Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 07, Phẩm A-la-hán - The Dhammapada, Chapter 07, The Arahant or Perfected One

05 Tháng Mười Hai 20188:07 SA(Xem: 71)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 07, Phẩm A-la-hán - The Dhammapada, Chapter 07, The Arahant or Perfected One

Chapter07-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 07, Phẩm A-la-hán
The Dhammapada, Chapter 07, Arahantavagga: The Arahant or Perfected One

(Kệ 90-99 - Verses 90-99)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp090_B
Verse-Kệ 090

(71).- Tích chuyện về y-sĩ Kỳ-bà hỏi Đức Phật - Kệ số 090

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá trong Vườn Xoài của vị Y-sĩ Kỳ-bà, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến một câu hỏi của y-sĩ Kỳ-bà.

 

Thuở ấy, Đề-bà-đạt-đa muốn ám-sát Đức Phật, lăn một tảng đá lớn từ trên đỉnh núi Linh-thứu xuống, khi Đức Phật đi ngang qua. Tảng đá va mạnh vào một mép đá nhô lên bên sườn núi, một mảnh vụn văng ra trúng vào ngón chơn cái của Phật, khiến Ngài bị thương. Đức Phật liền được đưa đến tịnh-xá trong vườn xoài của y-sĩ Kỳ-bà. Nơi đây, vị y-sĩ nổi tiếng nầy thoa thuốc và băng-bó vết thương cho Đức Phật. Sau đó, ý-sĩ phải lên đường đến chữa bịnh cho một bịnh-nhơn khác trong thành, và hẹn chiều sẽ về thay băng cho Đức Phật. Chiều hôm ấy, khi y-sĩ Kỳ-bà quay về để thăm Đức Phật, thì rủi thay, bốn cửa thành đều đóng cả. Y-sĩ rất lo-lắng, vì nếu chẳng thay băng kịp thời, thì vết thương sẽ gây nhức-nhối, thân-thể sẽ phát-nhiệt và Đức Phật có thể bị đau-đớn và khổ-sở.

 

Vào lúc ấy, nơi tịnh-xá, Đức Phật gọi Tôn-giả A-nan đến gỡ băng cho Ngài và thấy vết thương đã hoàn-toàn lành hẳn. Sáng sớm hôm sau, khi y-sĩ Kỳ-bà về đến nơi, ông liền đến gần bên Đức Phật và thưa hỏi: "Bạch Thế-tôn, đêm qua con về chẳng kịp để thay băng cho Thế-tôn, chẳng hay Thế-tôn có bị nhức-nhối, đau-đớn chăng?" Đức Phật đáp: "Nầy ông Kỳ-bà, kể từ ngày Như-Lai đắc quả-vị Vô-thượng Bồ-đề, Như-Lai chẳng hề cảm thấy có sự nhức-nhối, đau-đớn, lo-lắng chi cả."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Với người đi trọn đường sống-chết,

Giải-thoát ưu-phiền và tất cả;

Gông-cùm, xiềng-xích đã đập tan,

Đâu còn nóng-bức vì não-nhiệt.

(Kệ số 090.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Y-sĩ Kỳ-bà: tên vị thầy thuốc nổi-tiếng nầy, tiếng Pali là Jìvaka.

 

- Vườn Xoài: đây là một vườn xoài rất đẹp ở ngoài thành Vương-xá, được y-sĩ Kỳ-bà dưng-cúng cho Tăng-đoàn để cất tịnh-xá.

 

- Đề-bà-đạt-đa: tên thật bằng tiếng Pali là Devadatta. Đề-bà-đạt-đa dòng họ Thích-ca, anh ruột của Tôn-giả A-nan, gia-nhập Tăng-đoàn, ganh-tị với Đức Phật, ba lần ám-sát Phật, sau bị đất nứt hút vào điạ-ngục.

 

- Ám-sát: Ám = mờ-ám, lén-lút; Sát = giết. Ám-sát là giết lén.

 

- Phát-nhiệt: Nhiệt = nóng-bức trong người.

 

- Quả-vị Vô-thượng Bồ-đề: ngôi-vị Phật.

 

- Đi trọn đường sống-chết: Ở đây, ý muốn nói, người đã trải qua cảnh sanh-tử, tử-sanh của Luân-hồi, nay chứng được quả Vô-sanh, chẳng còn phải tái-sanh nữa.

 

- Gông-cùm, xiềng-xích: Gông = tấm gỗ nặng đeo ở cổ người tù; Cùm = còng sắt khoá chơn của tù; Xiềng-xích = dây sắt trói buộc chơn tay. Ở đây, gông, cùm, xiềng, xích chỉ những điều ràng-buộc khổ-sở, tức là các mối phiền-não, lậu-hoặc làm cho ta đau-khổ trong cuộc sống.

 

- Não-nhiệt: Não = phiền-não, sự đau-buồn; Nhiệt = nóng-bức. Ở đây chữ não-nhiệt có nghĩa là các mối phiền-muộn trong lòng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại Đức Phật bị Đề-bà-đạt-đa lăn đá để ám-sát, nhưng chỉ bị thương ở ngón chơn. Ngài được y-sĩ Kỳ-bà săn-sóc, nhưng Ngài chẳng hề bị nhức-nhối, đau-đớn chi cả.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: đắc quả-vị Phật thì chẳng còn phiền-não.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 090:

 

Bài kệ mô-tả cảnh sống an-nhiên, tự-tại của một bực A-la-hán vì đã tận-diệt xong các sự ràng-buộc của phiền-não, lậu-hoặc.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ mục-tiêu tu-tập là tiêu-diệt phiền-não, để được sống trong cảnh an-nhiên, tự-tại.

The Story of the Question Asked by Jivaka

While residing at the mango-grove monastery of Jivaka, the Buddha uttered Verse (90) of this book, with reference to the question raised by Jivaka to the Buddha.

Devadatta, on one occasion, tried to kill the Buddha by pushing a big rock from the peak of Gijjhakuta mountain (Vulture's Peak). The rock struck a ledge on the side of the mountain and a splinter struck the big toe of the Buddha. The Buddha was taken to the mango-grove monastery of Jivaka. There, Jivaka, the renowned physician, attended on the Buddha; he put some medicine on the toe of the Buddha and bandaged it. Jivaka then left to see another patient in town, but promised to return and remove the bandage in the evening. When Jivaka returned that night, the city-gates were already closed and he could not come to see the Buddha that night. He was very upset because if the bandage was not removed in time, the whole body would become very hot and the Buddha would be very ill.

Just about this time, the Buddha asked Thera Ananda to remove the bandage from his big toe and found that the wound was completely healed. Jivaka came to the monastery early next morning and asked the Buddha whether he felt great pain and distress the previous night. The Buddha replied, "Jivaka! Ever since I attained Buddhahood there has been no pain and distress for me."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 90: For him (an arahat) whose journey is ended, who is free from sorrow and from all (e.g. khandha aggregates), who has destroyed all fetters, there is no more distress.


At the end of the discourse many attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 90
Jivakapanha Vatthu

Gataddhino1 Visokassa
vippamuttassa sabbadhi
sabbaganthappahinassa
2
parilaho na vijjati.

Verse 90: For him (an arahat) whose journey is ended, who is free from sorrow and from all (e.g. khandha aggregates), who has destroyed all fetters, there is no more distress.


1. gataddhino: the journey is ended. Here 'the journey' means round of rebirths (samsara).


2. sabbaganthappahinassa: one who has destroyed all fetters. Here 'fetters' means greed, ill will, and wrong view.


dhp091_B
Verse-Kệ 091

(72).- Tích chuyện Tôn-giả Đại Ca-diếp ở lại Trúc-lâm - Kệ số 091

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Tînh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến việc Tôn-giả Đại Ca-diếp lưu lại tịnh-xá nầy.

 

Thuở ấy, vào mùa an-cư kiết-hạ, Đức Phật cùng chư Tăng đang ở tại Vương-xá-thành. Còn mười lăm hôm nữa thì xuất-hạ, Đức Phật dặn bảo chư Tăng chuẩn-bị hành-trang để lên đường. Bấy giờ, tăng-chúng rộn-rịp, kẻ giặt-gỵa áo-quần, người may vá cà-sa. Một số tỳ-kheo nhìn thấy Tôn-giả Đại Ca-diếp đem phơi các bộ áo mới đẹp-đẽ, mới nghĩ: "Tôn-giả Đại Ca-diếp được dân thành Vương-xá quí-phục lắm, nên dâng-cúng những bộ y rất đẹp. Chẳng lẽ Tôn-giả lại rời bỏ họ ra đi, thế nào Ngài cũng ở nán lại đây."

 

Đến hôm trước ngày khởi-hành, Đức Phật lại nghĩ, hiện ở đây, dân-chúng còn cần được giúp-đỡ về mặt giáo-lý, như chỉ-dạy thêm cho các Sa-di hay cho các thiện-nam, tín-nữ đến tịnh-xá cúng-dường. Do đó, Đức Phật liền chỉ-định Tôn-giả Đại Ca-diếp cùng với một số tỳ-kheo vừa gia-nhập Tăng-đoàn, nên lưu lại Tịnh-xá Trúc-lâm thêm một thời-gian nữa.

 

Đến hôm khởi-hành, chẳng thấy Tôn-giả Đại Ca-diếp tháp-tùng Đức Phật, mấy vị tỳ-kheo kia liền nói: "Đúng rồi, ta đã đoán chẳng sai! Tôn-giả Đại Ca-diếp lưu-luyến các tín-đồ ở đây, nên chẳng chịu rời đi." Đức Phật nghe thấy mới bảo họ rằng: "Các ông đừng nghĩ xấu cho Đại Ca-diếp. Chính Như-Lai đã yêu-cầu Đại Ca-diếp ở lại tịnh-xá Trúc-lâm để chỉ-dạy giáo-lý thêm cho dân-chúng, chớ nào phải vì luyến-lưu nơi nầy mà Đại Ca-diếp chẳng rời đi được."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người chuyên-cần tỉnh-giác trong chánh-niệm,

Chẳng tìm thoả-thích nơi chỗ trú chơn,

Rời nhà phiền-não, tâm không ái-nhiễm.

Như cánh ngỗng trời rời hồ bẩn-đục,

Rày đó mai đây, vui sống độc-thân.

(Kệ số 091.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Trúc-lâm: Trúc = tre, hay trúc; Lâm = rừng. Vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) nước Ma-kiệt-đà (Magadha) dâng cúng lên Đức Phật ngôi vườn trúc rất đẹp, để xây cất Tịnh-xá Trúc-lâm (Veluvana), gần thành Vương-xá (Ràjagaha).

 

- An-cư kiết-hạ: An-cư là ở yên; Kiết-hạ là trải qua mùa hè. Xin nhắc lại: vào mùa hè, chư Tăng quay về Tịnh-xá tu-tập, chẳng đi khất-thực bên ngoài, để tránh đạp chết côn-trùng. Dự một kỳ an-cư, thì thêm một tuổi đạo.

 

- Xuất-hạ: Xuất = đi ra. Hạ = mùa hè. Xuất-hạ ở đây có nghĩa là chấm-dứt thời kỳ an-cư kiết-hạ.

 

- Đại Ca-diếp: tiếng Pali là Mahàkassapa, tôn-giả là đại-đệ-tử của Đức Phật, tu theo hạnh đầu-đà, cầm đầu Tăng-đoàn khi Đức Phật mất.

 

-Hành-trang = đồ-vật mang theo.Hành = đi.Trang = trang-bị, hành-lý

 

- Cà-sa: tiếng Phạn là Kasaya, áo màu vàng hay nâu của tu-sĩ.

 

- Y = y-phục, quần-áo. Tiếng nhà chùa, đắp y là mặc áo cà-sa vào.

 

- Sa-di: tiếng Pali Samanera, người mới vào chùa tập-sự tu-hành, chưa thọ-giới Tỳ-kheo.

 

- Tháp-tùng = đi theo.

 

- Lưu-luyến: mê-thích, chẳng rời bỏ được.

 

- Tín-đồ: Tín = tin-tưởng; Đồ = đồ-đệ, học-trò. Tín-đồ là kẻ tin Đạo.

 

- Tỉnh-giác trong chánh-niệm là làm gi, nói gì, nghĩ gì, cũng biết mình đang làm, đang nói, đang nghĩ đến việc đó, chẳng xao-lãng.

 

- Trú chơn = nghỉ chơn; ở đây có nghĩa là nhà cửa để ở.

 

- Nhà phiền-não: ý muốn nói, rời đời sống thế-tục để đi tu.

 

- Ái-nhiễm: Ái = thương-yêu, tríu-mến; Nhiễm: dính, lây. Chữ ái-nhiễm ở đây có nghĩa như tham-ái, khát-ái, ái-dục, khiến ta say-đắm, dứt bỏ ra chẳng được; vì thế mà phải chiu mãi cảnh khổ của Luân-hồi.

 

- Ngỗng trời: tiếng Hán-Việt là thiên-nga, ngỗng lông màu trắng.

 

- Rày đây mai đó: nay ở đây mai ở chỗ kia, chẳng quyến-luyến chỗ ở nào cả.

 

- Độc-thân: sống một mình, chẳng có gia-đình riêng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại một số Tỳ-kheo thấy Tôn-giả Đại Ca-diếp lưu lại tịnh-xá Trúc-lâm, sau khi Đức Phật và Tăng-đoàn rời đi, cho rằng Tôn-giả lưu-luyến nơi nầy. Đức Phật quở các vị Tỳ-kheo đó đã nghĩ quấy về Tôn-giả. Đức Phật bảo, Ca-diếp ở nán lại Trúc-lâm là do lời yêu-cầu của Phật, để dạy-dỗ dân-chúng về giáo-lý, chớ Tôn-giả đã dứt-bỏ sự tham-luyến rồi, đâu còn tríu-mến nơi nầy hơn nơi khác.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của Tích chuyện là dạy ta đừng tham-luyến.

 

(2) Ý nghĩa của bài Kệ số 091:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ dạy ta về hạnh xả-bỏ, còn gọi là hạnh khước-từ, hay hạnh viễn-ly. Theo hạnh nầy thì chẳng tham-đắm, mê-luyến, hay tríu-mến vào điều nào cả. Tại sao phải lià-bỏ, đừng tham-đắm? Vì sự tríu-mến có tánh-cách ràng-buộc, khiến ta mất sự tự-do. Chỉ vì quyến-luyến vào cuộc sống sướng ít khổ nhiều nầy, mà con người phải tái-sanh lại mãi trong vòng Luân-hồi, chẳng được giải-thoát.

 

Như đã biết, Xả là một trong bốn Tâm vô-lượng, khiến ta xem mọi sự-vật đều bình-đẳng như nhau (vì bản-tánh muôn vật vốn rỗng-rang), chẳng quá mến vật nầy, chẳng quá ghét việc kia; giữ được tâm xả, là có được tâm quân-bình, thanh-thản. Trong bốn Tâm vô-lượng Từ, Bi, Hỉ, Xả, tâm Xả là khó tu-tập nhứt, nhưng nhờ nó mà ta dứt bỏ được sự ràng-buộc

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, đặc biệt nên ghi nhớ câu "Chẳng tìm thoả-thích nơi chỗ trú chơn", để chẳng tríu-mến mọi sự-vật trên cõi đời "tạm trú chơn" nầy.

 

2.- Thử tập một vài điều nhỏ trong hạnh Xả-ly:

 

- Đến "cử" cà-phê, đang bận làm việc gì, nên làm cho xong đàng-hoàng, rồi hãy uống.

 

- Đến nhà lạ ngủ, thiếu cái gối ôm quen thuộc, đừng thao-thức nhớ mà chẳng ngủ được. Thử ngủ thiếu gối một đêm xem sao.

 

- Con dao cưng bị mẻ, đừng quát-tháo vang lên, dao nào cũng là dao, sao lại chẳng tạm dùng đỡ dao khác cho tiện.

The Story of Thera Mahakassapa

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (91) of this book, with reference to Thera Mahakassapa.

The Buddha once spent the vassa at Rajagaha with a number of bhikkhus. About two weeks before the end of the vassa, the Buddha informed the bhikkhus that they would soon be leaving Rajagaha and told them to prepare for departure. Some bhikkhus stitched and dyed new robes, some washed the old robes. When some bhikkhus saw Mahakassapa washing his robes, they speculated, "There are so many people inside and outside Rajagaha who love and respect Thera Mahakassapa and are constantly looking to all his needs; is it possible that the Thera would leave his lay devotees here and follow the Buddha elsewhere?"

At the end of fifteen days, on the eve of his departure, the Buddha thought that there might be some occasions like alms-food offering ceremonies, initiation of novices, funerals, etc., and so it would not be proper for all the bhikkhus to leave. So he decided that some bhikkhus should remain at the Veluvana monastery and that the most suitable person would be Thera Mahakassapa. Consequently, Thera Mahakassapa remained in Rajagaha with some junior bhikkhus.

Then the other bhikkhus said scornfully, "Mahakassapa has not accompanied the Buddha, just as we have predicted!" The Buddha heard their remark and said to them, "Bhikkhus! Do you wish to say that my son Kassapa is attached to his lay disciples of Rajagaha and to the things they offer him? You are very much mistaken. My son Kassapa remains here under my instruction; he is not attached to anything here."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 91: The mindful strive diligently (in the Tranquillity and Insight Development Practice); they take no delight in the home (i.e., in the life of sensual pleasures); like swans (hamsa) that forsake the muddy pool, they abandon all home life (i.e., all cravings).

Dhammapada Verse 91
Mahakassapatthera Vatthu

Uyyunjanti satimanto
na nikete ramanti te
hamsava pallalam hitva
okamokam jahanti te.

Verse 91: The mindful strive diligently (in the Tranquillity and Insight Development Practice); they take no delight in the home (i.e., in the life of sensual pleasures); like swans (hamsa) that forsake the muddy pool, they abandon all home life (i.e., all cravings).


dhp092_B
Verse-Kệ 092

(73).- Tích chuyện Trưởng-lão Lã-tha-sĩ - Kệ số 092

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Lã-tha-sĩ về vấn-đề ăn uống.

 

Thuở ấy có Trưởng-lão Lã-tha-sĩ khi đi khất-thực trong làng, thường ngừng lại để dùng bữa. Sau đó, Trưởng-lão lại lên đường tiếp-tục đi khất-thực nữa, để có thêm thực-phẩm. Khi về đến tu-viện, Trưởng-lão đem cơm ra phơi khô và tích-trữ lại. Mấy ngày hôm sau, Trưởng-lão cứ lấy cơm khô ra pha nước vào, hâm nóng lại mà dùng, khỏi phải đi khất-thực, để dành trọn thời-giờ ngồi Thiền. Có vài vị Tỳ-kheo thấy thế, cho rằng Trưởng-lão đã vi-phạm giới-luật, tích-trữ vật-phẩm, mới trình với Đức Phật. Đức Phật liền ra lịnh cấm không cho tỳ-kheo để dành thực-phẩm đã xin được, sau bữa ngọ-trai. Nhưng Đức Phật chẳng khiển-trách Trưởng-lão Lã-tha-sĩ, vì việc Trưởng-lão phơi cơm để dành ăn hôm sau xãy ra trước khi có lịnh cấm. Vả lại, Trưởng-lão sở dĩ tích-trữ cơm trước đây, chẳng phải vì lòng tham-lam về thức-ăn, mà chỉ vì muốn có dư thời-giờ để ngồi thiền lâu hơn.

 

Bấy giờ, Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Những ai chẳng tích-trữ,

Biết niệm-thực khi ăn,

Lấy Giải-thoát Niết-Bàn

- Vốn Không và Vô-tướng -

Để riêng làm đối-tượng,

Hướng họ đi, khó vẽ

Như chim bay trên trời.

(Kệ số 092.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Lã-tha-sĩ: tên thật của Trưởng-lão, tiếng Pali là Belatthasìsa.

 

- Khất-thực: Khất = đi ăn xin; Thực = ăn. Khất-thực là đi xin ăn.

 

- Tích-trữ: chứa lại để dành về sau.

 

- Ngọ-trai: Ngọ = giữa trưa, mười hai giờ trưa; Trai = bữa ăn chay.

 

- Khiển-trách: rầy-la, trách-phạt và dạy-dỗ.

 

- Niệm-thực: Niệm = đọc thầm hay đọc ra tiếng; Thực = ăn. Theo giới-luật, trong bữa ăn, tu-sĩ phải niệm-thực, nghĩa là, khởi lên trong tâm những ý-tưởng thiện-lành liên-quan về việc ăn-uống, như sau đây:

 

Theo Bắc-tông, khi ăn ba muỗng cơm đầu, phải niệm Tam-đề: (1) nguyện bỏ điều ác, (2) nguyện làm điều lành, (3) nguyện giữ tâm-ý trong-sạch, cứu-độ chúng-sanh. Và suốt bữa ăn, trong tâm phải nghĩ đến Ngũ-quán: (1) nhớ ơn thí-chủ đã hiến-tặng bữa ăn, (2) xét xem mình có xứng-đáng được lãnh ăn vật-thực cúng-dường chăng, (3) phải ngăn lòng tham ăn, (4) quán-tưởng thức ăn như vị thuốc để trị bịnh đói của mình, (5) dùng các thức ăn nầy chỉ để thêm sức-khoẻ mà tu-tập cho chóng thành Đạo.

 

Theo Nam-tông, niệm-thực có nghĩa là trong khi ăn, phải có ba sự liễu-tri (Parinnàs =hiểu-biết thật rõ-ràng) về vật-thực: (1) biết rõ bản-chất của món đang ăn (nataparinnà ); (2) biết rõ tánh-cách vật-chất thấp-kém của thức ăn (tìranaparinnà); (3) biết rõ chẳng ham-thích trong việc ăn uống (pahànaparinnà).

 

- Giải-thoát Niết-bàn: Giải = tháo mở ra; Thoát = ra khỏi; Niết-bàn = chữ Phạn là Nirvana, tiếng Pali là Nibbana, có nghĩa là ra khỏi rừng u-tối của các phiền-não, khổ-sở.

 

- Không = tiếng Phạn là Sunyata, có nghĩa là trống-không, rỗng-rang, chẳng chứa-đựng gì. Đừng tưởng-lầm Không là chẳng có, trái lại, Không có nghĩa là Có, có mà rỗng-rang. Đây là một ý-niệm rất khó giải-thích trong giáo-lý Phật-học.

 

- Vô-tướng: Vô = chẳng có; Tướng = hình-tướng. Vô-tướng là chẳng có hình-dạng, màu-sắc, mùi-vị, v.v. để dùng giác-quan mà nhận ra được, nhưng dùng trí thì biết được.

 

- Đối-tượng: Đối = ở trước mặt; Tượng = hình-thể. Chữ đối-tượng ở đây có nghĩa là những gì mình đang nghĩ đến trong tâm, những gì tâm mình đang quán-thấy.

 

- Hướng họ đi khó vẽ: vì đã chứng-đắc Niết-bàn, chẳng tái-sanh nữa, nên chẳng thể biết được họ "đi" về đâu (ở cõi tịch-diệt, vắng-vẻ).

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc Trưởng-lão Lã-tha-sĩ để dành cơm, đem phơi khô, để khỏi đi khất-thực hằng ngày, dùng thời-giờ dư ra để ngồi Thiền, tu-tập cho tinh-tấn. Đức Phật sau đó có ra lịnh cấm chẳng được tích-trữ thực-phẩm, vì chẳng muốn cho tỳ-kheo có lòng tham-lam về ăn-uống. Ý-nghĩa của Tích-chuyện là chẳng nên tham-đắm về thực-phẩm, chẳng nên tích-trữ đồ-vật, để dẹp lòng tham-ái còn sót lại.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 092:

 

Bài Kệ nầy dạy ta ba điều:

 

1) Chẳng nên tích-trữ: Theo giới-luật của Tỳ-kheo, mỗi người chỉ có được ba bộ quần-áo, một cái bát, và một vài vật-dụng cần-thiết khác cùng thuốc men. Tại sao vậy? Đây là hạnh-nguyện giữ sự bần-cùng, chẳng tham-đắm của-cải, bởi vì tiền-bạc, tài-sản là sợi dây ràng-buộc con người vào đời sống thế-tục, khiến ta cứ trôi-lăn mãi trong vòng sanh-tử của Luân-hồi.

 

2) Biết niệm-thực khi ăn: Đây là giới-luật phải thi-hành trước khi dùng bữa. Cho dầu là Bắc-tông, hay Nam-tông, người tu-sĩ trong khi ăn phải niệm trong tâm rằng việc ăn-uống chỉ cần-thiết để mình có đủ sức-khoẻ hầu tinh-tấn tu-hành. Thức-ăn được coi như một vị thuốc, thuốc để trị bịnh đói nơi ta, chớ chẳng phải để cho khoái khẩu-vị!

 

3) Tu-tập Thiền-định nhắm vào mục-tiêu Niết-Bàn: đây là lời dạy cho các vị tu-hành nhằm chứng-đắc sự giác-ngộ và giải-thoát; mục-tiêu rất cao cho người Phật-tử tại-gia. Dầu sao, bước khởi đầu cho cả hai hạng xuất-gia và tại-gia, đều là sự dứt bỏ chẳng tham-luyến đến thực-phẩm, chẳng tích-trữ của cải. Nhờ sự dứt-bỏ nầy mà lòng tham-ái lần lần bị dẹp đi, mở đường cho sự giải-thoát sau nầy.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Ghi các điều NIÊM-THƯC trước khi ăn và nhớ nên xem thức-ăn chỉ như vị thuốc trị bịnh đói hàng ngày mà thôi.

 

2.- Xin đề-nghị nhìn lại dưới gầm giường, trong nhà xe, các vật bị trữ lại lâu ngày, nên vứt đi. "Bỏ thì thương, mà vương thì tội!"

The Story of Thera Belatthasisa

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (92) of this book, with reference to Thera Belatthasisa.

Thera Belatthasisa, after going on an alms-round in the village, stopped on the way and took his food there. After the meal, he continued his round of alms for more food. When he had collected enough food he returned to the monastery, dried up the rice and hoarded it. Thus, there was no need for him to go on an alms-round every day; he then remained in jhana concentration for two or three days. Arising from jhana concentration he ate the dried rice he had stored up, after soaking it in water. Other Bhikkhunis thought ill of the thera on this account, and reported to the Buddha about his hoarding of rice. Since then, the hoarding of food by the bhikkhus has been prohibited.

As for Thera Belatthasisa, since he stored up rice before the ruling on hoarding was made and because he did it not out of greed for food, but only to save time for meditation practice, the Buddha declared that the thera was quite innocent and that he was not to be blamed.

The Buddha then spoke in verse as follows:

Verse 92: Arahats do not hoard (anything); when taking food they reflect well over it (i.e., in accordance with the three parinnas).* They have as their object liberation from existence, that is, Nibbana which is Void and Signless. Their destination, like the course of birds in the air, cannot be traced.


*Parinnatabhojana: to take food according to the three parinnas. According to the Commentary, there are three parinnas that the bhikkhu should have concerning food, viz., (a) nataparinna, knowing the exact nature of the food being taken, (b) tiranaparinna, being convinced of the vileness of material food, and (c) pahanaparrina,rejection of all pleasure in eating.

Dhammapada Verse 92
Belatthasisatthera Vatthu

Yesam sannicayo1natthi
ye parinnatabhojana2
sunnatoanimittoca
vimokkho
yesam gocaro
akaseva sakuntnam
gati tesam durannaya
6.

Verse 92: Arahats do not hoard (anything); when taking food they reflect well over it (i.e., in accordance with the three parinnas). They have as their object liberation from existence, that is, Nibbana which is Void and Signless. Their destination, like the course of birds in the air, cannot be traced.


1. sannicayo: hoarding. According to the Commentary, it means accumulating either kamma and its effects or any of the four requisites.

2. parinnatabhojana: to take food according to the three parinnas. According to the Commentary, there are three parinnas that the bhikkhu should have concerning food, viz., (a) nataparinna, knowing the exact nature of the food being taken, (b) tiranaparinna, being convinced of the vileness of material food, and (c) pahanaparinna, rejection of all pleasure in eating.

3. sunnata: the Void. According to the Commentary, it means void of craving. It is an epithet of Nibbana.

4. animittam: the Signless. According to the Commentary, it means no sign of craving, ill will and ignorance. It is also an epithet of Nibbana.

5. vimokkho: liberation from existence; Nibbana.

6. gati tesam durannaya: their destination cannot be traced because arahats have eradicated craving and are no more subject to rebirths.


dhp093_B
Verse-Kệ 093

(74).- Tích chuyện Trưởng lão A-na-luật - Kệ số 093

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến Trưởng-lão A-na-luật.

 

Thuở ấy, Trưởng-lão A-na-luật vì chiếc áo-cà-sa đã cũ, rách nhiều chỗ, muốn tìm vải may một bộ áo lành để mặc. Trưởng-lão định đến các đống rác, nhặt các mảnh vải vụn, đem về ráp may áo. Lúc bấy giờ, thiên-nữ Gia-li-ni trên cung Trời, nhìn thấy người chồng cũ của mình trong tiền-kiếp là Trưởng-lão A-na-luật, đang bới các đống rác tìm vải vụn, mới lấy ba khúc vải quí trên cõi Trời đem dấu bên dưới. Trưởng-lão nhìn thấy, lấy đem về tịnh-xá. Hôm sau, Đức Phật cùng chúng Tăng đến viếng Trưởng-lão A-na-luật và giúp Trưởng-lão may cắt áo.

 

Khi ấy, thiên-nữ Gia-li-ni hoá hình thành một thiếu-phụ, đi vào làng, kêu gọi dân-chúng trong vùng, mang thực-phẩm tươi-tốt đến cúng-dường Đức Phật. Số thực-phẩm dâng-cúng rất nhiều, chư Tăng dùng chẳng hết. Bấy giờ, có một số tỳ-kheo nghĩ rằng, Trưởng-lão A-na-luật muốn khoe-khoang mình có nhiều đồ-chúng, đã bảo họ dâng-cúng nhiều phẩm-vật lên Đức Phật và chúng Tăng như thế, cho nên mới thừa-thãi. Đoán biết tâm-trạng của họ đang nghĩ lầm về Trưởng-lão A-na-luật, Đức Phật nói: "Nầy chư Tỳ-kheo, chớ nên nghĩ lầm về thái-độ của A-na-luật. Tấm vải quí nầy, cùng thực-phẩm cúng-dường kia, là do vị thiên-nữ Gia-li-ni trên cung Trời dâng-cúng. Đối với bực A-la-hán đã giải-thoát như A-na-luật, trong lòng chẳng bao giờ có sự lo nghĩ đến các sự ăn, mặc cả."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người tận-diệt lậu-hoặc,

Chẳng đắm-say vật-thực,

Lấy Giải-thoát Niết-bàn

- Vốn Không và Vô-tướng -

Để riêng làm đối-tượng,

Như chim bay trên không,

Lối người đi, khó vẽ

(Kệ số 093.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- A-na-luật: tên thật của Trưởng-lão, tiếng Pali là Anuruddha; thường được phiên-âm theo giọng đọc Hán-Việt là A-nâu-lâu-đà.

 

- Cà-sa: áo màu vàng, khoác bên ngoài, của tu-sĩ Phật-giáo; tiếng Pali là kàsàva. Còn gọi là phước-điền-y ( = áo ruộng phước.)

 

- Thiên-nữ: Thiên =Trời;Nữ =phụ-nữ, đàn-bà. Thiên-nữ là người phụ-nữ trên cõi Trời.

 

- Tiền-kiếp:Tiền =trước;Kiếp =đời sống. Tiền-kiếp là đời kiếp trước.

 

- Đồ-chúng: Đồ =tín-đồ, đệ-tử, người theo học Đạo; Chúng =số đông. Đồ-chúng là những người đệ-tử theo học Đạo.

 

- Tận-diệt: Tận =hết cả; Diệt = làm cho tiêu mất. Tận diệt là dẹp hết.

 

- Lậu-hoặc: Lậu = rỉ chảy ra, như máu, mủ; Hoặc = điều sai-lầm. Chữ Lậu-hoặc được dùng để dịch chữ àsavas tiếng Pali, chỉ vào các phiền-não như tham, sân, si, thường bộc-lộ ra các hành-động xấu-ác, xem như chất dơ-dáy từ trong người rỉ chảy ra.

 

- Lấy Giải-thoát Niết-bàn - vốn Không và Vô-tướng- Để riêng làm đối-tượng: Ba câu kệ nầy đã được tìm hiểu trong bài trước, trang 245. Xin nhắc lại vắn-tắt: Giải-thoát = hết bị ràng-buộc; Niết-bàn = tâm-trạng người đã diệt xong các phiền-não; Không =rỗng-rang, chẳng chứa đựng gì; Vô-tướng = chẳng có hình-thể; Đối-tượng = điều đang nghĩ trong tâm.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Trưởng-lão A-na-luật đi lượm vải vụn về ráp may áo cà-sa. Nhơn việc nầy, Đức Phật dạy, các bực A-la-hán chẳng hề lo nghĩ đến việc ăn và mặc, để chuyên tâm tu-hành.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 093: giống bài Kệ số 092.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng hai bài Kệ số 092 và 093, để ghi nhớ, đừng quá chú-trọng đến việc ăn thật ngon, mặc thật đẹp, để lo tu-hành.

The Story of Thera Anuruddha

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (93) of this book, with reference to Thera Anuruddha.

Thera Anuruddha was one day looking for some discarded pieces of cloth in a rubbish heap to make into a robe as his old robe was getting soiled and torn. Jalini, his wife of a previous existence, who was now in a deva world, saw him. Knowing that he was looking for some cloth, she took three pieces of good deva material and put them in the rubbish heap, making them barely visible. The thera found the pieces of cloth and took them to the monastery. While he was making the robe, the Buddha arrived with his Chief Disciples and senior disciples and they also helped stitch the robe.

Meanwhile, Jalini, assuming the form of a young lady, came to the village and learnt about the arrival of the Buddha and his disciples and also how they were helping Thera Anuruddha. She urged the villagers to send good delicious food to the monastery and consequently there was more than enough for all. Other bhikkhus, seeing so much surplus, put the blame on the thera and said, "Thera Anuruddha should have asked his relatives and lay disciples to send just enough food; may be, he just wanted to show off that he had so many devotees." To those bhikkhus, the Buddha said, "Bhikkhus, do not think my son Anuruddha has asked his relatives and lay disciples to send rice gruel and other foods. My son the thera did not ask for anything; arahats do not talk about such things like food and clothing. The excessive amount of food brought to the monastery this morning was due to the promptings of a celestial being and not of a man."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 93: The arahat is free from moral intoxicants (asavas); he is not attached to food. He has as his object liberation from existence, i.e., Nibbana which is Void and Signless. His path, like that of birds in the air, cannot be traced.

Dhammapada Verse 93
Anuruddhatthera Vatthu

Yassasa va parikkhina
ahare ca anissito
sunnato animitto ca
vimokkho yassa gocaro
akaseva sakuntanam

padam tassa durannayam.

Verse 93: The arahat is free from moral intoxicants (asavas); he is not attached to food. He has as his object liberation from existence, i.e., Nibbana which is Void and Signless. His path, like that of birds in the air, cannot be traced.


dhp094_B
Verse-Kệ 094

(75).- Tích chuyện Trưởng-lão Ca-chiên-diên - Kệ số 094

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Đông-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Đại Ca-chiên-diên.

 

Vào cuối thời-kỳ an-cư kiết-hạ, nhằm đêm trăng tròn, vua Trời Đế-thích cùng chư Thiên đến đảnh-lễ Đức Phật tại tịnh-xá Đông-viên, do bà nữ-cư-sĩ Vi-sa-kha xây cất và cúng-dường cho Tăng-ni-đoàn. Bấy giờ, vây quanh Đức Phật có đông-đủ các vị đại-đệ-tử và chư tăng, ni. Chỉ còn thiếu Trưởng-lão Ca-chiên-diên đang bận việc ở xứ A-văng-ti chưa về kịp; một chỗ ngồi trang-trọng được chừa trống, để chờ Trưởng-lão. Sau khi dâng hoa và lễ Phật xong, vua Trời Đế-thích nhìn thấy chỗ trống, mới hỏi, để dành cho ai ngồi. Khi nghe đáp, chỗ ấy dành cho Trưởng-lão Ca-chiên-diên, Vua Đế-thích mới phát lòng ngưỡng-mộ, mong được dâng hoa cúng-dường Trưởng-lão Ca-chiên-diên. Ngay vào lúc ấy, Trưởng-lão về đến nơi và được chư Thiên chào đón, dâng hoa và đảnh lễ.

 

Đa-số chư Tăng đều kính-mến Trưởng-lão Ca-chiên-diên, chỉ có một số ít lại cho rằng vua Trời Đế-thích đã tỏ ra thiên-vị vì ngưỡng-mộ Trưởng-lão hơn các vị tỳ-kheo khác. Đức Phật bảo: "Một người đã khéo điều-phục các căn thì được cả Trời và Người cùng kính-mến."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Bực A-la-hán điều-phục các căn,

Như ngựa thuần khéo luyện bởi người chăn.

Ngã-mạn đã trừ, lậu-hoặc cũng dứt,

Người vững-chắc, chư Thiên đều mến-phục.

(Kệ số 094.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Ca-chiên-diên: tên thật Trưởng-lão, tiếng Pali là Mahakaccàyana, thường được phiên-âm, đọc theo tiếng Hán-Việt là Đại Ca-chiên-diên.

 

- An-cư kiết-hạ: Vào mùa hè, chư Tăng ở lại tịnh-xá tu, chẳng đi khất-thực. An-cư là ở yên; kiết-hạ là qua mùa hè.

 

- Vua Trời Đế-thích: vua cõi Trời Đao-lợi, tên tiếng Pali là Sakka.

 

- Đông-viên: ngôi tịnh-xá do bà Vi-sa-kha xây cất để cúng-dường Tăng-ni-đoàn, nằm phiá Đông chùa Kỳ-viên; tiếng Pali là Pubbàràma.

 

- Vi-sa-kha: bà tín-nữ nổi tiếng thời Đức Phật, tiếng Pali là Visakha

 

- A-văng-ti: tên điạ-danh nầy tiếng Pali là Avanti.

 

- Trang-trọng = cao-quí.

 

-Ngưỡng-mộ: Ngưỡng = kính-ngưỡng; Mộ = ái-mộ; kính mến.

 

- Thiên-vị: Thiên = nghiêng về một bên; Vị =vị-trí, chỗ. Thiên-vị là chẳng công-bình, ưa người nầy hơn người khác.

 

- Điều-phục: Điều = điều-khiển; Phục = phục-tùng.Điều-phục các căn nghĩa là biết làm chủ các giác-quan, chẳng chạy theo cảnh bên ngoài.

 

- Ngựa thuần: ngựa đã được luyện-tập thuần-thục, dễ khiến, dễ cỡi

 

- Ngã-mạn = kiêu-căng, phách lối.

 

- Lậu-hoặc = các lỗi-lầm, phiền-não để lộ ra hành-động xấu.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Khi thấy Vua Trời Đế-thích riêng tỏ lòng ngưỡng-mộ Trưởng-lão Ca-chiên-diên, một số tỳ-kheo cho đó là hành-vi thiên-vị, Đức Phật dạy rằng, một bực A-la-hán như Trưởng-lão, đã điều-phục được các giác-quan, dẹp xong lòng ngã-mạn, thì đáng được chư Thiên kính mộ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 094:

 

Ý-nghĩa bài Kệ nêu ra bốn đức-tánh của bực A-la-hán:

 

1) Điều-phục các căn; chẳng chạy theo cảnh-vật bên ngoài;

 

2) Ngã-mạn đã trừ: dẹp bỏ sự kiêu-căng, chẳng xem mình hơn kẻ khác; có lòng nhũn-nhặn.

 

3- Lậu-hoặc cũng dứt: các món phiền-não tham, sân, si đã được tận-diệt.

 

4) Người vững-chắc: ý muốn nói, tâm đã an-định, hết xao-động.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ bốn đức-tánh của bực La-hán. Đối với người tu tại-gia, có thể bắt đầu tập bỏ bớt hai điều lậu-hoặc nầy: diệt tham bằng bố-thí; diệt sân bằng nhẫn-nhục, chẳng tranh hơn thua.

The Story of Thera Mahakaccayana

While residing at the Pubbarama monastery, the Buddha uttered Verse (94) of this book, with reference to Thera Mahakaccayana.

On a full moon day, which was also the end of the vassa, Sakka with a large company of devas came to pay homage to the Buddha, who was then in residence at Pubbarama, the monastery built by Visakha. At that time, the Buddha was being attended upon by the Chief Disciples and all the senior bhikkhus. Thera Mahakaccayana, who spent the vassa in Avanti, had not yet arrived, and a seat was kept vacant for him. Sakka paid homage to the Buddha with flowers, incense and perfumes. On seeing a vacant seat he declared how he wished that Thera Mahakaccayana would come so that he could pay obeisance to him also. At that instant Mahakaccayana arrived; Sakka was very pleased and eagerly paid obeisance to him with flowers, incense and perfumes.

The bhikkhus were awed by Sakka paying obeisance to Mahakaccayana, but some bhikkhus thought that Sakka was being partial to Mahakaccayana. To them, the Buddha said, "One who is restrained in his senses is loved by both men and devas."

The Buddha then spoke in verse as follows:

Verse 94: The arahat whose sense-faculties are calm like horses well-tamed by the charioteer, who is free from pride and moral intoxicants - such an arahat is held dear even by the devas.

Dhammapada Verse 94
Mahakaccayanatthera Vatthu

Yassindriyani samathangatani
assa yatha sarathina sudanta
pahinamanassa anasavassa
devapi tassa pihayanti tadino
1.

Verse 94: The arahat whose sense-faculties are calm like horses well-tamed by the charioteer, who is free from pride and moral intoxicants - such an arahat is held dear even by the devas.


1. tadino: one who is calm and tranquil or unperturbed by the ups and downs of life (Lokadhamma).


dhp095_B
Verse-Kệ 095

(76).- Tích chuyện Trưởng-lão Xá-lợi-phất bị vu-cáo - Kệ số 095

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến việc Trưởng-lão Xá-lợi-phất bị vu-cáo.

 

Thuở ấy, vào cuối mùa an-cư, Trưởng-lão Xá-lợi-phất sắp-sửa lên đường đi xa, cùng với một số tỳ-kheo. Có một tăng-nhơn trẻ tuổi vì bị Trưởng-lão nghiêm-khắc chỉ-dạy lỗi-lầm, nên sanh lòng oán-giận, đến thưa trình với Đức Phật rằng, mình bị Trưởng-lão Xá-lợi-phất mắng-nhiếc và đánh-đập. Đức Phật cho mời Trưởng-lão đến để hỏi sự thật ra sao. Trưởng-lão Xá-lợi-phất thưa: "Bạch Thế-tôn, có thể nào một tỳ-kheo thường quán-niệm thân-tâm, trước khi lên đường đi xa lại chẳng sám-hối lỗi-lầm của mình với người bạn đồng-tu? Con đây cũng như đất kia, chẳng thấy thoả-thich khi được hoa đẹp cắm lên, cũng chẳng thấy buồn-phiền khi bị phân hay rác-rưới vung-vãi lên. Con cũng như tấm thảm để chà chơn, như người ăn-mày, như con trâu đã gãy sừng. Con lại cảm thấy nhàm-chán, chẳng hề kuyến-ái đến tấm thân bất-tịnh nầy."

 

Khi nghe Trưởng-lão thốt lên những lời như thế, vị tăng-nhơn trẻ tuổi cảm thấy hổ-thẹn quá đỗi, bật lên khóc và xin thú tội đã nói dối vu-oan cho Trưởng-lão. Đức Phật khuyên Trưởng-lão nên vì lòng từ-bi mà chấp-nhận lời sám-hối của vị tăng-nhơn, kẻo y bị trừng-phạt nặng-nề. Trưởng-lão Xá-lợi-phất chẳng những chấp-nhận lời sám-hối của vị tăng-nhơn mà còn xin lỗi lại với vị nầy, nếu trước đây Trưởng-lão có làm điều chi xúc-phạm đến.

 

Lúc bấy giờ, chư Tăng thấy thái-độ đáng kính của Trưởng-lão nên hết lời khen ngợi. Đức Phật nói: "Nầy chư tỳ-kheo, Xá-lợi-phất chẳng còn chút sân-hận và ác-ý trong tâm nữa. Cũng như đất kia, Xá-lợi-phất rất nhẫn-nhục; cũng như trụ đồng kia, Xá-lợi-phất rất vững-chắc; cũng như nước hồ kia lắng sạch bùn-sình, tâm Xá-lợi-phất luôn luôn thanh-tịnh."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Trơ như đất, tâm không hiềm-hận;

Vững như trụ đồng, mặc cảnh nhục vinh,

Trong như hồ nước lắng sạch bùn sình,

Bực La-hán dứt Luân-hồi lận-đận.

(Kệ số 095.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Xá-lợi-phất: vị đại-đệ-tử của Phật, nổi tiếng là thông-minh bực nhứt. Tên tiếng Pali là Sariputta, nghĩa là con trai của bà Sari ( = bà Thu.)

 

- Vu-cáo: Vu = bịa đặt ra để gán tội cho ai; Cáo = mách, mét.Vu-cáo là dùng lời nói dối-trá đổ tội oan cho kẻ khác.

 

-Bạch Thế-tôn: Bạch = tiếng thưa trình với bực trưởng-thượng; Thế = thế-gian; Tôn = tôn-kính. Thế-tôn là bực được cả thế-gian tôn-kính. Khi đệ-tử thưa với Đức Phật, thì nói Bạch Thế-tôn. Phật tự-xưng là Như-Lai

 

- Quán-niệm thân-tâm: Quán-niệm =suy-nghĩ sâu-xa. Theo phép Quán Tứ niệm-xứ, hành-giả luôn nhớ nghĩ đến bốn điều: (1)thân bất-tịnh ( =bên trong thân chứa nhiều chất dơ), (2)thọ thị khổ ( =các cảm-thọ gây ra đau-khổ), (3)tâm vô-thường ( =tâm hay thay đổi luôn), (4) pháp vô-ngã (muôn vật đều rỗng-rang, vô-ngã). Nhờ phép quán nầy, ta chẳng bấu-víu vào thú vui vật-chất của cuộc đời sướng ít khổ nhiều nầy, mà lo tu-hành.

 

- Sám-hối = ngỏ lời xin lỗi, ăn-năn, và hứa chừa từ rày về sau.

 

- Đồng-tu = người bạn cùng tu-hành với mình.

 

- Vung-vãi = vứt bừa-bãi lên rất dơ-dáy.

 

- Bất-tịnh: Bất =chẳng; Tịnh = sạch-sẽ. Thân bất-tịnh, ở đây, chỉ vào bên trong thân chứa nhiều chất dơ, thân chẳng đáng quá quí-trọng.

 

- Từ-bi: Từ = thương người và đem vui cho người;Bi = thương người và cứu khổ cho người. Từ-bi, ở đây, nghĩa là vì lòng thương mà tha tội.

 

- Sân-hận: Sân =giận; Hận = hờn. Sân, giận thì nổi nóng la quát một lúc rồi nguôi; còn hận, hờn, tuy chẳng la lối, nhưng trong lòng giữ sự phiền-trách lâu ngày hơn.

 

- Hiềm-hận: cũng hờn-giận, nhưng dai-dẳng hơn.

 

- Nhẫn-nhục = nhịn nhục, cam chịu nhịn mà chẳng buồn tức hay oán

 

- Trơ = trơ-trơ, chẳng có phản-ứng gì.

 

- Nhục Vinh: Nhục =bị nói nặng, làm mất danh-dự, bị chạm tự-ái; Vinh = vinh-quang, được khen-ngợi, đề-cao.

 

- La-hán, A-la-hán: tiếng Pali là arahant, quả-vị Thánh, người đã diệt xong các phiền-não, chứng được vô-sanh, chẳng còn tái-sanh trong cõi Luân-hồi nữa, sống an-nhiên trong cảnh tịch-diệt.

 

- Luân-hồi: Luân = bánh xe; Hồi = trở lại. Theo giáo-lý nhà Phật, chúng-sanh sanh ra, lớn lên hưởng sướng thì ít mà chịu khổ thì nhiều, chết đi phải sanh trở lại nữa, tùy theo nghiệp; sự tái-sanh đó gọi là cảnh Luân-hồi. Tu-hành đến cấp La-hán, mới hết bị nghiệp ràng-buộc.

 

- Lận-đận = gian-nan, khốn-khó, khổ-sở, ba chìm bảy nổi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện đề-cao thái-độ của Trưởng-lão Xá-lợi-phất: chẳng tìm cách tự bào-chữa mình khi bị vu-oan, chẳng oán-giận người vu-cáo mình. Thái-độ nầy rất khó cho ta tập-luyện được, vì thường-nhơn hay phản-ứng, ăn miếng trả miếng. Trong sáu pháp Ba-la-mật của Bồ-tát-đạo: bố-thí, trì-giới, nhẫn-nhục, tinh-tấn, thiền-định và Bát-nhã, hạnh nhẫn-nhục là hạnh khó tập-luyện nhứt, vì phải biết quên cái Ta.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 095:

 

Bài Kệ dạy ta giữ tâm cho thật an-tịnh:

 

- Tâm an: phải trơ như đất, vững như trụ-đồng. Trơ như đất, có nghĩa là khi bị sỉ-nhục, chẳng dùng lời thô-ác chống đối lại, giữ sự im-lặng mà trong lòng chẳng giận. Vững như trụ đồng, có nghĩa là khi được khen chẳng nở mũi khoe-khoang; khi bị chê-trách chẳng xụ mặt giận-dữ.

 

- Tâm tịnh: Tịnh là trong sạch. Tâm thanh-tịnh chẳng chứa giữ các ý xấu-ác, chỉ nghĩ tốt cho người, chỉ nghĩ nhũn-nhặn cho mình.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ phải giữ tâm an-tịnh.

 

2.- Thử đề-nghị tập giữ tâm thản-nhiên:

 

- khi được khen, chỉ cám ơn người khen và mỉm cười.

 

- khi bị chê, cũng cám ơn và nhỏ-nhẹ hứa sửa đổi.

The Story of Thera Sariputta

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (95) of this book, with reference to the Chief Disciple Sariputta and a young bhikkhu.

It was the end of the vassa; and Thera Sariputta was about to set out on a journey with some followers. A young bhikkhu, who bore some grudge against the thera, approached the Buddha and falsely reported that Thera Sariputta had abused him and beaten him. The Buddha therefore sent for the thera and questioned him, and Thera Sariputta replied as follows: "Venerable Sir! How could a bhikkhu, who steadfastly keeps his mind on the body, set out on a journey without apologizing, after doing wrong to a fellow bhikkhu? I am like the earth, which feels no pleasure when flowers are cast on it, nor resentment when rubbish and excreta are piled upon it. I am also like the door-mat, the beggar, the bull with broken horns; I also feel abhorrence for the impurity of the body and am no longer attached to it."

When Thera Sariputta spoke thus, the young bhikkhu felt very much distressed and wept bitterly, and admitted that he had lied about the Chief Disciple Sariputta. Then the Buddha advised Thera Sariputta to accept the apology of the young bhikkhu, lest a heavy punishment should fall on him and get his head crushed. The young bhikkhu then admitted that he had done wrong and respectfully asked for pardon. Thera Sariputta pardoned the young bhikkhu and also asked to be forgiven if he also had done any wrong.

All those present talked in praise of Thera Sariputta, and the Buddha said, "Bhikkhus, a bhikkhu like Sariputta has no anger or ill will in him. Like the earth and the door-post, he is patient, tolerant, and firm; like the lake free from mud, he is serene and pure."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 95: Like the earth, the arahat is patient and is not provoked to respond in anger; like the door-post he is firm; he is unperturbed by the ups and downs of life; he is serene and pure like a lake free from mud. For such an arahat there will be no more rebirth.

Dhammapada Verse 95
Sariputtatthera Vatthu

Pathavisamo no virujjhati
indakhilupamo tadi subbato
rahadova apetakaddamo
1
samsara na bhavanti tadino.

Verse 95: Like the earth, the arahat is patient and is not provoked to respond in anger; like the door-post he is firm; he is unperturbed by the ups and downs of life; he is serene and pure like a lake free from mud. For such an arahat there will be no more rebirth.


1. apetakaddamo: free from mud. The lake water being free from mud is unpolluted; the arahat being free from defilements is also serene and pure.


dhp096_B
Verse-Kệ 096

(77).- Tích chuyện vị Sa-di ở Cô-sâm-bi - Kệ số 096

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến một vị Sa-di nhỏ tuổi ở xứ Cô-sâm-bi.

 

Thuở ấy ở Cô-sâm-bi có một cậu bé con lên bảy tuổi được nhận vào làm Sa-di, dưới sự chỉ-dạy của Trưởng-lão Thi-sa. Trước khi làm lễ thế-phát cho cậu, Trưởng-lão dạy cho cậu một đề-tài thiền-quán. Trong khi được cạo đầu, cậu bé suy-tư về đề-tài quán-chiếu thật là chăm-chú, khiến cho đến khi các sợi tóc cuối cùng vừa được hớt xong, thì cậu bé đã chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Sau đó ít lâu, Trưởng-lão Thi-sa dẫn cậu bé lên đường đi đến Xá-vệ để đảnh-lễ Đức Phật. Dọc đường, cả hai nghỉ đêm trong một ngôi chùa nhỏ trong làng. Đêm ấy, Trưởng-lão lên giường nằm ngủ, còn cậu bé lại ngồi thiền suốt cả đêm bên cạnh giường của Sư-phụ. Trời mờ mờ sáng, Trưởng-lão chỗi dậy, định đánh thức cậu Sa-di, mới dùng cán quạt lá-kè khỏ vào đầu để gọi dậy. Rủi thay, cán quạt lại đánh mạnh nhằm vào mắt cậu Sa-di. Cậu lấy tay che mắt, nhổm dậy, đi lo nấu nước nóng cho Sư-phụ rửa mặt. Khi bưng nước ấm dâng lên cho Thầy, cậu cầm thau nước có một tay, còn một tay thì che mắt. Sư-phụ quở, sao lại vô-lễ dùng có một tay? Cậu vội bỏ tay bụm mắt ra cầm lấy thau nước, bấy giờ Trưởng-lão mới nhận ra là mình đã đánh trúng mắt học-trò và làm hỏng hết một con mắt. Trưởng-lão vội-vàng xin lỗi, nhưng cậu Sa-di thưa: "Bạch Thầy, đó chẳng phải là lỗi của Thầy, mà chính là vì nghiệp cũ của con, nay con phải chịu chột mắt."

 

Đến khi đảnh-lễ Đức Phật, Trưởng-lão bạch Phật rằng, cậu Sa-di nầy là một bực cao-quí nhứt mà Trưởng-lão chưa từng gặp. Khi nghe kể chuyện lại, Đức Phật mới bảo rằng: ‘Nầy chư tỳ-kheo, một vị A-la-hán chẳng hề sanh lòng tức-giận đối với một ai, bao giờ cũng điều-phục các căn và luôn luôn tỏ ra thanh-thản và hoàn-toàn trầm-tĩnh."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Tâm trầm-tĩnh, ý lời trầm-tĩnh,

Các hành-động cũng đều trầm-tĩnh.

Đó là người có chánh-biến-tri,

Giải-thoát, sống quân-bình, an-tịnh.

(Kệ số 096.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sa-di: người mới vào chùa tập-sự tu-hành, chưa thọ-giới tỳ-kheo. Tiếng Pali là Sàmanera.

 

- Cô-sâm-bi: tên xứ nầy tiếng Pali là Kosambi.

 

- Thi-sa: tên của Trưởng-lão tiếng Pali là Tissa.

 

- Thế-phát: Thế = cắt, hớt (tóc); Phát = tóc. Làm lễ thế-phát là cạo trọc đầu đi tu.

 

- Đề-tài thiền-quán: Đề-tài là một đầu-đề, một đề-mục; Thiền-quán là để tâm suy-nghĩ thật sâu-xa về vấn-đề gì, chẳng hề xao-lãng.

 

- Quả-vị A-la-hán: quả-vị Thánh, cao nhứt trong bốn quả-vị của hàng Thanh-văn( = các đệ-tử sống gần bên Phật, nghe kinh và tu-tập theo)

 

- Ngồi Thiền: ngồi yên trong tư-thế kiết-già( =tréo hai chơn lên hai đùi), chăm-chú suy-tư về một đề-tài, chẳng lo ra. Còn gọi là toạ-thiền.

 

- Sư-phụ: Sư =thầy dạy; Phụ = cha. Sư-phụ là thầy dạy. Ở chùa, các vị tu-hành thường gọi thầy hay sư-cô dạy đạo cho mình là Sư-phụ.

 

- Lá-kè: lá cây kè, giống như lá dừa nước.

 

- Vô-lễ = vô phép, thiếu lễ-độ.

 

- Hỏng = hư. Làm hỏng mắt là làm hư con mắt.

 

- Nghiệp cũ: các hành-động của kiếp trước, nay sanh ra quả-báo.

 

- Chột mắt: bị hư hết một con mắt.

 

- Trầm-tĩnh: Trầm = chìm, lắng xuống; Tĩnh = yên-tịnh.

 

- Thanh-thản: nói về tâm-hồn của người cảm thấy nhẹ-nhàng, chẳng lo-lắng, chẳng phiền-muộn.

 

- Chánh-biến-tri: Chánh =chơn-chánh, đúng-đắn; Biến = cùng khắp tất cả, mọi việc; Tri =biết rõ. Chữ Chánh-biến-tri dùng để dịch danh-từ tiếng Phạn là Samyak-sambuddha, biết rõ được tất cả, đại-giác-ngộ.

 

- Quân-bình: Quân = đều nhau; Bình = ngang nhau, bằng nhau.Sống quân-bình có nghĩa là cuộc sống bình-thản, yên-ổn, chẳng náo-động, có tâm-hồn êm-ả, chẳng xao-xuyến.

 

- An-tịnh: An = yên-ổn; Tịnh = vắng-lặng. Chữ an-tịnh ở đây nói về tâm; tâm an-tịnh là tâm vừa trong-sạch, vừa yên-ổn, vắng-lặng, có nghĩa là lòng chẳng có ý ác, chẳng lo-sợ, chẳng phiền-muộn, luôn nhẹ-nhàng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa

 

1) Vị Sa-di chuyên-tâm quán-chiếu trong khi làm lễ thế-phát đã chứng-đắc được quả-vị cao-quí A-la-hán. Chẳng phải ai làm theo như thế mà cũng chứng-đắc được; đây là trường-hợp hết sức đặc-biệt; vì phải tu nhiều đời kiếp, còn chưa chứng được quả-vị A-la-hán như thế.

 

2) Khi bị đánh hư một mắt, vị Sa-di chẳng thốt lên lời than-vãn kêu đau: đây là ý-chí hết sức mạnh-mẽ đè-nén được cơn đau khủng-khiếp. Đến khi Thầy ngõ lời xin lỗi vì lỡ tay, vị Sa-di lại cho rằng chính vì nghiệp cũ của mình mà bị chột mắt chớ chẳng phải do lỗi vô-ý của Thầy gây ra. Thái-độ chẳng oán-hờn nầy rất đáng ta nễ-phục.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 096:

 

Bài Kệ nêu lên đức-tánh của vị A-la-hán: Tâm an-tịnh; Trí giải-thoát. Thế nào là tâm an-tịnh? Ở đây, có ba phương-diện: (1) tâm trầm-tĩnh; (2) ý trầm-tĩnh, (3) lời trầm-tĩnh, cả ba phương-diện nói đến sự trầm-tĩnh, nghĩa là luôn luôn hiền-từ, dịu-dàng, từ-tốn, thanh-thản. Thế nào là Trí giải-thoát? Ở đây, bài Kệ nói đến Chánh-biến-tri, đó sự hiểu-biết thông-suốt được tất cả mọi sự-việc; đấy là Trí-huệ của Đức Phật. Người Phật-tử còn chưa được chánh-biến-tri, cho nên cố gắng học-tập Kinh-điển, thực-hành lời dạy của Đức Phật, dẹp bỏ các tà-kiến, sẽ đi đến gần chỗ Trí-huệ được giải-thoát.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ phải luôn tập tâm trầm-tĩnh

 

2.- Đề-nghị một thái-độ trầm-tĩnh: bị đứt tay chảy máu nhiều, đừng khóc lóc, chớ cuống lên, hãy lo băng-bó trong yên lặng.

The Story of a Samanera from Kosambi

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (96) of this book, with reference to a samanera, a pupil of Thera Tissa from Kosambi.

Once, a seven year old boy was made a samanera at the request of his father. Before his head was shaved the boy was given a subject of meditation. While he was being shaved, the boy had his mind fixed steadfastly on the object of meditation; as a result, he attained arahatship as soon as they finished shaving his head.

After some time, Thera Tissa, accompanied by the samanera, set out for Savatthi to pay homage to the Buddha. On the way, they spent one night in a village monastery. The thera fell asleep, but the young samanera sat up the whole night beside the bed of the old thera. Early in the morning, the old thera thought it was time to wake up the young samanera. So he roused up the samanera with a palm-leaf fan, and accidentally hit the eye of the samanera with the handle of the fan and damaged the eye. The samanera covered that eye with one hand and went about doing his duties of getting water for the thera to wash his face and clean his mouth, sweeping the floor of the monastery, etc. When the young samanera offered water with one hand to the thera, the thera chided him, and said that he should offer things with both hands. Only then, did the thera learn how the samanera lost his eye. At that instant, he realized that he had wronged a truly noble person. Feeling very sorry and humiliated, he made an apology to the samanera. But the samanera said that it was not the fault of the thera, nor his own fault, but that it was only the result of kamma, and so the thera was not to feel sad about it. But the thera could not get over the unfortunate incident.

Then they continued their journey to Savatthi and arrived at the Jetavana monastery where the Buddha was in residence. The thera then told the Buddha that the young samanera who came along with him was the most noble person he had ever met, and related all that had happened on their way. The Buddha listened to him, and replied, "My son, an arahat does not get angry with anyone he is restrained in his senses and is perfectly calm and serene."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 96: An arahat is calm in his mind, calm in his speech, and also in his deed; truly knowing the Dhamma, such an arahat is free from moral defilements and is unpurturbed by the ups and downs of life.

Dhammapada Verse 96
Kosambivasitissattherasamanera Vatthu

Santam tassa manam hoti
santa vaca ca kamma ca
sammadanna vimuttassa
upasantassa tadino.

Verse 96: An arahat is calm in his mind, calm in his speech, and also in his deed; truly knowing the Dhamma, such an arahat is free from moral defilements and is unpurturbed by the ups and downs of life.


dhp097_B
Verse-Kệ 097

(78).- Tích chuyện về một lời nói của Đại-Đức Xá-lợi-phất - Kệ số 097

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập về ý-nghĩa của một lời nói của Trưởng-lão Xá-lợi-phất.

 

Thuở ấy có ba mươi vị tỳ-kheo từ một làng nọ đi đến tịnh-xá Kỳ-viên để đảnh-lễ Đức Phật. Đức Phật quán-thấy trong số đó sẽ có người sắp chứng-đắc được quả-vị A-la-hán, mới cho mời Trưởng-lão Xá-lợi-phất đến và hỏi rằng: "Nầy Xá-lợi-phất, ông có nghĩ rằng khi quán-chiếu thâm-sâu về các căn, hành-giả có thể chứng-đắc được Niết-bàn chăng?" Trưởng-lão Xá-lợi-phất bạch Phật: "Bạch Thế-tôn, về vấn-đề chứng-đắc được Niết-bàn nhờ quán-chiếu thâm-sâu về các căn, chẳng phải vì con đây đã nghe lời dạy của Thế-tôn, rồi tin-tưởng nơi Thế-tôn mà con tin theo đó; chỉ có những kẻ còn chưa tự mình chứng-đắc mới đi tin lời của người khác nói mà thôi." Nghe nói thế, một số tỳ-kheo hiểu-lầm và cho rằng Trưởng-lão chưa dứt sạch các tà-kiến và thiếu niềm tin nơi Đức Phật.

 

Đoán biết tâm-trạng nghi-ngờ nầy của các tỳ-kheo kia, Đức Phật liền giải-thích thêm: ‘Này các tỳ-kheo, lời nói của Xá-lợi-phất chỉ có nghĩa giản-dị như thế nầy: Xá-lợi-phất có tin rằng, nhờ quán-chiếu thâm-sâu các căn, hành-giả sẽ chứng-đắc Niết-bàn; nhưng Xá-lợi-phất chỉ tin như thế, sau khi chính mình đã thực-sự chứng-đắc Niết-bàn, chớ chẳng phải chỉ tin vì nhẹ dạ nghe theo lời dạy của kẻ khác. Xá-lợi-phất luôn luôn tin-tưởng vào Phật, tin-tưởng vào các hậu-quả của các hành-động thiện và bất-thiện."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người chẳng dễ tin vì nhẹ dạ,

Thông-đạt pháp vô-vi Niết-bàn,

Cắt mọi hệ-lụy gây tái-sanh,

Diệt mọi duyên tạo nên nhơn-quả,

Bao tham-ái cũng đều bỏ cả,

Quả thật là vô-thượng Thánh-nhơn.

(Kệ số 097.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đại-đức: Đại = lớn; Đức = đức-hạnh. Đại-đức là tiếng nhà chùa gọi các vị Tỳ-kheo; được trên ba mươi tuổi đạo thì gọi là Thượng-Toạ (thượng = trên; toạ = chỗ ngồi.), trên bốn mươi tuổi đạo là Hoà-thượng.

 

- Quả-vị A-la-hán, Xá-lợi-phất, Niết-bàn: xin xem lại bài trước.

 

- Quán-chiếu thâm-sâu: suy-nghĩ thật sâu-xa, chẳng xao-lãng.

 

- Các căn: Căn =gốc, nơi phát-sanh. Chữ các căn trong Phật-học chỉ vào năm giác-quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và da; nhưng trong Phật-học có sáu căn, thêm ý-căn trong tâm.

 

- Tà-kiến: Tà =xiêng-xéo, sai lầm; Kiến = ý-kiến. Tà-kiến là ý sai-lầm.

 

- Nhẹ dạ = nghe ai nói cũng liền tin theo, chẳng suy-xét cặn-kẽ.

 

- Hậu-quả: Hậu = sau;Quả = kết-quả. Hậu-quả của một hành-động là những gì xảy ra do hành-động đó gây nên. Hậu-quả =/ = nguyên-nhơn.

 

- Thiện và Bất-thiện: Thiện =lành; Bất-thiện = chẳng lành.

 

- Thông-đạt = hiểu rõ thật tường-tận.

 

- Pháp vô-vi: các sự-việc chẳng bị điều-kiện-hoá, chẳng bị biến-đổi, luôn-luôn thường-còn, được gọi là pháp vô-vi, thí-dụ như Chơn-lý, Hư-không là các pháp vô-vi. Niết-bàn cũng thế.

 

- Hệ-lụy: Hệ = liên-hệ, dính mắc vào; Lụy = bó-buộc.

 

- Tái-sanh: Tái = một lần nữa; sanh = sanh ra. Tái-sanh là sau khi chết đi ở cõi đời nầy lại sanh ra một đời khác, theo luật Luân-hồi.

 

- Duyên = cơ-duyên, những gì khiến cho một sự-việc xảy ra.

 

- Nhơn-Quả: nguyên-nhơn và hậu-quả.

 

- Tham-ái = sự tham-muốn thái-quá. Chính vì tham-ái (tiếng Pali là Tanha) mà con người phải tái-sanh mãi trong cõi Luân-hồi.

 

- Vô-thượng: Vô = chẳng có; Thượng = trên. Vô-thượng là bực mà trên đó chẳng còn ai hơn nữa.

 

- Thánh-nhơn: Thánh = theo giáo-lý nhà Phật, bực đã dứt được tái-sanh trong vòng Luân-hồi. Tu-hành đến bực A-la-hán là chứng bực Thánh; còn ba quả-vị kia: Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, vì còn tái-sanh, nên được gọi là bực Hiền. Đó là bốn quả-vị, ba hiền, một thánh của hàng Thanh-văn

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc hiểu-lầm về một lời nói của Trưởng-lão Xá-lợi-phất: "Chẳng phải vì con nghe lời dạy của Thế-tôn mà con tin theo..." rồi cho rằng Trưởng-lão thiếu lòng tin-tưởng nơi Đức Phật. Đâu phải vậy! Ý Trưởng-lão muốn nói, chỉ tin vào Phật, sau khi đem lời dạy của Phật ra thi-hành thấy đúng và có lợi-ích. Nếu ta vừa nghe xong, đã tin ngay, đó có thể là vì nhẹ dạ mà tin, niềm tin đó còn lỏng-lẻo; chỉ khi nào ta thực-hành theo lời dạy, thấy rõ kết-quả mong-muốn, bấy giờ niềm tin mới vững-chắc.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 097:

 

Xin phân-tách các đức-tánh của Thánh-nhơn, nêu trong bài Kệ:

 

1) Người chẳng dễ tin vì nhẹ dạ: đây là lòng tin-tưởng thật vững-chắc vào Tam-Bảo: Phật, Pháp và Tăng.

 

2) Thông-đạt pháp vô-vi Niết-bàn: chẳng những hiểu rõ rành-rẽ về các pháp vô-vi ( = thường-hằng, chẳng bị điều-kiện-hoá, chẳng bị thay đổi) mà còn thực-hành, chứng-đắc về Niết-bàn ( = tâm-trạng người đã dứt hết các phiền-não, chẳng còn phải tái-sanh nữa.)

 

3) Cắt mọi hệ-luỵ gây tái-sanh: có nghĩa là dứt được mọi ràng-buộc trong cảnh Luân-hồi; nói cách khác, khiến cho sạch được nghiệp, chẳng còn tạo nhơn ác để phải tái-sanh lại nữa.

 

4) Diệt mọi duyên tạo nên nhơn-quả: tức là bỏ dứt việc làm ác tạo nên ác-báo sau nầy, chỉ chuyên hành thiện để mong được giải-thoát.

 

5) Bao tham-ái cũng đều bỏ cả: dứt mọi tham-luyến vào cuộc sống sướng ít khổ nhiều nầy, chỉ chuyên-tâm tu để được giải-thoát. Nhắm mục-tiêu Niết-Bàn, mà chẳng mong-cầu sớm đắc Niêt-bàn, vì còn mong-cầu là còn tham-ái.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ về lòng tin vững-chắc vào Phật-pháp, sau khi đã biết thực-hành theo giáo-pháp.

 

2.- Đề-nghị bỏ thái-độ nghe đồn ở đâu có chùa linh-thiêng, có thầy đắc-đạo, liền vội chạy đi theo. Đừng chê ngay, xét cho kỹ mới tin.

The Story of Thera Sariputta

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (97) of this book, with reference to Thera Sariputtta.

Thirty bhikkhus from a village had arrived at the Jetavana monastery to pay homage to the Buddha. The Buddha knew that the time was ripe for those bhikkhus to attain arahatship. So, he sent for Sariputta, and in the presence of those bhikkhus, he asked, "My son Sariputta, do you accept the fact that by meditating on the senses one could realize Nibbana ?" Sariputta answered, "Venerable Sir, in the matter of the realization of Nibbana by meditating on the senses, it is not that I accept it because I have faith in you; it is only those who have not personally realized it, that accept the fact from others." Sariputta's answer was not properly understood by the bhikkhus; they thought, "Sariputta has not given up wrong views yet; even now, he has no faith in the Buddha."

Then the Buddha explained to them the true meaning of Sariputta's answer. "Bhikkhus, Sariputta's answer is simply this; he accepts the fact that Nibbana is realized by means of meditation on the senses, but his acceptance is due to his own personal realization and not merely because I have said it or somebody else has said it. Sariputta has faith in me; he also has faith in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat).


At the end of the discourse, all those bhikkhus attained arahatship.

hammapada Verse 97
Sariputtatthera Vatthu

Assaddho akatannu ca
sandhicchedo ca yo naro
hatavakaso vantaso
1
sa ve uttamaporiso.

Verse 97. He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat).


1. Vantaso: one who has discarded all craving (lit., one who has vomited out all craving).


dhp098_B
Verse-Kệ 098

(79).- Tích chuyện Trưởng-lão Lê-va-ta - Kệ số 098

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Lê-va-ta, tu ẩn-cư trong rừng keo.

 

Thuở ấy gia-đình của Trưởng-lão Xá-lợi-phất có nhiều người đi xuất-gia, trong nhà chỉ còn một cậu trai nhỏ bảy tuổi. Cha mẹ lo-lắng rồi đây chẳng còn ai ở bên cạnh lúc tuổi già, nên đã sớm nhờ mối-lái tìm vợ cho cậu Lê-va-ta, theo phong-tục tảo-hôn ở Ấn-độ. Đến ngày đám cưới của mình, cậu Lê bỗng gặp một bà cụ già, hơn trăm tuổi; nhìn thấy cụ già lụm-cụm, cậu liền nghĩ đến cảnh khổ của con người trong kiếp sống, rồi đây ai cũng phải trải qua sự suy-nhược của tuổi già. Nghĩ đến đấy, cậu liền bỏ buổi lễ, trốn đi, chạy vào ngụ trong một tu-viện. Bấy giờ, các vị tỳ-kheo trong tu-viện, trước đây có được lời dặn của Trưởng-lão Xá-lợi-phất, hễ em của Ngài muốn đi tu, thì cứ nhận ngay cho làm Sa-di. Sau lễ thế-phát, các tỳ-kheo liền thông-báo cho Trưởng-lão Xá-lợi-phất hay tin rằng Lê-va-ta đã xuất-gia.

 

Sa-di Lê-va-ta được các tỳ-kheo chỉ-dạy cho một đề-tài thiền-quán, liền xin phép lên đường vào khu rừng cây keo, cách tu-viện hơn ba mươi do-tuần để tu-hành ẩn-cư. Chẳng bao lâu, chứng đươc quả-vị A-la-hán. Sau mùa an-cư kiết-hạ, Trưởng lão Xá-lợi-phất xin phép Đức Phật để vào khu rừng keo thăm em. Đức Phật bảo, Ngài và chúng Tăng sẽ cùng đi để viếng nơi cư-ngụ của Sa-di Lê-va-ta.

 

Đường đi đến rừng keo khá xa, quanh-co, gồ-ghề, lại vắng người, nhưng chư Thiên đã dựng lên ở mỗi do-tuần một trạm nghỉ chơn, có đầy-đủ thức-ăn vật-uống để cúng dường Đức Phật và chúng Tăng. Khi hay tin Tăng-đoàn sắp đến, Sa-di Lê-va-ta nỗ-lực dựng thêm lều để tiếp-đón. Và trong thời gian lưu lại tại rừng keo, mọi người đều được đủ tiện-nghi.

 

Khi trở về, Đức Phật và chúng Tăng ghé qua tu-viện Đông-viên ở phiá đông thành Xá-vệ. Bà Vi-sa-kha ra nghinh-đón, dâng-cúng thực-phẩm lên Đức Phật. Sau buổi ngọ-trai, bà Vi-sa-kha thưa hỏi Đức Phật về nơi cư-trú trong rừng keo của Sa-di Lê-va-ta như thế nào, Đức Phật liền đáp bằng bài Kệ, như sau đây:

 

Dù tại trong làng mạc,

Hay ở chốn rừng sâu,

Vực thẩm hay đồi cao,

Nơi La-hán toạ-lạc,

Vùng đất lành khả-ái.

(Kệ số 098.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Lê-va-ta: tên của Trưởng-lão, tiếng Pali là Revata.

 

- Rừng keo = rừng nầy có nhiều cây keo (tên cây nầy là Acacia)

 

- Ẩn-cư: Ẩn = ẩn-núp, ở chỗ kín-đáo; Cư = ở, cư-ngụ. Tu ẩn-cư là ở nơi vắng-vẻ, một mình, để chuyên-tâm tu-hành.

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà. Xuất-gia là rời nhà đi tu.

 

- Mối-lái = người ở giữa, giúp cho hai người lạ, tính xong công-việc. Trong đám cưới, ta thường gọi người mối-lái là ông mai, bà mai.

 

- Tảo-hôn: Tảo = quá sớm; hôn =cưới vợ. Theo tục tảo-hôn, cha me lo cưới vợ cho con trai còn nhỏ tuổi. Tục nầy ở Việt-nam xưa kia cũng có.

 

- Suy-nhược: Suy = suy-sụp; Nhược = yếu-ớt. Trong bốn cảnh Khổ, được nói trong giáo-lý nhà Phật: sanh, lão, bịnh, tử thì lão ( =già)chỉ vào sự suy-nhược. Chẳng có ai tránh khỏi sự suy-nhược khi về già cả.

 

- Thế-phát: Thế = cắt (tóc); Phát = tóc. Lễ thế-phát là lễ cạo trọc đầu để thọ-giới Sa-di ( =người mới vào chùa tập-sự tu-hành, chưa thọ giới tỳ-kheo. Sa-di, tiếng Pali là Sàmanera.)

 

- Đề-tài thiền-quán: xin nhắc lại, đó là một đầu-đề để suy-nghĩ sâu-xa khi ngồi Thiền.

 

- Do-tuần: dài khoảng một dặm (km, cây số), tiếng Pali là yojana.

 

- Quả-vị A-la-hán, An-cư kiết-hạ: xin xem lại nghĩa ở hai bài trước.

 

- Chư Thiên = các vị Trời.

 

- Tu-viện Đông-viên = tu-viện nầy, tiếng Pali là Pubbàràma, do bà cư-sĩ Vi-sa-kha xây cất, nằm về phiá Đông của chùa Kỳ-viên.

 

- Toạ-lạc: Toạ = ngồi; Lạc = chỗ tụ-hội. Ở đây, toạ-lạc = ở, cư-trú.

 

- Khả-ái = đáng yêu.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa:

 

1) Bỏ trốn vào ngày đám cưới: đây là trường-hợp rất đặc-biệt của một cậu bé bảy tuổi rời cuộc sống trong gia-đình để đi tu. Tích chuyện thuật lại vì cậu Lê trông-thấy cảnh già-suy nơi bà lão lụm-cụm hơn trăm tuổi mà quyết-định xuất-gia, tìm đường giải-thoát khỏi cảnh Khổ của sanh-già-bịnh-chết. Quyết-định xuất-gia nầy xảy ra vào ngày đám cưới rất kịp thời vì ngăn chặn được sự tạo thêm các mối ràng-buộc về vợ con sau nầy. Ta có thể thắc-mắc tại sao một cậu bé mới bảy tuổi mà có được một quyết-định quan-trọng như thế; nhưng xét lại, trong nhà cậu, các anh chị em đều đã xuất-gia, đó cũng là một nguyên-nhơn đã thúc-đẩy cậu noi theo con đường mà anh chị đã chọn. Nếu ta tin vào tiền-kiếp, có lẽ trong các đời trước, cậu đã tu-hành nhiều, nên kiếp nầy mới sớm cắt-đứt được mọi luyến-ái trong gia-đình mà đi xuất-gia.

 

2) Vùng đất lành khả-ái nơi vị A-la-hán ẩn-tu: Tích chuyện thuật lại Đức Phật đến Rừng Keo thăm-viếng nơi Sa-di Lê-va-ta ở, với mục-đích đề-cao cảnh-trí ẩn-tu thanh-tịnh. Tại sao nơi có vị A-la-hán ở lại là vùng đất khả-ái, đáng yêu? Đó là một nơi vắng-vẻ, xa hẳn chốn xôn-xao, đua chen của đời sống xã-hội ồn-ào. Đó là một nơi mà đức-hạnh cao-cả của người tu-hành có thể làm biến-đổi được phong-tục của những người sống chung-quanh, bằng lối sống giản-dị, an-nhiên, tự-tại.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 098:

 

Trong bài Kệ nầy, Đức Phật bảo, bất cứ nơi nào có vị A-la-hán đang tu-hành, dầu ngay trong làng-mạc, hay ở chốn vắng-vẻ, nhờ đức-hạnh cao-cả và sáng-chói của bực Thánh, đã trở thành một vùng đất an-lành, khả-ái. Tại sao? Lý-do vừa được nêu lên ở mục 2, bên trên.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để biết mến nơi tu-hành thanh-vắng.

 

2.- Để giải-trí vào dịp cuối tuần, xin đề-nghị đưa gia-đình đi viếng thăm một ngôi chùa trên núi.

The Story of Thera Revata

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (98) of this book, with reference to Thera Revata of the Acacia (khadira) Forest.

Revata was the youngest brother of the Chief Disciple, Sariputta. He was the only one of the brothers and sisters of Sariputta who had not left home for the homeless life. His parents were very anxious to get him married. Revata was only seven years old when his parents arranged a marriage for him to a young girl. At the wedding reception, he met an old lady who was one hundred and twenty years old, and he realized that all beings are subject to ageing and decay. So, he ran away from the house and went straight to a monastery, where there were thirty bhikkhus. Those bhikkhus had been requested earlier by Thera Sariputta to make his brother a samanera if he should come to them. Accordingly, he was made a samanera and Thera Sariputta was informed about it.

Samanera Revata took a subject of meditation from those bhikkhus and left for an acacia forest, thirty yojanas away from the monastery. At the end of the vassa, the samanera attained arahatship. Thera Sariputta then asked permission from the Buddha to visit his brother, but the Buddha replied that he himself would go there. So the Buddha accompanied by Thera Sariputta, Thera Sivali and five hundred other bhikkhus set out to visit Samanera Revata.

The journey was long, the road was rough and the area was uninhabited by people; but the devas looked to all the needs of the Buddha and the bhikkhus on the way. At an interval of every yojana, a monastery and food were provided, and they travelled at the rate of a yojana a day. Revata, learning about the visit of the Buddha, also made arrangements to welcome him. By supernormal power he created a special monastery for the Buddha and five hundred monasteries for the other bhikkhus, and made them comfortable throughout their stay there.

On their return journey, they travelled at the same rate as before, and came to the Pubbarama monastery on the eastern end of Savatthi at the end of the month. From there, they went to the house of Visakha, who offered them alms-food. After the meal, Visakha asked the Buddha if the place of Revata in the acacia forest was pleasant.

And the Buddha answered in verse as follows:

Verse 98: In a village or in a forest, in a valley or on a hill, wherever arahats dwell, that place is delightful.

Dhammapada Verse 98
Khadiravaniyarevatatthera Vatthu

Game va yadi varanne
ninne va yadi va thale
yattha arahanto viharanti
tam bhumiramaneyyakam.

Verse 98: In a village or in a forest, in a valley or on a hill, wherever arahats dwell, that place is delightful.


dhp099_B
Verse-Kệ 099

80) Tích chuyện về một người đàn-bà quyến-rũ - Kệ số 099

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến việc một tỳ-kheo bị một người đàn-bà quyến-rũ.

 

Thuở ấy có một vị tỳ-kheo, sau khi được Đức Phật chỉ-dạy cho một đề-tài thiền-quán, liền đến một khu vườn để thực-tập toạ Thiền. Bấy giờ, có một người đàn-bà đi ngang qua trông-thấy trang-mạo tuấn-tú của vị tu-sĩ mới sanh lòng quyến-luyến, và đến bên cạnh tìm cách dụ-dỗ. Vị tỳ-kheo vừa sợ-hãi, vừa cảm thấy toàn thân được một sự thoả-thích lâng-lâng tràn-ngập. Từ nơi hương-phòng ở chùa Kỳ-viên, Đức Phật quán-thấy cảnh-tượng ấy, ngại cho vị tỳ-kheo sa-ngã, Ngài dùng thần-thông, chiếu hào-quang đến khu vườn và bảo vị Tỳ-kheo rằng: ‘Nầy Tỳ-kheo, bọn phàm-phu thường hay chạy theo các dục-lạc về thể-chất; đây chẳng phải là nơi thuận-tiện cho việc toạ-thiền. Nên chọn nơi vắng-vẻ trong rừng sâu, vì phàm-phu chẳng tìm thấy thoả-thích ở các nơi ấy."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Rừng-rú đầy thích-thú,

Người đời ít ai chuộng.

Bực đã dứt dục-vọng,

Mến sống cảnh rừng hoang.

(Kệ số 099.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tỳ-kheo: tiếng Pali là Bhikkhu, phiên-âm là bí-sô, dịch nghĩa là khất-sĩ, là tu-sĩ theo Phật-giáo, giữ giới khất-thực ( =đi xin ăn).

 

- Quyến-rũ = theo rủ-rê khiến cho người phải ngã theo điều xấu.

 

- Đề-tài thiền-quán: xin nhắc lại, một đầu-đề hay là đề-mục để suy-nghĩ thật sâu-xa, tâm chẳng xao-động, trong khi ngồi Thiền.

 

- Toạ Thiền = ngồi Thiền.

 

- Trang-mạo = hình-dung, dung-nhan, gương mặt, dáng-vóc.

 

- Tuấn-tú: đẹp trai, hiên-ngang, khôi-ngô.

 

- Hương-phòng = căn phòng có hương thơm, nơi dành riêng cho Đức Phật; tiếng Pali là Gandhakuti.

 

- Quán-thấy: trong cơn Thiền-định, thấy được nơi tâm.

 

- Thần-thông = phép-lực cao-cường như có thể bay trên không.

 

- Hào-quang = ánh-sáng chói lọi và rực-rỡ.

 

- Phàm-phu: Phàm =tầm-thường; phu = người. Phàm-phu là người thường, chưa tu; trái nghĩa với bực Thánh-hiền.

 

- Dục-lạc: Dục =ham-muốn; lạc =thú vui. Chữ dục-lạc thường trỏ vào các thú-vui thể-chất, thoả-mãn các giác-quan, nên thấp-kém.

 

- Dục-vọng = ham-muốn, giống nghĩa với chữ dục-lạc.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể việc một tỳ-kheo ngồi Thiền trong vườn bị một người đàn-bà đi ngang qua quyến-rũ; nhưng nhờ Đức Phật chỉ dạy nên chọn nơi rừng sâu vắng-vẻ, mới khỏi bị sa-ngã.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là khi ngồi Thiền, ta phải chọn một nơi thích-hợp, vắng-vẻ, mới có thể chuyên-tâm tu-hành.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 099:

 

Bài Kệ rất giản-dị, chẳng chữ nào khó cả, đề-cao cảnh thanh-vắng của rừng-rú, dễ cho việc tu-hành tinh-tấn. Người thường chẳng thích nơi rừng-rú vì họ còn ham-mê các thú-vui nhục-dục, rộn-ràng; còn người đã dứt bỏ mọi dục-vọng (tức là bực A-la-hán), dẹp bỏ mọi ham-muốn, thì thấy thoả-thích khi sống trong cảnh núi rừng xa vắng.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để biết mến chuộng cảnh núi rừng.

 

2.- Thử đề-nghị một cách nghỉ hè: tham-dự một khoá tu Thiền tại vùng núi rừng. Đây là một lối thay đổi không-khí rất thoải-mái, đi du-lịch rất thích-thú, chẳng phải chỉ để ngoạn cảnh núi non hùng-vĩ, mà còn có dịp ngồi dưới gốc cây khô, trên tảng đá mòn, tĩnh-tâm xét lại lòng mình.

The Story of a Woman

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (99) of this book, with reference to a woman of doubtful character.

A bhikkhu, after taking a subject of meditation from the Buddha, was practising meditation in an old garden. A woman of doubtful character came into the garden and, seeing the bhikkhu, tried to attract his attention and seduce him. The thera got frightened; at the same time, his whole body was diffused with some kind of delightful satisfaction. The Buddha saw him from his monastery, and with his supernormal power, sent rays of light to him, and the bhikkhu received this message, which said, "My son, where worldlings seek sensual pleasures is not the place for bhikkhus; bhikkhus should take delight in forests where worldlings find no pleasure."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 99: Forests are delightful, but the worldlings find no delight in them; only those who are free from passion will find delight in them, for they do not seek sensual pleasures.

Dhammapada Verse 99
Annatara itthi Vatthu

Ramaniyani arannani
yaittha na ramati jano
vitaraga ramissanti
na te kamagavesino.

Verse 99: Forests are delightful, but the worldlings find no delight in them; only those who are free from passion will find delight in them, for they do not seek sensual pleasures.

End of Chapter Seven: The Arahat (Arahantavagga)

 
__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 583)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 341)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 371)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 302)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 327)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 384)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1125)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 605)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 423)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 831)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4104)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8320)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1278)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 557651)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1713)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 730)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 932)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
27 Tháng Hai 20188:42 CH(Xem: 824)
Tôi có quen một ông bạn, ông ta nói rằng ông ta thường xuyên quên chỗ để cây bút, và ông cũng thường xuyên mất bút. Vì thế, ông chỉ xử dụng những cây bút rẻ tiền, để ông ta khỏi phải phiền muộn về chuyện mất bút. Ông lo lắng về thói quen bất cẩn nầy.
14 Tháng Hai 20188:00 SA(Xem: 1228)
* Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi, mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó. * Á a a a. Nhấp chén đầy vơi chúc người, người vui. Á a a a. Muôn lòng xao xuyến duyên đời.
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1020)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1829)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 406)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2569)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 406)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 329)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1563)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 875)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4078)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".