Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 11, Phẩm Già - The Dhammapada, Chapter 11, Old Age

09 Tháng Mười Hai 20185:54 SA(Xem: 362)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 11, Phẩm Già - The Dhammapada, Chapter 11, Old Age

Chapter11-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 11, Phẩm Già
The Dhammapada, Chapter 11, Jaravagga: Old Age

(Kệ 146-156 - Verses 146-156)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp146_B
Verse-Kệ 146

(118).- Tích chuyện về các bạn đạo của bà Vi-sa-kha - Kệ số 146

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các bạn đạo của bà Vi-sa-kha.

 

Bà Vi-sa-kha là một ưu-bà-di rất nổi tiếng vào thời Đức Phật Thích-ca. Nhà giàu-có lớn, bà xây cất chùa Đông-viên để cúng-dường cho Ni-đoàn. Bà rất được dân-chúng tín-phục, nên có nhiều gia-đình trong vùng cho vợ con đi theo bà, làm bạn đạo với bà, để noi gương đức-hạnh của bà. Vào một dịp lễ lớn kéo dài cả tuần, các bà bạn đạo, nhơn lúc vắng bà Vi-sa-kha, lấy rượu còn dư lại của các ông chồng, đem ra cùng nhau uống say-sưa. Đến khi tỉnh lại, họ xin bà Vi-sa-kha dẫn họ tới chùa Kỳ-viên để đảnh-lễ Phật và nghe giảng-pháp. Lúc ra đi, họ dấu nhiều chai rượu nhỏ trong áo, lén lút uống dọc đường, xong rồi quẳng chai đi. Tới cổng chùa, họ đã say mèm, múa chơn múa tay, miệng hát nhảm-nhí. Bà Vi-sa-kha mới thỉnh-cầu Đức Phật giảng-dạy Chánh-pháp cho họ nghe.

 

Đức Phật nhìn thấy quang-cảnh như thế, biết bọn đàn-bà đang bị Ma men khuấy rối. Ngài dùng sức thần-thông tắt hết đèn đuốc trong phòng. Một cảnh tối om, dầy-dặt bao trùm lên tất cả. Bọn đàn-bà ngơ-ngác, tỉnh cả rượu. Bấy giờ, Đức Phật mới phóng một đạo hào-quang sáng chói rọi lên khắp nơi. Sau khi họ đã tỉnh-táo lại, qùi xuống đảnh-lễ, Đức Phật mới bảo họ: "Nầy các tín-nữ, các bà chẳng nên uống nhiều rượu đến nổi say-sưa rồi lại vào chùa trong tư-cách thật đáng hổ-thẹn như thế. Các bà đã bị Ma men làm cho mất trí, múa hát, cười-cợt, hò-hét om-sòm như bọn người điên. Hãy mau thức-tỉnh lại."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Cười sao được, sướng vui sao được,

Lửa hồng đang thiêu-đốt thế-gian.

Bị màn đêm bao phủ tối đen,

Sao chẳng tìm theo ánh ngọn đèn?

(Kệ số 146.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Vi-sa-kha: tên thật của bà bằng tiếng Pali là Visakha.

 

- Ưu-bà-di: đàn-bà tu tại-gia, đến chùa làm công-quả và học Đạo. Đức Phật có bốn hạng đệ-tử, gọi là Tứ bộ-chúng: (1)Ty-kheo (Bhikkhu); (2)Tỳ-kheo-ni (Bhikkhuni); đó là hai hạng xuất-gia; (3) Ưu-bà-tắc hay là cận-sự-nam (Upàsaka); (4) Ưu-bà-di hay là cận-sự-nữ (Upàsikà), hai hạng sau là cư-sĩ tu tại-gia.

 

- Chùa Đông-viên: chùa nầy nằm về phiá Đông chùa Kỳ-viên, do bà Vi-sa-kha xây cất; tên tiếng Pali là Pubbàràma.

 

- Ni-đoàn: Ni = tỳ-kheo-ni, nữ tu-sĩ Phật-giáo. Ni-đoàn là đoàn-thể các vị nữ-tu-sĩ.

 

- Ma men = chất men rượu uống vào làm mất trí như bị Ma phá.

 

- Sức thần-thông: sức mạnh phi-thường do nơi đạo-lực cao.

 

- Hào-quang = ánh-sáng rực-rỡ toả ra từ bực tu-hành đạo-lực cao.

 

-Tín-nữ:Tín = tin-tưởng; Nữ = đàn-bà. Còn đàn-ông, gọi là thiện-nam

 

- Lửa hồng: nghĩa bóng là sự say-đắm, tham-mê.

 

- Ánh ngọn đèn: nghĩa bóng là ánh-sáng của Trí-huệ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc các người đàn-bà uống rượu say-sưa, bị Đức Phật quở-trách. Giới thứ năm của những người tu tại-gia là cấm uống rượu, vì khi say thì trí thông-minh bị mờ-ám, làm nhiều điều sằng bậy.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 146:

 

Thử phân-tách từng câu bài Kệ:

 

- Hai câu đầu: Chẳng vui cười được ở thế-gian, vì đang bị lửa hồng thiêu-đốt. Lửa gì? Lửa tham-mê, say-đắm, thúc-đẩy con người sa vào tội-lỗi, rồi phải chịu đau-khổ mãi trong kiếp Luân-hồi.

 

- Câu 3: Màn đêm tối đen, nghĩa bóng là sự si-mê, ngu-tối.

 

- Câu 4: Ánh ngọn đèn đây là ánh-sáng của Trí-huệ.

 

HỌC TẬP:

 

1- Học kỹ bài Kệ, ghi nhớ Tích chuyện, để giữ giới cấm uống rượu.

 

2.- Trong các tiệc vui, nên dùng nước trái cây thay cho rượu.

The Story of the Companions of Visakha

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (146) of this book, with reference to companions of Visakha.

Five hundred men from Savatthi, wishing to make their wives to be generous, kind-hearted and virtuous like Visakha, sent them to Visakha to be her constant companions. During a bacchanalian festival which lasted for seven days, the wives of those men took all the drinks left by their husbands and got drunk in the absence of Visakha. For this misbehaviour they were beaten by their husbands. On another occasion, saying that they wished to listen to the Buddha's discourse, they asked Visakha to take them to the Buddha and secretly took small bottles of liquor hidden in their clothes.

On arrival at the monastery, they drank all the liquor they had brought and threw away the bottles. Visakha requested the Buddha to teach them the Dhamma. By that time, the women were getting intoxicated and felt like singing and dancing. Mara, taking this opportunity made them bold and shameless, and soon they were boisterously singing, dancing, clapping and jumping about in the monastery. The Buddha saw the hand of Mara in the shameless behaviour of these women and said to himself, "Mara must not be given the opportunity." So, the Buddha sent forth dark-blue rays from his body and the whole room was darkened; the women were frightened and began to get sober. Then, the Buddha vanished from his seat and stood on top of Mount Meru, and from there he sent forth white rays and the sky was lit up as if by a thousand moons. After thus manifesting his powers, the Buddha said to those five hundred women, "You ladies should not have come to my monastery in this unmindful state. Because you have been negligent Mara has had the opportunity to make you behave shamelessly, laughing and singing loudly, in my monastery. Now, strive to put out the fire of passion (raga) which is in you".

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 146: Why is there laughter? Why is there joy although (the world) is always burning? Shrouded in darkness why not seek the light?


At the end of the discourse those five hundred women attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 146
Visakhaya Sahayikanam Vatthu

Ko nu haso kimanando
niccam pajjalitesati
andhakarena
onaddha
padipamna gavesatha.

Verse 146: Why is there laughter? Why is there joy although (the world) is always burning? Shrouded in darkness why not seek the light?


1. pajjalite: burning, in this context, it means burning with fires of passion, etc. (The Commentary)

2. andhakarena: darkness, in this context, ignorance of the Four Noble Truths. (The Commentary)

3. padipam: light, in this context, wisdom. (The Commentary)


dhp147_B
Verse-Kệ 147

(119).- Tích chuyện nàng Sĩ-mã - Kệ số 147

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến nàng dâm-nữ tên là Sĩ-mã.

 

Thuở ấy ở thành Vương-xá có một người dâm-nữ tên là Sĩ-mã, nhan-sắc rất đẹp-đẽ, thường dâng-cúng thực-phẩm cho tám vị tỳ-kheo đi khất-thực. Một vị tỳ-kheo khen sắc đẹp của nàng Sĩ-mã và thực-phẩm nàng hiến-tặng rất thơm ngon. Một vị tỳ-kheo trẻ tuổi nghe thấy, mới tháp-tùng với bạn đồng-tu, ghé qua nhà nàng Sĩ-mã. Hôm ấy, nàng Sĩ-mã bị bịnh, nhưng cũng gượng đau ra dâng thực-phẩm cúng-dường. Vị tỳ-kheo trẻ tuổi nhìn nàng dâm-nữ, nghĩ trong lòng, tuy nàng đang bị bịnh nhưng vẻ đẹp vẫn rất sắc-sảo, rồi trong tâm khởi lên yêu-mến nàng.

 

Tối hôm ấy, trở cơn đau nặng, nàng Sĩ-mã chết. Vua Tần-bà-sa-la hay tin đó, đến thưa trình cùng Đức Phật, rằng người em gái của vị y-sĩ Kỳ-bà, tên là Sĩ-mã đã qua đời. Đức Phật dạy, hãy mang thi-thể nàng Sĩ-mã ra nghĩa-địa, khoan mai-táng, và trong vài ba ngày, cho người canh-chừng thú rừng hay chim kên-kên đến ăn thịt. Nhà vua tuân theo lời Phật dặn. Đến ngày thứ tư, Đức Phật cùng chư Tăng, Vua quan và dân-chúng ra nghĩa-địa. Vị tỳ-kheo trẻ tuổi cũng đi theo, nhưng vẫn chưa biết tin nàng Sĩ-mã đã chết.

 

Đến nghĩa-địa, Đức Phật tới gần thi-thể nàng Sĩ-mã, mọi người đứng vòng quanh. Đức Phật bảo nhà Vua sai một người lính to tiếng xướng lên rằng, ai muốn được ở cùng nàng Sĩ-mã trong một đêm thì hãy trả một ngàn quan tiền. Mọi người nhìn thi-thể tái-nhợt, nằm sóng-sượt đó, chẳng ai đáp. Đức Phật lại bảo người lính xướng lên, ai muốn được ở với nàng Sĩ-mã một đêm thì chỉ trả năm trăm, một trăm, một chục, rồi một quan thôi. Chẳng ai trả lời cả. Vị tỳ-kheo trẻ tuổi kia cũng im-lặng. Bấy giờ Đức Phật mới nói: ‘Nầy chư Tăng! Hãy nhìn nàng Sĩ-mã. Trước kia, khi còn sống, muốn gần nàng một đêm, phải trả đến ngàn tiền, nay nàng nằm đó, chẳng ai muốn cả, dầu chẳng phải tốn kém gì. Thân-thể con người, ai cũng vậy, suy-yếu, già-lão rồi tàn-tạ như thế."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Hãy nhìn thân, bề ngoài xinh-xắn,

Còn bên trong, một đống vết thương.

Gây khổ đau, sao còn vướng-bận,

Thân nầy đâu bền-vững, hằng thường.

(Kệ số 147.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sĩ-mã: tên nàng dâm-nữ nầy bằng tiếng Pali là Sirimà.

 

- Vương-xá = thủ-đô Ràjagaha của xứ Ma-kiệt-đà ( =Magadha).

 

- Dâm-nữ: người phụ-nữ bán sắc đẹp cho đàn-ông mua vui.

 

- Tần-bà-sa-la: tên vị vua nước Ma-kiệt-đà, rất tôn-sùng đạo Phật; tiếng Pali là Bimbisara.

 

- Kỳ-bà: tên vị y-sĩ nổi tiếng thời Đức Phật, có trị vết thương cho Đức Phật khi Ngài bị Đề-bà-đạt-đa lăn đá. Tên tiếng Pali là Jìvaka.

 

- Thi-thể = thân-xác người chết.

 

- Nghĩa-địa = nơi chôn-cất người chết.

 

- Mai-táng = chôn người chết.

 

- Xướng = nói thật to tiếng cho mọi người nghe được.

 

- Hằng-thường = thường-hằng, còn hoài hoài.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một nàng dâm-nữ nhan-sắc đẹp-đẽ khi còn sống được mọi người yêu-chuộng, đến khi chết đi, chẳng ai muốn gần thi-thể của nàng. Đức Phật nhơn đó giảng về phép quán thân bất-tịnh, để dứt bỏ sự tríu-mến về tấm thân vật-chất, và phép quán thi-thể người chết để suy ra lẽ vô-thường của mọi sự-vật.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 147:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ dạy ta chẳng nên quá tríu-mến tấm thân vật-chất và đừng mê-đắm các thú-vui xác-thịt.

 

HỌC TẬP:

 

- Học kỹ bài Kệ, ghi nhớ: muốn dẹp bỏ lòng dâm-dục, cần phải quán thân bất-tịnh ( = chẳng sạch, vì bên trong chứa các chất dơ-bẩn).

The Story of Sirima

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (147) of this book, with reference to Sirima the courtesan.

Once, there lived in Rajagaha, a very beautiful courtesan by the name of Sirima. Every day Sirima offered alms-food to eight bhikkhus. One of these bhikkhus happened to mention to other bhikkhus how beautiful Sirima was and also that she offered very delicious food to the bhikkhus every day. On hearing this, a young bhikkhu fell in love with Sirima even without seeing her. The next day, the young bhikkhu went with the other bhikkhus to the house of Sirima. Sirima was not well on that day, but since she wanted to pay obeisance to the bhikkhus, she was carried to their presence. The young bhikkhu, seeing Sirima, thought to himself, "Even though she is sick, she is very beautiful !" And he felt a strong desire for her.


That very night, Sirima died. King Bimbisara went to the Buddha and reported to him that Sirima, the sister of Jivaka, had died. The Buddha told King Bimbisara to take the dead body to the cemetery and keep it there for three days without burying it, but to have it protected from crows and vultures. The king did as he was told. On the fourth day, the dead body of the beautiful Sirima was no longer beautiful or desirable; it got bloated and maggots came out from the nine orifices. On that day, the Buddha took his bhikkhus to the cemetery to observe the body of Sirima. The king also came with his men. The young bhikkhu, who was so desperately in love with Sirima, did not know that Sirima had died. When he learnt that the Buddha and the bhikkhus were going to see Sirima, he joined them. At the cemetery, the corpse of Sirima was surrounded by the bhikkhus headed by the Buddha, and also by the king and his men.

The Buddha then asked the king to get a town crier announce that Sirima would be available on payment of one thousand in cash per night. But no body would take her for one thousand, or for five hundred, or for two hundred and fifty, or even if she were to be given free of charge. Then the Buddha said to the audience, "Bhikkhus! Look at Sirima. When she was living, there were many who were willing to give one thousand to spend one night with her; but now none would take her even if given without any payment. The body of a person is subject to deterioration and decay."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 147: Look at this dressed up body, a mass of sores, supported (by bones), sickly, a subject of many thoughts (of sensual desire). Indeed, that body is neither permanent nor enduring.


At the end of the discourse, the young bhikkhu attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 147
Sirima Vatthu

Passa cittakatam bimbam
arukayam samussitam
aturam babusankappam1
yassa natthi dhuvam thiti.

Verse 147: Look at this dressed up body, a mass of sores, supported (by bones), sickly, a subject of many thoughts (of sensual desire). Indeed, that body is neither permanent nor enduring.


1. bahusankappam: the body, which is the subject of many thoughts of sensual desire and admiration.


dhp148_B
Verse-Kệ 148

(120).- Tích chuyện Tỳ-kheo-ni Úc-ta-ra - Kệ số 148

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Tỳ-kheo-ni Úc-ta-ra.

 

Thuở ấy có vị tỳ-kheo-ni tên là Úc-ta-ra, đã trên trăm tuổi, mỗi ngày vẫn ôm bình bát đi khất-thực. Một hôm, bà gặp một vị tỳ-kheo đi khất-thực về, chẳng được chi cả, bà liền hiến cả phần ăn của mình cho vị ấy. Hôm đó, bà phải nhịn đói. Luôn cả hai hôm, bà cũng gặp vị tỳ-kheo đó và cũng hiến hết phần ăn của mình. Đến hôm thứ tư, bà đang đi khất-thực, bỗng gặp Đức Phật đang đi trên đường, bà vội nép vào lề, qùi đảnh-lễ Đức Phật. Chẳng may, vì kiệt-sức, bà dẫm lên vạt áo cà-sa của mình và ngã lăn xuống. Đức Phật đỡ dậy, thấy đầu cổ bà bị thương, chảy máu. Băng bó xong, Đức Phật nói: "Nầy tỳ-kheo-ni, thân-thể của bà đã quá già-yếu, đi đứng chẳng còn được vững-vàng nữa, chẳng bao lâu sẽ tàn-tạ."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà Tỳ-kheo-ni Úc-ta-ra chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Thân nầy bị tuổi già tàn-tạ,

Là ổ chứa bịnh-tật, mong-manh.

Khối dơ-bẩn ấy rồi tan-rả,

Chết đến là hết mạng chúng-sanh.

(Kệ số 148.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tỳ-kheo-ni: nữ tu-sĩ Phật-giáo, tiếng Pali là Bhikkhuni.

 

- Úc-ta-ra: tên vị tỳ-kheo-ni nầy, tiếng Pali là Uttarà.

 

- Bình bát: cái nồi nhỏ bằng sành, bằng gỗ hay bằng đồng, các vị tỳ-kheo dùng để đựng thức ăn khi đi khất-thực.

 

- Kiệt-sức = mất hết cả sức-lực, yếu-ớt lắm.

 

- Cà-sa: áo màu vàng, choàng bên ngoài của tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni; tiếng Pali là Kasaya.

 

- Quả-vị: Quả =kết-quả, thành-quả, việc tu đã thành-công; Vị = ngôi-vị. Quả-vị là cấp-bực trong hàng các tu-sĩ chứng-đắc .

 

- Tu-đà-huờn: Xin nhắc lại, đây là quả-vị đầu-tiên của hàng Thanh-văn, còn gọi là Nhập-Lưu hay Thất-Lai. Tiếng Pali là Sotàpatti.

 

- Mong-manh = yếu-ớt, dễ bị đau, dễ bị hư.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa:

 

1) Việc vị tỳ-kheo trút hết thực-phẩm trong bát của bà tỳ-kheo-ni Úc-ta-ra là một hành-vi thiếu suy-xét, ích-kỷ, chẳng nghĩ đến hoàn-cảnh của kẻ khác. Sau vụ nầy, Đức Phật đặt ra điều giới-luật: "Nếu một tỳ-kheo thọ-dụng thức ăn, hoặc cứng hoặc mềm, đã tự tay mình nhận thức ăn ấy từ một tỳ-kheo-ni, chẳng có liên-hệ với mình, đã đi khất-thực được, vị tỳ-kheo ấy phải nhận lỗi và thưa với một tỳ-kheo khác rằng: "Thưa đạo-hữu, tôi vừa phạm một lỗi đáng trách và phải nhận tội. Tôi thú-nhận đã vi-phạm vào giới-luật Pàtidesanìya." (Pàtidesanìya = tội-lỗi cần được thú-nhận và xin sám-hối.)

 

2) Bà tỳ-kheo-ni Úc-ta-ra nghe lời dạy và bài Kệ của Đức Phật xong, chứng được quả-vị Tu-đà-huờn, là nhờ hiểu thấu được lẽ vô-thường của muôn pháp. Nói cách khác, bà nhận ra tấm-thân thể-chất nầy bị biến-đổi, chẳng giữ được nguyên-vẹn sức-khoẻ, theo tuổi già mà mang lấy bịnh-tật và tàn-tạ theo thời-gian. Thông-đạt được lẽ vô-thường, người tu-hành chẳng còn quá tríu-mến về phần vật-chất, mới quyết-tâm theo con đường giải-thoát khỏi cảnh sanh, già, bịnh, chết trong cõi Luân-hồi.

 

(2) Ý-nghĩa bài Kệ số 148:

 

Ý-nghĩa bài Kệ nầy cũng giống bài Kệ trước, số 147. Cả hai bài dạy ta phải ý-thức được lẽ vô-thường của tấm-thân thể-chất, bị sự già-lão làm suy-yếu, bị bịnh-tật hành-hạ, rồi sẽ tan-rả khi mạng hết. Vì thế, hiện còn sức-khoẻ, phải cố-gắng tu-tập để được giải-thoát khỏi cảnh khổ Luân-hồi

 

HỌC TẬP:

 

- Học kỹ hai bài Kệ, ghi nhớ lẽ vô-thường của đời sống con người.

The Story of Theri Uttara

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (148) of this book, with reference to Theri Uttara.

Theri Uttara, who was one hundred and twenty years old, was one day returning from her alms-round when she met a bhikkhu and requested him to accept her offering of alms-food. The inconsiderate bhikkhu accepted all her alms-food; so she had to go without food for that day. The same thing happened on the next two days. Thus Theri Uttara was without food for three successive days and she was feeling weak. On the fourth day, while she was on her alms-round, she met the Buddha on the road where it was narrow. Respectfully, she paid obeisance to the Buddha and stepped back. While doing so, she accidentally stepped on her own robe and fell on the ground, injuring her head. The Buddha went up to her and said, "Your body is getting very old and infirm, it is ready to crumble, it will soon perish."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 148: This body is worn out-with age, it is the seat of sickness, it is subject to decay. This putrid body disintegrates; life, indeed, ends in death.


At the end of the discourse, Theri Uttara attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 148
Uttaratheri Vatthu

Parijinnamidam rupam
roganilam pabhanguram

bhijjati putisandeho
maranantam hi jivitam.

Verse 148: This body is worn out-with age, it is the seat of sickness, it is subject to decay. This putrid body disintegrates; life, indeed, ends in death.


dhp149_B
Verse-Kệ 149

(121).- Tích chuyện các tỳ-kheo tự-phụ - Kệ số 149

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các vị tỳ-kheo tự-phụ.

 

Thuở ấy, có một nhóm tỳ-kheo đến thưa-thỉnh Đức Phật và được chỉ-dạy cho mỗi người một đề-tài thiền-quán. Họ liền rời chùa đi vào rừng ẩn-tu trong một thời-gian. Nhờ sự cố-gắng tinh-cần, họ tập-trung được tư-tưởng và sớm nhập vào cơn thiền-định. Đắc được định-lực, họ tưởng rằng đã diệt xong được mọi ham-muốn về nhục-dục và chứng được quả-vị A-la-hán. Thật ra, họ đã tự đánh-giá quá cao và trở nên tự-phụ. Họ liền quay về chùa Kỳ-viên, để trình lên Đức Phật việc họ tưởng họ đã chứng quả.

 

Khi họ về đến cổng chùa, Đức Phật nom thấy, bảo Tôn-giả A-nan rằng: "Các tỳ-kheo kia sắp vào chùa, nếu họ đến gặp ta ngay thì chẳng được lợi-ích chi nhiều cho họ. Nên bảo họ đi ra quán-sát ngoài nghĩa-địa xong, trở về sẽ gặp ta." Tôn-giả A-nan chuyển lại lời căn-dặn của Đức Phật. Các vị tỳ-kheo nghe lời, chẳng vào chùa ngay và cùng nhau đi hướng về nghĩa-trang.

 

Đến nơi, họ nhìn thấy chỗ nầy có nhiều thi-thể sình-chướng, mùi hôi thối bốc lên; chỗ kia, nhiều khúc xương còn dính thịt bầy-nhầy; xa xa nhiều mảnh xương trắng-hếu nằm lăn-lóc. Trong lòng họ mới khởi lên sự nhàm-chán tấm-thân vật-chất đang bị tan-rả, hôi-thối kia, và suy-nghĩ sâu-xa về lẽ vô-thường của cuộc sống. Khi họ quay về chùa, Đức Phật hỏi: "Nầy các tỳ-kheo, nhìn thấy các khúc xương trắng ngổn-ngang trong nghĩa-địa, các ông còn giữ sự ham-muốn về nhục-dục, bám-víu vào tấm-thân vật-chất nữa hay không?"

 

Rồi đó, Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà các vị tỳ-kheo tự-phụ kia được giác-ngộ và chứng-đắc quả-vị A-la-hán:

 

Khúc xương màu trắng bồ-câu,

Tựa như trái bầu mùa thu bị vứt,

Thích-thú chi khi nhìn đến chúng?

(Kệ số 149.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tự-phụ = tự xem mình cao hơn kẻ khác, tự đánh-giá mình quá cao; hợm mình.

 

-Đề-tài Thiền-quán: Xin nhắc lại: đề-tài thiền-quán là một vấn-đề đem ra quán-tưởng sâu-xa khi ngồi Thiền. Đề-tài có thể là: quán thân bất-tịnh, quán-tưởng về Đức Phật A-di-đà, v.v. nhờ đó mà đắc định.

 

- Ẩn-tu: tu-hành nơi xa vắng người.

 

- Tập-trung tư-tưởng = giữ sao cho tâm chú-ý vào một đề-tài duy-nhứt, chẳng xao-lãng, chẳng lo ra, chẳng nghĩ lang-bang.

 

- Định, định-lực = trong khi ngồi Thiền, tư-tưởng dừng lại, tâm vắng-lặng, an-ổn, nhẹ-nhàng.

 

- Nhục-dục: Nhục = thịt; Dục = ham-muốn; Nhục-dục là ham-muốn về thể-xác.

 

- A-la-hán: Xin nhắc lại: đây là quả-vị cao nhứt trong hàng Thanh-văn. Bực A-la-hán dứt sạch các phiền-não, lậu-hoặc, chứng được vô-sanh nghĩa là chẳng phải tái-sanh trong vòng lẩn-quẩn khổ-đau của Luân-hồi. Tiếng Pali là Arahant.

 

- Nghĩa-địa, Nghĩa-trang: nơi chôn-cất người chết. Ngày xưa, ở Ấn-độ, xác người chết hoặc được thiêu, hoặc để bỏ ngoài thi-lâm (thi = thi-thể; lâm = rừng; khu rừng để các xác chết chưa chôn.)

 

- Thi-thể = thể-xác người chết, thây-ma.

 

- Vô-thường: Xin nhắc lại: Vô = chẳng; Thường = thường-hằng, còn hoài-hoài. Lẽ vô-thường là Chơn-lý, theo đó mọi sự-vật có hình-tướng phải chịu sự biến-đổi rồi suy-tàn để đi đến sự tiêu-diệt.

 

- Giác-ngộ: Giác = biết rõ; Ngộ = hiểu thấu. Người giác-ngộ là người đã hiểu thấu rõ lẽ sống-chết, biết rõ con đường thoát khỏi mọi khổ-đau của vòng lẩn-quẩn Luân-hồi. Thông-thường chữ giác dùng để dịch chữ Bồ-đề, hay chữ Phật. Đức Phật là bực đại-giác.

 

- Khúc xương màu trắng bồ-câu = khúc xương khô, màu trắng, giống như màu lông chim bồ-câu.

 

- Trái bầu mùa thu bị vứt: vào mùa thu, bầu chín rụng xuống đất, chẳng ai thèm hái lượm để ăn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa:

 

1) Các vị tỳ-kheo lầm tưởng mình đã chứng quả, vô-tình mắc tội tăng-thượng-mạn, (tăng = thêm; thượng = cao; mạn = chữ Phạn là mano, có nghĩa là ngạo-mạn, làm phách, kiêu-căng). Ngày xưa, khi Đức Phật còn tại thế, các tăng-ni đắc quả, còn cần được Phật chứng-minh cho, mới biết chắc là mình đắc quả. Trong Tích chuyện, các vị tỳ-kheo chỉ đắc được định-lực, nhưng các phiền-não, lậu-hoặc vẫn còn, nên chưa chứng quả A-la-hán. Trong việc tu-hành, đừng mong được đắc quả; nếu còn mong-muốn là còn tham-mê, đó cũng là một điều phiền-não chưa sạch.

 

2) Đức Phật bảo các vị tỳ-kheo ra nghĩa-địa quán-sát các xác chết, đó là dạy phép cửu-tưởng-quán (cửu = chín; tưởng = tư-tưởng; quán = suy-nghĩ sâu-xa.) Theo phép quán nầy, hành-giả quán-sát chín giai-đoạn tan-rả của thân người chết: (1) xác sình lên; (2) xác bị dòi, bọ ăn; (3) xác chỉ còn bộ-xương dính chút ít thịt; (4) bộ-xương còn dính chút ít máu; (5)các đốt xương còn dính với nhau; (6) các khúc xương đã rời nhau ra; (7) chỉ còn một đống xương trắng-hếu; (8)chỉ còn một mớ xương khô; (9)chỉ còn vài khúc xương đã mục. Phép quán cửu-tưởng có hiệu-quả khiến cho hành-giả nhận rõ các giai-đoạn tan-hoại của tấm thân vật-chất, mà sanh ra nhàm-chán các thú-vui nhục-dục tạm-bợ, chẳng chấp thân nầy là thường-còn, suy ra được lẽ vô-thường của cuộc sống.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 149:

 

Thử phân-tách từng câu bài Kệ:

 

1) Câu 1: Khúc xương màu trắng bồ-câu: đây là giai-đoạn (7) của cửu-tưởng-quán, thân-thể tan-rả chỉ còn một đống xương trắng-hếu;

 

2) Câu 2: Tựa như trái bầu mùa thu bị vứt: đây là giai-đoạn (3) của cửu-tưởng-quán, thân-thể rã-rời, như trái bầu thúi rụng xuống đất;

 

3) Câu 3: Thích-thú chi...: sự nhàm-chán thân-thể vật-chất.

 

HỌC TẬP:

 

- Học kỹ bài Kệ, để ghi nhớ: thân nầy chẳng mấy chốc rồi cũng tan-hoại, theo lẽ vô-thường, và gắng công tu-tập để thoát vòng sanh-tử.

The Story of Adhimanika Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (149) of this book, with reference to some bhikkhus who over-estimated themselves.

Five hundred bhikkhus, after taking a subject of meditation from the Buddha, went into the woods. There, they practised meditation ardently and diligently and soon attained deep mental absorption (jhana) and they thought that they were free from sensual desires and, therefore, had attained arahatship. Actually, they were only over-estimating themselves. Then, they went to the Buddha, with the intention of informing the Buddha about what they thought was their attainment of arahatship.

When they arrived at the outer gate of the monastery, the Buddha said to the Venerable Ananda, "Those bhikkhus will not benefit much by coming to see me now; let them go to the cemetery first and come to see me only afterwards." The Venerable Ananda then delivered the message of the Buddha to those bhikkhus, and they reflected, "The Enlightened One knows everything; he must have some reason in making us go to the cemetery first." So they went to the cemetery.

There, when they saw the putrid corpses they could look at them as just skeletons, and bones, but when they saw some fresh dead bodies they realized, with horror, that they still had some sensual desires awakening in them. The Buddha saw them from his perfumed chamber and sent forth the radiance; then he appeared to them and said,"Bhikkhus! Seeing these bleached bones, is it proper for you to have any sensual desire in you?"

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 149: Like gourds thrown away in autumn are these dove-grey bones; what pleasure is there in seeing them?


At the end of the discourse, those five hundred bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verse 149
Sambahula Adhimanikabhikkhu Vatthu

Yanimani apatthani
alabuneva sarade
kapotakani atthini
tani disvana ka rati

Verse 149: Like gourds thrown away in autumn are these dove-grey bones; what pleasure is there in seeing them?


dhp150_B
Verse-Kệ 150

(122).- Tích chuyện công-chúa Gia-nhã-ba - Kệ số 150

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến công-chúa Gia-nhã-ba.

 

Thuở ấy, có một vị công-chúa tên là Gia-nhã-ba, nhan-sắc rất đẹp-đẽ, vốn là con của người dì của Đức Phật Thích-ca. Công-chúa kết-hôn với hoàng-tử Nan-đà, nhưng vào ngày làm lễ cưới, hoàng-tử lại theo Đức Phật vào chùa đi tu. Chính bà mẹ của công-chúa cũng quy-y Đức Phật và trở thành một vị tỳ-kheo-ni. Trong cảnh cô-đơn, công-chúa nghĩ: "Mẹ ta, chồng ta đều đi tu cả. Thôi, ta cũng đi tu theo luôn!." Công-chúa liền vào chùa, xin xuất-gia và trở thành một tỳ-kheo-ni, chẳng phải vì lòng tin nhiệt-thành nơi ngôi Tam-Bảo, mà vì muốn bắt chước theo mẹ và chồng, chọn con đường tu-hành, cho mình bớt lẻ-loi.

 

Tỳ-kheo-ni Gia-nhã-ba được nghe các bạn đồng-tu bảo Đức Phật thường giảng-dạy rằng thân-tâm ngũ-uẩn nầy là vô-thường, vô-ngã và bất-toại-nguyện. Vì còn chưa hiểu thấu rõ-ràng nghĩa-lý của tánh-cách vô-thường, vô-ngã và bất-toại-nguyện của thân-tâm ngũ-uẩn, bà tưởng lầm rằng Đức Phật chẳng khen ngợi chi đến sắc-đẹp lộng-lẫy của bà, nên bà thường tránh các dịp được gặp Đức Phật. Nhưng các vị đồng-tu lúc nào cũng tán-thán Đức Phật, nên bà mới quyết-định đi theo họ đến chùa Kỳ-viên để đảnh-lễ.

 

Khi Đức Phật trông thấy công-chúa Gia-nhã-ba đến chùa, Ngài nghĩ rằng: "Đạp gai thì phải lấy gai mà lể. Tỳ-kheo-ni Gia-nhã-ba quá hãnh-diện và quá tríu-mến đến thân-sắc của mình, phải làm sao cho công-chúa thấy rõ sắc-đẹp chóng tàn-phai để dẹp bỏ sự hãnh-diện và lòng tham-luyến vào nhan-sắc lộng-lẫy của mình ." Khi các tỳ-kheo-ni đảnh-lễ, Đức Phật dùng sức thần-thông của Ngài, tạo hình-ảnh một thiếu-nữ tuổi chừng mười sáu, rất đẹp-đẽ, mỹ-miều, đang cầm quạt, phe-phẩy quạt sau lưng Đức Phật, mà chỉ riêng có Gia-nhã-ba mới nhìn thấy được mà thôi. Gia-nhã-ba ngẩng đầu lên nhìn, thấy cô thiếu-nữ nhan-sắc đẹp tuyệt-trần, so với nhan-sắc của nàng còn hơn gấp bội. Gia-nhã tiếp-tục nhìn mãi, bỗng cô thiếu-nữ từ-từ trở thành một người thiếu-phụ ba mươi tuổi, vẻ đẹp có phần sút-giảm đi. Nhìn hồi lâu, bóng người thiếu-phụ hoá thành một người đàn-bà trung-niên, tóc đã hoa râm, trên làn da mặt đã bắt đầu có vết nhăn. Bấy giờ, trong lòng Gia-nhã-ba mới nghĩ ra được sự chóng tàn-phai của sắc-đẹp, cùng sự suy-yếu, già-lão từ-từ đến với tấm thân vật chất. Vào lúc ấy, bóng người đàn-bà ngồi sau lưng Đức Phật đã biến thành một cụ già, run-rẩy mệt-nhọc cầm cây quạt, tay quạt hết muốn nổi. Sau cùng, cụ già đó lại lăn đùng ra chết. Mắt Gia-nhã-ba lại trông thấy thân-thể cụ già sình lên, dòi, bọ nhung-nhúc. Lòng nàng nghĩ, thân-thể của ta rồi đây sẽ cũng lại như thế, chẳng cách nào tránh khỏi sự chết-chóc được.

 

Đức Phật đoán biết sự đổi thay tâm-trạng của Gia-nhã-ba, liền thâu phép thần-thông lại, và Ngài mới bắt đầu giảng bài pháp về tánh-cách vô-thường, vô-ngã và bất-toại-nguyện của thân-tâm ngũ-uẩn. Gia-nhã-ba lắng nghe và nhờ đó mà chứng-đắc được quả-vị Tu-đà-huờn.

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Thành-trì thân nầy dựng bằng xương,

Đắp bằng thịt và tô bằng máu,

Chất-chứa bên trong cảnh già-lão,

Chết-chóc, ngã-mạn và lừa-đảo.

(Kệ số 150.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Công-chúa: con gái của Vua.

 

- Gia-nhã-ba: tên công chúa nầy tiếng Pali là Janapadakalyànì.

 

- Hoàng-tử: con trai của Vua.

 

- Quy-y: Quy =quay về; Y = nương-tựa. Quy-y là lòng thề-nguyện quay về nương-tựa nơi Đức Phật và tin làm theo lời dạy của Ngài.

 

- Tỳ-kheo-ni: nữ tu-sĩ Phật-giáo; tiếng Pali là Bhikkhuni.

 

- Cô-đơn = lẻ-loi, ở một mình chẳng có người bầu-bạn.

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà. Chữ Xuất-gia trong Phật-học có nghĩa là rời bỏ nếp sống ở gia-đình, vào chùa đi tu.

 

- Tam-Bảo: Tam = ba; Bảo = ngôi báu, điều quí-báu. Ba ngôi Tam-Bảo là Phật-bảo ( = Đức Phật), Pháp-Bảo ( = lời dạy của Đức Phật, kinh, kệ) và Tăng-Bảo ( =người xuất-gia tu-hành theo đường-lối của Đức Phật.)

 

- Thân-tâm ngũ-uẩn: Ngũ = năm; uẩn = sự tập-hợp có tánh-cách che-mờ. Ngũ uẩn gồm có: (1)sắc-uẩn, tấm thân vật-chất; (2)thọ-uẩn, các tình-cảm như vui, buồn; (3)tưởng-uẩn, các ý-tưởng trong lòng; (4) hành-uẩn, các hành-động, các biến-chuyển trong tâm; (5)thức-uẩn, các sự hiểu-biết trong tâm. Bốn uẩn sau thuộc về tâm; còn sắc-uẩn thuộc về thân.

 

- Vô-thường = Xin nhắc lại: vô-thường là chẳng bền-vững, hay biến-đổi, rồi bị hủy-diệt.

 

- Vô-ngã: Vô =chẳng; Ngã = ta, tôi. Vô-ngã là chẳng có chủ, không có thực-thể thường-còn, rỗng-rang, do sự tập-hợp mà có, hễ hết duyên thì rời nhau ra mà bị diệt đi.

 

- Bất-toại-nguyện: Bất =chẳng; toại =vừa ý; nguyện = mong-muốn. Bất-toại-nguyện là chẳng làm vừa lòng ta được, tức là gây ra khổ-đau.

 

- Tán-thán = khen-ngợi bực cao-quí.

 

- Đạp gai phải lấy gai mà lể: thành-ngữ nầy có nghĩa đen là, khi đạp gai nhọn, phải dùng kim nhọn mà lể (lể = cạy bật mũi gai ra). Ta thường nói: lấy độc trị độc. Ở đây, theo nghĩa bóng, vì Gia-nhã-ba quá mê-luyến sắc-đẹp, nên Đức Phật mới dùng sắc-đẹp chóng tàn-phai của cô thiếu-nữ để giúp Gia-nhã-ba bỏ được sự hãnh-diện về thân-sắc mình.

 

-Tríu-mến: quá yêu-chuộng, quá mê-thích và bấu-víu vào việc gì.

 

- Hãnh-diện = tự-cao, tự cho mình là hơn hết.

 

- Thần-thông = sức định-lực mạnh-mẽ của bực tu-hành cao, có thể làm các việc khác thường, như bay cao, biến-hoá, v.v.

 

- Mỹ-miều: rất đẹp và hiền-từ.

 

- Tuyệt-trần = vào hạng nhứt ở trần-gian.

 

- Trung-niên: Trung = trung-bình, ở giữa; Niên = tuổi, năm; Tuổi trung-niên vào khoảng bốn, năm mươi.

 

- Tóc hoa râm: trên mái tóc đã có nhiều sợi màu bạc trắng.

 

- Nhung-nhúc =nhiều lắm, bò ngổn-ngang.

 

-Tâm-trạng: Tâm =lòng; Trạng = tình-trạng; Tâm-trạng là cõi lòng đang vui, buồn, giận, ghét, v.v. sự thay-đổi về ý-nghĩ ở trong lòng.

 

- Tu-đà-huờn: Xin nhắc lại: đây là quả-vị thứ nhứt trong hàng Thanh-văn, còn gọi là Nhập-Lưu hay Thất-Lai. Người chứng quả Tu-đà-huờn dẹp bỏ được sự cố-chấp vào thân (thân-kiến), sự nghi-ngờ (hoài-nghi ) và sự tin theo các nghi-thức cúng-tế của tà-giáo (giới-cấm-thủ.)

 

- Thành-trì thân nầy: xem thân-thể vật-chất nầy bền-vững như thành-trì, như chẳng thể bị phá-huỷ được vậy.

 

- Ngã-mạn = kiêu-căng, phách-lối, quá tự-cao, quá hãnh-diện.

 

- Lừa-đảo: dối-gạt, gạt-gẫm.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc nhờ đâu mà công-chúa Gia-nhã-ba, người rất hãnh-diện về thân-sắc của mình, đã dẹp bỏ thân-kiến ra được khỏi tâm mà chứng-đắc quả-vị Tu-đà-huờn. Công-chúa đã chấp thân-tâm làm ngã, xem đó như bền-vững mãi với thời-gian, nay được Phật cho thấy, trước mắt, một thiếu-nữ trẻ đẹp, từ từ trở thành già-yếu rồi lăn ra chết; nhờ đó mà tâm-trí của công-chúa hiểu thấu lẽ vô-thường, vô-ngã và bất-toại-nguyện của thân-tâm năm uẩn.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của Tích chuyện là một khi đã hiểu rõ được lẽ vô-thường, vô-ngã và bất-toại-nguyện của thân-tâm, ta chẳng còn chấp chặt thân-thể nầy thường-còn mãi-mãi, thân ấy chẳng phải là ta; mà ta chính là phần tinh-thần có sự hiểu-biết, hằng còn, gọi là chơn-ngã ( = cái Ta thật-sự), hay là pháp-thân ( = tấm thân vô-hình, chẳng bị hư-hoại), còn được gọi là Phật-tánh ( = khả-năng giác-ngộ và giải-thoát như Đức Phật.) Tâm bỏ được việc xem thân-thể nầy là của Ta, là Ta, và nhận ra được Phật-tánh có sẵn nơi mình, còn mãi, tuy nay bị che-mờ vì sự si-mê, đó là tâm đã giác-ngộ, chỉ cần tu-tập theo đúng đường-lối của Phật dạy là vượt qua đến được bờ giải-thoát, chẳng còn phải khổ-đau, bất-toại-nguyện, trong cảnh sống Luân-hồi nữa.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 150:

 

- Hai câu đầu: đừng xem tấm thân nầy bền-vững như thành-trì, vì nó được đắp lên bằng xương, thịt và máu, rất dễ bị tan-rả.

 

- Hai câu sau: nằm bên trong thân vật-chất nầy, có sẵn sự già-yếu, sự chết-chóc rồi. Vì thế chẳng nên quá hãnh-diện về thân-sắc mà sanh ra ngã-mạn, và lừa-dối kẻ khác bằng sự trau-chuốt thân-hình bề ngoài.

 

HỌC TẬP:

 

- Học kỹ bài Kệ, ghi nhớ lẽ vô-thường và đừng chấp vào thân-kiến.

The Story of Theri Rupananda (Janapadakalyani)

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (150) of this book, with reference to Janapadakalyani.

Princess Janapadakalyani was the daughter of Gotami, the step-mother of Gotama the Buddha; because she was very beautiful she was also known as Rupananda. She was married to Nanda, a cousin of the Buddha. One day she pondered, "My elder brother who could have become a Universal Monarch has renounced the world to become a bhikkhu; he is now a Buddha. Rahula, the son of my elder brother, and my own husband Prince Nanda have also become bhikkhus. My mother Gotami has also become a bhikkhuni, and I am all alone here!" So saying, she went to the monastery of some bhikkhunis and became a bhikkhuni herself. Thus, she had become a bhikkhuni not out of faith but only in imitation of others and because she felt lonely.

Rupananda had heard from others that the Buddha often taught about the impermanence, unsatisfactoriness and insubstantiality of the khandhas. So she thought he would talk deprecatingly about her good looks if he should see her; and thus thinking, she kept away from the Buddha. But other bhikkhunis coming back from the monastery, kept talking in praise of the Buddha; so, one day, she decided to accompany other bhikkhunis to the monastery.

The Buddha saw her and reflected, "A thorn can only be taken out with a thorn; Rupananda being very attached to her body and being very proud of her beauty, I must take the pride and attachment out of her through beauty." So, with his supernormal power, he caused an image of a very beautiful lady of about sixteen years of age to be seated near him, fanning him. This young girl was visible only to Rupananda and the Buddha. When Rupananda saw the girl, she realized that compared to that girl, she herself was just like an old, ugly crow compared to a beautiful white swan. Rupananda had a good look at the girl and she felt that she liked her very much. Then, she looked again and was surprised to find that the girl had grown to the age of about twenty. Again and again, she looked at the figure beside the Buddha and every time she noticed that the girl had grown older and older. Thus, the girl turned into a grown-up lady, then into a middle-aged lady, an old lady, a decrepit and a very old lady successively. Rupananda also noticed that with the arising of a new image, the old image disappeared, and she came to realize that there was a continuous process of change and decay in the body. With the coming of this realization, her attachment to the body diminished. Meanwhile, the figure near the Buddha had turned into an old, decrepit lady, who could no longer control her bodily functions, and was rolling in her own excreta. Finally, she died, her body got bloated, pus and maggots came out of the nine openings and crows and vultures were trying to snatch at the dead body.

Having seen all these, Rupananda pondered, "This young girl has grown old and decrepit and died in this very place under my own eyes. In the same way, my body will also grow old and wear out; it will be subject to disease and I will also die." Thus, she came to perceive the true nature of the khandhas. At this point, the Buddha talked about the impermanence, the unsatisfactoriness and the insubstantiality of the khandhas, and Rupananda attained Sotapatti Fruition.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 150: This body (lit., the city) is built up with bones which are covered with flesh and blood; within this dwell (lit., are deposited) decay and death, pride and detraction (of others' virtues and reputation).


At the end of the discourse, Rupananda attained arahatship.

Dhammapada Verse 150
Janapadakalyani Rupanandatheri Vatthu

Atthinam nagaram katam
mamsalohita lepanam
yattha jara ca maccu ca
mano makkho ca ohito.

Verse 150: This body (lit., the city) is built up with bones which are covered with flesh and blood; within this dwell (lit., are deposited) decay and death, pride and detraction (of others' virtues and reputation).


dhp151_B
Verse-Kệ 151

(123).- Tích chuyện Hoàng-hậu Mạt-lợi - Kệ số 151

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bà hoàng-hậu Mạt-lợi.

 

Hoàng-hậu Mạt-lợi là vợ Vua Ba-tư-nặc, xứ Câu-tát-la; cả hai vị rất tôn-sùng Đức Phật, thường đến nghe Đức Phật giảng-pháp. Hoàng-hậu có nuôi một con chó đực, cưng chiều như con. Một hôm, hoàng-hậu vào phòng tắm rửa mặt, con chó chạy theo. Khi Hoàng-hậu đến bên bồn nước, mắt nhìn qua khung cửa sổ, chó liền nhảy chồm lên, liếm liếm vào váy của bà. Thấy nhột-nhột có cảm-giác thích-thú, hoàng-hậu để yên cho chó liếm. Nào ngờ, bấy giờ, Vua Ba-tư-nặc ngồi phía ngoài, nhìn thấy được cảnh ấy. Khi Hoàng-hậu trở ra, đức Vua giận-dữ nói: "Bà là người xấu-xa, bỉ-ổi, để cho con chó đực liếm váy bà." Hoàng-hậu giựt mình, liền nghĩ ra cách đối-đáp: "Tâu Hoàng-thượng, Ngài có nhìn lầm chăng? Căn phòng tắm nầy lạ-thường lắm. Kẻ nào vào phòng mà nhìn qua cửa sổ, ai ở bên ngoài nhìn vào phòng thấy rõ có cả hai người đấy. Nếu Hoàng-thượng chẳng tin, xin cứ bước vào, xem sao." Nhà Vua liền bước vào phòng tắm. Khi trở ra, Hoàng-hậu làm ra vẽ ngạc-nhiên, bảo: "—! Sao Hoàng-thượng lại dắt con dê-cái vào phòng, kỳ-cục quá vậy!" Nhà vua nhẹ dạ dễ tin, cứ tưởng đó là sự thật.

 

Kể từ hôm nói dối nhà Vua như thế, Hoàng-hậu rất ăn-năn tội-lỗi. Chẳng bao lâu, Hoàng-hậu bị bịnh, rồi mất, tâm-thần vẫn còn ân-hận việc đã dối vua, quên hết tất cả các công-đức bố-thí cúng-dường đã cùng nhà vua thi-hành lúc còn sống, Vì thế, bà bị sa vào điạ-ngục. Sau khi chôn-cất Hoàng-hậu xong, đức Vua đến yết-kiến Đức Phật, định thưa hỏi, chẳng biết Hoàng-hậu Mạt-lợi tái-sanh về cõi nào. Đức Phật chẳng muốn làm vua buồn lòng, nên hỏi sang chuyện khác, khiến nhà Vua quên mất ý-định tìm biết nơi thác-sanh của Hoàng-hậu.

 

Bảy ngày sau đó, Hoàng-hậu Mạt-lợi mãn hạn ở điạ-ngục, được thác-sanh lên cõi Trơì Đâu-suất, nhờ ở công-đức bố-thí, cúng-dường khi còn sống. Vào ngày hôm ấy, Đức Phật cùng chư Tăng đi đến hoàng-cung để khất-thực. Sau buổi ngọ-trai, nhà Vua sực nhớ đến câu hỏi dự-định hỏi Đức Phật khi trước, mới bạch với Phật. Đức Phật liền nói: "Hiện nay, Hoàng-hậu Mạt-lợi được tái-sanh trên cung Trời Đâu-suất." Nhà Vua rất vui mừng bạch cùng Đức Phật: "Bạch Thế-tôn, đệ-tử rất vui lòng khi được biết Hoàng-hậu sanh lên cõi Trời. Khi còn sống, Hoàng-hậu rất siêng-năng bố-thí và trông mong có dịp cung-thỉnh Đức Phật cùng chư Tăng đến hoàng-cung để cúng-dường. Nay Hoàng-hậu đã mất rồi, đệ-tử chẳng biết ngày ngày làm gì đây nữa." Đức Phật liền bảo: "Nhà vua chớ quá ưu-phiền, luyến-tiếc đến Hoàng-hậu. Nầy, Hoàng-thượng hãy nhìn chiếc long-xa kia, khi xưa Vua Cha đã trang-hoàng lộng-lẫy để lại cho Hoàng-thượng, nay nó đã cũ-kỹ, bỏ nằm yên trong góc phòng. Muôn sự-vật, kể cả tấm thân con người, đều theo lẽ vô-thường mà biến-đổi rồi bị hủy-diệt. Chỉ có Chánh-pháp mới chẳng bị sự già-lão làm cằn-cỗi!"

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Xe lộng-lẫy của Vua rồi cũng cũ,

Thân-thể nầy rồi cũng còm-cõi,

Chánh-pháp thiện-nhơn đâu cằn-cỗi,

Các bực chí-thiện thường nhắn-nhủ.

(Kệ số 151.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Hoàng-hậu = vợ chánh của Vua.

 

- Mạt-lợi: tên thật của Hoàng-hậu, tiếng Pali là Mallikà.

 

- Vua Ba-tư-nặc xứ Câu-tát-la: tên vị vua rất tôn-sùng đạo Phật nầy, tiếng Pali là Pasenadi, nước Kosala.

 

- Váy: quần của phụ-nữ, dài quá gối, chỉ có một ống.

 

- Bỉ-ổi = thô-xấu, đáng chê-khinh.

 

- Tâu Hoàng-thượng = lời nói cung-kính trình lên đức Vua.

 

- Ân-hận = ăn-năn, hối-tiếc.

 

- Thác-sanh = khi chết đi được sanh lại cõi khác.

 

- Trời Đâu-suất: cõi Trời cao nhứt của Dục-giới, nơi có Đức Di-Lặc giảng-pháp; tiếng Pali là Tusita.

 

- Hoàng-cung = cung-điện nhà Vua, nơi Vua ở.

 

- Ngọ-trai: Ngọ = 12 giờ trưa; Trai = bữa ăn chay.

 

- Bạch = thưa trình khi nói với bực tu-hành cao-quí.

 

- Long-xa: Long = con rồng; Xa = chiếc xe. Xe của vua ngự được gọi là long-xa.

 

- Vô-thường = Xin nhắc lại: vô-thường là chẳng thường-còn, hay biến-đổi, suy-tàn rồi bị huỷ-diệt.

 

- Cằn-cỗi = già-cả, khô-héo, mất hết sanh-lực đi.

 

- Còm-cõi = quá già-nua, lưng còng, da nhăn, gầy-yếu.

 

- Chánh-pháp = lời dạy của Đức Phật về đường-tu để được giác-ngộ và giải-thoát.

 

- Thiện-nhơn, Chí-thiện: Thiện = lành; Nhơn = người; Chí = đến, hết sức, thật cao. Bực Chí-thiện là người hết sức lành; ý muốn nói bực Thánh.

 

- Nhắn-nhủ: nhắc-nhở, thường chỉ-dạy cho.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa:

 

1) Vì nói dối, hoàng-hậu Mạt-lợi mặc dầu có công-đức bố-thí, cũng vẫn bị sa địa-ngục. Giới thứ tư của người tu tại-gia là cấm nói dối.

 

2) Lẽ vô-thường ( = chẳng thường-còn, bị biến-đổi và hủy-diệt) ứng vào các sự-vật có hình-tướng, như chiếc xe của vua, lâu rồi cũng bị cũ và hư. Nhưng với Chánh-pháp, lời giảng-dạy của Đức Phật lúc nào cũng đúng và ở đâu cũng đúng, nên thoát ra ngoài lẽ vô-thường.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 151:

 

Cũng như các bài Kệ trước, từ số 147, bài Kệ nầy dạy ta về lẽ vô-thường, lấy chiếc long-xa ra làm thí-dụ. Xe vua lộng-lẫy rồi cũng cũ, mà thân người ngồi trên xe ấy, với thời-gian, cũng sẽ già-nua, còm-cõi. Chỉ có Chánh-pháp, được các bực Thánh-nhơn tuyên-dạy rõ mới chẳng bị lẽ vô-thường chi-phối.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học kỹ bài Kệ, ghi nhớ mọi sự-vật có hình-tướng đều bị lẽ vô-thường chi-phối cả; chớ nên quá luyến-tiếc khi tài-sản của mình bị hư-tán.

 

2.- Nói dối thường là bịa chuyện khác ra để tránh tội; nhưng còn có một hình-thức nói dối nữa là im-lặng, dấu tội mình chẳng dám nói ra.

The Story of Queen Mallika

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (151) of this book, with reference to Mallika, queen of King Pasenadi of Kosala.

One day, Mallika went into the bathroom to wash her face, hands and feet. Her pet dog also came in; as she was bending to wash her feet, the dog tried to have sex with her, and the queen appeared to be amused and somewhat pleased. The king saw this strange incident through the window from his bedroom. When the queen came in, he said angrily to the queen, "Oh, you wicked woman! What were you doing with that dog in the bathroom? Do not deny what I saw with my own eyes." The queen replied that she was only washing her face, her hands and her feet, and so was doing nothing wrong. Then she continued, "But, that room is very strange. If anyone went into that room, to one looking from this window there would appear to be two. If you do not believe me, O King, please go into that room and I will look through this window."

So, the king went into the bathroom. When he came out, Mallika asked the king why he misbehaved with a she-goat in that room. The king denied it, but the queen insisted that she saw them with her own eyes. The king was puzzled, but being dim-witted, he accepted the queen's explanation, and concluded that the bath room was, indeed, very strange.

From that time, the queen was full of remorse for having lied to the king and for having brazenly accused him of misbehaving with a she-goat. Thus, even when she was approaching death, she forgot to think about the great unrivalled charities she had shared with her husband and only remembered that she had been unfair to him. As a result of this, when she died she was reborn in niraya. After her burial, the king intended to ask the Buddha where she was reborn. The Buddha wished to spare his feelings, and also did not want him to lose faith in the Dhamma. So he willed that this question should not be put to him, and King Pasenadi forgot to ask the Buddha.

However, after seven days in niraya, the queen was reborn in the Tusitadeva world. On that day, the Buddha went to King Pasenadi's palace for alms-food; he indicated that he wished to rest in the coach-shed where the royal carriages were kept. After offering alms-food, the king asked the Buddha where queen Mallika was reborn and the Buddha replied, "Mallika has been reborn in the Tusita deva world." Hearing this the king was very pleased, and said, 'Where else could she have been reborn? She was always thinking of doing good deeds, always thinking what to offer to the Buddha on the next day. Venerable Sir! Now that she is gone, I, your humble disciple, hardly know what to do." To him the Buddha said, "Look at these carriages of your father and your grandfather; these are all worn down and lying useless; so also is your body, which is subject to death and decay. Only the Dhamma of the Virtuous is not subject to decay."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 151: The much ornamented royal carriages do wear out, the body also grows old, but the Dhamma of the Virtuous does not decay. Thus, indeed, say the Virtuous among themselves.

Dhammapada Verse 151
Mallikadevi Vatthu

Jiranti ve rajaratha sucitta
atho sarirampi jaram upeti
satanca dhammo1 na jaram upeti
santo have sabbhi pavedayanti.

Verse 151: The much ornamented royal carriages do wear out, the body also grows old, but the Dhamma of the Virtuous does not decay. Thus, indeed, say the Virtuous among themselves.


1. dhammo/dhamma: The nine Transcendentals, viz, the four Maggas, the four Phalas and Nibbana. (The Commentary)


dhp152_B
Verse-Kệ 152

(124).- Tích chuyện Tỳ-kheo Lã-lưu - Kệ số 152

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị tỳ-kheo tên là Lã-lưu.

 

Thuở ấy, có vị tỳ-kheo tên là Lã-lưu, ít trí thông-minh, tánh lại hay lơ-đãng. Vị ấy vụng-về, ít khi biết nói những lời cho hợp thời, hợp cảnh. Gặp việc vui, vị ấy lại đem chuyện buồn ra nói; còn khi gặp dịp đau-buồn, vị ấy lại nhắc đến chuyện tức-cười. Nhiều bạn đồng-tu đã nhắc-nhở cho tỳ-kheo Lã-lưu nên tế-nhị, nói cho đúng lúc, hợp tình, nhưng chứng nào tật nấy, Lã-lưu chẳng mở-mang thêm trí-huệ chút nào cả. Sự-việc đến tai Đức Phật, Ngài bảo: "Người kém trí như tỳ-kheo Lã-lưu, chẳng có kiến-thức chi, cũng giống như con bò, thân-thể có to-lớn thêm theo năm tháng, mà trí-óc vẫn tối-mò."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Già đời người ít học,

Chẳng khác chi con bò.

Bắp-thịt có thêm to,

Trí-huệ vẫn tối-mò.

(Kệ số 152.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Lã-lưu: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Làludàyì.

 

- Lơ-đãng = ít có sự chú-ý, thiếu sự chú-tâm, hay vô-ý.

 

- Tế-nhị: Tế = nhỏ-nhắn, xinh-xắn;Nhị = bóng mượt. Chữ tế-nhị dùng ở đây theo nghĩa là khéo-léo, suy-nghĩ kỹ-lưỡng trước khi nói hay làm. Người tế-nhị chẳng bật cười khi thấy có người trợt té.

 

- Kiến-thức: Kiến = thấy; Thức = hiểu-biết. Kiến-thức là sự hiểu-biết do học-tập mà có được.

 

- Trí-huệ: trí thông-minh. Trong Phật-học, chữ Trí-huệ có nghĩa đặc-biệt, chỉ trí thông-minh sáng-suốt đã giác-ngộ được Chơn-lý, dùng để dịch chữ Bát-nhã (Pali:Prajna), Trí vượt qua bờ giác-ngộ và giải-thoát.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất đơn-sơ kể lại việc một vị tỳ-kheo tánh hay lơ-đãng, lại ít học nên trí-huệ chẳng mở-mang. Đức Phật ví người kém trí như con bò, thân-thể có to-lớn thêm, nhưng tâm-trí vẫn si-mê, u-tối.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện khuyên ta, trong sự tu-hành, phải biết học-tập mở-mang kiến-thức, phát-triển trí-huệ, để được giác-ngộ và giải-thoát. Vấn-đề đặt ra là làm thế nào để có được Trí-huệ? Xin thử xét qua các điểm quan-trọng về vấn-đề Trí-huệ trong Đạo Phật.

 

1.- Đạo Phật lấy Từ-bi và Trí-huệ làm tôn-chỉ: điều nầy có nghĩa là người tu-hành phải luôn luôn: (a) thương-yêu và giúp-đỡ mọi chúng-sanh; (b) mở-mang tâm-trí để biết chọn điều lành, bỏ điều ác và giữ-gìn tư-tưởng cho trong-sạch, hướng về con đường giác-ngộ và giải-thoát.

 

2.- Trí-Huệ trong Đạo Phật khác với Trí thông-minh ngoài đời: người đời cho mình là khôn khi khéo biết làm lợi cho mình, cho gia-đình mình, đó là thế-trí, cái Trí của người đời chưa tu-hành. Trong đạo Phật, Trí-huệ chẳng những khéo-léo biết làm lợi mình mà lợi cả cho người ngoài, và nhứt là thấy được con đường giải-thoát mọi khổ-đau của cuộc đời. Vì lẽ nầy, Trí-huệ còn được gọi là Bát-nhã Ba-la-mật (tiếng Pali: Prajna Paramita) giúp ta vượt qua bờ bên kia, nghĩa là bờ giác-ngộ và giải-thoát, chẳng còn phải bị tái-sanh trong cõi Luân-hồi khổ-đau nữa.

 

3.- Tam-Học Giới-Định-Huệ giúp ta phát-triển Trí-huệ: Con đường phát-triển Trí-huệ là con đường Tam-Học, gồm có ba điều: (1)Giới, giữ-gìn thật châu-đáo các điều giới-cấm; đây là kỷ-luật tự-giác, tự mình kiểm-soát lấy mình; (2) Định, giữ-gìn các giác-quan chẳng để cảnh bên ngoài lôi-cuốn và nhứt là bên trong, tâm chẳng chạy lang-bang, chẳng lo ra, luôn luôn biết chú-tâm và dẹp bỏ các ý-nghĩ sai-lầm; (3)Huệ, sáng-suốt nhận-định điều lành để theo, việc ác để tránh, hiểu thấu-đáo thân-phận con người và bổn-thể rỗng-rang của muôn sự-vật, biết và làm theo con đường giác-ngộ và giải-thoát.

 

Tuy phân ra ba việc Giới, Định, Huệ, nhưng khi thực-hành, phải làm cùng một lúc cả ba việc, chẳng sót việc nào. Tại sao? Vì biết giữ giới, theo đúng kỷ-luật tự-giác, tâm-trí sẽ dừng lại, chẳng chạy lung-tung, nhờ đó mà được Định; có được định-lực, thì Trí-huệ mới phát-triển lên.

 

Ngược lại, nhờ có Trí-huệ, tâm-trí được an-định biết khép mình vào kỷ-luật, do đó việc giữ giới sẽ dễ-dàng và châu-đáo hơn.

 

4.- Muốn phát-triển Trí-Huệ nhanh-chóng, cần theo đúng đường-lối Văn-Huệ, Tư-Huệ và Tu-Huệ, gọi tắt là Văn, Tư, Tu.

 

Thế nào là Văn, Tư, Tu?

 

(a) Văn là nghe. Nghe gì? Nghe và hiểu rõ về Kinh, Kệ bằng cách theo dõi các buổi giảng-pháp ở chùa, hay đọc sách dạy về giáo-lý;

 

(b) Tư là suy-nghĩ; suy-nghĩ thật sâu-xa và tìm cách áp-dụng vào đời sống những lời dạy của Đức Phật nói trong Kinh-Kệ;

 

(c) Tu là sửa đổi. Sửa đổi cái chi? Sửa đổi tánh-tình cho có đức-hạnh, biết suy-nghĩ cho chín-chắn, chẳng lo ra, chẳng nghĩ lang-bang.

 

Áp-dụng đường-lối Văn, Tư, Tu là mỗi tuần phải đi chùa nghe giảng-pháp; nghe xong, phải hiểu rõ lời Phật dạy, suy-nghĩ cho kỹ, hễ còn chút nghi-ngờ chưa thấu, phải thưa hỏi lại ngay; và ghi nhớ thật đầy-đủ áp-dụng vào đời sống tu-hành của mình những điều đã học-hỏi được. Điều quan-trọng trong pháp Văn, Tư, Tu là phải biết quay về bên trong tâm mình, xét xem điều mình nghe, mình đã hiểu rõ chưa, đã suy-nghĩ sâu-xa về điều mình vừa mới hiểu thêm chưa, và chính mình đã áp-dụng điều mình vừa nghe chưa. Có quay về với lòng mình như thế, thì pháp Văn, Tư, Tu mới có hiệu-quả thiết-thực cho đời sống tu-hành của mình.

 

5.- Chẳng cần có nhiều kiến-thức, thà biết ít mà biết chắc: học cho nhiều, biết cho lắm, mà chưa sắp-xếp cho có thứ-tự, thì thành ra rối Trí, có hại cho việc phát-triển Trí-huệ. Vì thế, nên chọn một pháp-môn duy-nhứt và chỉ nên nghe, học, suy-nghĩ, và thực-hành cho kỹ pháp-môn ấy.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 152:

 

Bài Kệ chẳng có chữ nào khó hiểu; nhưng ý-nghĩa rất sâu-xa, dạy ta phải biết phát-triển Trí-huệ, để được giác-ngộ và giải-thoát, theo đúng điều thứ hai trong Tôn-chỉ của Đạo Phật: Từ-bi và Trí-huệ.

 

Tu theo đạo Phật chẳng phải là chờ Phật độ cho mình thành Phật, mà là phải học hỏi lời Phật dạy, hiểu và thi-hành theo, để tự-mình tu-tập hầu đời nầy hay vào các đời sau mình được giải-thoát như Đức Phật.

 

HỌC TẬP:

 

- Học kỹ bài Kệ, đọc cho con-cái nghe khi chúng làm biếng học.

The Story of Thera Laludayi

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (152) of this book, with reference to Laludayi, a thera with little intelligence.

Laludayi was a bhikkhu who was dim-witted and very absent-minded. He could never say things which were appropriate to the occasion, although he tried hard. Thus, on joyful and auspicious occasions he would talk about sorrow, and on sorrowful occasions he would talk about joy and gladness. Besides, he never realized that he had been saying things which were inappropriate to the occasion. When told about this, the Buddha said, "One like Laludayi who has little knowledge is just like an ox."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 152: This man of little learning grows old like an ox; only his flesh grows but not his wisdom.

Dhammapada Verse 152
Laludayi Thera Vatthu

Appassutayam puriso
balibaddova grati
mamsani tassa vaddhanti
panna tassa na vaddhati.

Verse 152: This man of little learning grows old like an ox; only his flesh grows but not his wisdom.


dhp153_B
dhp154_B
Verse-Kệ 153-154

(125).- Tích chuyện Đức Phật thành Đạo - Kệ số 153 và 154

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp theo lời thỉnh-cầu của Tôn-giả A-nan, có đề-cập đến sự-tích Thành-Đạo của Đức Phật Thích-ca.

 

Thái-tử Tất-đạt-ta, họ Cồ-đàm, là con của Vua Tịnh-phạn và Hoàng-hậu Ma-gia, trị-vì tại thành Ca-tỳ-la-vệ. Đến năm hai mươi chín tuổi, Thái-tử rời cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con khôn, xuất-gia đi tu thành một người ẩn-sĩ khổ-hạnh, dạo khắp châu-thổ sông Hằng, tìm thầy học Đạo. Các vị thầy đều dạy Thiền, nhưng giáo-lý của họ chẳng làm thoả-mãn lòng tìm kiếm Chơn-lý của Thái-tử Tất-đạt-ta, nên Ngài quyết-tâm theo con đường riêng của mình. Ngài sống khổ-hạnh trong sáu năm nơi rừng sâu, ép mình theo một kỷ-luật khắc-khổ. Cho đến khi bị ngất xỉu và được thôn-nữ Thiện-Sanh dâng bát sữa, Ngài tĩnh-ngộ, bỏ lối tu khắc-khổ, chọn con đường Trung-Đạo, lánh xa hai cực-đoan: lợi-dưỡng và khổ-hạnh. Con đường Trung-Đạo chính là Bát-Chánh-đạo gồm có: Chánh-kiến, Chánh-tư-duy, Chánh-ngữ, Chánh-nghiệp, Chánh-mạng, Chánh tinh-tấn, Chánh niệm và Chánh-định, đưa đến cảnh-giới an-lạc, vắng-lặng của Niết-Bàn.

 

Sau bốn mươi chín ngày đêm ngồi nhập-định dưới cội cây Bồ-đề, bên bờ sông Ni-liên-thiền, thái-tử Tất-đạt-ta chứng-đắc được quả-vị Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, vào năm ba mươi lăm tuổi. Vào khoảng canh đầu đêm ấy, Thái-tử chứng được Túc-mạng-minh biết rõ được vô-số kiếp đã qua. Đến canh giữa, Ngài chứng được Thiên-nhãn-minh, thấy rõ nguyên-nhơn khiến cho chúng-sanh phải tái-sanh ở cõi nầy, cõi nọ. Vào khoảng canh cuối cùng của đêm, Ngài chứng được Lậu-tận-minh, dứt mọi lậu-hoặc, giải-thoát được cảnh sanh-tử của Luân-hồi với Lý-thuyết Thập-Nhị Nhơn-Duyên theo hai chiều lưu-chuyển và hoàn-diệt. Đến khi bình-minh ló dạng, Thái-tử Tất-đạt-ta chứng được bốn Chơn-lý nhiệm-mầu là Tứ Diệu-Đế. Với Trí-huệ hoàn-toàn sáng-suốt Ngài chiếu-soi bốn Chơn-lý: Khổ-đế, Tập-đế, Diệt-đế và Đạo-đế, thấy rõ bổn-thể của mỗi Chơn-lý, sự cần-thiết phải thực-hiện về mỗi Chơn-lý và sự hoàn-tất việc thực-hiện về mỗi Chơn-lý; do đó, Ngài chứng-đắc được Trí-huệ đại-giác của Phật-đà, trở thành Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.

 

Chỉ sau khi bốn Chơn-lý Nhiệm-mầu hiện lên thật rõ-ràng, trong-suốt nơi tâm thanh-tịnh của Ngài, với ba lần chuyển và mười hai hành-tướng, Ngài mới tuyên-bố lên cho tất cả ở cõi Người, cõi Trời và cõi Phạm-thiên biết rằng Ngài đã chứng-đắc được quả-vị Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.

 

Liền sau khi đã giác-ngộ và giải-thoát hoàn-toàn, Ngài thốt lên bài Chứng-đạo-ca, diễn thành ra hai bài Kệ sau đây:

 

Lang-thang qua bao kiếp Luân-hồi,

Ta cố tìm nhưng rồi chưa gặp

Kẻ xây dựng lên ngôi nhà nầy,

Cứ mãi tái-sanh, khổ-sở thay!

(Kệ số 153.)

 

Ô kià! Anh thợ làm nhà!

Nay ta bắt gặp, khó mà xây thêm.

Cây đòn-tay bên thềm gẫy đổ,

Rui mè, kèo cột bỏ ngổn-ngang.

Ta nay chứng-đắc Niết-Bàn,

Ái-tham, dục-vọng, hoàn-toàn tiêu-vong.

(Kệ số 154.)

 

TÌM HIỂU:

 

Xin Lưu-Ý:

 

Tích chuyện Thành-Đạo của Phật Thích-Ca vừa được đọc qua vốn được kết-tập dựa theo Kinh Chuyển Pháp-Luân. Kinh nầy được Đức Phật, sau khi chứng-đắc quả-vị Phật, tuyên-giảng cho năm anh em ông Kiều-trần-như nghe, tại vườn Lộc-uyển, thành Ba-la-nại.

 

Vì ý Kinh rất thâm-sâu và Tích chuyện lại dùng nhiều danh-từ chuyên-môn khó hiểu, Thiện-Nhựt mạn phép viết lại hai đoạn chót của Tích chuyện theo lời-lẽ thông-thường, trước khi bắt đầu việc TÌM HIỂU:

 

" ... Sau bốn mươi chín ngày đêm ngồi thiền dưới cội cây Bồ-đề, Thái-tử Tất-đạt-ta chứng được quả-vị Phật. Vào đêm cuối, Ngài lần-lượt chứng được Túc-mạng-minh, nhớ được các kiếp sống đã qua, Thiên-nhãn-minh, nhìn thấy chúng-sanh phải tái-sanh mãi trong cảnh Luân-hồi và Lậu-tận-minh, dứt-khoát dẹp tan mọi lậu-hoặc nơi thân-tâm mình. .

 

Khi bình-minh vừa ló dạng, Ngài chứng-đắc được bốn Chơn-lý Nhiệm-mầu là Khổ-đế, Tập-đế, Diệt-đế, và Đạo-đế. Tâm-trí thanh-tịnh của Ngài lần-lượt chiếu-soi từng Chơn-lý, thấy rõ thế nào là Khổ ( = Khổ-đế) cần được hiểu rõ; nguyên-nhơn đã gây ra Khổ ( = Tập-đế) cần được đoạn-tận; đến sự tận-diệt của Khổ ( = Diệt-đế), cần được chứng-ngộ và con đường đi đến sự tận-diệt Khổ ( = Đạo-đế), cần được tu-tập. Về mỗi Chơn-lý, tâm-trí thanh-tịnh của Ngài lần-lượt chuyển-động qua ba giai-đoạn gọi là ba lần chuyển: (1)thấy rõ, (2) đang hiểu và (3) đã thông-đạt chẳng còn chút nghi-ngờ; ba lần chuyển-động như thế cho bốn Chơn-lý thành ra là mười hai hành-tướng.

 

Bấy giờ, biết chắc mình đã chứng được Trí-Huệ Bát-nhã Ba-la-mật, Ngài mới tuyên bố cùng mọi chúng-sanh trong ba cõi, rằng Ngài đã đạt được ngôi-vị Phật. Sau đó, Ngài thốt lên bài Chứng-đạo-ca, tức là hai bài Kệ số 153 và 154.

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sự-tích Thành-Đạo: những sự-việc có thật đã xãy ra khi Thái-tử Tất-đạt-ta hoàn-thành việc tu-tập để chứng-đắc ngôi-vị Phật.

 

- Thái-tử: con trai lớn của Vua, sẽ nối ngôi Vua.

 

- Tất-đạt-ta: tên của Đức Phật Thích-ca, khi chưa xuất-gia; tiếng Pali là Siddhattha.

 

- Cồ-đàm: họ của thái-tử Tất-đạt-ta; tiếng Pali là Gotama.

 

- Tịnh-phạn = tên Vua cha của Thái-tử Tất-đạt-ta, tiếng Pali là Suddhodana.

 

- Ma-gia: tên của Hoàng-hậu, mẹ của Thái-tử Tất-đạt-ta, tiếng Pali là Màyà.

 

- Ca-tỳ-la-vệ: thủ-đô nước Xá-vệ, quê-hương của Thái-tử, nay thuộc phần đất của vương-quốc Nepal; tiếng Pali là Kapilavatthu.

 

- Vợ đẹp con khôn: Vợ của Thái-tử Tất-đạt-ta là công-chúa Gia-du-đà-la ( Yasodharà); con của Thái-tử là La-hầu-la (Rahula).

 

- Châu-thổ: Châu = cồn, bãi cát đất; Thổ = đất. Châu-thổ là khu-vực hai bên dọc theo dòng sông.

 

- sông Hằng: một con sông lớn ở Ấn-độ, tiếng Pali là Gangà.

 

- Chơn-lý = Sự-Thật. Ở đây, ý muốn nói đến Sự-Thật thoát được mọi khổ-đau trong thân-phận của mọi chúng-sanh.

 

- Khổ-hạnh = Khổ = khắc-khổ; Hạnh = hạnh-kiểm; hành-động. Khổ-hạnh là cuộc sống khắc-khổ, thiếu-thốn; tương-truyền rằng khi tu khổ-hạnh, thái-tử Tất-đạt-ta chỉ ăn mỗi ngày có mấy hột mè, thân-thể gầy-yếu, chỉ còn da bọc xương.

 

- Thiện-Sanh: dịch nghĩa tên của nàng thôn-nữ, tiếng Pali là Sujàtà

 

- Tĩnh-ngộ: thức-tỉnh, nhận biết mình đã lầm.

 

- Trung-Đạo: Trung = ở giữa; Đạo = con đường. Trung-Đạo là con đường ở giữa, tránh xa cả hai nẻo khắc-khổ và hưởng-thọ. Trung-Đạo, tiếng Pali là Majjhinapatipadà.

 

- Cực-đoan: Cực = rất, cùng-cực, quá-mức; đoan = đầu cùng; mức cuối; Cực-đoan là chỗ quá mức; ở đây nói về lối sống, có hai cực-đoan: một đầu chỉ lo hưởng thọ vật-chất đầy-đủ, phủ-phê, gọi là lợi-dưỡng; còn một đầu nhịn ăn, chịu đói lạnh, ép-xác, gọi là khổ-hạnh.

 

- Lợi-dưỡng = hưởng lợi thật đầy-đủ về vật-chất.

 

- Chánh-kiến = ý-kiến đứng-đắn, chơn chánh.

 

- Chánh tư-duy = suy-nghĩ đứng-đắn, chơn-chánh.

 

- Chánh ngữ = lời nói đứng-đắn, chơn-chánh

 

- Chánh nghiệp = việc làm, hành-động, sự-nghiệp đứng-đắn, chơn-chánh.

 

- Chánh-mạng = nghề-nghiệp sanh-sống đứng-đắn, chơn-chánh.

 

- Chánh-tịnh-tấn = nỗ-lực, cố-gắng đứng-đắn, chơn-chánh.

 

- Chánh-niệm = ý-nghĩ, tư-tưởng trong tâm đứng-đắn, chơn-chánh

 

- Chánh-định = tâm-ý dừng lại, chẳng nghĩ ngợi lang-bang, giữ trong sự lặng-lẽ đứng-đắn, chơn-chánh.

 

- An-lạc: An = yên; Lạc = vui; cảnh an-lạc là cảnh yên-vui, sướng.

 

- Niết-Bàn: tâm-trạng của người đã dứt bỏ hết mọi phiền-não, chẳng còn tái-sanh nữa. Theo tiếng Phạn Nirvana, có nghĩa là ra khỏi rừng u-tối, tức là thoát khỏi mọi phiền-não, mê-lầm, ngu-tối.

 

- Nhập-định: Nhập = vào; Định = ở yên. Nhập-định là ngồi Thiền, tâm-trí vắng-lặng, yên-ổn, ý-tưởng dừng lại, chẳng xao-lãng.

 

- Bồ-đề: chữ Phạn là Bodhi, nghĩa là giác-ngộ, hiểu rõ lẽ sống chết của chúng-sanh. Nguyên là cây Pippala, thân cao trên 10 thước, cành to, lá hình trái-tim, hột to có thể kết thành chuỗi, Thái-tử Tất-đạt-ta ngồi Thiền 49 ngày đêm dưới gốc cây nầy, thành Phật, nên gọi là cây Bồ-đề.

 

- Sông Ni-liên-thiền: sông khá rộng ở Ấn-độ, tên tiếng Pali là Neranjarà.

 

- Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác: Vô-thượng = cao nhứt, chẳng có gì cao hơn; Chánh-đẳng = ở vào hàng cao-quí, chơn-chánh nhứt; Chánh-giác = giác-ngộ chơn-chánh nhứt. Quả-vị Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác dịch nghĩa chữ Phạn Anouttara Samyas Sambôdhi, còn gọi là Vô-thượng Bồ-đề, hay nói gọn hơn nữa là thành Phật.

 

- Canh đầu, canh giữa, canh cuối: ở Ấn-độ, ban đêm chia ra ba canh; khác với Việt-nam, đêm có năm canh, mỗi canh hai giờ.

 

- Túc-mạng-minh: Túc = ngày xưa; Mạng = đời, kiếp sống; Minh = biết rõ. Túc-mạng-minh là khả-năng nhớ được các đời sống đã qua; tiếng Pali là Pubbenivàsànussati nàna.

 

- Thiên-nhãn-minh: Thiên = Trời; Nhãn = con mắt; Minh = biết rõ. Thiên-nhãn-minh là khả-năng nhìn thấy được các sự-vật bị ngăn-che; tiếng Pali là Dibbacakkhu nàna.

 

- Lậu-tận-minh: Lậu = lậu-hoặc, các phiền-não từ bên trong rỉ chảy lộ ra thành hành-động xấu-ác; Tận = dứt hết; Minh = biết rõ. Chứng được Lậu-tận-minh thì dứt hết các phiền-não bên trong mà trở nên giải-thoát.

 

- Thuyết Thập-nhị Nhơn-Duyên: Thuyết = lý-thuyết; Thập-nhị = mười hai; Nhơn-duyên = nguyên-cớ. Thuyết nầy được dịch là thuyết Mười hai Nhơn-duyên, tiếng Pali là Paticcasamuppàda.

 

Thuyết nầy có hai chiều;

 

(a) chiều lưu-chuyển là (1)Vô-minh( = sự ngu-tối) duyên Hành ( =hành-nghiệp, hành-động); (2)Hành duyên Thức ( = sự hiểu-biết); (3) Thức duyên Danh-sắc ( =tên hay tâm và vật); (4) Danh-sắc duyên Lục-nhập ( = sáu giác-quan); (5) Lục-nhập duyên Xúc ( = sự va-chạm); (6) Xúc duyên Thọ ( = cảm-giác); (7) Thọ duyên Ái ( = yêu thích); (8) Ái duyên Thủ ( = chấp chặt giữ lấy); (9) Thủ duyên Hữu ( = đời sống); (10) Hữu duyên Sanh ( =sự sanh-đẻ ra, tái-sanh); (11) Sanh duyên Tử ( = chết); (12) Tử duyên Vô-minh. Theo chiều lưu-chuyển nầy, thì cứ mãi mãi sanh-tử, tử-sanh trong vòng Luân-hồi (Chữ duyên dùng ở đây có nghĩa là: do đó mà sanh ra)

 

(b) chiều hoàn-diệt là: (1) Hết-vô-minh thì dứt Hành; (2) Hành dứt thì Thức dứt; (3) Thức dứt thì Danh-sắc dứt; (4)Danh-sắc dứt thì Lục-nhập dứt; (5) Lục-nhập dứt thì Xúc dứt; (6)Xúc dứt thì Thọ dứt; (7) Thọ dứt thì Ái dứt; (8) Ái dứt thì Thủ dứt; (9)Thủ dứt thì Hữu dứt; (10) Hữu dứt thì Sanh dứt; (11)Sanh dứt thì Tử dứt. Theo chiều hoàn-diệt nầy thì ra khỏi được vòng sanh-tử, tử-sanh của Luân-hồi, đắc quả-vi Duyên-giác.

 

- Lưu-chuyển: Lưu =chảy; Chuyển = chuyển-động. Chiều Lưu-chuyển của Thuyết 12 Nhơn-duyên cho thấy rõ tại sao chúng-sanh phải trôi lăn mãi trong cõi đau-khổ của Luân-hồi. Tiếng Pali gọi chiều lưu-chuyển là Anuloma. Về chữ duyên dùng trong chiều lưu-chuyển, như nói "Vô-minh duyên Hành", có nghĩa là gây nên, tạo ra cơ-hội cho việc sau xãy đến; tức là: "Vì đã có Vô-minh, nên Hành mới sanh ra, mới có theo."

 

- Hoàn-diệt: Hoàn = trở lại; Diệt = tiêu mất. Theo chiều hoàn-diệt thì phá vỡ được vòng lẩn-quẩn sanh-tử, tử-sanh của Luân-hồi. Hễ phá-vỡ được một nguyên-nhơn trong mười hai nhơn-duyên, là vòng tròn lẩn-quẩn bị đứt, nhờ đó mà giải-thoát được khỏi Luân-hồi. Tiếng Pali gọi chiều Hoàn-diệt là Patiloma.

 

- Tứ-Diệu-Đế: Tứ = bốn; Diệu = nhiệm-mầu; Đế = Chơn-lý.

 

- Khổ-đế = Chơn-lý về sự đau-khổ của thân-phận chúng-sanh trong cõi Luân-hồi. Phật-học Bắc-tông phân-biệt tám sự Khổ, được gọi là Bát-Khổ: (1) Sanh là Khổ; (2)Lão, già là Khổ;(3)Bịnh, đau-ốm là Khổ; (4)Tử, chết là Khổ; (5)Ái biệt-ly, thương nhau phải xa nhau là Khổ; (6)Oán tăng hội, ghét nhau mà phải gần nhau là Khổ; (7)Cầu bất đắc, mong-cầu mà chẳng được là Khổ; (8)ngũ-ấm xí thạnh, thân năm uẩn phát-triển quá mạnh và thiếu thăng-bằng, là Khổ. Tiếng Pali gọi Khổ-đế là Dukkha Ariya Sacca.

 

- Tập-đế = Chơn-lý về nguyên-nhơn của Khổ, tức là sự tham-ái; còn gọi là khát-ái, ái-dục. Tiếng Pali gọi Tập-đế là Samudaya Ariya Sacca

 

- Diệt-đế = Chơn-lý về sự tiêu-diệt mọi Khổ-đau, tức là chứng-đắc được cảnh an-lạc của Niết-Bàn. Tiếng Pali gọi Diệt-đế là Nirodha Ariya Sacca.

 

- Đạo-đế = Chơn-lý về con đường đưa đến sự giác-ngộ và giải-thoát, tức là Bát-Chánh-Đạo, hay Bát-Thánh-Đạo, hay con đường Trung-Đạo. Con đường nầy có tám ngành, được kể ra trong Tích chuyện. Tiếng Pali gọi Đạo-đế là Magga Ariya Sacca.

 

- Đại-giác: Đại = lớn; Giác = biết rõ. Đại-giác là hoàn-toàn giác-ngộ.

 

- Phật-đà: phiên-âm chữ Phạn Buddha, có nghĩa là Đại-giác.

 

- Mâu-ni: phiên âm chữ Phạn Mouni, có nghĩa là bực nhơn-từ, đức-hạnh và tịch-tĩnh. Trong Phật-hiệu Thích-ca Mâu-ni, chữ Thích-ca là dòng họ, chữ Mâu-ni là tiếng tôn-xưng Ngài là bực nhơn-từ, tịch-tĩnh.

 

- Ba lần chuyển: ba lần tâm chuyển-động; đó là: (1)biết đang thấy, (2)biết đang hiểu, (3)biết đã hiểu chẳng còn nghi-ngờ.

 

- Mười hai hành-tướng: Hành-tướng =hình-tướng chuyển-động của Tâm. Mười hai hành-tướng đó là ba lần chuyển cho mỗi Chơn-lý, nhơn lên cho bốn Chơn-lý, thành ra mười hai hành-tướng của Tâm.

 

- Chứng-đạo-ca: Chứng = chứng-đắc, biết chắc đã được; Đạo = đường-lối tu-hành; Ca = bài thơ, bài Kệ, bài hát. Các bực tu-hành khi được đắc-đạo, thường thốt ra lời cảm-xúc nói lên sự chứng-đạo của mình.

 

- Ngôi nhà nầy = nghĩa bóng, ngôi nhà ở đây là thân-tâm.

 

- Tái-sanh = sanh trở lại cõi đời sướng ít khổ nhiều nầy.

 

- Cây đòn-tay = xà ngang, khúc gỗ lớn nằm ngang trên sườn nhà.

 

- Rui, mè, kèo = những khúc gỗ để dựng lên nóc nhà.

 

- Ái-tham: Ái =yêu, thích; Tham = ham quá.

 

- Dục-vọng: Dục = ham-muốn; Vọng = vọng-cầu.

 

- Tiêu-vong = tiêu mất đi hết cả. (Vong = mất.)

 

- Kết-tập = dựa theo lời Phật giảng mà ghi nhớ lại và chép lại thành Kinh, sách, cho người sau đọc.

 

- Kinh Chuyển Pháp-Luân: Chuyển = quay, chuyển-động; Pháp = pháp-tu; Luân = bánh xe; Chuyển Pháp-Luân là quay bánh xe Pháp, tức là đem Chánh-pháp ra giảng-dạy. Kinh nầy là bài pháp đầu-tiên của Đức Phật Thích-ca, ngay sau khi Thành-Đạo.

 

- Kiều-trần-như: tên của vị tu-sĩ tu khổ-hạnh, vốn là bạn đồng-tu với Thái-tử Tất-đạt-ta. Sau khi nghe Kinh Chuyển Pháp-Luân, ông Kiều trần-như đắc quả A-la-hán. Tèn tiếng Pali là Annatàkondanna.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại sự-tích có thật của việc thành Đạo của Đức Phật Thích-ca, vì thế rất quan-trọng cho người Phật-tử, để có đầy-đủ lòng tin vào Đức Phật. Tích chuyện mang nhiều ý-nghĩa quan-trọng sau đây:

 

1) Sự-tích của Đức Phật Thích-ca là việc có thật: còn rất nhiều chứng-tích chứng thật lịch-sử của Đức Phật ở Ấn-độ, ở Nepal, như các trụ-đá của vua A-dục, tháp Đại-giác, Bồ-đề đạo-tràng, núi Linh-thứu, vuờn Lâm-tỳ-ni, thành Ca-tỳ-la-vệ, v.v. Người Phật-tử biết vị giáo-chủ của mình, trước cũng là người như mình, chớ chẳng phải Thần-thánh chi, chính nhờ tu-tập mà Ngài mới thành Phật.

 

2) Sự tu-hành khổ-hạnh sáu năm của Thái-tử Tất-đạt-ta chẳng phải là vô-ích, mặc dù về sau con đường Trung-Đạo khuyên nên tránh đi. Tại sao? Vì sự khổ-hạnh luyện cho ta biết tuân theo một kỷ-luật chặt-chẽ để tu-hành; tu mà chẳng theo một kỷ-luật, vui thì tu, chán thì thôi, làm sao mà thành-công được. Ngày nay, ta có tránh là tránh ép-xác, vì có hại cho sức khoẻ; nhưng phải biết khép mình vào kỷ-luật tu-tập hằng ngày.

 

3) Thời-gian dài nhập-định bốn mươi chín ngày đêm có vẻ khó tin được, vì còn các nhu-cầu về thể-xác như ăn-uống, tiểu-tiện. Nhưng khoa-học đã chứng-minh, khi thân-tâm hoàn-toàn trong tư-thế tĩnh-lặng, các bộ máy tiêu-hoá, bài-tiết bên trong đều chạy chậm lại. Ý-nghĩa quan-trọng cho người Phật-tử là khi ngồi Thiền, phải bền gan chịu đựng sự tê chơn, mỏi lưng, v.v. mới có thể điều-phục được tâm-ý trong một thời-gian lâu mà nhập-định.

 

4) Một điểm quan-trọng nhứt về Bốn Chơn-Lý Nhiệm-mầu: Khổ, Tập, Diệt, Đạo: khi quán-chiếu rõ-ràng và trước khi tuyên-bố đã đắc-đạo, tâm-trí của Đức Phật trải qua ba lần chuyển và mười hai hành-tướng.

 

Điều đó có nghĩa là gì? Mười hai hành-tướng là mười hai lần chuyển-động của Tâm. Chuyển-động như thế nào? Mỗi lần quán-chiếu một Chơn-lý, Tâm ghi-nhận: (1)quán-thấy được Chơn-lý, thấy được bổn-thể của nó; (2)soi-thấu được sự cần-thiết cần phải thực-hành về Chơn-lý đó, tức là đang hiểu rõ về Chơn-lý đó; (3)chiếu-nhận đã hoàn-tất việc thực-hiện Chơn-lý đó, tức là đã hiểu rõ và thi-hành xong về Chơn-lý đó, chẳng còn chút nghi-ngờ nào cả.

 

Riêng khi ghi-nhận lần thứ nhì, soi-thấu sự cần-thiết cần phải thực-hành về Chơn-lý đó, thì mỗi Chơn-lý mỗi khác:

 

- về Khổ-đế, cần phải liễu-tri, nghĩa là biết thật rõ-ràng;

 

- về Tập-đế, cần phải đoạn-tận, nghĩa là phải tiêu-diệt cho hết nguyên-nhơn gây ra đau-khổ là sự tham-ái.

 

- về Diệt-đế, cần phải chứng-ngộ, nghĩa là phải tu-hành thế nào để đắc cho được cảnh-giới Niết-Bàn an-lạc;

 

- về Đạo-đế, cần phải tu-tập, nghĩa là phải áp-dụng vào đời sống tu-hành, cả tám ngành của Bát-Chánh-Đạo.

 

Trong mỗi lần Tâm chuyển-động, khi quán-chiếu Tứ-Diệu-Đế, Thái-tử Tất-đạt-ta đều ghi-nhận rõ-ràng mỗi hành-tướng; như thế, tâm-trí Ngài hoàn-toàn theo dõi và kiểm-soát được chính tâm của Ngài; đó chính là tâm chiếu lấy tâm, trong sự thanh-tịnh hoàn-toàn. Đây là bài học vô-cùng quí-giá cho những người hành Thiền, nhập Định.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 153 và 154:

 

Hai bài Kệ nầy quan-trọng vào bực nhứt, người Phật-tử cần học thật kỹ. Các nhà văn trên thế-giới xem đấy như là một trong các bài thơ tuyệt-tác của nhơn-loại. Thiện-Nhựt rất lo-ngại chẳng biết khi chuyển-dịch sang tiếng Việt, có còn giữ được ý-vị của bài Kệ nguyên-tác hay chăng.

 

Cả hai bài Kệ, đúng ra chỉ là một bài, bài Chứng-Đạo-ca của Đức Phật Thích-ca, nói lên sự cảm-xúc vô-cùng vui-sướng khi đã hoàn-toàn giác-ngộ và giải-thoát. Giác-ngộ được gì? Giác-ngộ được rằng thể-xác nầy gây đau-khổ qua bao kiếp sống Luân-hồi, và do chính nguyên-nhơn Ái-tham đã khiến ta phải mang lấy thể-xác đó. Giải-thoát khỏi được những gì? Giải-thoát khỏi mọi phiền-não từ bên trong thân nầy gây ra, vì kể từ đây chẳng còn phải tái-sanh để mang thân ấy nữa. Tóm lại, sự vui-mừng đó, là do chứng được cõi vô-sanh của Niết-bàn an-lạc.

 

Thử phân-tách từng câu:

 

- "Lang-thang qua bao kiếp Luân-hồi": Tại sao phải lang-thang? Vì ở mỗi đời sống bị khổ-đau chồng-chất, chẳng biết hướng để thoát khổ.

 

- "Ta cố tìm nhưng rồi chưa gặp": Tại sao tìm chẳng gặp? Vì tâm-trí còn bị vô-minh ( = sự ngu-tối) che-lấp nên tìm chẳng thấy được.

 

- "Kẻ xây dựng lên ngôi nhà nầy": Ngôi nhà nào? Đó là tấm-thân mà ta mang lấy để che-chở cho ta. Kẻ xây-dựng nhà nầy là ai? Đó là sự Ái-tham, lý-do khiến ta phải mang lấy tấm-thân nầy hết đời nầy sang đời khác. Nói khác đi, kẻ xây-dựng nên ngôi nhà nầy, chính là sự Ái-tham từ bên trong thân-tâm nầy, đã khiến ta tái-sanh mãi để mang lấy thân-xác.

 

- "Cứ mãi tái-sanh, khổ-sở thay!": Tại sao mãi tái-sanh? Vì quá tham-luyến vào thân-xác, quá ham sống sợ chết, nên phải tái-sanh để có thân-xác mà sống. Tại sao lại khổ-sở thay? Vì cuộc sống trong cảnh Luân-hồi sướng ít, khổ nhiều, như đã xét qua về Bát-Khổ.

 

- "Ô kià! Anh thợ làm nhà!": đây là lời vui-mừng vì đã tìm thấy ra điều mình đang tìm kiếm suốt nhiều đời kiếp qua mà chưa gặp được. Anh thợ làm nhà nào đó? Đó là kẻ khiến ta có được căn nhà nầy, tức là có tấm-thân nầy; kẻ ấy chính là sự Ái-tham, sự quyến-luyến, tríu-mến bám vào thân thể-xác để được sống, dầu là sống mãi trong sự đau-khổ.

 

- "Nay ta bắt gặp, khó mà xây thêm": Nhờ đâu mà bắt gặp được? Chính nhờ ở Trí-huệ sáng-suốt khám-phá ra "anh thợ ấy" chẳng ở đâu xa, mà chính ngay bên trong ta, chính là sự Ái-tham của ta. Đã ở bên trong ta, do ta tự-tạo nên, thì sự ái-tham cũng sẽ bị chính ta diệt bỏ đi, bởi thế cho nên "anh thợ làm nhà =Ái-tham" đó mới "khó mà xây thêm" Xây thêm làm sao được, vì ta chẳng còn ham-muốn căn nhà của anh nữa. Nói khác đi, kể từ nay, ta chẳng còn muốn tái-sanh nữa.

 

- "Cây đòn-tay bên thềm gẫy đổ": Cây đòn-tay nào? Trên sườn nhà, cây đòn-tay chống-đỡ cả ngôi nhà, nghĩa bóng ở đây, chính là sự vô-minh ( =ngu-tối); vì vô-minh mà phải bị tái-sanh; nay hết-vô-minh thì cũng như cây đòn-tay bị gẫy-đổ, làm gì mà dựng được căn nhà? Nói khác đi, ta nay đã được Trí-huệ, thì vô-minh bị vẹt tan, hết vì ngu-muội mà tham-ái nữa, hết vì mê-lầm mà quá tríu-mến vào thân-xác nầy nữa.

 

- "Rui, mè, kèo, cột bỏ ngổn-ngang": các vật-liệu xây-cất bị bỏ ngổn-ngang chẳng được dùng nữa, thì làm sao mà cất nhà mới nổi? Nghĩa bóng của rui, mè, kèo, cột, ở đây là các lậu-hoặc, phiền-não như tham, sân, si, mạn, nghi, v.v.

 

- "Ta nay chứng-đắc Niết-Bàn": "Chứng-đắc Niết-bàn" theo nghĩa dễ hiểu là gì? Đó là kể từ nay, ta chẳng phải còn tái-sanh nữa, chứng được cõi vô-sanh, sống mãi mãi với pháp-thân ( = tấm thân đạo-lý, vô-hình-tướng, chẳng sanh mà chẳng diệt, hằng-còn) trong cảnh an-lạc và tịch-diệt.

 

- "Ái-tham, dục-vọng hoàn-toàn tiêu-vong": Khi ái-tham và dục-vọng đã mất bặt luôn khỏi tâm thì hành-giả đã đắc được tâm thanh-tịnh và chứng-đắc quả-vị A-la-hán, hoàn-toàn giác-ngộ và giải-thoát.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Đọc thật kỹ Tích chuyện, ghi nhớ các điểm chánh, vì đó là Lịch-sử của Đức Phật. Muốn xứng đáng là Phật-tử, phải biết rõ lịch-sử của đấng Từ-phụ.

 

2.- Học thuộc lòng hai bài Kệ, vì đây là bài Chứng-Đạo-ca của Đức Phật Thích-ca; nghĩa-lý thâm-sâu giúp ta vững tin nơi Phật-đạo và tinh-tấn tu-hành theo Chánh-pháp.

 

3.- Tích chuyện và hai bài Kệ là bản tóm-tắt sơ-lược tất cả giáo-lý nhà Phật. Thiện-Nhựt rất tiếc mình chẳng đủ sức để TÌM HIỂU gọn-gàng và dễ đọc hơn như đã làm. Xin người đọc còn chỗ nào chưa rõ, nên đến thưa hỏi thêm các bực xuất-gia cùng các thiện-tri-thức.

The Story Concerning the "Words of Exultation of the Buddha"

These two verses are expressions of intense and sublime joy felt by the Buddha at the moment of attainment of Supreme Enlightenment (Bodhi nana or Sabbannuta nana). These verses were repeated at the Jetavana monastery at the request of the Venerable Ananda.

Prince Siddhattha, of the family of Gotama, son of King Suddhodana and Queen Maya of the kingdom of the Sakyans, renounced the world at the age of twenty-nine and became an ascetic in search of the Dhamma (Truth). For six years, he wandered about the valley of the Ganges, approaching famous religious leaders, studying their doctrines and methods. He lived austerely and submitted himself strictly to rigorous ascetic discipline; but he found all these traditional practices to be unsound. He was determined to find the Truth in his own way, and by avoiding the two extremes of excessive sensual indulgence and self-mortification*, he found the Middle Path which would lead to Perfect Peace, Nibbana. This Middle Path (Majjhimapatipada) is the Noble Path of Eight Constituents, viz., Right view, Right thought, Right speech, Right action, Right livelihood, Right effort, Right mindfulness and Right concentration.

Thus, one evening, seated under a Bo tree on the bank of the Neranjara river, Prince Siddhattha Gotama attained Supreme Enlightenment (Bodhi nana or Sabbannuta nana) at the age of thirty-five. During the first watch of the night, the prince attained the power of recollection of past existences (Pubbenivasanussati-nana) and during the second watch he attained the divine power of sight (Dibbacakkhu nana). Then, during the third watch of the night he contemplated the Doctrine of Dependent Origination (Paticcasamuppada) in the order of arising (anuloma) as well as in the order of cessation (patiloma). At the crack of dawn, Prince Siddhattha Gotama by his own intellect and insight fully and completely comprehended the Four Noble Truths. The Four Noble Truths are: The Noble Truth of Dukkha (Dukkha Ariya Sacca), the Noble Truth of the Cause of Dukkha (Dukkha Samudaya Ariya Sacca), the Noble Truth of the Cessation of Dukkha (Dukkha Nirodha Ariya Sacca), and The Noble Truth of the Path Leading to the Cessation of Dukkha (Dukkha Nirodha Gamini Patipada Ariya Sacca). There also appeared in him, in all their purity. The knowledge of the nature of each Noble Truth (Sacca nana), knowledge of the performance required for each Noble Truth (Kicca nana), and the knowledge of the completion of the performance required for each Noble Truth (Kata nana); and thus, he attained the Sabbannuta nana (also called Bodhi nana) of a Buddha. From that time, he was known as Gotama the Buddha.

In this connection, it should be noted that only when the Four Noble Truths, under their three aspects (therefore, the twelve modes), had become perfectly clear to him that the Buddha acknowledged in the world of Men, the world of Devas and that of Brahmas that he had attained the Supreme Enlightenment and therefore had become a Buddha.

At the moment of the attainment of Buddhahood,
the Buddha uttered the following two verses:

Verse 153: I, who have been seeking the builder of this house (body), failing to attain Enlightenment (Bodhi nana or Sabbannuta nana) which would enable me to find him, have wandered through innumerable births in samsara. To be born again and again is, indeed, dukkha!


Verse 154: Oh house-builder! You are seen, you shall build no house (for me) again. All your rafters are broken, your roof-tree is destroyed. My mind has reached the unconditioned (i.e., Nibbana); the end of craving (Arahatta Phala) has been attained.

* Kamasukhallikanuyoga and Attakiamathanuyoga.

Dhammapada Verses 153 and 1541
Udana Vatthu

Anekajatisamsaram
sandhavissam anibbisam
gahakaram gavesanto
2
dukkha jati punappunam
3.

Gahakaraka ditthosi4
puna geham na kahasi
5
sabba te phasuka bhagga
6
gahakotam visankhatam
7
visankharagatam cittam
8
tanhanam khayamajjhaga
9.

Verse 153: I, who have been seeking the builder of this house (body), failing to attain Enlightenment (Bodhi nana or Sabbannuta nana) which would enable me to find him, have wandered through innumerable births in samsara. To be born again and again is, indeed, dukkha!

Verse 154: Oh house-builder! You are seen, you shall build no house (for me) again. All your rafters are broken, your roof-tree is destroyed. My mind has reached the unconditioned (i.e., Nibbana); the end of craving (Arahatta Phala) has been attained.


1. Footnotes to Verses 153 and 154: These two verses are expressions of intense and sublime joy the Buddha felt at the very moment of his attainment of Enlightenment; as such, they are replete with a wealth of sublime meaning and deep feeling.

2. gahakaram gavesanto: lit., "I who have tried to find the builder of the house" The house is the body, the builder is Craving (Tanha). The meaning of Verse (153) as given in the Commentary is as follows:

I who have been seeking the builder of this house, knowing that he could be seen only with a certain wisdom, have been trying to attain such wisdom (Bodhi nana) ever since Dipankara Buddha prophesied that I would, one day, become a Buddha like him. But failing to attain Bodhi nana, I have wandered through this course of hundreds of thousands of existences in the endless round of rebirths.

3. dukkha jati punappunam: To be born again and again is dukkha. This is the reason for trying to find the builder of this house, the Carpenter Craving.

Birth which comes together with aging, disease and death is dukkha; that is why I have been incessantly looking for the Householder Craving.

4. ditthosi: You are seen: I have seen you now that I have attained Enlightenment or Bodhi nana, the all comprehending wisdom, with my own Insight.

5. puna geham na kahasi: No house shall be built again: You shall not build another house (for me) in this round of rebirths.

6. sabba te phasuka bhagga: All your rafters are broken: I have destroyed all the remaining defilements.

7. gahakutam visankhatam The roof-tree has been destroyed: I have dispelled Ignorance.

8. visankharagatam cittam: lit., my mind has reached the Unconditioned, having Nibbana as its object, my mind has realized Nibbana.

9. tanhanam khayamajjhaga: The end of craving has been attained. I have attained Arahatta Fruition.


dhp155_B
dhp156_B
Verse-Kệ 155-156

(126).- Tích chuyện con ông Đại-đà-na - Kệ số 155 và 156

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại rừng Mi-già, gần thành Ba-la-nại, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến người con trai của ông Đại-Đà-na.

 

Thuở ấy, ở thành Ba-la-nại có một người giàu-có tên là Đại-Đà-na. Ông có người con trai lúc còn nhỏ chẳng chịu học-hành gì, đến khi trưởng-thành, cưới được một người vợ, con gái của một người cũng rất giàu-có. Người vợ cũng giống chồng, chẳng có sự giáo-dục khi còn trẻ. Khi cha mẹ hai bên qua đời, vợ chồng người ấy được thừa-hưởng gia-tài to-lớn của bên chồng và bên vợ. Cả hai người đều là người dốt-nát, chẳng biết giữ-gìn của-cải, chẳng hiểu cách làm-lụng để của-cải được sanh lợi thêm, cả ngày họ chỉ biết ăn ngon mặc đẹp, uống rượu, đánh bạc, vui đùa mà thôi. Chẳng bao lâu, tài-sản của họ lần lần tiêu-tán, họ trở nên thiếu-thốn. Bấy giờ họ bán cả đất cát, ruộng vườn để trả nợ, và sau cùng phải bán luôn ngôi nhà đang ở cùng các bàn ghế, rồi lang-thang nơi đầu đường xó chợ đi ăn xin, sống nhờ vào sự bố-thí của kẻ khác.

 

Một hôm, Đức Phật nhìn thấy con trai ông Đại-Đà-na, ăn mặc rách-rưới, thân-thể gầy-yếu, già-nua, đang đứng dựa lưng vào vách tường chùa, chờ các vị Sa-di đem các thức ăn còn thừa ra cho mà ăn. Đức Phật mỉm cười; lúc ấy Tôn-giả A-nan đứng bên cạnh mới thưa hỏi tại sao Phật lại cười.

 

Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, hãy nhìn con trai ông Đại-Đà-na đang đứng dựa tường kia. Con nhà giàu-có, anh ta lúc thiếu-thời chẳng học-hành chi cả, sống một cuộc đời thật là vô-dụng. Nếu vào buổi đầu của cuộc đời, anh ta biết bảo-tồn tài-sản của mình, anh sẽ trở thành một nhà cự-phú. Hay nếu biết xuất-gia, thọ-giới Tỳ-kheo, thì nay anh có thể đắc được quả-vị A-la-hán và vợ anh, nếu biết tu-hành cũng có thể chứng được quả-vị A-na-hàm. Nếu vợ chồng anh, vào tuổi trung-niên, biết làm-lụng để của-cải sanh lợi, thì nay cả hai cũng khá-giả. Hay nếu họ đi tu vào thời đã đứng tuổi,thì nay chồng cũng chứng được quả A-na-hàm, vợ được quả Tư-đà-hàm. Nếu hai người ấy vào lúc tuổi đã xế chiều, biết giữ-gìn tiền-của, thì nay hai vợ chồng già cũng có đủ ăn. Hay nếu về già, họ đi tu, thì nay chồng cũng đắc được quả Tư-đà-hàm, vợ cũng chứng quả Tu-đà-huờn. Tuy nhiên, vì cả trong ba giai-đoạn thời-gian của đời sống, họ đã chẳng biết làm điều lợi-ích nào, cho nên họ đã mất hết cả tài-sản, bỏ qua những cơ-hội quí để chứng-đắc được các Đạo và Quả."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Lúc thiếu-thời, chẳng sống đời Phạm-hạnh,

Chẳng đi làm để được lãnh tiền lương.

Đến tuổi già, trông giống con cò hương

Ủ-rũ bên hồ thường vắng cá tôm.

(Kệ số 155.)

 

Lúc thiếu-thời, chẳng sống đời Phạm-hạnh,

Chẳng đi làm để được lãnh tiền lương.

Đến tuổi già, nằm dài như cung gãy,

Nhìn dĩ-vãng, than-thở nhớ thương.

(Kệ số 156.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đại-Đà-na: tên vị nhà giàu nầy, tiếng Pali là Mahàdhana.

 

- Ba-la-nại: tên thành-phố lớn của Ấn-độ; tiếng Pali là Varanasì.

 

- Thừa-hưởng = nhận lãnh để hưởng-dụng.

 

- Sa-di = Xin nhắc lại: người mới vào chùa tập-sự tu-hành, chưa thọ-giới Tỳ-kheo; tiếng Pali là Samanera.

 

- A-nan: tên vị thị-giả của đức Phật Thích-ca; tiếng Pali là Ànanda

 

- Thiếu-thời: Thiếu =còn trẻ, nhỏ tuổi; Thời = thời-gian. Thiếu-thời là vào khoảng còn trẻ, chưa đến hai mươi tuổi.

 

- Vô-dụng: Vô = chẳng; Dụng = dùng được. Vô-dụng là chẳng có ích-lợi gì, chẳng dùng được vào việc gì.

 

- Bảo-tồn: Bảo = bảo-vệ, giữ-gìn; Tồn = còn. Bảo-tồn là giữ-gìn cho còn nguyên-vẹn.

 

- Cự-phú: Cự = to lớn; Phú = giàu-có. Cự-phú là giàu-có lớn.

 

- Trung-niên: Trung = giữa; Niên = tuổi. Tuổi trung-niên vào khoảng bốn, năm mươi tuổi; còn gọi là đứng tuổi.

 

- Tuổi đã xế chiều: đến tuổi già, như mặt trời về chiều sắp lặn.

 

- Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán: Bốn quả-vị, từ thấp đến cao, của hàng Thanh-văn( =các đệ-tử sống gần bên Phật, nghe kinh mà tu-tập).(1) Tu-đà-huờn còn gọi là Nhập-Lưu ( = bước vào dòng nước Thánh) hay là Thất-Lai ( = còn tái-sanh bảy lần nữa); tiếng Pali là Sotàpatti. (2) Tư-đà-hàm còn gọi Nhứt-Lai, chỉ còn tái-sanh một lần nữa thôi; tiếng Pali là Sakadàgàmì. (3)A-na-hàm còn gọi là Bất-Lai, chẳng sanh lại cõi người nữa, chỉ sanh lên Trời, tiếp-tục tu; tiếng Pali là Anàgàmì. (4)A-la-hán, chứng được vô-sanh, hoàn-toàn giác-ngộ và giải-thoát; tiếng Pali là Arahant.

 

- Đạo và Quả: Đạo = con đường, đường-lối tu-hành dẫn đến sự chứng-đắc; tiếng Pali là Magga. Quả = quả-vị, ngôi-vị, kết-quả thành-công trong việc tu-hành được sự chứng-đắc; tiếng Pali là Phala.

 

- Phạm-hạnh: Phạm =Phạm-ma,Pali là Brahma, Bà-la-môn; Hạnh = hạnh-kiểm, đức-hạnh. Sống đời Phạm-hạnh là tu theo đường-lối của đạo Bà-la-môn, cắt-đứt sự dâm-dục, khi chết sẽ sanh lên cõi Trời Phạm-Thiên.

 

- Cò hương = một loài chim cò, chơn cao, mỏ dài, nhưng ốm-gầ-y.

 

- Dĩ-vãng: thời-gian đã qua; trái với tương-lai là việc sẽ đến.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, thuật lại một người nhà giàu, lúc nhỏ chẳng chịu học-hành, lớn lên chẳng có nghề làm việc mưu-sanh, nên về già phải nghèo-khổ, đi ăn xin.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là lời Phật dạy: lúc nhỏ chẳng học-hành, chẳng có nghề, thì về già sẽ nghèo-khó. Trong suốt cuộc đời nếu bỏ qua các dịp quí-báu để tu-hành, thì chẳng chứng-đắc được đạo-quả nào cả.

 

(2)Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 155 và 156:

 

Hai bài Kệ rất giống nhau về ý-nghĩa: lúc còn nhỏ mà chẳng sống cuộc đời đức-hạnh, chẳng có nghề-nghiệp mưu-sanh, thì về già sẽ nghèo-khổ. Bài Kệ trước ví người già nghèo khó như con cò hương gầy-ốm chẳng tìm thấy cá, tôm ở bên hồ. Bài Kệ sau ví người già nghèo khó như cây cung gẫy nằm dài, bị bỏ xó, nhớ tiếc thời xưa.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc hai bài Kệ, ghi nhớ, dùng để nhắc-nhở con-cái phải chăm-chỉ học-hành khi còn trong tuổi thanh-niên.

 

2.- Nếu có quyết-tâm tu-hành, nên sắp-xếp công-việc và thời-giờ để tu-học. Các khó-khăn trong việc tu-học, phần lớn do chính bên trong mình mà ra: tánh hẹn lần, để khi rỗi-rảnh sẽ tu, đó là chẳng bao giờ tu được cả. Nên nhớ, còn đủ sức-khoẻ cường-tráng là có đủ cơ-duyên để học Đạo; đến khi tuổi già, bịnh-hoạn liên-miên, khó mà tu-tập được.

The Story of the Son of Mahadhana

While residing at the Migadaya wood, the Buddha uttered Verses (155) and (156) of this book, with reference to the son of Mahadhana, a rich man from Baranasi.

The son of Mahadhana did not study while he was young; when he came of age he married the daughter of a rich man, who, like him, also had no education. When the parents on both sides died, they inherited eighty crores from each side and so were very rich. But both of them were ignorant and knew only how to spend money and not how to keep it or to make it grow. They just ate and drank and had a good time, squandering their money. When they had spent all, they sold their fields and gardens and finally their house. Thus, they became very poor and helpless; and because they did not know how to earn a living they had to go begging. One day, the Buddha saw the rich man's son leaning against a wall of the monastery, taking the leftovers given him by the samaneras; seeing him, the Buddha smiled.

The Venerable Ananda asked the Buddha why he smiled, and the Buddha replied, "Ananda, look at this son of a very rich man; he had lived a useless life, an aimless life of pleasure. If he had learnt to look after his riches in the first stage of his life he would have been a top-ranking rich man; or if he had become a bhikkhu, he could have been an arahat, and his wife could have been an anagami. If he had learnt to look after his riches in the second stage of his life he would have been a second rank rich man, or if he had become a bhikkhu he could have been an anagami, and his wife could have been a sakadagami. If he had learnt to look after his riches in the third stage of his life he would have been a third rank rich man, or if he had become a bhikkhu he could have been a sakadagami, and his wife could have been a sotapanna. However, because he had done nothing in all the three stages of his life he had lost all his worldly riches, he had also lost all opportunities of attaining any of the Maggas and Phalas."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 155: They, who in youth have neither led the life of Purity nor have acquired wealth, waste away in dejection like decrepit herons on a drying pond deplete of fish.
 
Verse 156: They, who in youth have neither led the Life of Purity nor have acquired wealth, lie helplessly like arrows that have lost momentum, moaning and sighing after the past.



Dhammapada Verses 155 and 156
Mahadhanasetthiputta Vatthu

Acaritva brahmacariyam
aladdha yobbane dhanam
jinnakoncava jhayanti
khinamaccheva pallale.

Acaritva brahmacariyam
aladdha yobbane dhanam
senti capatikhinava
puranani anutthunam.

Verse 155: They, who in youth have neither led the life of Purity nor have acquired wealth, waste away in dejection like decrepit herons on a drying pond deplete of fish.

Verse 156: They, who in youth have neither led the Life of Purity nor have acquired wealth, lie helplessly like arrows that have lost momentum, moaning and sighing after the past.

End of Chapter Eleven: Aging (Jaravagga)

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 75)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 86)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩ và tìm hiểu xem có tiền kiếp và luân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 79)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 180)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 138)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 183)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 314)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 502)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 427)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 493)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 733)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 1150)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 1678)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 962)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 646)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 757)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 795)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1714)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 1053)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 787)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 825)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1768)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2620)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
18 Tháng Tư 201910:00 SA(Xem: 2196)
Thiền không phải là nỗ lực tìm cầu để đạt được cái chưa có mà là buông hết mọi nỗ lực tìm cầu thì liền thấy ra ngay đó đã có tất cả. Nhiều người nỗ lực tu luyện để thấy ra thực tánh pháp (hay kiến tánh) trong trạng thái thiền định xuất thần,
18 Tháng Tư 20199:00 SA(Xem: 1728)
Có một điều là, xưa nay Phật giáo Việt Nam đã thống nhất, nhưng là thống nhất trên ý chí, trên hiến chương, trên hình thức tổ chức chi chi đó thôi, chứ có một điều chưa bao giờ thống nhất được: ấy là tư tưởng Phật học. Mỗi tông phái thường có một số kinh điển làm tư tưởng nồng cốt cho tông phái mình, từ đó làm kim chỉ nam cho sinh hoạt, tu hành, xiển dương phát triển v.v...
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1519)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 580)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 838)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1062)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4241)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 569)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 566)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,