike being given good advice and being forbidden to do evil."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 77: The man of wisdom should admonish others; he should give advice and should prevent others from doing wrong; such a man is held dear by the good; he is disliked only by the bad.

Dhammapada Verse 77
Assajipunabbasuka Vatthu

Ovadeyya'nusaseyya1
asabbha ca nivaraye
satam hi so piyo hoti
asatam hoti appiyo.

Verse 77: The man of wisdom should admonish others; he should give advice and should prevent others from doing wrong; such a man is held dear by the good; he is disliked only by the bad.


1. anusaseyya: to give advice in advance; also to give advice repeatedly.


dhp078_B
Verse-Kệ 078

(62).- Tích chuyện Tỳ-kheo Xà-nặc - Kệ số 078

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Tỳ-kheo tên Xà-nặc, vốn là người giữ ngựa cho Thái-tử Tất-đạt-ta.

 

Xà-nặc là người giữ ngựa, theo hầu Thái-tử Tất-đạt-ta khi Thái-tử lià bỏ cung vàng điện ngọc, vượt qua cửa Đông thành Ca-tỳ-la-vệ, cởi ngựa vào rừng, trên đường đi tìm Chơn-lý và Đạo-pháp. Đến khi Thái-tử thành Đạo, chứng ngôi Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, thì Xà-nặc trở thành một vị tỳ-kheo. Tỳ-kheo Xà-nặc thường tự-hào rằng mình là người duy-nhứt thân-cận bên Phật ngay tự buổi đầu, nên ganh-tị với điạ-vị ngày nay của các Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên, trong Tăng-đoàn. Ông ta thường ba-hoa với mọi người: "Khi Thái-tử vượt thành vào rừng đi tu, ta là người luôn luôn ở bên cạnh; bấy giờ nào đã có Xá-lợi-phất, hay Mục-kiền-liên đâu; cớ sao nay họ lại vênh-vang xưng với chư Tăng, họ là đại-đệ-tử của Đức Phật?" Đức Phật nghe thấy, nhiều lần gọi Xà-nặc đến bên cạnh, khuyên răn: "Ông nên thay đổi thái-độ ngay, chớ có lời vô-lễ với hai vị tỳ-kheo đức-hạnh đó. Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên là những người bạn tốt của chư Tăng, ông nên thân-cận và cung-kính họ." Xà-nặc lẵng-lặng nghe lời Phật nói, nhưng lòng vẫn chẳng chịu tuân theo.

 

Bấy giờ, Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chớ kết bạn đường với phường ngu-ác,

Chẳng giao-du thân-mật các bọn tà.

Ráng chọn bạn hiền-lương mà giao-thiệp;

Cùng người cao-đức kết-hiệp tình thân.

(Kệ số 078.)

 

Mặc dầu nhiều lần được Đức Phật khuyên-can, chỉ-dạy, Xà-nặc vẫn giữ thái-độ ngoan-cố, thường có lời hỗn-hào đối với hai vị đại-đệ-tử. Đức Phật biết Xà-nặc là người khó-trị, nên lúc Ngài sắp nhập Niết-bàn, gọi Tôn-giả A-nan đến bên cạnh, trối rằng: "Đối với Xà-nặc ngoan-cố, nên áp-dụng hình-phạt nặng-nề nhứt là cô-lập hắn, đừng cho tỳ-kheo nào giao-du với hắn nữa." Nhưng đến khi Đức Phật nhập-diệt, Xà-nặc đau-buồn thái-quá, nhiều lần ngất-xỉu, hối-hận chẳng biết vâng lời Đức Phật lúc Ngài còn tại thế-gian. Xà-nặc mới đến xin sám-hối tội-lỗi với hai vị Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên. Từ đó, Xà-nặc tinh-tấn tu-hành, chẳng bao lâu đắc quả-vị A-la-hán.

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Xà-nặc: tên thật người giữ ngựa nầy, tiếng Pali là Channa.

 

- Thái-tử Tất-đạt-ta: Thái-tử = con trai lớn của Vua, sẽ được nối ngôi; Tất-đạt-ta: tên thật của Thái-tử, tiếng Pali là Siddhattha, con vua Tịnh-phạn (Suddhodana). Theo Kinh sách, Thái-tử sau khi đi viếng bốn cửa thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu), thấy cảnh bịnh, già, chết và gặp một vị tu-sĩ, mới quyết-định bỏ cung vàng điện ngọc đi tu. Sau sáu năm khổ-hạnh, chọn con đường Trung-đạo, tu-sĩ Tất-đạt-ta ngồi thiền bốn mươi chín ngày đêm dưới cội Bồ-đề, chứng-đắc chánh-quả mà thành Phật, hiệu là Thích-ca mâu-ni (Sakya Muni).

 

- Ngôi Chánh-đẳng Chánh-giác: quả-vị Phật, tức là thành Phật.

 

- Thân-cận: Thân = thân-thích; Cận = gần. Thân-cận là ở gần bên cạnh luôn.

 

- Ganh-tị = cà-nanh, ghen-ghét.

 

- Tăng-đoàn = đoàn-thể các vị Tỳ-kheo.

 

- Ba-hoa = nói lời phách-lối, om lên chẳng dứt.

 

- Vênh-vang = thái-độ phách-lối, kiêu-căng trong lời nói và cử-chỉ.

 

- Đại-đệ-tử = học-trò lớn, đồ-đệ cao-cấp, giỏi.

 

- Bạn đường = người cùng đi chung một đường với mình. Ở đây là những người đồng-tu với nhau.

 

- Phường ngu-ác = bọn người dốt-nát, dữ-dằn.

 

- Giao-du, Giao-thiệp: chơi-bời với nhau, thân-thích với nhau.

 

- Bọn tà = bọn ác-tà, bọn xấu dữ, làm điều quấy.

 

- Cao-đức = có đức-hạnh cao-quí; người hiền-lành và có trí-huệ.

 

- Ngoan-cố = cứng đầu, chẳng chịu nghe theo lời phải.

 

- Nhập Niết-bàn: rời bỏ xác thân, vào cảnh tịch-diệt. Nghĩa thông-thường là chết đi. Còn gọi là nhập-diệt. (Nhập = vào; diệt = chết mất.)

 

- Tôn-giả A-nan = tên thật của tôn-giả, tiếng Pali là Ànanda, tôn-giả là người thị-giả ( =hầu-cận) của Đức Phật Thích-ca.

 

- Hình-phạt nặng-nề nhứt: địch chữ Brahmadanda, tiếng Pali. Danda có nghĩa là hình-phạt. Brahma, ở đây,nghĩa là cao nhứt, nặng nhứt.

 

- Cô-lập: Cô = cô-độc, một mình, trơ-trọi; Lập = đứng. Cô-lập một người là chẳng cho ai gần với người ấy cả. Tiếng bình-dân gọi là tẩy chay.

 

- Sám-hối = ăn-năn, xin thú-tội và hứa từ nay sẽ chẳng tái-phạm.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại sự-việc Xà-nặc ỷ mình là người theo Phật từ buổi đầu mà tỏ ra phách-lối với mọi người và vô-lễ với hai vị đại-đệ-tử của Đức Phật. Xà-nặc lại còn ngoan-cố, chẳng biết theo lời khuyên của Phật. Chỉ sau khi Phật nhập-diệt rồi, Xà-nặc mới hối-hận, sám-hối tội-lỗi với hai vị Tôn-giả và chuyên-cần tu-hành mới chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của Tích chuyện là phải biết nghe theo lời của người có đức-hạnh, thân-cận bên họ, mới có lợi cho đường tu.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 078:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ rất rõ-ràng: nên chọn bạn mà kết-thân, xa người ngu-ác, gần người hiền-lương, có đức-hạnh.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ để đọc lên cho con-em nghe, mỗi khi muốn khuyên chúng nên xa-lánh bạn-bè chẳng tốt.

 

2.- Tập bỏ tánh ỷ-lại: ỷ-lại là dựa thế của người khác mà tự coi mình cao hơn; đó là lòng kiêu-căng sái chỗ, cần dẹp bỏ. Xin đề-nghị:

 

- đừng tự-hào về giai-cấp, địa-vị, tiền-của của mình: giá-trị con người chính ở nơi đức-hạnh, chớ đâu phải ở nhà cao, xe đẹp, có con "làm lớn"! Càng tỏ ra nhũn-nhặn, mới càng quí.

 

- lạy sám-hối trước tượng Phật: lạy là một hình-thức dẹp bỏ lòng kiêu-căng bên trong của mình, khi mình cúi đầu sát đất.

The Story of Thera Channa

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (78) of this book, with reference to Thera Channa.

Channa was the attendant who accompanied Prince Siddhattha when he renounced the world and left the palace on horseback. When the prince attained Buddhahood, Channa also became a bhikkhu. As a bhikkhu, he was very arrogant and overbearing because of his close connection to the Buddha. Channa used to say, "I came along with my Master when he left the palace for the forest. At that time, I was the only companion of my Master and there was no one else. But now, Sariputta and Moggallana are saying, 'we are the Chief Disciples,' and are strutting about the place."

When the Buddha sent for him and admonished him for his behaviour, he kept silent but continued to abuse and taunt the two Chief Disciples. Thus the Buddha sent for him and admonished him three times; still, he did not change. And again, the Buddha sent for Channa and said, "Channa, these two noble bhikkhus are good friends to you; you should associate with them and be on good terms with them."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 78: One should not associate with bad friends, nor with the vile. One should associate with good friends, and with those who are noble.


In spite of repeated admonitions and advice given by the Buddha, Channa did as he pleased and continued to scold and abuse the bhikkhus. The Buddha, knowing this, said that Channa would not change during the Buddha's lifetime but after his demise (parinibbana) Channa would surely change. On the eve of hisparinibbana, the Buddha called Thera Ananda to his bedside and instructed him to impose the Brahma-punishment (Brahmadanda) to Channa; i.e., for the bhikkhus to simply ignore him and to have nothing to do with him.

After the parinibbana of the Buddha, Channa, learning about the punishment from Thera Ananda, felt a deep and bitter remorse for having done wrong and he fainted three times. Then, he owned up his guilt to the bhikkhus and asked for pardon. From that moment, he changed his ways and outlook. He also obeyed their instructions in his meditation practice and soon attained arahatship.

Dhammapada Verse 78
Channatthera Vatthu

Na bhaje papake mitte
na bhaje purisadhame
bhajetha mitte kalyane
bhajetha purisuttame.

Verse 78: One should not associate with bad friends, nor with the vile. One should associate with good friends, and with those who are noble.


1. namayanti: to bend, to incline a person's heart or will. In the case of fletchers, to make the arrows straight; in the case of carpenters, to make the timber into things that people want, by cutting, sawing and planing.


dhp079_B
Verse-Kệ 079

(63).- Tích chuyện Trưởng-lão Kha-phi-na - Kệ số 079

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lạo Kha-phi-na, vốn là vị Vua ở Cúc-khư, xúất-gia cùng với các vị đại-thần của mình.

 

Thuở ấy, vua Kha-phi-na cùng với các vị đại-thần, đi du-ngoạn trong vườn thượng-uyển. Ngài gặp được một nhóm thương-gia từ nước Xá-vệ đến, thuật chuyện có Đức Phật cùng Tăng-đoàn đang tu-hành ở chùa Kỳ-viên. Vua Kha-phi-na liền cùng với các vị đại-thần lên đường đến gặp Đức Phật.

 

Bấy giờ, sau cơn Thiền định buổi sáng, Đức Phật quán-thấy đã đến cơ-duyên độ cho vua Kha-phi-na và các vị đại-thần được thành chánh-quả, mới rời chùa Kỳ-viên, đi đến nửa đường để gặp Vua. Đức Phật cùng chư Tăng đi đến ngồi chờ, dưới cội cây Bồ-đề bên đường, gần bờ sông Càn-đà. Khi Vua Kha-phi-na và quần-thần đi đến, từ xa đã trông-thấy hào-quang rực-rỡ của Đức Phật rạng-chiếu lên. Họ đến đảnh-lễ dưới chơn Phật và được Đức Phật giảng pháp cho nghe. Sau thời pháp, tất cả đều chứng được sơ-quả Tu-đà-huờn. Vua và các quan đồng qùi xuống, thỉnh-cầu Đức Phật cho xuất-gia và thọ-giới tỳ-kheo. Đức Phật vui-vẻ liền nói: "Thiện Lai! Tỳ-kheo!", chấp-nhận tất cả vào Tăng-đoàn. Vua cùng quần-thần liền theo chơn Đức Phật trở về tịnh-xá Kỳ-viên.

 

Lúc bấy giờ, Hoàng-hậu An-nỡ-gia hay tin Vua đã rời kinh-thành đi đến Xá-vệ, bà liền mời các phu-nhơn các vị đại-thần, tập-hợp nhau, lên đường đi tìm Vua. Khi họ đến chùa Kỳ-viên, Đức Phật đang giảng-pháp cho Vua và các quan nghe, nhưng với sức thần-thông của Đức Phật, Hoàng-hậu và các vị phu-nhơn chẳng trông thấy Vua và các quan đang ngồi đó. Hoàng-hậu qùi tâu với Đức Phật ý-định đi tìm chồng. Đức Phật bảo hãy chờ một chút, sau thời kinh, sẽ gặp. Khi Phật chấm dứt bài giảng, các vị phu-nhơn nhìn lên, trông thấy các ông chồng của họ đang trong lớp áo tỳ-kheo, họ liền qùi xin Đức Phật cho họ được gia-nhập hàng-ngũ tu-hành. Đức Phật chấp-thuận cho họ được vào nữ-tu-viện của các Tỳ-kheo-ni ở Xá-vệ.

 

Trong thời gian cư-trú tại chùa Kỳ-viên, tỳ-kheo Kha-phi-na ngày đêm thường thốt lên lời nói nầy: ‘Ôi! Hạnh-phước biết bao!" Chư Tăng nghe thấy như thế, mới đến thưa trình cùng Đức Phật. Phật bảo: ‘Tỳ-kheo

 

Kha-phi-na đang thấm-nhuần trong Chánh-pháp, cảm thấy một nguồn sung-sướng vô-biên nơi tâm-khảm, cho nên mới thốt lên lời tán-thán cõi an-lạc Niết-bàn tịch-diệt."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người thấm-nhuần Chánh-pháp,

Sống trong niềm hoan-lạc,

Tâm thanh-tịnh an-nhiên.

Người hiền-trí lòng luôn thoả-thích

Trong Chánh-pháp do bực Thánh truyền.

(Kệ số 079.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Kha-phi-na: tên thật của vị Vua nầy, tiếng Pali là Mahàkappina.

 

- Cúc-khư: tên nước nầy, tiếng Pali là Kukkutavatì.

 

- An-nỡ-gia: tên thật của Hoàng-hậu, tiếng Pali là Anojà.

 

- Càn-đà: tên con sông nầy, tiếng Pali là Candabhaga.

 

- Du-ngoạn: Du = đi chơi đó đây: Ngoạn = ngắm xem. Đi đạo.

 

- Thượng-uyển = vườn hoa của Vua.

 

- Thương-gia = người sống về nghề buôn-bán.

 

- Độ = cứu-độ = giúp-đỡ. Tiếng Hán-Việt Độ có nghĩa là đưa qua sông; ở đây, chữ độ có nghĩa là giúp-đỡ, chỉ-dạy giáo-pháp cho người khác, để họ tu-hành, vượt qua được các sự mê-lầm, thoát khổ.

 

- Chánh-quả: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Quả = kết-quả, quả-vị. Chánh-quả là đạt được kết-quả chánh-đáng, tốt, của sự tu-hành.

 

- Hào-quang: ánh-sáng rực-rỡ toả ra từ các bực tu-hành đắc quả.

 

- Đảnh-lễ: cúi đầu làm lễ tỏ lòng tôn-kính.

 

- Sơ-quả: Sơ = sơ-đẳng, bước đầu, thứ-nhứt; Quả = quả-vị. Sơ-quả là quả-vị đầu-tiên, thấp nhứt trong bốn quả-vị của hàng Thanh-văn.

 

Bốn quả-vị nầy chia ra: bực Hiền có Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm; bực Thánh là A-la-hán. Đến quả A-la-hán, chứng được cảnh Vô-sanh của cõi Niết-bàn. (Vô-sanh = chẳng còn bị tái-sanh trong cảnh Luân-hồi nữa).

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà. Xuất-gia là rời nhà, lià-bỏ đời sống thế-tục, vào chùa tu-hành. Trái với xuất-gia là tại-gia, còn ở nhà, sống đời người thường mà tu-hành theo đạo Phật.

 

- Thọ giới Tỳ-kheo: làm lễ xin theo đúng 250 điều răn-cấm của vị Tỳ-kheo. Còn gọi là thọ Cụ-túc-giới. Về phiá Tỳ-kheo-ni, có 348 giới.

 

- Thiện Lai! Tỳ-kheo!: dịch tiếng Pali là "Ehi Bhikkhù!"; Thiện = lành; Lai = đến. Đây là lời Đức Phật nói khi hoan-nghinh người mới gia-nhập Tăng-đoàn.

 

- Phu-nhơn = người vợ của các bực giàu-sang, quyền-thế.

 

- Đại-thần: Đại = lớn; Thần = ở đây là quan. Đại-thần là Quan lớn.

 

- Sức thần-thông: quyền-năng đặc-biệt có hiệu-lực khác thường; như có thể bay bổng, đi trên mặt nước, v.v.

 

- Tỳ-kheo-ni: phụ-nữ thọ giới Cụ-túc (348 điều), tu-hành sống trong nữ-tu-viện ( = chuà dành riêng cho các sư-nữ.)

 

- Thấm-nhuần: Thấm = thấm vào; Nhuần = nhuần-nhã. Thấm-nhuần Chánh-pháp là hiểu rõ rành-rẽ lời dạy của Đức Phật ghi trong Kinh-kệ.

 

- Vô-biên: Vô =chẳng có; Biên = bờ bến; biên-giới. Vô-biên là to lớn, rộng-rãi đến chẳng có bờ bến nào cả.

 

- Tâm-khảm = sâu trong lòng.

 

- Tán-thán = khen-ngợi.

 

- An-lạc = yên-vui.

 

- Niết-bàn = cõi an-vui, thường còn, chẳng còn tái-sanh nữa, sống mãi trong cảnh tịch-diệt ( = yên-lặng, vắng-vẻ). Tiếng Pali là Nirvana, có nghĩa là ra khỏi rừng u-tối của các phiền-não. Niết-bàn chẳng phải là nơi chốn nào trong không-gian, chính là tâm-trạng yên-vui của người khỏi bị tái-sanh nữa.

 

- Hoan-lạc = vui-sướng.

 

- An-nhiên = yên-ổn, tự-do, tự-tại, chẳng bị ràng-buộc.

 

- Thoả-thích = vui thích, thích-chí.

 

- Bực Thánh truyền: do bực Thánh chỉ dạy, trao-truyền lại.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang ý-nghĩa quan-trọng sau đây: hạnh xả-ly, lià-bỏ chốn giàu-sang để chọn con đường tu-hành giác-ngộ và giải-thoát.

 

Noi theo gương của Thái-tử Tất-đạt-ta, vua Kha-phi-na, Hoàng-hậu A-nở-gia, các quan đại-thần cùng các vị phu-nhơn đã từ-khước sự sung-sướng vật-chất của cuộc đời quyền-quí, xuất-gia tu-hành, nhằm vào mục-tiêu chứng-đắc Niết-bàn an-lạc và tịch-diệt vì đó mới là hạnh-phước chơn-thật và bền-vững.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 079:

 

Bài Kệ nói lên sự sung-sướng về tinh-thần của người thấm-nhuần Chánh-pháp: tâm thanh-tịnh, an-nhiên, lòng luôn hoan-lạc. Người như thế được gọi là người hiền-trí, biết thoả-thích trong sự thông-hiểu Chánh-pháp và ứng-dụng Chánh-pháp vào cuộc đời tu-hành của mình.

 

HỌC TẬP:

 

Học thuộc lòng bài Kệ, nên thường đọc lên, mỗi khi cảm thấy thiếu hăng-hái trong việc tụng-kinh, niệm Phật hằng ngày.

The Story of Thera Mahakappina

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (79) of this book, with reference to Thera Mahakappina.

Mahakappina was king of Kukkutavati. He had a queen named Anoja; he also had one thousand ministers to help him rule the country. One day, the king accompanied by those one thousand ministers, was out in the park. There, they met some merchants from Savatthi. On learning about the Buddha, the Dhamma, and the Samgha from these merchants the king and his ministers immediately set out for Savatthi.

On that day, when the Buddha surveyed the world with his supernormal power, he saw in his vision, Mahakappina and his ministers coming towards Savatthi. He also knew that they were due for arahatship. The Buddha went to a place one hundred and twenty yojanas away from Savatthi to meet them. There, he waited for them under a banyan tree on the bank of the river Candabhaga. King Mahakappina and his ministers came to the place where the Buddha was waiting for them. When they saw the Buddha, with six-coloured rays radiating from his body, they approached the Buddha and paid homage to him. The Buddha then delivered a discourse to them. After listening to the discourse the king and all his ministers attained Sotapatti Fruition, and they asked the Buddha to permit them to join the Order. The Buddha, reflecting on their past and finding that they had made offerings of yellow robes in a past existence, said to them, "Ehi bhikkhu", and they all became bhikkhus.

Meanwhile, Queen Anoja, learning about the king's departure for Savatthi, sent for the wives of the one thousand ministers, and together with them followed the king's trail. They too came to the place where the Buddha was and seeing the Buddha with a halo of six colours, paid homage to him. All this time, the Buddha by exercising his supernormal power had made the king and his ministers invisible so that their wives did not see them. The queen therefore enquired where the king and his ministers were. The Buddha told the queen and her party to wait for a while and that the king would soon come with his ministers. The Buddha then delivered another discourse; at the end of this discourse the king and his ministers attained arahatship; the queen and the wives of the ministers attained Sotapatti Fruition. At that instant, the queen and her party saw the newly admitted bhikkhus and recognized them as their former husbands.

The ladies also asked permission from the Buddha to enter the Order of Bhikkhunis; so they were directed to go ahead to Savatthi. There they entered the Order and very soon they also attained arahatship. The Buddha then returned to the Jetavana monastery accompanied by one thousand bhikkhus.

At the Jetavana monastery, Thera Mahakappina while resting during the night or during the day would often say, "Oh, what happiness!" (Aho Sukham). The bhikkhus, hearing him saying this so many times a day told the Buddha about it. To them the Buddha replied, "My son Kappina having had the taste of the Dhamma lives happily with a serene mind; he is saying these words of exultation repeatedly with reference to Nibbana."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 79: He who drinks in the Dhamma lives happily with a serene mind; the wise man always takes delight in the Dhamma (Bodhipakkhiya Dhamma) expounded by the Noble Ones (ariyas).

Dhammapada Verse 79
Mahakappinatthera Vatthu

Dhammapiti sukham seti
vippasannena cetasa
ariyappavedite dhamme
sada ramati pandito.

Verse 79: He who drinks in the Dhamma lives happily with a serene mind; the wise man always takes delight in the Dhamma (Bodhipakkhiya Dhamma) expounded by the Noble Ones (ariyas).


dhp080_B
Verse-Kệ 080

(64).- Tích chuyện Sa-di Phan-di-ta - Kệ số 080

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến vị Sa-di tên là Phan-di-ta.

 

Thuở ấy ở nước Xá-vệ có một cậu bé bảy tuổi, tên là Phan-di-ta, con của một người rất giàu-có, được thâu-nhận làm Sa-di và theo học với Tôn-giả Xá-lợi-phất. Một buổi sáng, cậu Phan mang bình bát, theo chơn Thầy đi khất-thực. Dọc đường, cậu thấy các nông-phu đang đào mương dẫn nước vào tưới ruộng. Cậu liền bạch với Tôn-giả: "Bạch Thầy, nước kia chẳng có ý-thức, có thể nào ta khiến cho nước phải chảy đúng theo chiều-hướng mình muốn không?" Tôn-giả đáp: ‘Ừ, được chớ!" Cả hai lại tiếp-tục lên đường. Một lát, cậu bé nhìn vào khu xóm, thấy các thợ làm cung tên, đang hơ lửa khúc tre để uốn thẳng làm các mũi tên. Đi được một đỗi đường nữa, Phan-di-ta nhìn thấy một người thợ mộc bào, đẽo một tấm ván để làm bánh xe. Phan-di-ta mới ngẫm-nghĩ trong lòng: "Nếu nước kia là vật vô-tri mà có thể chảy xuôi theo chiều-hướng mình muốn, nếu cành tre vô-tri cong kia có thể uốn lại cho thẳng, nếu tấm ván vô-tri có thể đem đẽo thành bánh xe, tại sao ta đây có tâm tri-giác, lại chẳng thể điều-phục được tâm mình mà thực-hành Thiền Minh-sát?"

 

Nghĩ đến đấy, Phan-di-ta liền xin phép Thầy cho quay về tịnh-xá, rồi vào phòng riêng, ngồi xuống trong tư-thế toạ-thiền. Phan tập-trung tư-tưởng, quán-chiếu thân bất-tịnh, lòng rất nhiệt-thành, chẳng hề xao-lãng. Bấy giờ, Vua Trời Đế-thích và chư Thiên thấy nỗ-lực phi-thường của Phan, nên đến giữ-gìn chung quanh tịnh-xá thật yên-tịnh. Trước giờ ngọ-trai, Sa-di Phan-di-ta chứng đắc được đạo-quả thứ ba là A-na-hàm.

 

Lúc ấy, Tôn-giả Xá-lợi-phất vừa đi khất-thực về đến tịnh-xá, định đem cơm vào cho Phan-di-ta. Tại chùa Kỳ-viên, Đức Phật dùng thiên-nhãn thấy Sa-di Phan-di-ta sắp chứng được quả-vị thứ tư là A-la-hán, Ngài liền đi đến tịnh-xá, hỏi chuyện Tôn-giả, mục-đích là ngăn Tôn-giả, đừng vào phòng ngay, để cho Phan-di-ta tiếp-tục hành-thiền. Trong khi Tôn-giả Xá-lợi-phất đang bận hầu chuyện với Đức Phật, Sa-di Phan-di-ta chứng-đắc được ngôi-vị A-la-hán, chỉ có tám ngày sau khi được thâu-nhận vào tu trong chùa.

 

Thuật lại chuyện Sa-di Phan-di-ta đắc quả-vị, Đức Phật bảo chư Tỳ-kheo rằng: "Khi một tu-sĩ nhiệt-tâm hành-thiền đúng theo Chánh-pháp, thì ngay cả Vua Trời Đế-Thích cũng đến ủng-hộ."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài kệ sau đây:

 

Người làm ruộng đào mương dẫn nước,

Kẻ làm tên chuốt vót mũi tên,

Bác thợ mộc uốn ngay tấm ván,

Bực hiền-trí điều-phục tâm mình.

(Kệ số 080.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Phan-di-ta: tên thật của vị Sa-di nầy tiếng Pali là Pandita

 

- Sa-di: người trẻ tuổi vào chùa tập-sự tu-hành, chưa thọ-giới Tỳ-kheo. Tiếng Pali là Sàmanera.

 

- Đào mương: đào đất thành một rảnh nhỏ cho nước chảy vào.

 

- Có ý-thức: Ý = ý-tưởng; Thức = biết. Có ý-thức là đang làm gì, nói gì, nghĩ gì, trong lòng biết rõ việc mình làm, nói hay nghĩ. Trái lại với có ý-thức là sự vô-ý, chẳng để-ý đến. Ở đây, nói nước chẳng có ý-thức là muốn nói nước là vật vô-tri, chẳng biết gì. Trong Phật-học, các sự-vật vô-tri được gọi là vật vô-tình, chẳng có tình-cảm; trái với vật hữu-tình, có tình-cảm, biết đau-đớn, biết nghĩ-suy như con người hay loài thú.

 

- Vô-tri: Vô = chẳng có; Tri = biết.

 

- Tri-giác = Tri = biết; Giác = hiểu rõ.

 

- Thiền Minh-sát: Thiền = phép tu về Trí-huệ, giữ tâm trong sự yên-tịnh; thường dịch là tĩnh-lự (tĩnh =yên-tịnh; lự =suy-nghĩ); Minh = sáng; Sát = quan-sát, xem xét kỹ, nhìn vào trong tâm mình. Phép Thiền Minh-sát, tiếng Pali là Vipassana, theo dõi từng biến-chuyển một của tâm.

 

- Điều-phục: Điều = điều-khiển; Phục = chế-phục. Điều-phục tâm là nắm quyền chủ-động, chẳng để tâm chạy buông-lung theo cảnh bên ngoài, cũng chẳng cho các vọng-tưởng nổi lên trì-kéo tâm bên trong.

 

- Toạ-thiền: Toạ = ngồi. Toạ-thiền là ngồi thiền trong tư-thế kiết-già hay bán-già. Ngồi kiết-già, hai bàn chơn tréo lên hai đùi; bán-già thì một bàn chơn gát lên đùi, bàn chơn kia để dưới đùi.

 

- Tập-trung tư-tưởng = giữ cho tư-tưởng chú-ý vào một đề-tài duy-nhứt, chẳng được nghĩ-ngợi lang-bang nữa.

 

- Quán-chiếu thân bất-tịnh: Quán-chiếu = suy-nghĩ sâu-xa trong cơn Thiền; Thân bất-tịnh: Thân =thân-thể; Bất-tịnh = chẳng sạch. Quán thân bất-tịnh là đề-tài thứ nhứt của Pháp Tứ-niệm-xứ, theo đó người thiền-giả nhìn xem bên trong thân có 32 chỗ dơ-dáy, do đó sanh ra nhàm-chán thân-thể, chẳng tríu-mến nữa.

 

- Ngọ-trai: Ngọ = 12 giờ trưa; Trai = ăn chay. Ngọ-trai là bữa ăn trưa của các nhà tu-hành.

 

- A-na-hàm: quả-vị thứ ba trong hàng Thanh-văn ( = các đệ-tử sống gần Phật, nghe Kinh mà tu-tập), tiếng Pali là Anàgàmi, còn dịch là Bất-Lai, nghĩa là chẳng sanh trở lại cõi người nữa, được sanh lên Trời.

 

- Thiên-nhãn: Thiên = trời; Nhãn = mắt. Có thiên-nhãn chẳng phải có thêm một cặp mắt nào khác, đó là khả-năng của người tu-hành cao, có định-lực mạnh, nhìn xuyên qua được các vật bị ngăn che, và vật ở xa.

 

- Ủng-hộ = giúp đỡ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại sự thành-công tốt-đẹp của một vị Sa-di trẻ tuổi, tinh-tấn hành Thiền Minh-sát, chứng đắc được quả-vị A-la-hán.

 

Nhờ đâu Sa-di Phan-di-ta thành-công? Trước nhờ sự quan-sát sự-việc bên ngoài: đào mương dẫn nước, uốn thẳng cành tre, đẽo ván thành bánh xe, rồi hướng vào bên trong tâm mình, tìm cách điều-phục tâm. Sau nhờ nỗ-lực hành Thiền, chẳng để tâm xao-lãng, mới chứng được quả-vị. Tại sao nhiều người tu Thiền mà chẳng có kết-quả? Sự thất-bại phần lớn do tâm xao-lãng, chẳng chuyên-chú vào đề-tài quán-chiếu. Tại sao tâm hay xao-lãng? Vì ngày thường thiếu sự giữ-gìn giới luật cho nghiêm. Khi giữ giới thật thanh-tịnh, định-lực sẽ sanh ra, nhờ đó mà phát-triển được trí-huệ: Giới đưa đến Định, Định đưa đến Huệ, đúng như theo ba môn học vô-lậu (vô-lậu = chẳng còn bị lậu-hoặc hay phiền-não khuấy rối) là Giới, Định và Huệ.

 

(2) Ý-nghĩa bài Kệ số 080:

 

Bài Kệ nhắc lại đoạn đường Sa-di Phan-di-ta trrải qua thật ngắn để chứng-đắc quả-vị A-la-hán: quán-sát sự-vật bên ngoài, quán-chiếu Tâm bên trong, nỗ-lực hành Thiền, chẳng hề xao-lãng.

 

Chẳng phải ai ai cũng đắc được quả-vị như Phan-di-ta, nhưng tấm gương của Phan-di-ta nhắc-nhở ta trong việc ngồi Thiền hằng ngày, để phát-triển Trí-huệ.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ rằng, các vật vô-tri còn uốn-nắn được, huống chi Tâm tri-giác, sao chẳng điều-phục được.

The Story of Samanera Pandita

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (80) of this book, with reference to Samanera Pandita.

Pandita was a young son of a rich man of Savatthi. He became a samanera at the age of seven. On the eighth day after becoming a samanera, as he was following Thera Sariputta on an alms-round, he saw some farmers channeling water into their fields and asked the thera, "Can water which has no consciousness be guided to wherever one wishes ?" The thera replied, "Yes, it can be guided to wherever one wishes." As they continued on their way, the samanera next saw some fletchers heating their arrows with fire and straightening them. Further on, he came across some carpenters cutting, sawing and planing timber to make it into things like cart-wheels. Then he pondered, "If water which is without consciousness can be guided to wherever one desires, if a crooked bamboo which is without consciousness can be straightened, and if timber which is without consciousness can be made into useful things, why should I, having consciousness, be unable to tame my mind and practise Tranquillity and Insight Meditation?"

Then and there he asked permission from the thera and returned to his own room in the monastery. There he ardently and diligently practised meditation, contemplating the body. Sakka and the devas also helped him in his meditation by keeping the monastery and its precincts very quiet and still. Before meal time Samanera Pandita attained Anagami Fruition.

At that time Thera Sariputta was bringing food to the samanera. The Buddha saw with his supernormal power that Samanera Pandita had attained Anagami Fruition and also that if he continued to practise meditation he would soon attain arahatship. So the Buddha decided to stop Sariputta from entering the room, where the samanera was. The Buddha went to the door and kept Sariputta engaged by putting some questions to him. While the conversation was taking place, the samanera attained arahatship. Thus, the samanera attained arahatship on the eighth day after becoming a novice.

In this connection, the Buddha said to the bhikkhus of the monastery, "When one is earnestly practising the Dhamma, even Sakka and the devas give protection and keep guard; I myself have kept Thera Sariputta engaged at the door so that Samanera Pandita should not be disturbed. The samanera, having seen the farmers irrigating their fields, the fletchers straightening their arrows, and carpenters making cart-wheels and other things, tames his mind and practises the dhamma; he has now become an arahat."

The Buddha then spoke in verse as follows:

Verse 80: Farmers (lit., makers of irrigation canals) channel the water; fletchers straighten the arrow; carpenters work the timber; the Wise tame themselves.

Dhammapada Verse 80
Panditasamanera Vatthu

Udakam hi nayanti nettika
usukara namayanti tejanam
darum namayanti tacchaka
attanam damayanti pandita.

Verse 80: Farmers (lit., makers of irrigation canals ) channel the water; fletchers straighten the arrow; carpenters work the timber; the Wise tame themselves.


dhp081_B
Verse-Kệ 081

(65).- Tích chuyện Trưởng-lão Phát-di-gia - Kệ số 081

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến vị Trưởng-lão Phát-di-gia.

 

Thuở ấy, có Trưởng-lão Phát-di-gia tu-hành rất tinh-tấn, chứng được quả-vị A-la-hán. Trưởng-lão người thấp-lùn, thường bị các tỳ-kheo trẻ tuổi gán cho biệt-hiệu là Lakundaka, có nghĩa là người lùn-tịt. Tâm-tánh Trưởng-lão rất hiền-hoà; mỗi khi bị trêu-chọc, Trưởng-lão chẳng hề tức-giận, ngay cả khi các người trẻ tuổi theo véo tai, bóp mũi hay vò đầu. Trưởng-lão chẳng hề cau-có, mà vẫn giữ vẻ mặt bình-thản, khi có kẻ trêu-chọc hay có lời thiếu lễ-độ với mình.

 

Khi Đức Phật nghe nói đến sự nhẫn-nhục, hiền-hoà của Trưởng-lão Phát-di-gia, Ngài bảo rằng chư Tăng rằng: "Đối với một bực A-la-hán, chẳng bao giờ mất sự bình-tỉnh trong lòng, chẳng hề có ý-định nói nặng lời, chẳng hề có ác-ý với ai cả. Vị ấy cũng như tảng đá kiên-cố, đâu bị bão-tố lay-động được. Vị ấy lúc nào cũng điềm-nhiên khi bị mắng-mỏ, bị trêu-chọc, cũng như khi được khen-tặng."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Như tảng đá thật kiên-cố,

Chẳng lay-động trước bão-tố,

Người hiền-trí vẫn điềm-nhiên

Khi được khen, hay bị mắng-mỏ.

(Kệ số 081.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Phát-di-gia: tên thật của Trưởng-lão, tiếng Pali là Bhaddiya.

 

- Lakundaka: tiếng Pali, đọc là La-cun-đa-ca, có nghĩa là lùn-tịt.

 

- Biệt-hiệu: Biệt = riêng-biệt; Hiệu = tên. Biệt-hiệu là tên riêng do người khác gán cho mình, hay mình tự-đặt lấy.

 

- Bình-thản = thản-nhiên, dửng-dưng chẳng giận, tâm yên.

 

- Nhẫn-nhục = nhịn-nhục, chẳng oán-giận, chịu nhịn.

 

- Ác-ý: trong bụng nghĩ việc ác xãy ra cho kẻ khác.

 

- Kiên-cố = thật vững-chắc.

 

- Bão-tố = cơn gió mạnh làm đổ gãy cây cối, sập nhà cửa.

 

- Điềm-nhiên = bình-tỉnh, tâm chẳng xao-động, vẻ mặt yên-ổn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất gian-dị, thuật lại tánh-tình hiền-hoà của một vị tỳ-kheo tu-hành đắc quả-vị A-la-hán. Mặc dầu bị trêu-chọc về thân-thể thấp-lùn của mình, vị tỳ-kheo chẳng hề nóng-giận, có ác-ý hay có lời lẽ nặng-nề đối với ai. Đức Phật khen ngợi đức-tánh trầm-tỉnh nầy và so-sánh Tâm của Trưởng-lão với tảng đá kiên-cố trước cơn bão-tố.

 

(2) Ý-Nghĩa của Bài Kệ số 081:

 

Hai câu đầu của bài Kệ so-sánh tâm của bực hiền-trí luôn-luôn điềm-nhiên chẳng bị xao-động, với một tảng đá thật kiên-cố, dầu bão to gió lớn cũng chẳng làm lung-lay được.

 

Hai câu chót nói đến tâm điềm-nhiên, bình-thản của bực hiền-trí, khi được khen-ngợi, cũng như khi bị mắng-mỏ. Được khen, thì khó giữ được sự vui-mừng, làm cho tâm xao-động. Bị chê càng khó giữ được sự điềm-nhiên, vì tự-ái bị xúc-phạm, dễ nổi nóng, hay buông lời nói nặng.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của bài Kệ là khuyên ta phải giữ tâm bình-thản.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ để cố-gắng tập sao cho tâm mình được quân-bình, chẳng quá vui khi được khen, chẳng quá giận khi bị chê.

 

2.- Thử tập giữ tâm bình-thản trước tám hoàn-cảnh nầy: khi được khen, khi bị chê, khi bị nói xấu, khi được nịnh-bợ, khi gặp vui, khi gặp khổ, khi có lợi, khi bị thiệt-hại. Tám hoàn-cảnh đó, trong Kinh-sách gọi là tám ngọn gió, thổi mạnh đến khiến cho lòng người bị chao-động.

 

3.- Đề-nghị: khi được khen nồng-nhiệt, chỉ nên cúi đầu cảm-ơn người khen, và trong bụng đừng tỏ ra quá thích-chí mà sanh kiêu-căng.

The Story of Thera Lakundaka Bhaddiya

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (81) of this book, with reference to Thera Bhaddiya.

Bhaddiya was one of the bhikkhus staying at the Jetavana monastery. Because of his short stature he was known as Lakundaka (the dwarf) to other bhikkhus. Lakundaka Bhaddiya was very good natured; even young bhikkhus would often tease him by pulling his nose or his ear, or by patting him on his head. Very often they would jokingly say, "Uncle, how are you? Are you happy, or are you bored with your life here as a bhikkhu?", etc. Lakundaka Bhaddiya never retaliated in anger, or abused them; in fact, even in his heart he did not get angry with them.

When told about the patience of Lakundaka Bhaddiya, the Buddha said, "An arahat never loses his temper, he has no desire to speak harshly or to think ill of others. He is like a mountain of solid rock; as a solid rock is unshaken, so also, an arahat is unperturbed by scorn or by praise."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 81: As a mountain of rock is unshaken by wind, so also, the wise are unperturbed by blame or by praise.

Dhammapada Verse 81
Lakundakabhaddiyatthera Vatthu

Selo yatha ekaghano
vatena na samirati
evam nindapasamsasu
na saminjanti pandita

Verse 81: As a mountain of rock is unshaken by wind, so also, the wise are unperturbed by blame or by praise.


dhp082_B
Verse-Kệ 082

(66).- Tích chuyện tín-nữ Kha-nhã - Kệ số 082

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến một người tín-nữ tên là Kha-nhã.

 

Cô Kha-nhã là con gái của một vị nữ-cư-sĩ rất mộ đạo Phật, được mẹ gả chồng sang làng bên. Thỉnh-thoảng, cô Kha-nhã trở về quê thăm mẹ, cùng với mẹ sửa-soạn thực-phẩm dưng-cúng chư Tăng đi khất-thực hằng ngày. Chồng cô Kha-nhã sai người đến nhà vợ, nhắn tin bảo cô Kha-nhã phải trở lại nhà chồng. Mẹ cô bảo cô ở nán lại một hôm để giúp bà làm mứt ngọt cúng-dường các vị tỳ-kheo. Hai mẹ con làm nhiều kẹo mứt ngon-ngọt, định để dành một mớ cho Kha-nã đem về cho chồng; nhưng sáng sớm hôm đó, hai mẹ con thấy có đông-đảo tỳ-kheo đến trước cửa nhà, nên đem ra hiến hết cả. Bà mẹ bảo cô Kha-nhã, thôi con hãy ở nán thêm một ngày nữa, đem về chút ít kẹo cho chồng con. Nhưng ngày hôm sau, nghe nói ở nhà bà Kha có nhiều bánh mứt ngon-ngọt, số tỳ-kheo đến khất-thực lại gia-tăng lên, khiến cho bao nhiêu kẹo mứt đều được đem ra hiến-tặng cả. Bà mẹ lại lưu cô Kha-nhã ở thêm một ngày nữa. Bấy giờ, người chồng sai người đến thúc-dục cô Kha-nhã phải trở về nhà chồng ngay. Đó là một bức tối-hậu-thơ, nếu mai chẳng về, thì chồng cô sẽ cưới vợ khác. Bà mẹ tưởng đó là lời doạ suông của một người chồng nhớ vợ quá, nên mới giữ con gái lại thêm một ngày nữa, làm bánh mứt dâng cúng chư Tăng. Nào dè, người chồng cô Kha-nhã làm thiệt, cưới một người vợ mới. Khi cô Kha-nhã hay tin đó, mới buồn rầu, ở lại luôn nhà mẹ, trong lòng lại sanh ra oán-ghét chư Tăng, nói lời vô-lễ, cho rằng vì chư Tăng đến khất-thực, mà cô bị chồng bỏ. Tiếng đồn vang xa, chư Tăng chẳng đến nhà mẹ cô Kha-nhã khất-thực nữa.

 

Đức Phật hay biết câu chuyện đó, mới cùng một số tỳ-kheo đi đến trước cửa nhà mẹ của cô Kha-nhã. Bà cụ cung-thỉnh Đức Phật vào nhà, dâng-cúng thực-phẩm. Sau khi thọ-thực xong, Đức Phật cho mời cô Kha-nhã ra và hỏi: "Này tín-nữ, chẳng hay khi đến đây khất-thực, các tỳ-kheo chỉ nhận những gì hiến-tặng cho họ, hay họ đã lấy những gì chẳng được hiến-tặng cho họ?"Cô Kha-nhã bạch Phật rằng: "Bạch Thế-tôn! Chư Tăng chẳng có ai nhận quá phần dưng-cúng cho mình cả. Trước đây, vì bị chồng con bỏ con, con đau-buồn có lời thất-lễ với chư Tăng, nay con thành-tâm thú-tội, kính mong Thế-tôn tha lỗi cho con." Đức Phật vui-vẻ chấp-nhận lời sám-hối của cô Kha-nhã, và giảng một bài pháp về hạnh bố-thí. Cô Kha-nhã nghe xong, liền chứng được quả-vị Tu-đà-huờn.

 

Trên đường trở về tịnh-xá Kỳ-viên, Đức Phật gặp vua Ba-tư-nặc, xứ Câu-tát-la. Nghe Đức Phật thuật lại thái-độ thiếu-lễ-độ trước đây của cô Kha-nhã đối với chư Tăng, nhà Vua hỏi Phật có giảng-giải Chánh-pháp cho cô ta nghe chăng. Đức Phật đáp: "Như-Lai đã giảng pháp cho Kha-nhã nghe và khiến cho cô ta sẽ được giàu-sang vào kiếp tới." Vua Ba-tư-nặc lại nói: "Bạch Thế-tôn, con có cách làm cho Kha-nhã được giàu-có ngay trong hiện đời." Rồi đó nhà vua sai sứ-giả mời cô Kha-nhã đến hoàng-cung, nhận làm con nuôi. Giữa triều-đình, nhà vua nói: ‘Này chư Khanh, có ai đủ khả-năng làm cho con gái nuôi ta là Kha-nhã đây được đầy-đủ tiện-nghi, sung-sướng, thì được phép đưa về nhà." Một vị đại-thần liền đứng ra xin nhận. Cô Kha-nhã được cha nuôi ban cho nhiều tiền-của và bảo cứ tuỳ-nghi mà bố-thí. Mỗi ngày, cô Kha-nhã mở hội bố-thí ở bốn cửa thành, phát chẩn cho dân nghèo.

 

Khi nghe dân-chúng nói đến tấm lòng bố-thí rộng-rãi của cô Kha-nhã, Đức Phật bảo các tỳ-kheo rằng: "Trước kia, tâm-trí của Kha-nhã bị mê-mờ và vẩn-đục, sau khi nghe được Chánh-pháp, đã trở nên trong-sáng và an-tịnh."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Như hồ sâu đầy nước

Phẳng-lặng và trong-suốt,

Vừa nghe giảng Pháp xong,

Tâm người trí thanh-tịnh.

(Kệ số 082.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Kha-nhã: tên thật của người tín-nữ nầy, tiếng Pali là Kàna.

 

- Tín-nữ: Tín =tin-tưởng; Nữ = phụ-nữ. Tín-nữ là người phụ-nữ tin-tưởng vào đạo Phật, thường dâng-cúng lễ-vật cho chư Tăng.

 

- Nữ-cư-sĩ = người đàn-bà theo đạo Phật, tu-hành tại nhà.

 

- Mộ đạo = rất tôn-sùng Đạo.

 

- Ở nán = ở thêm một vài ngày nữa, khoan đi về.

 

- Lưu = lưu giữ thêm, chưa cho về.

 

- Thúc-dục = hối-thúc.

 

- Bức tối-hậu-thơ: bức thơ chót; tối-hậu = sau cùng, chót hết. Hai nước chống đối nhau, một nước gởi tối-hậu-thơ cho nước kia, ra điều-kiện, nếu chẳng theo thì sẽ có chiến-tranh, đánh nhau ngay.

 

- Doạ suông = hăm-doạ bằng lời mà chẳng làm.

 

- Cung-thỉnh: Cung = cung-kính; Thỉnh = mời.

 

- Thọ-thực: Thọ = nhận; Thực = ăn. Thọ-thực là tiếng nhà chùa, có nghĩa là ăn cơm.

 

- Sám-hối = tỏ lòng hối-tiếc vì lỡ làm quấy, nay xin ăn-năn và hứa chẳng tái-phạm nữa.

 

- Hạnh bố-thí: Hạnh = hành-động, việc làm; Bố = cùng khắp; Thí = cho, tặng. Hạnh bố-thí là công-tác đem tiền-của, công-sức, hay lời nói ra giúp-đỡ người khác. Bố-thí đứng đầu trong sáu hạnh Ba-la-mật của Bồ-tát-đạo (bố-thí, trì giới, nhẫn-nhục, tinh-tấn, thiền-định và bát-nhã).

 

- Tu-đà-huờn = quả-vị thứ nhứt, còn gọi là Nhập-Lưu ( = bước vào dòng Thánh) hay Thất-Lai ( = chỉ còn tái-sanh bảy lần nữa thôi, rồi chứng Niết-bàn). Tiếng Pali là Sotàpatti.

 

- Ba-tư-nặc = vị vua rất tôn-sùng đạo Phật, tiếng Pali là Pasenadi.

 

- Câu-tát-la: tên nước nầy, tiếng Pali là Kosala.

 

- Sứ-giả = người mang tin đến cho ai.

 

- Hiện-đời = ngay trong đời hiện-tại nầy.

 

- Hoàng-cung = cung-điện của nhà Vua.

 

- Triều-đình = nơi Vua và các quan hội-họp.

 

- Chư Khanh: Chư = nhiều, số đông; Khanh = các vị quan lớn, đây là tiếng vua gọi các quan (còn vua tự-xưng là Trẫm)

 

- Đại-thần = quan lớn.

 

- Tuỳ-nghi: tuỳ theo sự tiện-lợi của mình, tùy ý thích.

 

- Phát chẩn = phân-phát tiền bạc, áo quần, thực-phẩm cho người nghèo khổ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang các ý-nghĩa sau đây:

 

1) Cô Kha-nhã, vì bị chồng bỏ, sanh ra oán-ghét chư Tăng; đây là một lỗi-lầm lớn của cô, thiếu suy-nghĩ cho rằng vì bận lo cúng-dường chư Tăng mà bị chồng bỏ. Đức Phật gọi sự thiếu suy-nghĩ chín-chắn nầy là sự mê-mờ và vẩn-đục của tâm-trí ( = bị dơ, có nhiều cặn).

 

2) Bố-thí ngày nay đem lại phước-đức về sau sẽ được giàu-sang, đúng theo Luật Nhơn-quả: hễ làm điều lành thì được việc tốt. Đó là lời của Đức Phật khi Ngài nói, khi giảng hạnh bố-thí cho cô Kha-nhã nghe: " ... khiến cho cô ta sẽ được giàu-sang vào kiếp tới." Nhưng Vua Ba-tư-nặc lại còn có khả-năng làm cho cô được giàu-sang ngay trong đời nầy bằng cách nhận cô làm con nuôi. Như thế, vì bận cúng-dường, chẳng kịp về nhà mà bị chồng bỏ, cô Kha-nhã lại được hưởng phước-báu của hạnh bố-thí ngay trong đời nầy: được làm công-chúa!

 

3) Ý-nghĩa quan-trọng của Tích chuyện là lời nói sau cùng của Đức Phật: nhờ nghe giảng pháp về hạnh bố-thí mà tâm-trí của cô Kha-nhã hết mê-mờ, vẩn-đục (vì trước đã oán-ghét chư Tăng), mà trở nên trong-sáng và an-tịnh (hăng-hái thi-hành hạnh bố-thí, phát chẩn.)

 

(2) Ý-nghĩa của Bài Kệ số 082:

 

Bài Kệ ví tâm-trạng của người hiền-trí như mặt nước hồ trong suốt và phẳng-lặng, nhờ nghe Phật-pháp mà trở nên thanh-tịnh.

 

Trong công-việc tu-hành để được giác-ngộ và giải-thoát, việc quan-trọng là biết giữ-gìn tâm-ý sao cho được trong-sáng. Muốn được như thế, phải năng nghe giảng Pháp, theo đó mà tu-tập. Tu là tu tâm.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ để thường đến chùa nghe giảng pháp. Đi chùa chẳng phải chỉ được phước về đời sau, mà ngay trong đời nầy, sau khi nghe giảng-pháp, lòng mình được thanh-thản, nhẹ-nhàng, đó cũng là một phước-báu lớn, rất thiết-thực cho cuộc sống hằng ngày.

The Story of Kanamata

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (82) of this book, with reference to the mother of Kana, Kanamata.

Kanamata was a devoted lay disciple of the Buddha. Her daughter Kana was married to a man from another village. As Kana had been on a visit to her mother for some time, her husband sent a message for her to come home. Her mother told her to wait for one more day as she wanted to send along some sweetmeats with her for her husband. The next day, Kanamata made some sweetmeats, but when four bhikkhus stood at her door for alms, she offered some to them. The four bhikkhus told other bhikkhus about the sweetmeats from Kanamata's house and they also came to stand at the door of Kanamata, as a devotee of the Buddha and his disciples, offered her sweetmeats to the bhikkhus as they came in, one after another. The result was that in the end there was none left for Kana and she did not go home on that day. The same thing happened on the next two days; her mother made some sweetmeats, the bhikkhus stood at her door, she offered her sweetmeats to the bhikkhus, there was nothing left for her daughter to take home, and her daughter did not go home. On the third day, for the third time, her husband sent her a message, which was also an ultimatum stating that if she failed to come home the next day, he would take another wife. But on the next day also Kana was unable to go home because her mother offered all her sweetmeats to the bhikkhus. Kana's husband then took another wife and Kana became very bitter towards the bhikkhus. She used to abuse all bhikkhus so much so that the bhikkhus kept away from the house of Kanamata.

The Buddha heard about Kana and went to the house of Kanamata; there Kanamata offered him some rice gruel. After the meal, the Buddha sent for Kana and asked her, "Did my bhikkhus take what was given them or what was not given them ?" Kana answered that the bhikkhus had taken only what was given them, and then added, "They were not in the wrong; only I was in the wrong." Thus, she owned up her fault and she also paid homage to the Buddha. The Buddha then gave a discourse. At the end of the discourse, Kana attained Sotapatti Fruition.

On the way back to the monastery, the Buddha met King Pasenadi of Kosala. On being told about Kana and her bitter attitude towards the bhikkhus, King Pasenadi asked the Buddha whether he had been able to teach her the Dhamma and, make her see the Truth (Dhamma). The Buddha replied, "Yes, I have taught her the Dhamma, and I have also made her rich in her next existence." Then the king promised the Buddha that he would make Kana rich even in this existence. The king then sent his men with a palanquin to fetch Kana. When she arrived, the king announced to his ministers, "Whoever can keep my daughter Kana in comfort may take her." One of the ministers volunteered to adopt Kana as his daughter, gave her all his wealth, and said to her, "You may give in charity as much as you like." Everyday, Kana made offerings to the bhikkhus at the four city-gates. When told about Kana giving generously in charity, the Buddha said, "Bhikkhus, the mind of Kana which was foggy and muddled was made clear and calm by my words."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 82: Like a lake which is deep, clear and calm, the wise after listening to the Teaching (Dhamma) become serene.

Dhammapada Verse 82
Kanamata Vatthu

Yathapi rahado gambhiro
vippasanno anavilo
evam dhammani sutvana
vippasidanti pandita.

Verse 82: Like a lake which is deep, clear and calm, the wise after listening to the Teaching (Dhamma) become serene.


dhp083_B
Verse-Kệ 083

(67).- Tích chuyện về mùa an-cư ở Vệ-lan-già - Kệ số 083

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến mùa an-cư ở Vệ-lan-già.

 

Thuở ấy, có một người Bà-la-môn ở làng Vệ-lan-già thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến làng ông ta, để qua mùa an-cư kiết-hạ. Khi Đức Phật và chư Tăng đến làng, thì vị Bà-la-môn chẳng thể cung-ứng nhu-cầu thực-phẩm cho Tăng-đoàn nổi, vì lúc ấy làng Vệ-lan-già đang bị nạn đói-kém. Bấy giờ, Đức Phật cùng các tỳ-kheo hằng ngày phải dùng lúa mã-mạch, do các người buôn ngựa cúng-dường. Mặc dầu vậy, chư Tăng chẳng thấy buồn lòng, vẫn tinh-tấn tu-tập. Đến cuối mùa mưa, Đức Phật từ-giả vị Bà-la-môn, để cùng chư Tăng trở về tịnh-xá Kỳ-viên. Nơi đây dân-chúng rất vui mừng tiếp-đón Đức Phật và dâng-cúng thực-phẩm thượng hảo-hạng.

 

Có một nhóm người nghèo-khó ở làng Vệ-lan-già, đến sống nhờ bên chư Tăng trong thời-gian bị nạn đói, đến khi chư Tăng về chùa Kỳ-viên, họ cũng đi theo. Nơi đây, họ được ăn uống đầy-đủ, nên cả ngày, ăn no xong, họ lại lăn ra ngủ, tỉnh-dậy ca hát, nhảy múa tưng-bừng. Vào một buổi chiều, Đức Phật đến viếng chư Tăng, các tỳ-kheo trình Phật việc ồn-ào do nhóm người ấy gây ra. Đức Phật bảo: "Các người ấy, trong thời-gian ở Vệ-lan-già, đã tỏ ra đàng-hoàng, cam chịu cực-khổ với các tỳ-kheo, nay họ được ăn uống sung-sướng nên lộ vẻ vui-mừng thái-quá. Tuy nhiên, đối với tỳ-kheo dầu nay được thoả-mãn mọi nhu-cầu, cũng nên giữ thái-độ bình-thản như lúc còn sống khổ-cực ở Vệ-lan-già vậy. Người hiền-trí, khác với kẻ còn ngu-mê, dầu trong hoàn-cảnh nào, cũng giữ tâm thản-nhiên, chẳng buồn thái-quá, cũng chẳng vui ồn-ào".

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người hiền dứt hết điều tham-luyến;

Ái-dục, thánh-nhơn chẳng luận-bàn.

Điềm-nhìên, người trí tâm an,

Chẳng vui bồng-bột, chẳng than khi sầu.

(Kệ số 083.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- An-cư kiết-hạ: Theo giới-luật nhà Phật, vào muà mưa chư Tăng quay về Tînh-xá, chẳng ra ngoài khất-thực, vì sợ đạp chết côn-trùng. Ở yên trong tịnh-xá, gọi là an-cư, qua hết mùa hè, gọi là kiết-hạ. Trong thời-gian nầy, nhờ các thiện-nam, tín-nữ đem vật-thực đến tịnh-xá cúng-dường, chư Tăng-ni chuyên lo tu-hành cho tinh-tấn.

 

- Vệ-lan-già: tên thật làng nầy, tiếng Pali là Veranjà.

 

- Cung-ứng = cung-cấp đầy-đủ.

 

- Nhu-cầu thực-phẩm: Nhu-cầu = sự cần-dùng; Thực-phẩm = đồ ăn

 

- Lúa mã-mạch = một loại lúa dùng để cho ngựa ăn.( mã = ngựa)

 

- Thượng hảo-hạng: Thượng = cao, trên; Hảo = tốt; Hạng = thứ. Thượng-hảo-hạng là tốt vào bực nhứt.

 

-Thái-quá = quá mức.

 

- Bình-thản, Điềm-nhiên, Thản-nhiên: trong lòng an-ổn, chẳng quá vui mà cũng chẳng quá buồn, trầm-tĩnh, an-nhiên.

 

- Tham-luyến: ham-mê quá độ, chẳng dứt bỏ ra được.

 

- Ái-dục: Ái = thương; Dục = muốn. Ái-dục là tình-cảm xấu, chẳng giống với tình thương thông-thường, vì ái-dục khiến ta tham-đắm, mê-say, chẳng dứt bỏ được. Chính ái-dục (tiếng Pali là tanha) đẩy con người trôi lăn mãi trong cảnh khổ sanh-tử của Luân-hồi. Đó là nguyên-nhơn gây ra đau-khổ, Chơn-lý thứ hai, Tập-đế, trong Tứ-Diệu-đế được Đức Phật chỉ dạy trong Kinh Chuyển Pháp-Luân.

 

- Thánh-nhơn: Thánh = bực đã giác-ngộ và giải-thoát, chẳng còn tái-sanh trong vòng Luân-hồi nữa. Trái nghĩa với chữ phàm-phu.

 

- Sầu = buồn-rầu.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Xin Lưu-ý: Trong quyển Phật-Học Từ-Điển của Đoàn-Trung-Còn, nơi chữ Mã-mạch, có thuật lại chuyện Đức Phật phải ăn luá-ngựa trong muà an-cư kiết-hạ, cũng giống như Tích chuyện được nói ở đây. Theo quyển Từ-điển, vua A-kỳ-đạt thỉnh Phật vào thành trong ba tháng hè, nhưng vì mải-mê theo các thú-vui, nhà Vua lại quên mất việc cúng-dường Tăng-đoàn, khiến cho Đức Phật và các tỳ-kheo phải chịu cực-khổ.

 

Trong Tích chuyện ở đây, chỉ vì dân làng Vệ-lan-già bi nạn đói-kém mà vị Bà-la-môn đã chẳng cung-ứng nổi thực-phẩm cho Tăng-đoàn trong mùa an-cư. Ý-nghĩa của Tích chuyện muốn nói lên là sự vui lòng cam chịu khổ-sở và tinh-tấn tu-hành của chư vị Tỳ-kheo trong mùa an-cư.

 

Còn một ý-nghĩa quan-trọng nữa là lời dạy của Đức Phật: "Phải giữ tâm luôn luôn an-tịnh, bình-thản, trước mọi hoàn-cảnh; khi gặp thuận-duyên, chớ quá vui-mừng; khi gặp nghịch-cảnh, chớ quá ưu-sầu." Thực-hành đúng lời Phật dạy, người tu-hành biết gìn-giữ tâm-ý, chẳng để ngoại-cảnh chi-phối lòng mình; nhờ đó mà dễ có được định-tâm khi hành Thiền, để phát-triển Trí-huệ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 083:

 

Bài Kệ dạy ta hai điều:

 

- dứt bỏ sự tham-luyến, ái-dục . Tại sao phải dứt bỏ? Vì chính sự tham-ái, hay ái-dục là nguyên-nhơn gây khổ-đau cho cuộc đời.

 

- giữ tâm điềm-nhiên: Giữ như thế nào? Khi vui, chẳng bồng-bột; khi buồn, chẳng quá ưu-sầu. Giữ cách nào? Tập kềm-chế lòng mình, bỏ tánh vọng-động, tập tánh ít nói.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ để giữ-gìn tâm-ý thanh-tịnh.

 

2.- Thử đề-nghị vài thái-độ khi gặp việc buồn:

 

- Việc buồn đã xãy ra cho mình rồi, bây giờ có buồn thêm nữa cũng chẳng làm cho việc ấy chẳng xãy ra được. Tưởng nên ngồi yên lại, xét xem có thể làm điều gì để sửa đổi được hoàn-cảnh chăng; nếu không, thì nên vui lòng chấp-nhận, xem đó như là hậu-quả chẳng may do nghiệp cũ của mình trước đây gây ra, vậy thôi.

 

- Muốn mau quên nỗi buồn, cần kiếm việc khác làm cho khuây lãng; đừng nhắc đi nhắc lại trong lòng việc chẳng may đã xãy ra. Nên nhắc nhở trong lòng hai câu chót của bài Kệ số 083:

 

Điềm-nhiên, người trí tâm an,

Chẳng vui bồng-bột, chẳng than khi sầu!

The Story of Five Hundred Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (83) of this book, with reference to five hundred bhikkhus.

At the request of a brahmin from Veranja, the Buddha was, on one occasion, staying at Veranja with five hundred bhikkhus. While they were at Veranja, the brahmin failed to look after them. The people of Varanja, who were then facing a famine, could offer very little to the bhikkhus when they went on their rounds for alms-food. In spite of all these hardships, the bhikkhus were not disheartened; they were quite contented with the small amount of shrivelled grain which the horse-traders offered them daily. At the end of the vasa, after informing the brahmin from Veranja, the Buddha returned to the Jetavana monastery, accompanied by the five hundred bhikkhus. The people of Savatthi welcomed them back with choice food of all kinds.

A group of people living with the bhikkhus, eating whatever was left over by the bhikkhus, ate greedily like true gluttons and went to sleep after their meals. On waking up, they were shouting, singing and dancing, thus making themselves a thorough nuisance. When the Buddha came in the evening to the congregation of bhikkhus, they reported to him about the behaviour of those unruly persons, and said, "These people living on the leftovers were quite decent and well-behaved when all of us were facing hardship and famine in Veranja. Now that they have enough good food they are going about shouting, singing and dancing, and thus make themselves a thorough nuisance. The bhikkhus, however, behave themselves here just as they were in Veranja".

To them the Buddha replied, "It is in the nature of the foolish to be full of sorrow and feel depressed when things go wrong, and to be full of gladness and feel elated when things go well. The wise, however, can withstand the ups and downs of life."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 83: Indeed, the virtuous give up all (i.e., attachment to the five khandhas, etc.); the virtuous (lit., the tranquil) do not talk with sensual desire; when faced with joy or sorrow, the wise do not show elation or depression.

Dhammapada Verse 83
Pancasatabhikkhu Vatthu

Sabbattha ye sappurisa cajanti
na kamakama lapayanti santo
sukhena phuttha atha va dukhena
na uccavacam pandita dassayanti.

Verse 83: Indeed, the virtuous give up all (i.e., attachment to the five khandhas, etc.); the virtuous (lit., the tranquil) do not talk with sensual desire; when faced with joy or sorrow, the wise do not show elation or depression.


dhp084_B
Verse-Kệ 084

(68).- Tích chuyện Trưởng-lão Đàm-mi-kha - Kệ số 084

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến Trưởng-lão Đàm-mi-kha.

 

Thuở ấy, vợ chồng ông Đàm-mi-kha sống tại nước Xá-vệ. Một hôm, ông bảo vợ rằng ông muốn xuất-gia đi tu. Vợ ông đang có thai, xin ông hãy chờ cho bà sanh con xong rồi hãy đi. Sau khi vợ sanh xong, ông Đàm nhắc lại ý-định muốn trở thành một vị tỳ-kheo. Người vợ lại năn-nỉ, con hãy còn quá nhỏ, xin ráng đợi thêm một thời-gian chờ cho con biết đi rồi hãy vào chùa. Bấy giờ, ông Đàm nghĩ rằng: "Ta đâu cần được vợ cho phép rồi mới đi tu. Ta hãy cứ tự lo lấy việc giải-thoát cho chính mình." Rồi với quyết-tâm vững-chắc rời bỏ cuộc sống thế-tục, ông Đàm xin gia-nhập Tăng-đoàn. Sau đó, tỳ-kheo Đàm-mi-kha đến xin Đức Phật chỉ-dạy cho một đề-tài thiền-quán, rồi với nhiệt-tâm, ông Đàm hành thiền ngày đêm, chẳng bao lâu, chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Mười mấy năm sau, Trưởng-lão Đàm-mi-kha trở lại nhà cũ với mục-đích là chỉ dạy Chánh-pháp cho vợ con. Người con nghe hiểu được, mới cùng cha vào chùa xin làm tỳ-kheo. Chẳng bao lâu, người con tinh-tấn tu-hành, cũng chứng được quả A-la-hán. Người vợ ở nhà một mình, thường nghĩ: "Chồng ta, con ta nay đã đi tu hết rồi, ta còn ở lại nhà làm chi, sao ta chẳng đi tu luôn?" Nghĩ xong, bà đến nữ-tu-viện, xin xuất-gia làm tỳ-kheo-ni. Rồi theo với thời-gian, bà cũng chứng-đắc quả A-la-hán.

 

Trong một kỳ hội-họp chư Tăng, có vị tỳ-kheo trình Đức Phật việc Trưởng-lão Đàm-mi-kha cùng vợ con đồng đi tu, chứng được quả-vị, Đức Phật mới nói rằng: "Nầy các tỳ-kheo! Một người hiền-trí chẳng vì sự giàu-sang, danh-vọng cho mình hay cho kẻ khác mà làm quấy. Người hiền-trí biết chọn con đường giác-ngộ và giải-thoát cho chính mình, để ra khỏi cảnh sanh-tử của Luân-hồi, bằng cách tu-tập chuyên-cần theo Chánh-pháp."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chẳng vì mình, chẳng vì người khác

Mà có những hành-động lầm-lạc.

Chẳng cầu được con-cái, giàu-sang,

Chẳng vì thích ngai vàng trong nước,

Mà có những hành-vi bạo-ngược.

Chẳng mong tìm thành-công cho được

Mà phải dùng phương-tiện chẳng ngay.

Đó mới thật là người hiền-trí,

Giới-đức cao, sống theo Chánh-pháp.

(Kệ số 084.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Đàm-mi-kha: tên thật của vị Trưởng-lão tiếng Pali là Dhammika.

 

- Thế-tục: đời sống trong xã-hội, có gia-đình con cái.

 

- Đề-tài thiền-quán: một đầu-đề dùng để suy-nghĩ trong khi ngồi Thiền; thí-dụ như quán tấm thân bất-tịnh, suy-nghĩ về các chỗ dơ-bẩn trong thân mà sanh ra nhàm-chán thân, chẳng chạy theo các thú-vui vật-chất nữa.

 

- Quả-vị A-la-hán: đây là quả-vị Thánh, thứ tư, cao nhứt. Người chứng A-la-hán chẳng còn phải tái-sanh trong cõi Luân-hồi, sống trong cảnh an-vui của Niết-bàn. Tiếng Pali, quả A-la-hán là Arahat.

 

- Hiền-trí: bực hiền-lành và có trí-huệ, thông-hiểu Chánh-pháp.

 

- Luân-hồi: Luân = bánh xe; Hồi = trở lại. Theo giáo-lý nhà Phật, chúng-sanh sau khi chết đi, phải tái-sanh lại, rồi lại chết đi nữa, cứ như thế mãi mà phải chịu cảnh khổ trong cuộc sống. Tiếng Pali là Samsàra.

 

- Thích ngai vàng trong nước: Ngai vàng là ngôi vua. Chẳng thích làm vua.

 

- Hành-vi bạo-ngược: việc làm tàn-ác, đánh giết người để giành lấy chỗ giàu-sang, quyền-thế.

 

- Phương-tiện chẳng ngay: những cách bất-chánh để đoạt điều mình muốn, như gian-tham, lừa-đảo, giết-hại, v.v.

 

- Giới-đức cao = tánh-tình, hạnh-kiểm tốt, biết theo giới-luật.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, kể lại việc một người quyết-tâm lià bỏ đời sống ràng-buộc của thế-tục, đi tu chứng quả A-la-hán; sau đó trở về chỉ dạy Chánh-pháp cho vợ con, khiến cho cả gia-đình đều được giải-thoát.

 

Trong Tích chuyện, có câu: "Ta đâu cần được vợ cho phép rồi mới đi tu.", có thể gây sự hiểu-lầm trong những người còn sống đời sống thế-tục. Thông-thường có người vì làm ăn thất-bại, chán đời, bỏ gia-đình đi tu tìm nguồn an-ủi. Đó chẳng phải là trường-hợp của Trưởng Đàm-mi-kha; vị nầy dứt-khoát cắt bỏ mọi sự luyến-ái về gia-đình, đi tu tìm sự giải-thoát cho đời mình, sau đó trở về chỉ-dạy lại cho vợ con. Còn những người trốn nợ đời đi tu thì khác, bỏ phế gia-đình cho vợ con. Ta nên thu-xếp việc nhà cho xong, trước khi vào chùa học Đạo. Theo giới-luật của Phật, con cái muốn đi tu, phải được sự ưng-thuận của mẹ cha; chẳng thấy có điều luật nào trong giáo-lý buộc chồng hay vợ phải được sự ưng-thuận trước của người hôn-phối ( = vợ hay chồng), rồi mới đi tu.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 084:

 

Bài Kệ hơi dài, xin phân-tách ra hai phần: (1) bảy câu đầu nói về những việc sai-lầm mà người hiền-trí biết tránh được; (2) hai câu chót nói về đức-tánh của bực hiền-trí.

 

- Chẳng vì mình hay vì kẻ khác mà làm quấy: đây muốn nói đến các sự tranh-giành trong cuộc sống, để lấy lợi cho mình và gia-đình mình

 

- Chẳng thích được con khôn, giàu-sang, quyền-thế: đây muốn nói đến hạnh khước-từ: lià bỏ hạnh-phúc gia-đình, lià bỏ danh-lợi.

 

- Chẳng mong thành-công bằng phương-tiện bất-chánh: đây muốn nói về Chánh-mạng, mưu-sanh bằng phương-tiện chơn-chánh.

 

- Đức-tánh quan-trọng nhứt của bực hiền-trí: giữ giới thật nghiêm.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ; ghi nhớ các điều cần tránh để giữ giới.

 

2.- Mỗi khi sắp đến chùa, nên thu-xếp việc nhà cho xong trước đó vài hôm, để khỏi bận-tâm. Đừng hẹn để làm xong việc nầy, việc kia, rồi mới đi chùa. Công-việc nhà bề-bộn, bao giờ làm cho xong hết được!

The Story of Thera Dhammika

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (84) of this book, with reference to Thera Dhammika.

Dhammika lived in Savatthi with his wife. One day, he told his pregnant wife that he wished to become a bhikkhu; his wife pleaded with him to wait until after the birth of their child. When the child was born, he again requested his wife to let him go; again, she pleaded with him to wait until the child could walk. Then Dhammika thought to himself, "It will be useless for me to ask my wife for her approval to join the Order; I shall work for my own liberation." Having made a firm decision, he left his house to become a bhikkhu. He took a subject of meditation from the Buddha and practised meditation ardently and diligently and soon became an arahat.

Some years later, he visited his house in order to teach the Dhamma to his son and his wife. His son entered the Order and he too attained arahatship. The wife then thought, "Now that both my husband and my son have left the house, I'd better leave it, too." With this thought she left the house and became a bhikkhuni; eventually, she too attained arahatship.

At the congregation of the bhikkhus, the Buddha was told how Dhammika became a bhikkhu and attained arahatship, and how through him his son and his wife also attained arahatship. To them the Buddha said, "Bhikkhus, a wise man does not wish for wealth and prosperity by doing evil, whether it is for his own sake or for the sake of others. He only works for his own liberation from the round of rebirths (samsara) by comprehending the Dhamma and living according to the Dhamma."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 84: For his own sake or for the sake of others, he does no evil; nor does he wish for sons and daughters or for wealth or for a kingdom by doing evil; nor does he wish for success by unfair means; such a one is indeed virtuous, wise and just.

Dhammapada Verse 84
Dhammikatthera Vatthu

Na attahetu na parassa hetu
na puttamicche na dhanam na rattham
na iccheyya adhammena samiddhimattano
sa silava pannava dhammiko siya.

Verse 84: For his own sake or for the sake of others, he does no evil; nor does he wish for sons and daughters or for wealth or for a kingdom by doing evil; nor does he wish for success by unfair means; such a one is indeed virtuous, wise and just.


dhp085_B
dhp086_B
Verse-Kệ 085-086

(69).- Tích chuyện những người nghe giảng pháp - Kệ số 085 và 086

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến nhóm người thức khuya nghe giảng-pháp.

 

Thuở ấy, tại một làng trong nước Xá-vệ, có một nhóm dân-chúng thỉnh chư Tăng đến cúng-dường thực-phẩm, xong họ thỉnh-cầu chư Tăng tổ-chức một buổi thuyết-pháp về đêm. Đêm ấy, dân làng đến tham-dự rất đông. Vào nửa đêm, một số người mỏi-mệt, bỏ ra về. Một số khác ngồi nán lại, nhưng càng về khuya, họ ngủ gục tại chỗ, chẳng theo dõi được bài giảng. Chỉ một số rất ít người chăm-chú nghe đến hết thời pháp.

 

Sáng sớm hôm ấy, khi chư Tăng đến đảnh-lễ Đức Phật, có vị tỳ-kheo trình Phật quang-cảnh dân-chúng nghe pháp đêm qua, Đức Phật nói: "Đa-số thường-dân còn bị ràng-buộc vào cuộc sống ở thế-gian, chỉ có một số rất ít người vượt đến bờ giác của cảnh-giới Niết-bàn."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Một ít người, trong đám đông nhơn-loại,

Vượt qua dòng đến bờ giác bên kia.

Số còn lại đang quay-quần đông-đảo,

Ngược xuôi tất-tả ở cả bờ nầy.

(Kệ số 085.)

 

Nhưng những người thực-hành theo Chánh-pháp,

Đã được khéo tuyên-giảng thật rõ-ràng,

Sẽ đến bên bờ giác-ngộ Niết-bàn,

Thoát khỏi cõi tử-sanh rất khó vượt.

(Kệ số 086.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Thời pháp = thời-gian đang nói chuyện về giáo-lý.

 

- Đảnh-lễ = cúi đầu làm lễ lạy chào.

 

- Vượt đến bờ giác: Bờ giác = sự giác-ngộ, tức là hiểu rõ lẽ sống chết ở đời, biết tu-tập theo đường ngay nẻo phải. Trong kinh sách, thường ví những người chẳng biết Chánh-pháp, chẳng chịu tu-hành, là những người còn đứng ở bờ bên nầy, chưa giác-ngộ, còn bị dòng sông mê-lầm ngăn-cách; còn những người thông-hiểu Chánh-pháp, biết thực-hành theo là, người giác-ngộ, vượt đến bờ giác-ngộ bên kia. Trong kinh sách Hán-Việt, gọi bờ bên nầy là thử ngạn (thử = nầy; ngạn =bờ), còn bờ bên kia là bỉ-ngạn; vượt đến bờ giác là đáo bỉ ngạn (đáo = đến; bỉ = kia).

 

- Cảnh-giới Niết-bàn: xin nhắc lại, cảnh-giới Niết-bàn chẳng phải là một chỗ trong không-gian, đó là tâm-trạng của người dứt hết phiền-não, sống an-nhiên, tự-tại. Tiếng Pali là Nirvana = ra khỏi rừng u-tối.

 

- Nhơn-loại = loài người.

 

- Tất-tả = lăng-xăng lo-lắng, khổ-sở.

 

- Tuyên-giảng = giảng thật rõ-ràng, dễ hiểu cho mọi người nghe.

 

- Cõi Tử-sanh: Tử = chết; sanh = sanh ra đời. Cõi tử-sanh là cõi sanh ra để rồi lại chết đi rồi tái-sanh nữa, sống ở đời sướng ít khổ nhiều nầy.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa Tích chuyện:

 

Tích chuyện chỉ nhắc lại trong trường-hợp nào Đức Phật nói lên hai bài Kệ số 085 và 086.

 

(2) Ý-nghã các bài Kệ số 085 và 086:

 

Hai bài kệ cùng nhận-xét về hoàn-cảnh của nhơn-loại, còn đang chìm-đắm trong sự mê-lầm, nên bị trôi-lăn mãi trong vòng tử-sanh, sanh-tử của Luân-Hồi. Chỉ một số ít thông-hiểu Chánh-pháp mới vượt đến bờ giác, thoát khỏi vòng tử-sanh lận-đận.

 

Câu chót của bài Kệ thứ nhì nói, thoát khỏi cõi tử-sanh rất khó vượt. Tại sao rất khó vượt qua? Vì phải có đủ Phước và Huệ mới vượt qua được. Tu Phước, làm việc thiện để tiêu-trừ các tội-ác cũ đã lỡ làm; Tu Huệ để có Trí biết lià-bỏ các sự phiền-não, ràng-buộc của Luân-hồi.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng hai bài Kệ, và cố gắng tập sống đúng Chánh-Pháp, theo đường-lối Phước-Huệ song tu, mới mong sớm đến bờ giác.

The Story of Dhamma Listeners

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (85) and (86) of this book, with reference to a congregation of people who had come to listen to a religious discourse in Savatthi.

On one occasion, a group of people from Savatthi made special offerings to the bhikkhus collectively and they arranged for some bhikkhus to deliver discourses throughout the night, in their locality. Many in the audience could not sit up the whole night and they returned to their homes early; some sat through the night, but most of the time they were drowsy and half-asleep. There were only a few who listened attentively to the discourses.

At dawn, when the bhikkhus told the Buddha about what happened the previous night, he replied, "Most people are attached to this world; only a very few reach the other shore (Nibbana)."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 85: Few among men reach the other shore (Nibbana); all the others only run up and down on this shore.

 

Verse 86: But those who practise according to the well-expounded Dhamma will reach the other shore (Nibbana), having passed the realm of Death (i.e., samsara), very difficult as it is to cross.


Dhammapada Verses 85 and 86
Dhammassavana Vatthu

Appaka te manussesu
ye jana paragamino
athayam itara paja
tiramevanudhavati
1

Ye ca kho sammadakkhate
dhamme dhammanuvattino
te jana paramessanti
2
maccudheyyam
suduttaram.

Verse 85: Few among men reach the other shore (Nibbana); all the others only run up and down on this shore.

Verse 86: But those who practise according to the well-expounded Dhamma will reach the other shore (Nibbana), having passed the realm of Death (i.e., samsara), very difficult as it is to cross.


1. tiramevanudhavati: tiram + eva + anudhavati: shore + only this + run up and down: according to the Commentary 'only this shore' in this context means sakkayaditthi (ego belief).

2. paramessanti: param + essanti: the other shore + will reach. The other or opposite shore is metaphorically used for Nibbana.

3. maccudheyyam: the realm of Death (or samsara, round of rebirths).


 dhp087_B
dhp088_B
dhp089_B
Verse-Kệ 087-089

(70).- Tích chuyện các Tỳ-kheo sau mùa an-cư - Kệ số 087, 088, 089

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các vị tỳ-kheo sau mùa an-cư đến đảnh-lễ Đức Phật.

 

Thuở ấy có năm trăm vị tỳ-kheo sau mùa an-cư kiết-hạ ở nước Câu-tát-la, đi đến tịnh-xá Kỳ-viên, đảnh-lễ Đức Phật. Trong dịp nầy, Đức Phật có nói lên ba bài Kệ sau đây:

 

Người hiền-trí lià nhà khát-ái,

Chọn mục-tiêu là cõi Niết-bàn.

Bỏ ác-pháp là đàng tăm-tối,

Theo nẻo lành thiện-đạo sáng soi.

(Kệ số 087.)

 

Tìm thoả-thích trong hạnh khước-từ

Rất khó cho phàm-phu thọ-hưởng;

Dứt dục-lạc, chẳng gì tríu-mến,

Bỏ nhiễm-ô, thanh-lọc thân-tâm.

(Kệ số 088.)

 

Người đã thấm-nhuần Thất-giác-chi,

Đã cắt đứt những gì tham-ái,

Là người đang thọ-hưởng hạnh viễn-ly.

Bực người ấy nhiễm-ô đà rửa sạch,

Tâm-trí sáng ngời đạo-quả Vô-sanh,

Hiện-đời đang chứng Hữu-dư Niết-bàn.

(Kệ số 089.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Muà an-cư kiết-hạ: xin nhắc lại, theo giáo-lý của nhà Phật, vào mùa mưa, các vị tỳ-kheo chẳng ra ngoài để khất-thực, vì sợ đạp chết côn-trùng, ở lại tịnh-xá tu-tập.An-cư = ở yên; kiết-hạ = qua mùa hè.

 

- Câu-tát-la: tên nước nầy tiếng Pali là Kosala.

 

- Nhà khát-ái: ý muốn nói đến sự thèm-khát, ham-muốn.

 

- Ác-pháp = việc làm ác, tội-lỗi.

 

- Thiện-đạo: Thiện = lành; đạo = đường.

 

- Hạnh khước-từ: Hạnh = hành-động; Khước-từ = từ-bỏ, chẳng luyến-tiếc; thí-dụ như đang giàu-có, bỏ tài-sản lại đi tu để giải-thoát.

 

- Thọ-hưởng: Thọ = nhận. Tại sao lại Rất khó cho phàm-phu biết thọ-hưởng sự thoả-thích trong hạnh khước-từ. Vì phàm-phu thích thọ-hưởng về vật-chất, chẳng muốn khước-từ sự sung-sướng nhứt-thời để tìm nguồn vui lâu-dài là được giải-thoát.

 

- Dục-lạc: Dục = ham-muốn; Lạc = vui. Chữ nầy chỉ vào các thú-vui vật-chất, thấp-kém của cuộc đời, so với nguồn vui cao-thượng được giải-thoát vĩnh-viễn khỏi cõi Luân-hồi.

 

- Nhiễm-ô: Nhiễm = lây, dính dơ; Ô = đen-tối, dơ-dáy, bẩn-thỉu.

 

- Thanh-lọc = làm cho trong sạch, tinh-khiết hơn.

 

- Thất-giác-chi: Thất = bảy; Giác = biết rõ; Chi = nhánh, cành. Thất-giác-chi (Pali: Bojjhangà) là bảy yếu-tố của sự giác-ngộ: (1)niệm (Sati), (2) trạch-pháp (lựa chọn pháp-tu, Pali: Dhamma-vicaya), (3) tinh-tấn (Viriya), (4) hỷ (vui, Pali: Piti), (5) khinh-an (nhẹ-nhàng, than-thản, Pali: Passadi), (6)định (samàdhi), (7) xả (buông-bỏ, Pali: Upekkha).

 

- Viễn-ly: Viễn = xa; ly = lià-bỏ. Hạnh viễn-ly là hạnh khước-từ, lià bỏ, chẳng quyến-luyến, chẳng tham-ái.

 

- Đạo-quả Vô-sanh: Đạo = con đường tu-tập (Pali =Magga); Quả = kết-quả chứng được (Pali = Phala); Vô-sanh = chẳng bị tái-sanh nữa trong cõi Luân-hồi; Chứng được Đạo-quả Vô-sanh là chứng được Niết-bàn.

 

- Hữu-dư Niết-bàn: Hữu = có; Dư = dư-y, tức là tấm thân hiện có., còn chịu quả-báo. Chứng Hữu-dư Niết-bàn là hiện còn sống nhưng đã diệt-tận hết tất cả các phiền-não và lậu-hoặc. Khi lià thân-xác nầy, sẽ chứng Vô-dư Niết-bàn, chẳng còn tái-sanh nữa, như ngọn đèn hết dầu.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyên chỉ kể lại trong trường-hợp nào (sau muà an-cư), Đức Phật đã nói lên ba bài Kệ số 087, 088 và 089 để chỉ-dạy chư Tăng.

 

(2) Ý-nghĩa của ba bài Kệ số 087, 088 và 089:

 

- Nơi bài Kệ số 087 Đức Phật dạy ta phải lià nhà khát-ái, tức là lià-bỏ các thú-vui về thể-xác, mà chọn mục-tiêu là chứng-đắc Niết-bàn. Nói cách khác, ta đừng tríu-mến sự sung-sướng tạm-bợ về vật-chất, tránh các lỗi-lầm của ác-pháp, theo con đường thiện-đạo làm lành, để sớm dứt sạch các phiền-não, lậu-hoặc, chứng được tâm thanh-tịnh, sống an-vui.

 

- Nơi bài Kệ số 088, Đức Phật dạy ta về hạnh khước-từ, nghĩa là từ bỏ danh-lợi vật-chất, chẳng quyến-luyến vào của-cải, gia-đình, điạ-vị, v.v. để chuyên-tâm tu-hành. Đức Phật nói, phàm-phu rất khó biết hưởng các lợi-lạc của hạnh khước-từ. Tại sao vậy? Vì phàm-phu ham các thú-vui vật-chất, bảo bỏ đi mà tu-hành, thì chẳng chịu. Có biết đâu rằng, càng chạy theo thú-vui vật-chất, càng bị thêm phiền-não. Hễ mình bớt tham, bớt giận, bớt si-mê, thì lòng mình được nhẹ-nhàng thanh-thản, đó là nguồn vui cao-cả, mà ít người biết hưởng.

 

- Nơi bài Kệ số 089, Đức Phật dạy về Thất-giác-chi, là bảy yếu-tố của sự giác-ngộ. Nhờ có chánh-niệm (niệm), giữ-gìn tâm-ý mà sáng-suốt biết chọn đúng con đường (trạch-pháp) phù-hợp với mình mà tu-tập. Trong khi tu-tập chuyên-cần (tinh-tấn), ta sẽ được nguồn vui thấy tâm mình trở nên vui-vẻ, nhẹ-nhàng (hỷ và khinh-an), nhờ đó mà sớm đắc được định-tâm (đînh), dẫn đến Trí-huệ sáng-suốt. Dầu đã được định và huệ rồi, vẫn tiếp-tục tu-hành, chẳng sanh ra kiêu-căng vì được đạo-quả, đó là hạnh xả, còn gọi là hạnh viễn-ly, giữ tâm bình-thản, chẳng quá vui, cũng chẳng quá buồn. Đó là ngưỡng-cửa của Niết-bàn tại thế-gian.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng cả ba bài Kệ, đó là đường-lối tu-hành để chứng-đắc Niết-bàn, ngay trong hiện-đời.

 

2.- Ba bài kệ nầy rất cao, Đức Phật chỉ dạy cho các tỳ-kheo; nhưng người Phật-tử tại-gia, dầu chẳng thi-hành được hết, cũng có thể nhớ các điểm nầy: (1) phải dẹp lòng khát-ái, biết từ-khước các thú-vui vật-chất nhỏ-mọn; (2) áp-dụng hai điều quan-trọng của Thất-giác-chi: chọn đúng con đường tu (trạch-pháp) và chuyên-cần (tinh-tấn) tu theo con đường ấy.

The Story of Five Hundred Visiting Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (87), (88) and (89) of this book, with reference to five hundred visiting bhikkhus.

Five hundred bhikkhus who had spent the vassa in Kosala came to pay homage to the Buddha at the Jetavana monastery, at the end of the vassa.

The Buddha uttered the following three verses to suit their various temperaments:

Verses 87 & 88: The man of wisdom, leaving the home of craving and having Nibbana as his goal, should give up dark, evil ways and cultivate pure, good ones. He should seek great delight in solitude, detachment and Nibbana, which an ordinary man finds so difficult to enjoy. He should also give up sensual pleasures, and clinging to nothing, should cleanse himself of all impurities of the mind.

 

Verse 89: Those, with mind well-developed in the seven Factors of Enlightenment (bojjhanga), having rid themselves of all craving, rejoice in their abandonment of attachment. Such men, with all moral intoxicants eradicated, and powerful (with the light of Arahatta Magganana), have realized Nibbana in this world (i.e., with Khandha aggregates remaining).

Dhammapada Verses 87, 88 and 89
Pancasata Agantukabhikkhu Vatthu

Kanham dhammam vippahaya
sukkam bhavetha pandito
oka anokamagamma
1
viveke
2 yattha duramam.

Tatrabhiratimiccheyya
hitva kame akincano
3
pariyodapeyya attanam
cittaklesehi
pandito.

Yesam sambodhiyangesu5
samma cittam subhavitam
adanapatinissagge
anupadaya ye rata
khinasava
6 jutimanto7
te loke parinibbuta.
8

Verses 87 & 88: The man of wisdom, leaving the home of craving and having Nibbana as his goal, should give up dark, evil ways and cultivate pure, good ones. He should seek great delight in solitude, detachment and Nibbana, which an ordinary man finds so difficult to enjoy. He should also give up sensual pleasures, and clinging to nothing, should cleanse himself of all impurities of the mind.

Verse 89: Those, with mind well-developed in the seven Factors of Enlightenment (bojjhanga), having rid themselves of all craving, rejoice in their abandonment of attachment. Such men, with all moral intoxicants eradicated, and powerful (with the light of Arahatta Magganana), have realized Nibbana in this world (i.e., with Khandha aggregates remaining).


1. oka anakamagamma; lit., having gone from home to the homeless. In this context interpreted as leaving the seat of craving and having Nibbana as a goal.

2. viveke: solitude, detachment, Nibbana.

3. akincano: lit., having nothing; clinging to nothing. (The term kincana may include any of the kilesas or defilements such as passion, ill will, ignorance, etc; it also means clinging or attachment to the world.)

4. cittaklesehi: citta kilesa: impurities of the mind.

5. sambodhiyangesu: sambojjhanga: the Factors of Enlightenment or requisites for attaining Magga Insight.

6. khinasava: one in whom human passions are extinguished; an arahat.

7. jutimanta: one endowed with the power of Arahatta Magganana.

8. te loke parinibbuta: the realization of Nibbana in the realm of the five aggregates (khandhas), or in other words, in this world. But according to the Commentary, in this context, both Sa-upadisesaand Anupadisesa Nibbana are meant. Sa-upadisesa or Kilesa Nibbana is Nibbana with groups of existence or khandhas remaining; it is realized by an arahat on the attainment of arahatship. Anupadisesa or Khandha Nibbana is Nibbana without groups of existence or khandhas remaining. It takes place on the death of an arahat.

End of Chapter Six: The Wise (Panditavagga)


__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 583)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 341)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 371)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 302)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 327)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 384)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1125)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 605)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 423)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 831)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4104)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8320)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1278)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 557651)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1713)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 730)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 932)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
27 Tháng Hai 20188:42 CH(Xem: 824)
Tôi có quen một ông bạn, ông ta nói rằng ông ta thường xuyên quên chỗ để cây bút, và ông cũng thường xuyên mất bút. Vì thế, ông chỉ xử dụng những cây bút rẻ tiền, để ông ta khỏi phải phiền muộn về chuyện mất bút. Ông lo lắng về thói quen bất cẩn nầy.
14 Tháng Hai 20188:00 SA(Xem: 1228)
* Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi, mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó. * Á a a a. Nhấp chén đầy vơi chúc người, người vui. Á a a a. Muôn lòng xao xuyến duyên đời.
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1020)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1829)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 406)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2569)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 406)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 329)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1563)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 875)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4078)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".