Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 14, Phẩm Phật-đà - The Dhammapada, Chapter 14, The Buddha

12 Tháng Mười Hai 20186:29 SA(Xem: 219)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 14, Phẩm Phật-đà - The Dhammapada, Chapter 14, The Buddha

Chapter14-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 14, Phẩm Phật-đà
The Dhammapada, Chapter 14, Buddhavagga: The Buddha

(Kệ 179-196 - Verses 179-196)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp179_B
dhp180_B
Verse-Kệ 179-180

(148).- Tích chuyện ba cô gái của Ma-vương - Kệ số 179 và 180

 

(Tích chuyện nầy hơi giống Tích chuyện Hoàng-hậu Sa-mã-hoa)

 

Vào một thời kia, Đức Phật du-hành qua xứ Ku-ru, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến ba nàng con gái đẹp của Ma-vương.

 

Thuở ấy, ở xứ Ku-ru có một vị Bà-la-môn tên là Mã-can-di, thờ thần lửa. Ông có một người con gái nhan-sắc rất đẹp, tên là Mã-can-di-hoa, bao nhiêu chàng trai đến xin cưới, nhưng ông còn chưa bằng lòng vì chưa gặp người xứng-đáng với sắc đẹp của con.

 

Sáng sớm hôm ây, trong cơn Thiền-định, Đức Phật quán-thấy cơ-duyên đã đủ để cho vợ chồng ông Mã đắc được quả-vị A-na-hàm, nên sau đó Ngài bưng bình bát đi khất thực ngang qua xóm của Mã-can-di. Vừa trông thấy tướng-mạo trang nghiêm, đủ ba mươi vẻ đẹp của Đức Phật, ông Mã chạy vào kêu vợ ra nhìn, và có ý-định gả con cho Đức Phật. Nhưng Đức Phật từ chối, nói: "Khi Ta sắp thành Đạo dưới cội Bồ-đề, Ma-vương cho ba người con gái đẹp, nhan-sắc tuyệt-trần là các nàng Tham-ái, Ác-cảm và Dục-vọng đến cám-dỗ Ta. Nhưng đối với kẻ đã dứt sạch tham-ái, tríu-mến và dục-vọng, các nàng đã dùng đủ mọi cách mà chẳng dụ-dỗ nổi. Tâm Ta chẳng hề mảy-may khởi lên sự ham-muốn nào cả. Huống chi ngày nay, tấm thân vật-chất của con gái ông, bên trong chứa đầy chất bất-tịnh, Ta cũng chẳng muốn bước chơn tới gần đụng-chạm đến."

 

Rồi Đức Phật nói lên hai bài Kệ sau đây, nhờ đó mà vợ chồng ông Mã-can-di chứng được quả-vị A-na-hàm và xin gia-nhập Giáo-hội

 

Ngài chiến-thắng hoàn-toàn trên thế-gian,

Dục-vọng tiêu-trừ chẳng còn theo bận,

Trí-huệ Phật rộng sâu vô-cùng-tận,

Bực không dấu-vết, ai vẽ được bước chơn.

(Kệ số 179.)

 

Ngài đã vượt qua lưới tham rối-rắm,

Ái-dục chẳng còn tham-đắm tái-sanh,

Trí-huệ Phật rộng sâu vô-cùng-tận,

Bực không dấu-vết, ai vẽ được bước chơn.

(Kệ số 180.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Phật-đà: phiên-âm chữ Phạn Buddha, Phật, có nghĩa là giác, bực đã giác-ngộ và giải-thoát hoàn-toàn.

 

- Ku-ru: xứ ở miền Bắc Ấn-độ xưa, tên tiếng Pali là Kuru.

 

- Ma-vương = Vua Ma, còn gọi là Ma Ba-tuần, tượng-trưng cho sự cám-dỗ người khác làm việc quấy; tiếng Pali là Màra.

 

- Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ xưa ở Ấn-độ; tiếng Pali là Brahma. Bốn giai-cấp xưa ở Ấn là (1)Bà-la-môn,tu-sĩ, (2)Sát-đế-lợi, vua quan; (3)Phệ-xá, buôn-bán; (4) Thủ-đà-la, công-nhơn, nông-phu.

 

- Mã-can-di: tên vị nầy tiếng Pali là Màgandiya; còn người con gái là Màgandiyà.

 

- A-na-hàm: quả-vị thứ ba trong hàng Thanh-văn, còn gọi là Bất-Lai, nghĩa là chẳng tái-sanh trở lại cõi người nữa, sanh lên Trời, tiếp-tục tu để đắc Thánh-quả A-la-hán. A-na-hàm, tiếng Pali: Anàgàmi.

 

- Ba mươi hai vẻ đẹp của Phật: theo trong Kinh sách, thân-thể của Đức Phật có 32 tướng tốt, như vành tai dài, trên đầu có nhục-kế ( = cục thịt u trên đỉnh đầu), trước ngực có chữ Vạn, v.v.

 

- Cội Bồ-đề: cây Bồ-đề, nơi tu-sĩ Cồ-đàm ngồi Thiền 49 ngày đêm, sau đó thành Đức Phật Thích-ca.

 

- Nhan-sắc tuyệt-trần = sắc đẹp chẳng còn có ai hơn được.

 

- Cám-dỗ = dụ-dỗ, xúi-giục.

 

- Tham-ái = còn gọi là khát-ái, ái-dục; sự tham-lam tríu-mến;

 

- Ác-cảm = cảm-tình xấu-ác, như ghen ghét, oán-ghét.

 

- Dục-vọng = lòng ham-muốn, nhứt là về thú vui xác-thịt.

 

- Tríu-mến = tham-luyến, đeo chặt chẳng buông bỏ ra được.

 

- Bất-tịnh: Bất = chẳng; Tịnh = sạch-sẽ. Chất bất-tịnh là chất dơ.

 

- Tiêu-trừ = diệt bỏ mất hết, chẳng còn vết-tích gì nữa.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc ông Mã-can-di trông thấy tướng-mạo trang-nghiêm của Đức Phật, muốn gả cô gái đẹp của ông cho Ngài. Nhưng Đức Phật từ-chối, bảo rằng trước đây ba cô gái của Ma-vương, nhan-sắc tuyệt-trần, theo cám-dỗ, tâm Ngài còn chẳng khởi lên sự ham-muốn, nữa là nay nhìn thấy tấm thân bất-tịnh của một người nữ, sao lại chẳng nhàm-chán.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là người đã hoàn-toàn ly-dục ( =dứt bỏ mọi tham-luyến, mong-cầu, dục-vọng) dễ-dàng thoát khỏi sự cám-dỗ của cảnh-vật bên ngoài cùng các sự ràng-buộc lôi-kéo của các tâm-trạng bất-thiện ở bên trong. Tâm của bực ấy thật là thanh-tịnh. Đó là mục-tiêu tu-tập và kết-quả chứng-đắc của các bực A-la-hán, Phật-đà.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 179 và 180:

 

Thử phân-tách từng câu:

 

1.- Ngài chiến-thắng hoàn-toàn trên thế-gian: Ngài ở đây chỉ vào Đức Phật. Ở thế-gian nầy, Ngài đã diệt hoàn-toàn các lậu-hoặc.

 

2.- Dục-vọng tiêu-trừ chẳng còn theo bận: Các ham-muốn và tríu-mến dứt bỏ xong, chúng chẳng còn đeo theo làm bận Ngài nữa.

 

3) Trí-huệ Phật rộng sâu vô-cùng-tận: đó là nhứt-thiết chủng-trí cuả Đức Phật, cái trí thông-suốt được tất cả muôn loài.

 

4. Bực không dấu-vết, ai vẽ được bước chơn: Dấu-vết gì? Đó là các dấu-vết còn sót lại tức là tham-ái, dục-vọng cứ dẫn mãi chúng-sanh phải trôi lăn trong vòng lẩn-quẩn của Luân-hồi. Vì chẳng có dấu-vết gì để lại, thì ai lại có thể thấy( =vẽ lại) được chỗ các Ngài tái-sanh.

 

5.- Ngài đã vượt qua lưới tham rối-rắm: tức là Ngài đã diệt bỏ được mọi hình-thức của sự tham-luyến đang giăng ra để lôi kéo chúng-sanh vào cảnh tái-sanh trong vòng Luân-hồi.

 

6.- Ái-dục chẳng còn tham-đắm tái-sanh: Tâm Ngài đã dứt tuyệt sự ham muốn được tái-sanh nữa.

 

7) Hai câu chót bài Kệ số 180 giống với hai câu chót của bài Kệ số 179: chẳng thể nào tìm thấy dấu-vết nào của bực A-la-hán, của Phật-đà, để biết các Ngài tái-sanh về đâu. Tại sao? Vì các Ngài đã chứng vô-sanh, tự-tại mãi trong cảnh tịch-diệt của Niết-bàn.

The Story of the Three Daughters of Mara

The Buddha first uttered Verses (179) and (180) of this book while residing near the Bodhi tree, with reference to the three daughters of Mara. He repeated these verses to the brahmin Magandiya while journeying through the Kuru country.

Magandiya the Brahmin and his wife lived in the kingdom of the Kurus with their daughter Magandiya who was exceedingly beautiful. She was so beautiful that her father rudely turned down all her suitors. One day, early in the morning, when the Buddha surveyed the world, he found that time was ripe for the brahmin Magandiya and his wife to attain Anagami Fruition. So, taking his bowl and the robes, the Buddha set out for the place where the brahmin usually went to offer fire sacrifice.

The brahmin, seeing the Buddha, promptly decided that the Buddha was the very person who was worthy of his daughter. He pleaded with the Buddha to wait there and hurriedly went off to fetch his wife and daughter. The Buddha left his footprint and went to another place, close at hand. When the brahmin and his family came, they found only the footprint. Seeing the footprint, the wife of the brahmin remarked that it was the footprint of one who was free from sensual desires. Then, the brahmin saw the Buddha and he offered his daughter in marriage to him.

The Buddha did not accept nor did he refuse the offer, but first, he related to the brahmin how the daughters of Mara tempted him soon after his attainment of Buddhahood. To the beautiful Tanha, Arati and Raga, the daughters of Mara, the Buddha had said, "It is no use tempting one who is free from craving, clinging and passion, for he cannot be lured by any temptation whatsoever."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 179: The Buddha, whose conquest (of moral defilements) is complete, in whom there cannot arise any further defilements in this world, that Buddha of infinite range of wisdom, who is trackless, - by what track will you lead him?

 

Verse 180: The Buddha, in whom there is no craving, which like a net would bring him back to any existence (in samsara), that Buddha of infinite range of wisdom, who is trackless, - by what track will you lead him?


Then, the Buddha continued, "Brahmin Magandiya, even when I saw those peerless daughters of Mara, I felt no sensual desire in me. After all, what is this body of your daughter? It is full of urine and filth; I don't like to touch it even with my foot!" On hearing those words of the Buddha, both the brahmin and his wife attained Anagami Fruition. Later, they joined the Order and eventually both of them attained arahatship.

Dhammapada Verses 179 and 180
Maradhitara Vatthu

Yassa jitam navajiyati1
jitam yassa no'yati koci loke
2
tam buddhamanantagocaram
3
apadam
kena padena nessatha.

Yassa jalini visattika
tanha natthi kuhinci netave
tam buddhamanantagocaram
apadam kena padena nessatha
5.

Verse 179: The Buddha, whose conquest (of moral defilements) is complete, in whom there cannot arise any further defilements in this world, that Buddha of infinite range of wisdom, who is trackless, - by what track will you lead him?

Verse 180: The Buddha, in whom there is no craving, which like a net would bring him back to any existence (in samsara), that Buddha of infinite range of wisdom, who is trackless, - by what track will you lead him?


1. jitam navajiyati: 'the conquest is complete' means there is no need for further conquests as there are no more moral defilements to be conquered.

2. jitam yassa no'yati koci loke: lit., whose conquered defilements cannot be followed by any further defilements in this world.

3. anantagocaram: The range of wisdom of the Buddha is infinite by reason of his omniscience, Sabbannuta nana. (The Commentary)

4. apadam: lit., 'trackless'. The Buddha, being free from conditions of rebirth, such as craving, clinging, passion, etc., his track or passage through samsara has come to an end. (The Com.)

[The same idea is conveyed in verses 92 and 93 which express the idea that the arahat passes away, leaving no more trace of existence than a bird leaves its passage through the air.]

5. kena padena nessatha: lit., by what track will you lead him? It means he cannot be lured by any temptation whatsoever.


dhp181_B
Verse-Kệ 181

(149).- Tích chuyện Đức Phật từ cõi Trời Đao-lợi trở lại thế-gian - Kệ số 181

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, trong một kỳ giảng-pháp, có nói đến chuyến đi của Ngài từ cung trời Đao-lợi trở lại cõi thế-gian.

 

Thuở ấy, vào đầu muà an-cư kiết-hạ, sau khi chiến-thắng các giáo-phái ngoại-đạo, Đức Phật thăng lên cung Trời Đao-lợi để giảng-pháp cho chư Thiên nghe. Mẹ Ngài là Hoàng-hậu Ma-gia trước kia, từ cung Trời Đâu-suất cũng đến cõi Trời Đao-lợi để dự-thính. Trong ba tháng, Đức Phật khai giảng Kinh Vi-diệu-pháp A-tỳ-đạt-ma cho chư Thiên, chư Phạm-Thiên, nhờ đó mà Hoàng-hậu Ma-gia chứng được quả-vị Tu-đà-huờn.

 

Trong thời-gian đó, Tôn-giả Xá-lợi-phất vâng lịnh Phật, đến thành San-kha, cách thành Xá-vệ ba mươi do-tuần, giảng dạy Vi-diệu-pháp cho năm trăm vị tỳ-kheo đang qua mùa an-cư tại đây. Gần mãn mùa an-cư, Tôn-giả Mục-kiền-liên dùng phép thần-thông lên cõi Trời Đao-lợi để gặp Đức Phật, Tôn-giả được cho biết Đức Phật sẽ trở lại thế-gian đúng vào đêm trăng tròn rằm tháng Tám, ngay tại thành San-kha.

 

Vào đêm ấy, Đức Phật hiện lên với hào-quang sáu màu rực-rỡ, theo hầu bên trái Ngài là chư Thiên, bên phải có chư Phạm-thiên. Thành San-kha bừng sáng lên trong cảnh huy-hoàng chưa từng có. Tôn-giả Xá-lợi-phất hướng-dẫn tỳ-kheo đến cung-nghinh Phật. Tôn-giả bạch Phật: "Bạch Thế-tôn, chúng con chưa từng được chiêm-ngưỡng một khung-cảnh trang-nghiêm, rực-rỡ, chói-lọi như thế nầy. Quả thật, Thế-tôn là bực được cả cõi Trời, cõi người đồng kính-mộ." Đức Phật bảo: "Đức-độ của chư Phật được Trời, Người đều mến-yêu."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Bực hiền-trí tinh-tấn hành thiền,

Vui an-tịnh trong hạnh viễn-ly,

Tỉnh-giác hoàn-toàn trong chánh-niệm,

Được sự kính-mộ của chư Thiên.

(Kệ số 181.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Cõi Trời Đao-lợi = cõi Trời thuộc về Dục-giới, tiếng Pali là Tàvatimsa, dịch là cõi Tam-thập-tam Thiên, có 33 cảnh (bốn phiá có tám cảnh, ở giữa có thành Hỷ-kiến của vua Trời Đế-thích, 4x8 +1 = 33)

 

- Cõi Trời Đâu-suất = cõi Trời cao hơn cõi Đao-lợi, thuộc Dục-giới, tiếng Pali là Tusita, nơi đây có Bồ-tát Di-lặc đang giảng pháp.

 

- Muà an-cư kiết hạ: Xin nhắc lại: an-cư = ở yên; kiết-hạ = trải qua mùa hè. Vào mùa nầy, chư Tăng-ni chẳng ra ngoài khất-thực, sợ đạp chết côn-trùng đang sanh-sản nhiều.

 

- Chiến-thắng các giáo-phái ngoại-đạo: theo trong kinh-sách, vào lúc đó, Đức Phật đấu phép thần-thông, thắng được phe ngoại-đạo.

 

- Ma-gia: tên của Hoàng-hậu, mẹ Thái-tử Tất-đạt-ta, tiếng Pali là Màyà; khi tái-sanh làm thiên-nữ có tên là Santusita.

 

- Dự-thính: Dự = tham-dự;Thính = nghe. Dự-thính = đến ngồi nghe

 

- Vi-diệu-pháp, A-tỳ-đạt-ma: Kinh nầy thuộc về Luận-tạng, tiếng Pali là Abhidhamma, phiên-âm là A-tỳ-đạt-ma, dịch là Vi-diệu-pháp.

 

- Thành San-kha: tên thành-phố nầy, tiếng Pali: Sankassanagara

 

- Do-tuần: đơn-vị đo chiều dài hơn một dặm, tiếng Pali: yojana

 

- Đêm trăng tròn rằm tháng Tám: theo trong Kinh-sách, đó là tháng Assayuja, vào khoảng giữa hai tháng 10, 11 của dương-lịch.

 

-Hào-quang = ánh-sáng chói-lọi phát ra từ thân-thể bực tu-hành cao, định-lực thật mạnh.

 

- Phạm-Thiên = vị Trời ở cõi Phạm, tiếng Pali là Brahmà.

 

- Cung-nghinh: Cung = cung-kính; Nghinh = nghinh đón.

 

- Chiêm-ngưỡng = ngắm nhìn với lòng đầy thán-phục.

 

- Hạnh viễn-ly: Hạnh =hành-động, tánh-tình; Viễn = xa; Ly = lìa ra. Hạnh viễn-ly là hạnh xa-lià, dứt-bỏ, xả-bỏ, chẳng còn tham-luyến.

 

- Tỉnh-giác = Tỉnh = tỉnh thức, chẳng mê; Giác = biết rõ. Chữ Tỉnh-giác là danh-từ chuyên-môn Phật-học, gần nghĩa với chú-tâm, chú-ý.

 

- Chánh-niệm: Chánh = chơn-chánh; Niệm = ý-nghĩ. Tâm đang ở trong chánh-niệm là tâm dứt được vọng-tưởng mà trở nên an-tịnh.

 

- Kính-mộ = kính mến và thương-yêu.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Đức Phật lên cung trời Đao-lợi giảng Vi-diệu-pháp, nhờ đó mà Hoàng-hậu Ma-gia, mẹ Ngài, chứng được quả-vị thứ nhứt là Tu-đà-huờn. Tích chuyện mô-tả cảnh huy-hoàng ở thành San-kha khi Đức Phật được chư Thiên, chư Phạm-Thiên theo hầu, trở về cõi thế-gian.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: Đức-độ cao-cả của chư Phật được cả Trời, Người đồng kính-mộ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 181:

 

Bài Kệ nêu ra các đức-tánh quí-báu của chư Phật đã khiến cho tất cả Trời, Người đồng kính-mộ.

 

Các đức-tánh đó gồm có ba, được bài Kệ kể ra là:

 

1) Tinh-tấn hành Thiền: Tính-tấn là cố gắng và bền-bỉ thực hành việc gì. Hành Thiền là tu Thiền, nhứt là ngồi Thiền, giữ sao cho tâm-ý được an-tịnh. Tinh-tấn hành thiền là nỗ lực tu-tập cho tâm trở nên càng ngày càng thanh-tịnh hơn.

 

2) Hạnh viễn-ly: Viễn-ly là xa-lià, dứt bỏ. Bỏ cái chi? Bỏ sự tham-luyến. Tham-luyến cái gì? Tham-luyến những cái của ta, bên ngoài là vật-chất, của-cải, danh-lợi; bên trong là các phiền-não. Tại sao lại tham-luyến những cái của ta? Vì trong tâm lúc nào cũng nghĩ đến cái Ta, cái Ngã. Dẹp bỏ, hay là rời xa ra, được cái Ta và những cái của Ta, là đang thực-hiện hạnh viễn-ly.

 

3) Tỉnh-giác hoàn-toàn trong chánh-niệm: Người tỉnh-giác luôn luôn giữ chánh-niệm. Người có chánh-niệm thường-xuyên là người tỉnh-giác. Bước đầu tu-luyện phải luôn luôn chú-tâm vào chính tâm mình, làm gì, nói gì, nghĩ gì bao giờ cũng biết mình đang làm việc đó, và chỉ chú-tâm vào việc đó mà thôi; đối với nói và nghĩ, cũng lại chú tâm y như thế.

 

Tóm lại, ba đức-tánh quí ấy qui về việc tu tâm, tu sao cho tâm thanh-tịnh hoàn-toàn.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc bài Kệ, để ghi nhớ ba đức-tánh do sự tu-tâm đem lại.

The Story of the Buddha's Return from the Tavatimsa Deva World

On return from the Tavatimsa deva world, the Buddha uttered Verse (181) of this book at Sankassanagara, in reply to Thera Sariputta's words of welcome.

On one occasion, while at Savatthi, the Buddha performed the Miracle of the Pairs in answer to the challenge of the ascetics of various sects. After this, the Buddha went to the Tavatimsa deva world; his mother who had been reborn in the Tusita deva world as a deva known as Santusita also came to the Tavatimsa deva world. There the Buddha expounded the Abhidhamma to the devas and the brahmas throughout the three months of the vassa. As a result, Santusita deva attained Sotapatti Fruition; so did numerous other devas and brahmas.

During that period Thera Sariputta spent the vassa at Sankassanagara, thirty yojanas away from Savatthi. During his stay there, as regularly instructed by the Buddha, he taught the Abhidhamma to the five hundred bhikkhus staying with him and covered the whole course by the end of the vassa.

Towards the end of the vassa, Thera Maha Moggalana went to the Tavatimsa deva world to see the Buddha. Then, he was told that the Buddha would return to the human world on the full moon day at the end of the vassa to the place where Thera Sariputta was spending the vassa.

As promised, the Buddha came with the six coloured rays shining forth from his body to the city-gate of Sankassanagara, on the night of the full moon day of the month of Assayuja when the moon was shining brightly. He was accompanied by a large following of devas on one side and a large following of brahmas on the other. A large gathering headed by Thera Sariputta welcomed the Buddha back to this world; and the whole town was lit up. Thera Sariputta was awed by the grandeur and glory of the whole scene of the Buddha's return. He respectfully approached the Buddha and said, "Venerable Sir! We have never seen or even heard of such magnificent and resplendent glory. Indeed, Venerable Sir, you are loved, respected and revered alike by devas, brahmas and men!" To him the Buddha said, "My son Sariputta, the Buddhas who are endowed with unique qualities are truly loved by men and devas alike."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 181: The wise who practise jhana concentration and Insight Meditation take delight in the peace of liberation from sensual pleasures and moral defilements. Such wise and mindful ones, who truly comprehend the Four Noble Truths (i.e., Arahats and Buddhas) are held dear also by the devas.


At the end of the discourse the five hundred bhikkhus who were the pupils of Thera Sariputta attained arahatship and a great many from the congregation attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 181
Devorohana Vatthu

Ye jhanapasuta dhira
nekkhammupasame rata
devapi tesam pihayanti

sambuddhanam satimatam.

Verse 181: The wise who practise jhana concentration and Insight Meditation take delight in the peace of liberation from sensual pleasures and moral defilements. Such wise and mindful ones, who truly comprehend the Four Noble Truths (i.e., Arahats and Buddhas) are held dear also by the devas.


dhp182_B
Verse-Kệ 182

(150).- Tích chuyện Long-vương Y-ra-kha - Kệ số 182

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ gần thành Ba-la-nại, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Long-vương Y-ra-kha.

 

Thuở ấy, có một vị Long-vương tên là Y-ra-kha, vua của loài rồng, trong một tiền-kiếp làm một tỳ-kheo, vì vô-ý dẫm lên một ngọn cỏ non, chẳng sám-hối, nên mới tái-sanh vào hàng rồng. Long-vương có một người con gái tuyệt-đẹp, muốn dùng nhan-sắc của con làm phương-tiện để biết được khi nào có một vị Phật ra đời. Long-vương tuyên-bố cho mọi người biết, ai đáp trúng các câu hỏi do công-chúa nêu ra, thì sẽ được chọn làm Phò-mã. Mỗi buổi sáng, công-chúa ra múa hát trước đền, chờ đợi người đến đối-đáp. Nhiều chàng trai say-mê sắc-đẹp đến trỗ tài, nhưng chẳng ai đáp đúng cả.

 

Một hôm vào sáng sớm, Đức Phật quán-thấy một chàng thanh-niên đẹp trai, sắp đủ cơ-duyên để chứng-đắc quả-vị Tu-đà-huờn. Ngài ra đi khất-thực, gặp chàng trai đang lên đường đi đến đền vua rồng, Ngài mới dừng lại dạy chàng cách trả lời các câu hỏi của công-chúa. Nghe hiểu xong lời Phật dạy, chàng trai, có tên là Ức-tha-ra, chứng ngay được quả-vị Tu-đà-huờn. Chàng chẳng còn mong-muốn làm Phò-mã nữa, nhưng chỉ vì lợi-ích cho chúng-sanh, chàng vẫn đến đền vua để trả lời.

 

Các câu hỏi đầu-tiên gồm có:

 

1) Ai là vị chủ-tể?

 

2) Kẻ mê-mờ vì các lậu-hoặc có làm chủ-tể được không?

 

3) Kẻ chủ-tể nào thoát khỏi các lậu-hoặc?

 

4) Hạng người nào đáng gọi là người ngu-si?

 

Các câu trả lời đúng-đắn là:

 

1) Người làm chủ sáu căn là vị chủ-tể.

 

2) Kẻ còn bị lậu-hoặc làm mê-mờ, sao gọi là chủ-tể được?

 

3) Chủ-tể nào đã thoát khỏi tham-ái, thì thoát khỏi lậu-hoặc.

 

4) Hạng người nào còn tham-đắm các thú-vui thể-xác là hạng người ngu-si.

 

Sau khi nghe đáp đúng các câu hỏi sơ-khởi, công chúa lại nêu lên các vấn-đề: sự tràn-ngập của các dục-vọng, cuộc tái-sanh lẩn-quẩn trong vòng Luân-hồi, các tà-thuyết ngoại-đạo, cùng cách giải-quyết các vấn-đề đó. Ức-tha-ra đều giải-đáp thoả-đáng cả, dựa theo lời chỉ-dạy của Đức Phật. Long-vương nghe qua, lòng rất mừng rỡ, biết chắc là có Phật ra đời, mới ưng gả con cho chàng trai. Ức tha-ra từ chối, nói mình sẽ đến gặp Phật để xin làm tỳ-kheo. Long-vương ngỏ lời xin đi theo. Khi vào yết-kiến Đức Phật, Long-vương thuật lại vì sao mình phải thác-sanh vào hàng rồng. Đức Phật bảo: "Được sanh vào cõi người, rất khó. Gặp được chư Phật ra đời, lại khó hơn. Được nghe Chánh-pháp của chư Phật, càng khó-khăn hơn nữa."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Khó thay, sanh được làm người!

Khó thay, giữ toàn mạng sống!

Khó thay, được nghe Chánh-pháp!

Khó thay, thấy Phật ra đời!

(Kệ số 182.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Long-vương: Long = rồng;Vương = vua. Long-vương là vua rồng

 

- Y-ra-kha: tên vị vua rồng nầy, tiếng Pali là Erakapatta.

 

- Thành Ba-la-nại = thành-phố Bénarès ở Ấn-độ, nay là Vàranasì, trước đây Đức Phật khi thành Đạo giảng bài pháp đầu-tiên là "Tứ-diệu-đế" cho năm anh em ông Kiều-trần-như nghe.

 

- Tiền-kiếp = một đời sống trước đời sống hiện nay. (Tiền = trước)

 

- Sám-hối: tỏ vẻ ăn-năn tội-lỗi và nguyện xin chẳng tái-phạm.

 

- Tái-sanh: Tái = một lần nữa; Sanh = sanh ra, chào đời. Tái-sanh là sau khi chết ở đời nầy, lại sanh ra ở đời sau, theo thuyết Luân-hồi.

 

- Phò-mã = chồng của công-chúa, rể của Vua.

 

- Quán-thấy = trong cơn Thiền-định, nhìn thấy rõ trong tâm.

 

- Cơ-duyên: Cơ = cơ-hội; Duyên = duyên-cớ. Đủ cơ-duyên là gặp đủ cơ-hội tốt, dịp may-mắn.

 

- Quả-vị Tu-đà-huờn = quả-vị thứ nhứt; người chứng quả Tu-đà-huờn (1) chẳng chấp thân nầy là Ta; (2) chẳng nghi-ngờ Chánh-pháp; (3) chẳng theo các nghi-thức cúng-tế của tà-giáo.

 

- Khất-thực = mang bình bát đi xin ăn. (Khất = xin; Thực = ăn).

 

- Ức-tha-ra: tên chàng trai nầy, tiếng Pali là Uttara.

 

- Chủ-tể = người làm chủ; (tể = cầm đầu.)

 

- Lậu-hoặc: Lậu = rỉ chảy ra; Hoặc = điều sai-lầm, tội-lỗi. Danh-từ chuyên-môn nầy, Lậu-hoặc, trỏ vào các mối phiền-não, như tham, sân, si, kiêu-căng, nghi-ngờ,v.v. từ bên trong tâm, lộ ra ngoài bằng các hành-động xấu hay lời nói ác.

 

- Sáu căn: Căn = nơi phát-sanh ra, tức là các giác-quan. Ta có tất cả sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, da trên thân ( = đó là năm giác-quan) và ý-căn ở trong tâm.

 

- Tham-ái: ham-mê, tham-luyến, tríu-mến, bấu-víu vào.

 

- Sơ-khởi: mới bắt đầu.

 

- Dục-vọng = ham-muốn sai. (Dục = muốn;vọng = giả-dối, sai-lầm)

 

- Luân-hồi: Luân = bánh xe; Hồi = trở lại. Theo thuyết Luân-hồi, chúng-sanh chết đời nầy, sẽ sanh lại đời sau, cứ sống sống chết chết mãi, như bánh xe cứ quay hết một vòng lại quay tiếp, chẳng ngừng.

 

- Tà-thuyết ngoại-đạo = các lý-thuyết tôn-giáo sai lầm, mê-tín, dị-đoan. (Tà = xiêng-xéo, cong-vạy, chẳng thẳng, chẳng đúng)

 

- Thác-sanh = tái-sanh, sanh lại; nói tiếng thường là đầu thai.

 

- Chánh-pháp: Chánh = chơn-chánh; Pháp = pháp-tu. Trong Phật-học, Chánh-pháp là giáo-lý của Đức Phật, tiếng Pali là Dhamma.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, nhưng các câu hỏi công-chúa nêu ra rất thâm-sâu, chỉ có Đức Phật bấy giờ mới đáp rõ-ràng được. Vì thế, khi nghe đáp đúng, vua Rồng biết ngay là có Phật ra đời.

 

(2) Ý-nghĩa bài Kệ số 182:

 

Bài Kệ nêu ra bốn điều khó được, trong đó có việc sanh ra làm người. Vậy nay được làm người, ta phải quí sanh-mạng và lo tu-hành.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ: được sanh làm người, gặp Phật, nghe Pháp là ba việc quí-báu, ba cơ-hội hiếm-có.

The Story of Erakapatta the Naga King

While residing near Baranasi the Buddha uttered Verse (182) of this book, with reference to Erakapatta, a king of nagas (dragons).

Once there was a naga king by the name of Erakapatta. In one of his past existences during the time of Kassapa Buddha he had been a bhikkhu for a long time. Through worry (kukkucca) over a minor offence he had committed during that time, he was reborn as a naga. As a naga, he waited for the appearance of a Buddha. Erakapatta had a very beautiful daughter, and he made use of her as a means of finding the Buddha. He made it known that whoever could answer her questions could claim her for a wife. Twice every month, Erakapatta made her dance in the open and sing out her questions. Many suitors came to answer her questions hoping to claim her, but no one could give the correct answer.

One day, the Buddha saw a youth named Uttara in his vision. He also knew that the youth would attain Sotapatti Fruition in connection with the questions put by the daughter of Erakapatta the naga. By then the youth was already on his way to see Erakapatta's daughter. The Buddha stopped him and taught him how to answer the questions. While he was being taught, Uttara attained Sotapatti Fruition. Now that Uttara had attained Sotapatti Fruition, he had no desire for the naga princess. However, Uttara still went to answer the questions for the benefit of numerous other beings.

The first four questions were:

1. Who is a ruler?
2. Is one who is overwhelmed by the mist of moral defilements to be called a ruler?
3. What ruler is free from moral defilements?
4. What sort of person is to be called a fool?

The answers to the above questions were:

1. He who controls the six senses is a ruler.
2. One who is overwhelmed by the mist of moral defilements is not to be called a ruler; he who is free from craving is called a ruler.
3. The ruler who is free from craving is free from moral defilements.
4. A person who hankers after sensual pleasures is called a fool.


Having had the correct answers to the above, the naga princess sang out questions regarding the floods (oghas) of sensual desire, of renewed existence, of false doctrine and of ignorance, and how they could be overcome. Uttara answered these questions as taught by the Buddha.

When Erakapatta heard these answers he knew that a Buddha had appeared in this world. So he asked Uttara to take him to the Buddha. On seeing the Buddha, Erakapatta related to the Buddha how he had been a bhikkhu during the time of Kassapa Buddha, how he had accidentally caused a grass blade to be broken off while travelling in a boat, and how he had worried over that little offence for having failed to do the act of exoneration as prescribed, and finally how he was reborn as a naga. After hearing him, the Buddha told him how difficult it was to be born in the human world, and to be born during the appearance of the Buddhas or during the time of their Teaching.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 182: Hard to gain is birth as man; hard is the life of mortals; hard to get is the opportunity of hearing the Ariya Dhamma (Teaching of the Buddhas); hard it is for a Buddha to appear.


The above discourse benefited numerous beings. Erakapatta being an animal could not attain Sotapatti Fruition then and there.

Dhammapada Verse 182
Erakapattanagaraja Vatthu

Kiccho manussapatilabho
kiccham maccana jivitam
kiccham saddhammassavanam

kiccho buddhanamuppado.

Verse 182: Hard to gain is birth as man; hard is the life of mortals; hard to get is the opportunity of hearing the Ariya Dhamma (Teaching of the Buddhas); hard it is for a Buddha to appear.


dhp183_B
dhp184_B
dhp185_B
Verse-Kệ 183-185

(151).- Tích chuyện về lời thưa hỏi của Tôn-giả A-nan - Kệ số 183, 184 và 185

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến câu hỏi của Tôn-giả A-nan.

 

Thuở ấy, một hôm Tôn-giả A-nan bạch Phật: "Bạch Thế-tôn, con chẳng biết các giáo-lý căn bản của chư Phật ngày xưa có giống với giáo-lý của Thế-tôn ngày nay chăng?"

 

Đức Phật đáp: "Nầy A-nan, tóm-lược tất cả giáo-lý của chư Phật trong quá-khứ, để chỉ-dạy các tỳ-kheo tu-tập, đều được ghi trong các bài Kệ sau đây."

 

Rồi Đức Phật đọc các bài Kệ ấy như sau:

 

Việc ác chẳng làm,

Điều lành siêng tu,

Tâm-ý trong-sạch,

Lời chư Phật dạy.

(Kệ số 183.)

 

Phật dạy, nhẫn-nhục, khổ-hạnh quí,

Quả-vị tối-cao là Niết-Bàn.

Tỳ-kheo chẳng hại chúng-sanh;

Áp-bức người lành, chẳng phải Sa-môn.

(Kệ số 184.)

 

Chẳng lăng-mạ, chẳng gây thương-tổn,

Chế-phục mình tuân theo Giới-bổn,

Ăn uống điều-hoà, sống ẩn-cư,

Và thiền-định, là lời Phật dạy.

(Kệ số 185.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tôn-giả A-nan: Tôn-giả = người đáng tôn-kính; A-nan = tên vị thị-giả hầu bên cạnh Đức Phật, tiếng Pali là Ànanda.

 

- Giáo-lý: Giáo = tôn-giáo; Lý = lý-thuyết. Giáo-lý là các lời dạy căn-bản trong một tôn-giáo.

 

- Quá-khứ: Quá = đã qua; Khứ = đi. Quá-khứ là thời-gian đã qua.

 

-Nhẫn-nhục = cam chịu khổ-sở, chẳng oán-giận, chẳng than-van.

 

- Khổ-hạnh = chịu cực-khổ về thân-xác để tu-hành.

 

- Niết-bàn: tiếng Phạn là Nirvana, có nghĩa là ra khỏi rừng u-tối, tức là thoát khỏi sự mê-mờ của các phiền-não, lậu-hoặc. Niết-bàn chẳng phải là một nơi trong không-gian, mà là tâm-trạng của người tu-hành đã dứt được hết các phiền-não, và chứng được vô-sanh, nghĩa là chẳng còn phải bị tái-sanh mãi trong vòng lẩn-quẩn của Luân-hồi. Tiếng Hán-Việt dịch chữ Nirvana, Niết-bàn là cõi Tịch-diệt, vắng-lặng.

 

-Sa-môn: tiếng Phạn là Sramana, có ba nghĩa; (1)cần-giả ( = siêng làm điều thiện); (2)tức-giả ( = ngưng bỏ điều ác); bần-giả ( = cam chịu nghèo-nàn), danh-từ nầy chỉ các tu-sĩ Phật-giáo.

 

- Lăng-mạ: Lăng: xâm-phạm;Mạ = chửi mắng. Lăng-mạ = chửi bới

 

- Thương-tổn = bị hại, hay gây hại cho kẻ khác.

 

- Chế-phục = đè-nén, khép vào kỷ-luật.

 

- Giới-bổn: tiếng Phạn là Patimokka, phiên-âm: Ba-la-đề-mộc-xoa, là bản kết-tập các giới-luật chung lại, bản ghi các điều răn-cấm.

 

- Ẩn-cư: Ẩn = dấu kín; Cư = ở. Ẩn-cư = ở riêng một mình nơi vắng

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện chẳng có ý-nghĩa chi đặc-biệt.

 

(2) Ý-nghĩa các bài Kệ số 183, 184 vá 185:

 

Bài Kệ số 183 dạy ba điều (1) tránh điều ác, (2) siêng làm điều lành; (3) giữ tâm-ý cho trong-sạch. Bài Kệ nầy quan-trọng bực nhứt.

 

Bài Kệ số 184 dạy: ba điều nên làm:(1) nhẫn-nhục; (2) chịu khổ-hạnh, (3) theo mục-tiêu: đắc Niết-bàn; đồng thời, dạy tránh hai điều: (1) chẳng hại chúng-sanh; (2) chẳng áp-bức người hiền-lành.

 

Bài Kệ số 185 dạy tránh hai điều: (1) chẳng chửi-bới; (2) chẳng gây tổn-hại; và phải làm bốn điều: (1) tuân theo Giới-luật, (2) ăn-uống điều-độ, (3) sống ẩn-cư và (4) tu-tập Thiền-định.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng cả ba bài Kệ, riêng bài Kệ số 183 ghi vắn-tắt ba điều quan-trọng mà người tu chẳng được phép có lúc nào quên đi.

The Story of the Question Raised by Thera Ananda

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (183), (184) and (185) of this book, with reference to the question raised by Thera Ananda regarding Fundamental Instructions to bhikkhus by the preceding Buddhas.

On one occasion, Thera Ananda asked the Buddha whether the Fundamental Instructions to bhikkhus given by the preceding Buddhas were the same as those of the Buddha himself. To him the Buddha replied that the instructions given by all the Buddhas are as given in the following verses:

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 183: Not to do evil, to cultivate merit, to purify one's mind - this is the Teaching of the Buddhas.

 

Verse 184: The best moral practice is patience and forbearance; "Nibbana is Supreme", said the Buddhas. A bhikkhu does not harm others; one who harms others is not a bhikkhu.

 

Verse 185: Not to revile, not to do any harm, to practise restraint according to the Fundamental Instructions for the bhikkhus, to be moderate in taking food, to dwell in a secluded place, to devote oneself to higher concentration - this is the Teaching of the Buddhas.



Dhammapada Verses 183, 184 and 185
Anandattherapanha Vatthu

Sabbapapassa akaranam
ku salassa upasampada
sacittapariyodapanam

etam buddhana sasanam.

Khanti paramam tapo titikkha
nibbanam paramam vadanti buddha
na hi pabbajito parupaghati

na samano hoti param vihethayanto.

Anupavado anupaghato
patimokkhe ca samvaro
mattannuta ca bhattasmim
pantanca sayanasanam
adhicitte ca ayogo
etam buddhana sasanam.

Verse 183: Not to do evil, to cultivate merit, to purify one's mind - this is the Teaching of the Buddhas.

Verse 184: The best moral practice is patience and forbearance; "Nibbana is Supreme", said the Buddhas. A bhikkhu does not harm others; one who harms others is not a bhikkhu.

Verse 185: Not to revile, not to do any harm, to practise restraint according to the Fundamental Instructions for the bhikkhus, to be moderate in taking food, to dwell in a secluded place, to devote oneself to higher concentration - this is the Teaching of the Buddhas.


dhp186_B
dhp187_B
Verse-Kệ 186-187

(152).- Tích chuyện vị tỳ-kheo bất-mãn - Kệ số 186 và 187

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị tỳ-kheo trẻ bất-mãn.

 

Thuở ấy, có một người tỳ-kheo trẻ tuổi tu-tập tại chùa Kỳ-viên. Một hôm, vị giáo-thọ bảo chàng nên đến một tu-viện khác để học thêm giáo-lý. Trong khi đi xa, người cha của vị tỳ-kheo ấy ở nhà, mắc bịnh nặng, qua đời, để lại một gia-tài cho con lên đến trăm đồng tiền vàng, giao cho người chú giữ tạm. Sau khoá học, vị tỳ-kheo trở lại chùa, người chú đến báo tin cha chết, và muốn giao lại số tiền cho cháu. Lúc đầu, vị tỳ-kheo bảo, nay đi tu chẳng cần đến tiền-bạc. Nhưng sau đó, chàng ta lại suy-nghĩ, có lẽ tốt hơn nên quay về với đời sống thế-tục, dùng gia-tài của cha cho mà xây-dựng lại cuộc đời. Vì tâm-tư bị giằng-co giữa hai ý-định, tiếp-tục tu-hành hay hoàn-tục, nên vị tỳ-kheo trẻ tuổi sanh ra bất-mãn, chẳng còn thấy thích-thú trong việc học-tập kinh-kệ, biếng ăn biếng uống, thành ra gầy-yếu. Các bạn đồng-tu nhận thấy thế, mới dẫn vị tỳ-kheo trẻ tuổi đến yết-kiến Đức Phật.

 

Đức Phật hỏi duyên-cớ, vị tỳ-kheo trình-bày nỗi phân-vân trong lòng, nửa muốn quay về với đời sống thế-tục, dùng gia-tài của cha để lại mà sanh-sống, nửa muốn tiếp-tục tu-hành, nên sanh ra mất cả sự hăng-hái học-tập. Đức Phật bảo, trở lại sống trong gia-đình, cần phải mua sắm nào là vật-thực, quần-áo, chén bát, bàn ghế, tậu trâu bò để cầy cấy, thuê người làm vườn-tược, thì một trăm đồng tiền kia cũng chẳng đủ cho các chi-phí đó. Thường-nhơn chẳng có ai mà biết đủ, ngay cả vị Chuyển-Luân Thánh-vương, ngự-trị trên hoàn-cầu kia, vàng bạc nhiều như mưa rào, cũng còn chưa thoả-mãn. Như vị Chuyển Luân Thánh-vương Mãn-đà-tu xưa kia sống vinh-quang trên cõi Trời Tứ-đại-thiên-vương và cõi Trời Đao-lợi, còn chẳng muốn chia-xẻ quyền thống-trị chung với vua Trời Đế-thích, cho nên phải suy-thoái mà rơi xuống cõi người, chẳng bao lâu phải già ốm mà chết.

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây, nhờ đó mà vị tỳ-kheo trẻ tuổi thức-tỉnh và chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Dầu cho vàng bạc như mưa,

Người còn dục-lạc cũng chưa vừa lòng.

Thú vật-chất đắng trong, ngoài ngọt,

Bực hiền-trí rành-rọt điều nầy.

(Kệ số 186.)

 

Biết rõ thế, người đệ-tử Phật

Chẳng thích tìm thú vui vật-chất,

Dầu đó là lạc-thú cõi Trời.

Người hiền-thích diệt ái-dục mất.

(Kệ số 187.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Bất-mãn = chẳng vừa lòng.

 

- Giáo-thọ = vị tỳ-kheo dạy giáo-lý cho các tỳ-kheo mới vào tu.

 

- Hoàn-tục: Hoàn = trở lại; Tục = thế-tục, đời sống trong xã-hội của người có vợ-con, nghề-nghiệp.Hoàn-tục là trở về nhà thôi tu-hành

 

- Yết-kiến = đến gặp người trên.

 

- Phân-vân = trong lòng chưa dứt-khoát, nửa tin nửa ngờ.

 

- Vật-thực = thức ăn vật uống (Thực = ăn.)

 

-Tậu = mua sắm.

 

- Chuyển-Luân Thánh-vương: Chuyển-Luân = quay bánh xe; Thánh-vương = vị vua Thánh, cai-trị khắp hoàn-cầu. Theo giáo-lý, vị Chuyển-Luân Thánh-vương là bực mà thân có đủ 32 tướng tốt như Đức Phật, thống-trị hoàn-cầu, cởi các chiếc xe bằng vàng ( = Kim-luân thánh-vương), bằng bạc ( =Ngân-luân thánh-vương), bằng sắt ( = Thiết- luân thánh-vương), bằng đồng ( = Đồng-luân thánh-vương), đi bốn phương trong thiên-hạ. Chuyển-Luân Thánh-vương khi hưởng hết phước phải bị suy-thoái, trở lại cõi người, rồi chết và tái-sanh theo vòng Luân-hồi. Tiếng Phạn là Tchakravartin.

 

- Mãn-đà-tu: tên vị thánh-vương nầy, tiếng Pali là Mandàtu.

 

- Cõi Trời Tứ-đại-thiên-vương: bốn cõi Trời do bốn vị Thiên-vương thống-trị, ở bốn phiá của cõi Trời Đao-lợi. Bốn cõi đó, tiếng Pali là Càtumahàràjila.

 

- Cõi Trời Đao-lợi: cõi Trời ở giữa bốn cõi Tứ Thiên-vương, có vua Trời Đế-thích ngự-trị; tiếng Pali là Tàvatimsa. (Xin xem lại Bài Tích chuyện Đức Phật từ cõi Trời Đao-lợi trở về thế-gian, trang 469 và kế.)

 

- Suy-thoái: Suy = suy-yếu; Thoái = trở lùi lại. Bị suy-thoái là trở lại sự thiếu-kém lúc trước. Trái nghĩa với: tiến-bộ, tinh-tấn.

 

- Dục-lạc: Dục = ham muốn; Lạc = thú-vui. Người còn dục-lạc là kẻ chạy theo các thú-vui thể-xác, vật-chất tạm-bợ.

 

- Thú vật-chất = thú-vui vật chất tạm-bợ.

 

- Hiền-trí: Hiền = hiền-lành; Trí = trí-huệ. Bậc hiền-trí là người tu-hành cao, hiền-lành và có trí-huệ. Còn gọi là bực thiện-tri-thức.

 

- Diệt ái-dục mất: Ái-dục = thích ham-muốn nhiều. Bốn chữ Diệt ái-dục mất, đọc nghe trục-trặc, viết lại: diệt sự ái-dục cho mất tiêu đi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một tỳ-kheo thừa hưởng gia-tài của cha, nảy ra ý-muốn hoàn-tục, phân-vân chẳng biết nên tiếp-tục tu-hành nữa hay không, nên trở thành bất-mãn. Được Phật chỉ-dạy, chẳng nên chạy theo các thú-vui vật-chất tạm-bợ, vị tỳ-kheo ấy chứng được quả-vị Tu-đà-huờn, tiếp-tục tu-hành để thành chánh-quả.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: khi xuất-gia, phải dứt-khoát với đời sống thế-tục: xuất là ra khỏi, chẳng những thân ra khỏi nhà, mà tâm cũng phải ra khỏi các phiền-não, ràng-buộc và ham-muốn nữa.

 

(2) Ý-nghĩa của hai Bài Kệ số 186 và 187:

 

Hai bài Kệ hợp chung lại thành một bài dạy ta chớ theo các thú-vui dục-lạc, dầu đó là cảnh vui-sướng thần-tiên ở cõi Trời đi nữa.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của hai bài Kệ nằm trong câu: Thú vui vật-chất đắng trong, ngoài ngọt. Câu nầy có nghĩa, thú-vui vật-chất tuy thấy bề ngoài sung-sướng, nhưng bên trong chứa sự khổ-đau. Sung-sướng gì? Sung-sướng tấm thân trong một lúc, hễ hết sướng thì sao, đó là ngoài ngọt. Chứa sự khổ-đau nào? Khổ-đau vì phải tái-sanh mãi trong cõi Luân-hồi, sướng ít mà khổ nhiều nầy; đó là bên trong đắng.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng hai bài Kệ, ghi nhớ sự tạm-bợ của thú vui vật-chất.

The Story of a Dissatisfied Young Bhikkhu

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (186) and (187) of this book, with reference to a young bhikkhu who was unhappy with his life as a bhikkhu.

Once, there was a young bhikkhu at the Jetavana monastery. One day his teacher sent him to another monastery to study. While he was away, his father became seriously ill and died without seeing him. But his father left for him one hundred kahapanas with his brother, the boy's uncle. On his return, his uncle told him about his father's death and about the one hundred kahapanas left to him. At first, he said that he had no need of the money. Later, he thought that it might be better to return to lay-life, and as a result, he got dissatisfied with the life of a bhikkhu. Gradually, he began to lose interest in his life and was also losing weight. When other bhikkhus knew about this, they took him to the Buddha.

The Buddha asked him whether it was true that he was feeling unhappy with his life as a bhikkhu and whether he had any capital to start the life of a layman. He answered that it was true and that be had one hundred kahapanas to start his life with. Then the Buddha explained to him that he would need to get food, clothing, household utensils, two oxen, ploughs, pickaxes, knives, etc., so that his one hundred in cash would hardly meet the expenses. The Buddha then told him that for human beings there could never be enough, not even for Universal Monarchs who could call for a shower of coins or gems or any amount of wealth and treasures at any moment. Further, the Buddha related the story of Mandatu, the Universal Monarch, who enjoyed the glory of the devas both in the Catumaharajika and Tavatimsa realms for a long time. After spending a long time in Tavatimsa, one day, Mandatu wished that he were the sole ruler of Tavatimsa, instead of sharing it with Sakka. But this time, his wish could not be fulfilled and instantly he became old and decrepit; he returned to the human world and died soon after.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verses 186 & 187: Not by a shower of coins can sensual desires be satiated; sensual desires give little pleasure and are fraught with evil consequences (dukkha). Knowing this, the wise man, who is the disciple of the Buddha, does not find delight even in the pleasures of the devas, but rejoices in the cessation of craving (i.e., Nibbana).


At the end of the discourse the young bhikkhu attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 186 and 187
Anabhiratabhikkhu Vatthu

Na kahapana vassena
titti kamesu vijjati
appassada dukha kama
iti vinnaya pandito.

Api dibbesu kamesu
ratim so nadhigacchati
tanhakkhayarato hoti
sammasambuddhasavako.

Verses 186 & 187: Not by a shower of coins can sensual desires be satiated; sensual desires give little pleasure and are fraught with evil consequences (dukkha). Knowing this, the wise man, who is the disciple of the Buddha, does not find delight even in the pleasures of the devas, but rejoices in the cessation of craving (i.e., Nibbana).


dhp188_B
dhp189_B
dhp190_B
dhp191_B
dhp192_B
Verse-Kệ 188-192

(153).- Tích chuyện vị Bà-la-môn Ất-ghi-đạt - Kệ số 188, 189, 190, 191 và 192

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Bà-la-môn tên Ất-ghi-đạt.

 

Thuở ấy ở xứ Câu-tát-la, có vị quốc-sư là Ất-ghi-đạt, sau khi vua mất, ông liền từ-chức, đem hết tài-sản ra bố-thí và trở thành một tu-sĩ khổ-hạnh ngoại-đạo đến ẩn-cư ở vùng ba biên-giới giữa các xứ An-gia, Ma-kiệt-đà và Ku-ru. Đồ-đệ theo học rất đông-đảo. Tu-sĩ Ất dạy họ nên tôn-thờ núi-non, rừng-rú, cây-cối ở công-viên và vườn-tược, để được giải-thoát mọi khổ-đau của cuộc đời.

 

Vào sáng sớm hôm ấy, Đức Phật quán-thấy đã đến cơ-duyên cho Ất-ghi-đạt và một số đồ-đệ của ông ta được chứng-quả, nên Ngài mới sai Tôn-giả Mục-kiền-liên đi đến nơi cư-trú của Ất trước, rồi Ngài sẽ đến sau. Tôn-giả Mục-kiền-liên vâng lịnh, đến khu rừng của tu-sĩ Ất, và xin cho mình được trú-ngụ một đêm. Bọn đồ-đệ biết Tôn-giả là đại-đệ-tử của Đức Phật, nên tỏ ra chẳng bằng lòng, và chỉ cho Tôn-giả một mô đất cao ở chơn núi gần đó, đến đấy mà nghỉ. Tôn-giả liền đến đó ngồi Thiền nhập-định. Nguyên, bên dưới mô đất là hang-ổ của một con điạ-long rất hung-ác. Nửa đêm, nó bò ra cắn Tôn-giả Mục-kiền-liên, nhưng Tôn-giả cùng nó chiến-đấu một hồi lâu, rồi khuất-phục được nó. Để tỏ lòng hàng-phục, điạ-long liền khoanh tròn, đầu ngẩng cao lên thành cái lọng, che bên trên Tôn-giả. Sáng ra, các đồ-đệ của tu-sĩ Ất ra mô đất xem, những tưởng con điạ-long đã cắn chết người khách ban đêm, nào ngờ thấy điạ-long đang thần-phục Tôn-giả, mới biết được Tôn-giả là bực thần-thông cao-cường. Họ qùi xuống đảnh-lễ. Vừa lúc ấy, Đức Phật đi tới. Tôn-giả Mục-kiền-liên nói với các đồ-đệ ấy rằng: "Đây là Đức Phật, thầy của ta, các người chớ nên lạy ta, mà phải nên mau đến đảnh-lễ Ngài." Bấy giờ, Ất-ghi-đạt cùng các học-trò mới biết Đức Phật là ai, cùng nhau qùi xuống xin quy-y Phật.

 

Đức Phật vui-vẻ chấp-nhận và nói: "Nầy Ất-ghi-đạt, thờ kính núi rừng, cỏ cây chẳng đem lại nương-tựa bền-vững cho mình. Chỉ những kẻ biết quy-y Phật, Pháp và Tăng, mới có được nơi nương-tựa vững-chắc, và sẽ được chỉ-dạy phương-cách giải-thoát khỏi vòng sanh-tử khổ-đau của Luân-hồi lận-đận."

 

Rồi đó Đức Phật nói lên năm bài Kệ sau đây, nhờ đó mà Ất-ghi đạt và một số tu-sĩ khác chứng được đạo-quả A-la-hán:

 

Trong cơn nguy-khốn bàng-hoàng,

Con người tìm trú dưới hàng cây thiêng.

Hoặc vào đền miếu, chùa chiền,

Hoặc lên đồi núi, hoặc miền rừng hoang.

(Kệ số 188.)

 

Trú thân như thế, thiếu an-toàn,

Vì chưa tựa vào hàng tối-thượng.

Ẩn-náu nơi đấy vẫn bất-an,

Vì các khổ-đau còn bận vướng.

(Kệ số 189.)

 

Người tìm về nương-tựa nơi Phật,

Nơi Giáo-pháp và nơi Tăng-đoàn,

Với chánh-trí, thông-hiểu rõ-ràng

Lẽ nhiệm-mầu của Bốn Sự-Thật.

(Kệ số 190.)

 

Thấy KHỔ, TẬP là nguồn-gốc khổ,

Thấy DIÊT là khi khổ vượt qua.

Thấy Bát-chánh-ĐAO là thánh-lộ,

Dẫn đến việc diệt khổ nơi ta.

(Kệ sdố 191.)

 

Đấy là nơi nương-tựa an-toàn,

Đấy là chỗ qui-y vô-thượng.

Hãy tìm về đấy mà nương thân,

Thoát khỏi mọi khổ đau, hết vướng.

(Kệ số 192.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ất-ghi-đạt: tên vị tu-sĩ nầy, tiếng Pali là Aggidatta.

 

- Bà-la-môn: Xin nhắc lại: đó là giai-cấp tu-sĩ ở Ấn-độ xưa.

 

- Quốc-sư: Quốc = nước, Sư = thầy. Quốc-sư là vị tu-sĩ cao nhứt trong nước, được vua xem như thầy dạy đạo cho cả nước.

 

- An-gia: tên xứ nầy, tiếng Pali là Anga.

 

- Ma-kiệt-đà: tên xứ nầy, tiếng Pali là Magadha.

 

- Ku-ru: tên xứ nầy, tiếng Pali là Kuru.

 

- Mục-kiền-liên: tên của vị đại-đệ-tử của Phật, có thần-thông vào bực nhứt, tiếng Pali là Moggallàna.

 

- Điạ-long: Điạ = đất; Long = rồng. Điạ-long là rồng đất.

 

- Khất-phục, Hàng-phục = thắng được và buộc phải theo lịnh.

 

- Thần-phục = hoàn-toàn chịu vâng theo lịnh.

 

- Thần-thông cao-cường = có pháp-lực, phép-thuật, thật mạnh.

 

- Đảnh-lễ = cúi đầu xuống làm lễ lạy ra mắt.

 

- Quy-y: Quy = quay về; Y = nương-tựa. Quy-y là quay về tìm nơi để nương-tựa; tìm chỗ an-toàn mà trú-ẩn.

 

- Quy-y Phật, Pháp, Tăng, hay Quy-y Tam-Bảo = buổi lễ long-trọng trong chùa, người đệ-tử Phật xin nguyện nương-tựa vào Đức Phật, tu-tập theo Chánh-pháp của Phật và nghe theo lời dạy của chư Tăng, là những người đang tu theo đường lối của Đức Phật.

 

- Đạo-quả A-la-hán: Đạo = con đường tu-tập; Quả = kết-quả của việc tu-tập; A-la-hán = quả-vị thứ tư, cao nhứt của bực tu-hành đã dứt sạch phiền-não và hết bị tái-sanh nữa. Tiếng Pali: Magga = đạo; Phala = quả; Arahant = A-la-hán.

 

- Bàng-hoàng = lo-sợ nhiều, mất sự bình-tỉnh.

 

- Cây thiêng = cây có thần-linh trú-ngụ, cây linh-thiêng.

 

- Tối-thượng = Tối = hết sức; Thượng = cao. Tối-thượng là cao nhứt.

 

- Tăng-đoàn, hay Tăng-già: một nhóm tỳ-kheo tu chung với nhau, từ bốn người trở lên. Tăng-gìà, tiếng Pali là Sangha.

 

- Chánh-trí: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn nhứt; Trí = trí-huệ.

 

- Bốn Sự-Thật = Tứ Diệu-đế, gồm có (1) Khổ-đế, sự đau-khổ; (2)Tập-đế, nguyên-nhơn, nguồn-gốc của sự Khổ; (3) Diệt-đế, tận-diệt sự Khổ, tức là đắc được cảnh-giới Niết-bàn; (4) Đạo-đế, con đường tu-tập để thoát Khổ. Riêng về Đạo-đế, gồm tám ngành, gọi là Bát-Chánh-Đạo ( = chánh-kiến, chánh tư-duy, chánh-ngữ, chánh mạng, chánh-nghiệp, chánh tinh-tấn, chánh niệm và chánh-định.)

 

- Thánh-lộ:Thánh = bực Thánh; Lộ = đường. Thánh-lộ là con đường đưa đến ngôi-vị Thánh ( = A-la-hán, Duyên-giác, Bồ-tát và Phật.)

 

- Vô-thượng: Vô =chẳng; Thượng = trên. Vô-thượng là cao-cả nhứt, trên đó chẳng còn gì cao hơn nữa được.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc quy-y của Ất-ghi-đạt và đồ-đệ: trước nương-tựa tinh-thần vào việc thờ-kính núi rừng, cây cối, sau họ gặp Tôn-giả Mục-kiền-liên, mới quay về quy-y với Phật, Pháp, và Tăng.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là lời dạy của Đức Phật: quy-y Tam-Bảo là tìm nơi nương-tựa an-toàn và vững-chắc nhứt, vì được học-hỏi về cách tu-tập sao cho được giác-ngộ và giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa các bài Kệ từ số 188 đến số 192:

 

Năm bài Kệ hợp lại thành một bài, dạy ta ý-nghĩa cao-cả của việc quy-y Tam-Bảo: Phật, Pháp và Tăng.

 

Hai bài số 188 và 189 cho rằng tìm vào ẩn-núp ở các hàng cây, đền miếu, chùa chiền hay núi rừng, chẳng phải là nơi an-toàn, vì vẫn còn vướng-bận khổ-đau. Tại sao? Vì các nơi nầy chỉ tạm-thời che-chở thân ta tránh được mưa, gió mà chẳng giúp ta vượt qua được sự đau-khổ của cuộc đời.

 

Bài Kệ số 190 chỉ rõ nơi an-toàn nhứt để ta tìm về nương-tựa; đó là quy-y Tam-Bảo: Phật, Pháp và Tăng, được chỉ-dạy để mở-mang chánh-trí mà thông-hiểu lẽ nhiệm-mầu của Tứ-Diệu-Đế, Khổ-đế, Tập-đế, Diệt-đế và Đạo-đế, nhờ đó mà ta có đủ khả-năng vượt qua mọi khổ-đau của cuộc đời.

 

Bài Kệ số 191 ghi lại vắn-tắt ý-nghĩa của Tứ-Diệu-đế, thế nào là Khổ, thế nào là Tập, thế nào là Diệt, thế nào là Đạo. Bài Kệ còn nhấn mạnh, Đạo-đế tức là Bát-Chánh-Đạo, tức là con đường Thánh-lộ, đưa ta đến ngôi-vị Thánh, dẹp hết phiền-não, khỏi bị tái-sanh để chịu đau-khổ mãi trong cõi Luân-hồi lận-đận.

 

Bài Kệ số 192 quả-quyết việc quy-y Tam-Bảo là biết tìm về nơi nương-tựa an-toàn, cao-thượng nhứt, vì nhờ đó mà vĩnh-viễn dứt khổ.

 

HỌC TẬP:

 

- Học kỹ năm bài Kệ, ghi nhớ rõ thế nào là quy-y Tam-Bảo, Tứ-Diệu-Đế và nhứt là Bát-Chánh-Đạo. Còn thắc-mắc, phải hỏi lại Thầy.

The Story of Aggidatta

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (188) to (192) of this book, with reference to Aggidatta, a brahmin.

Aggidatta was the head priest during the time of King Mahakosala, father of King Pasenadi. After the death of King Mahakosala, Aggidatta gave away his property in charity, and after that he left his home and became a non-Buddhist ascetic. He lived with his ten thousand followers in a place near the border of the three kingdoms of Anga, Magadha and Kuru, not far from a mound of sand where a powerful naga was staying. To his followers and the people of these three kingdoms, Aggidatta used to exhort: "Pay homage to forests, mountains, parks and gardens, and trees; by doing so, you will be liberated from all ills of life."

One day, the Buddha saw Aggidatta and his followers in his vision and realized that the time was ripe for them to attain arahatship. So the Buddha sent Thera Maha Moggalana to Aggidatta and his followers and told him that he himself would follow afterwards. Thera Maha Moggalana went to the place of Aggidatta and his followers and asked them to give him shelter for one night. They first turned down his request, but finally they agreed to let him stop at the mound of sand, the home of the naga. The naga was very antagonistic to Thera Maha Moggalana, and there followed a duel between the naga and the thera; on both sides, there was a display of power by emitting smoke and flames. However, in the end, the naga was subdued. He coiled himself round the mound of sand, and raised his head spreading it out like an umbrella over Thera Maha Moggalana, thus showing respect for him. Early in the morning, Aggidatta and the other ascetics came to the mound of sand to find out whether Thera Maha Moggalana was still alive; they had expected to see him dead. When they found the naga tamed, and meekly holding his head like an umbrella over Thera Maha Moggalana, they were very much astounded.

Just then, the Buddha arrived and Thera Maha Moggallana got up from his seat on the mound and paid obeisance to the Buddha. Thera Maha Moggalana then proclaimed to the audience of ascetics, "This is my Teacher, the supreme Buddha, and I am but a humble pupil of this great Teacher!" Hearing him, the ascetics who had been very much impressed even by the power of Thera Maha Moggalana were awed by the greater power of the Buddha. The Buddha then asked Aggidatta what he taught his followers and the residents of the neighbourhood. Aggidatta replied that he had taught them to pay homage to mountains, forests, parks and gardens, and trees, and that by doing so, they would be liberated from all ills of life. The Buddha's reply to Aggidatta was, "Aggidatta, people go to mountains, forests, gardens and parks, and trees for refuge when they are threatened with danger, but these things cannot offer them any protection. Only those who take refuge in the Buddha, the Dhamma and the Samgha are liberated from the round of rebirths (samsara)".

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 188: When threatened with danger, men go to many a refuge, - to mountains and forests, to parks and gardens, and to sacred trees.

 

Verse 189: But such a refuge is not a safe refuge, not the best refuge. One is not liberated from all evil consequences of existence (dukkha) for having come to such a refuge.

 

Verses 190 & 191: One, who takes refuge in the Buddha, the Dhamma and the Samgha, sees with Magga Insight the Four Noble Truths, viz., Dukkha, the Cause of Dukkha, the Cessation of Dukkha, and the Noble Path of Eight Constituents which leads to the Cessation of Dukkha.

 

Verse 192: This, indeed, is the safe refuge; this is the best refuge. Having come to this refuge, one is liberated from all dukkha.


At the end of the discourse Aggidatta and all his followers attained arahatship. All of them entered the Order of the bhikkhus. On that day, when the disciples of Aggidatta from Anga, Magadha and Kuru came to pay respect to him, they saw their teacher and his followers garbed as bhikkhus and they were puzzled and wondered, "Who is the more powerful? Our teacher or Samana Gotama? Our teacher must be more powerful because Samana Gotama has come to our teacher." The Buddha knew what they were thinking; Aggidatta also felt that he must set their minds at rest. So, he paid obeisance to the Buddha in the presence of his disciples, and said, "Venerable Sir! You are my teacher, I am but a disciple of yours." Thus, the audience came to realize the supremacy of the Buddha.

Dhammapada Verses 188 to 192
Aggidattabrahmana Vatthu

Bahum ve saranam yanti
pabbatani vanani ca
aramarukkhacetyani
manussa bhayatajjita.

Netam kho saranam khemam
netam saranamuttamam
netam saranamagamma
sabbadukkha pamuccati.

Yo ca buddhanca dhammanca
samghanca saranam gato
cattari ariyasaccani
sammappannaya passati.

Dukkham dukkhasamuppadam
dukkhassa ca atikkamam
ariyam catthangikam maggam
dukkhupasamagaminam.

Etam kho saranam khemam
etam saranamuttamam
etam saranamagamma
sabbadukkha pamuccati.

Verse 188: When threatened with danger, men go to many a refuge, - to mountains and forests, to parks and gardens, and to sacred trees.

Verse 189: But such a refuge is not a safe refuge, not the best refuge. One is not liberated from all evil consequences of existence (dukkha) for having come to such a refuge.

Verses 190 & 191: One, who takes refuge in the Buddha, the Dhamma and the Samgha, sees with Magga Insight the Four Noble Truths, viz., Dukkha, the Cause of Dukkha, the Cessation of Dukkha, and the Noble Path of Eight Constituents which leads to the Cessation of Dukkha.

Verse 192: This, indeed, is the safe refuge; this is the best refuge. Having come to this refuge, one is liberated from all dukkha.


dhp193_B
Verse-Kệ 193

(154).- Tích chuyện về nơi đản-sanh của bực Thánh - Kệ số 193

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến câu hỏi của Tôn-giả A-nan về nơi đản-sanh của bực Thánh.

 

Một hôm, Tôn-giả A-nan ngẫm-nghĩ: "Đức Phật có nói, loài voi rặc-giống chỉ thấy ở xứ Chất-đăng-ta, loài ngưạ rặc-giống chỉ có ở xứ Sinh, còn loài trâu-bò rặc-giống thì xứ U-sa-tha mới có được. Nhưng Đức Phật còn chưa nói, các bực Thánh đản-sanh ở nơi nào." Sau đó, Tôn-giả mới đến bạch Phật để xin giải mối nghi-nan trong lòng. Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, chẳng biết chắc được nơi đản-sanh của bực Thánh, vì các Ngài chỉ sanh vào hai giai-cấp Sát-đế-lợi và Bà-la-môn."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Khó tìm gặp được bực Thánh-trí cao.

Người chẳng sanh ra bất cứ nơi nào.

Ở chốn nào đản-sanh người hiền-trí

Gia-tộc nơi nầy hạnh-phước dồi-dào.

(Kệ số 193.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đản-sanh: sanh-đẻ, tiếng tôn-trọng dành cho bực cao-quí.

 

-Bực Thánh: theo giáo-lý nhà Phật, bực Thánh là những người tu-hành đã chứng được vô-sanh, nghĩa là chẳng còn phải tái-sanh trong vòng lẩn-quẩn của Luân-hồi. Trong bốn quả-vị: Tu-đà-huờn (chỉ tái-sanh bảy lần nữa), Tư-đà-hàm (chỉ còn tái-sanh một lần nữa), A-na-hàm (chẳng sanh lại cõi người nữa, sanh lên Trời), là ba quả-vị còn sanh lại nên được gọi là bực Hiền. Đến quả-vị A-la-hán, diệt được hết các phiền-não, chứng Niết-bàn, mới gọi là bực Thánh. Như thế, chẳng phải khi sanh ra đã là bực Thánh, mà nhờ tu-hành tinh-tấn mới trở thành bực Thánh. Vì lẽ nầy, Đức Phật mới nói chẳng biết chắc được nơi đản-sanh của bực Thánh.

 

- Tôn-giả A-nan: Tôn-giả = bực đáng tôn-trọng; A-nan = tên Tôn-giả tiếng Pali:Ànanda. Tôn-giả là em họ của Đức Phật, đa-văn( =nghe nhiều, nhớ lắm), làm thị-giả ( = hầu bên cạnh) cho Đức Phật Thích-ca.

 

- Rặc-giống = giống thật tốt, chẳng lai giống khác.

 

- Chất-đăng-ta: tên xứ nầy, tiếng Pali là Chaddanta.

 

- Sinh: tên xứ nầy, tiếng Pali là Sindh.

 

- U-sa-tha: tên xứ nầy, tiếng Pali là Usabha.

 

- Nghi-nan = nghi-ngờ vì chưa hiểu rõ cho thấu-đáo.

 

- Sát-đế-lợi, Bà-la-môn: hai giai-cấp trong xã-hội xưa ở Ấn-độ. Theo thứ-tự từ cao đến thấp: (1) Bà-la-môn (Pali: Brahmanà, tu-sĩ); (2)Sát-đế-lợi (Pali: Khattiyà, vua quan); (3) Phệ-xá (Pali: Vessà, buôn-bán); (4) Thủ-đà-là (Pali: suddà, nông-phu, thợ-thuyền). Còn hạng Chiên-đà-la (Pali: Candala) là cấp hạ-tiện, nô-lệ, làm các nghề dơ-dáy như hốt phân chẳng hạn, chẳng ai muốn đến gần.

 

- Thánh-trí: bực Thánh có trí-huệ thật sáng-suốt.

 

- Hiền-trí: hiền-lành và có trí-huệ.

 

- Gia-tộc: Gia = nhà; Tộc = họ. Gia-tộc là những nhà cùng một họ, sống gần nhau trong một vùng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất đơn-sơ, kể lại sự thắc-mắc của Tôn-giả A-nan về nơi đản-sanh các bực Thánh. Đức Phật dạy, chẳng thể biết chắc được nơi nào có bực Thánh đản-sanh, vì chẳng ai sanh ra là Thánh cả; muốn thành bực Thánh, phải tu-tập tinh-chuyên mới được.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 193:

 

Hai câu đầu của bài Kệ dạy, bực Thánh chẳng dễ gặp, chẳng có nơi nào sanh ra bực Thánh cả.

 

Hai câu sau của bài Kệ cho biết, nơi nào có bực Thánh, tu-hành đắc quả, là nơi đó được nhiều hạnh-phước. Tại sao? Vì nhờ đức-độ cao-cả của bực Thánh, phong-tục của dân trong vùng được cải-thiện.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ, chẳng ai sanh ra đã là Thánh, muốn thành bực Thánh, phải tu-học tinh-cần.

The Story of the Question Raised by Thera Ananda

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (193) of this book, with reference to the question raised by Thera Ananda.

One day, Thera Ananda pondered thus: "Our Teacher has told us that thoroughbreds of elephants are born only among Chaddanta and Uposatha breeds, that thoroughbreds of horses are born only among the Sindh breed, that thoroughbreds of cattle are born only among the Usabha breed. Thus, he had talked to us only about the thoroughbreds of elephants, horses, and cattle, but not of the noblest of men (purisajanno)."

After reflecting thus, Thera Ananda went to the Buddha, and put to him the question of the noblest of men. To him the Buddha replied,"Ananda, the noblest of men is not born everywhere, he is born only among Khattiyamahasala and Brahmanamahasala, the wealthy clans of Khattiya and Brahmana."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 193: It is hard to find the noblest of men; he is not born everywhere nor in every clan. To whatever clan such a wise man is born, that clan prospers.

Dhammapada Verse 193
Anandattherapanha Vatthu

Dullabho purisajanno1
na so sabbattha jayati
yattha so jayati dhiro

tam kulam sukhamedhati.2

Verse 193: It is hard to find the noblest of men; he is not born everywhere nor in every clan. To whatever clan such a wise man is born, that clan prospers.


1. purisajanno: According to the Commentary, a Buddha is intended.

2. sukhamedhati: lit., attains happiness or thrives in happiness.


dhp194_B
Verse-Kệ 194

(155).- Tích chuyện các tỳ-kheo bàn về hạnh-phước - Kệ số 194

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các tỳ-kheo bàn-luận về hạnh-phước.

 

Thuở ấy, vào một buổi chiều, các vị tỳ-kheo ngồi tại nhà mát, cùng nhau bàn-luận về vấn-đề hạnh-phước. Một vị nói: "Hạnh-phước là có được thật nhiều tiền-của, quyền-thế như đức Vua." Một vị khác bảo: "Đủ cơm ăn ngon, thức uống ngọt là đã có nhiều hạnh-phước rồi." Một vị khác lại đưa ra ý-kiến: "Thoả-mãn được các giác-quan, sống đầy-đủ với các thú-vui, đó là hạnh-phước." Trong khi họ đang bàn-luận, thì Đức Phật đi đến. Ngài bảo: "Thú-vui vật-chất, tiền-của, quyền-thế, ăn ngon mặc đẹp đó chưa hẳn là hạnh-phước, vì các điều đó giữ ta mãi trong vòng tái-sanh của Luân-hồi khổ-đau lận-đận. Trên thế-gian nầy, hạnh-phước là gặp được Đức Phật ra đời, có được cơ-duyên nghe lời Ngài giảng-dạy về Sự-Thật cao-quí, và sống trong sự hoà-hợp của Tăng-đoàn."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Vui thay Đức Phật ra đời!

Vui thay Chánh-pháp với lời cao-xa!

Vui thay hoà-hợpTăng-già!

Vui thay hoà-hợp mọi nhà đồng tu!

(Kệ số 194.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Giác-quan: các bộ-phận trên thân như mắt, tai, mũi, lưỡi và da

 

- Vòng tái-sanh của Luân-hồi khổ đau lận-đận = thân-phận của chúng-sanh phải chết đi sanh lại mãi ở cuộc đời sướng ít khổ nhiều nầy là cõi Luân-hồi.(Lận-đận = gặp việc chẳng vui, chẳng may.)

 

- Cơ-duyên: Cơ =cơ-hội; Duyên = duyên-cớ. Cơ-duyên là cơ-hội tốt

 

- Sự-Thật cao-quí: đó là bốn Sư-thật nhiệm-mầu, thường gọi là Tứ Diệu-đế: Khổ-đế, Tập-đế, Diệt-đế và Đạo-đế.

 

- Chánh-pháp: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn. Chánh-pháp là giáo-lý của Đức Phật giảng dạy các phép tu-hành để được giác-ngộ và giải-thoát.

 

- Hoà-hợp = cùng chung một chí-hướng, chẳng có sự tranh-cãi.

 

- Tăng-già, Tăng-đoàn: Tăng-già = tiếng Pali là Sangha, có nghĩa một đoàn-thể tỳ-kheo, từ bốn người trở lên, tu theo cùng một giới-luật và giáo-pháp. Đồng-nghĩa với:Tăng-đoàn, Ni-đoàn ( = các ni-cô.)

 

- Đồng tu = hoà-hợp nhau, cùng tu chung với nhau.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, thuật lại việc bàn-luận của các tỳ-kheo trong giờ nghỉ, về vấn-đề hạnh-phước ở đời. Ý-kiến các tỳ-kheo đưa ra đều dựa trên sự thoả-mãn đầy-đủ các các giác-quan, về tiền-của, danh-lợi và quyền-thế, đó chỉ là các điều sung-sướng ở thế-gian.

 

Đức Phật dạy, hạnh-phước thật-sự là gặp được Phật ra đời, được nghe Chánh-pháp và mọi nhà được đồng-tu trong sự hoà-hợp của Tăng-già. Tại sao? Vì đó là đường-lối tu-tập để được giải-thoát mọi khổ-đau trong cảnh Luân-hồi lẩn-quẩn.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 194:

 

Có bốn sự "Vui thay!" được nêu trong bài Kệ:

 

1) Vui thay Đức Phật ra đời: Vui, vì Ngài dẫn-dắt chúng-sanh trên con đường giác-ngộ và giải-thoát mọi khổ-đau của Luân-hồi.

 

2) Vui thay Chánh-pháp với lời cao-xa: Vui, vì Chánh-pháp với lời-lẽ cao-xa về Sự-Thật, là chìa khoá mở cửa cho hạnh-phước được giác-ngộ và giải-thoát.

 

3) Vui thay hoà-hợp Tăng-già: Vui, vì được nương-tựa vào các tỳ-kheo đồng một chí-hướng, hoà-hợp nhau, cùng nỗ-lực giúp đỡ mọi người tu-tập theo Chánh-pháp.

 

4) Vui thay hoà-hợp mọi nhà đồng tu: Vui, vì mọi nhà đều biết tu-hành theo Chánh-pháp, chẳng có sự đấu-tranh với nhau, sống trong sự hoà-bình, an-lạc.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc bài Kệ, ghi nhớ: điều quí-báu nhứt là nghe Chánh-pháp.

The Story of Many Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (194) of this book, with reference to many bhikkhus.

Once, five hundred bhikkhus were discussing the question "What constitutes happiness?" These bhikkhus realized that happiness meant different things to different people. Thus, they said, "To some people to have the riches and glory like that of a king's is happiness, to some people sensual pleasure is happiness, but to others to have good rice cooked with meat is happiness." While they were talking, the Buddha came in. After learning the subject of their talk, the Buddha said, "Bhikkhus, all the pleasures you have mentioned do not get you out of the round of rebirths. In this world, these constitute happiness: the arising of a Buddha, the opportunity to hear the Teaching of the Sublime Truth, and the harmony amongst the bhikkhus,"

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 194: Happy is the arising of a Buddha; happy is the exposition of the Ariya Dhamma; happy is the harmony amongst the Samgha; happy is the practice of those in harmony.


At the end of the discourse the five hundred bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verse 194
Sambahulabhikkhu Vatthu

Sukho buddhanamuppado
sukha saddhammadesana
sukha sanghassa samaggi
samagganam tapo sukho.

Verse 194: Happy is the arising of a Buddha; happy is the exposition of the Ariya Dhamma; happy is the harmony amongst the Samgha; happy is the practice of those in harmony.


dhp195_B
dhp196_B

Verse-Kệ 195-196

(156).- Tích chuyện về tượng Phật Ca-diếp - Kệ số 195 và 196

 

Vào một thời kia, Đức Phật và các tỳ-kheo du-hành từ nước Xá-vệ đến thành Ba-la-nại, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bức tượng bằng vàng, tạc hình Đức Phật Ca-diếp.

 

Thuở ấy, Đức Phật và các tỳ-kheo, trên đường tới thành Ba-la-nại, đi ngang qua một cánh đồng lúa. Bên lề đường, có một ngọn tháp nhỏ thờ thần-linh. Bấy giờ có một người Bà-la-môn đang cầy ruộng. Người ấy bước lên bờ, cung-kính đến đảnh-lễ ngôi tháp mà chẳng chào hỏi Đức Phật. Đức Phật nói: "Nầy Bà-la-môn, đảnh-lễ tháp-miếu như thế đem lại nhiều phước-báo." Nghe Đức Phật nói thế, người Bà-la-môn rất hài lòng. Bấy gìờ Đức Phật mới dùng sức thần-thông, tạo ra một tượng Phật bằng vàng, tạc hình Đức Phật Ca-diếp đang ngồi lơ-lửng trên không-trung. Tất cả ngẩng lên trông thấy, và khen-ngợi vẻ đẹp trang nghiêm của tượng Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, có bốn hạng nhơn-vật cần phải đảnh-lễ: (1) chư Phật Như-lai, (2) các vị Bích-chi-Phật, (3)chư vị Thánh Thanh-văn đệ-tử, và (4) Chuyển-Luân thánh-vương. Có ba thứ tháp-miếu cần đảnh-lễ: (1)tháp thờ nhục-thân các vị kể trước; (2) tháp thờ hình-tượng tạc giống hình các vị ấy; (3)tháp thờ các vật-dụng cá-nhơn của các vị ấy, như áo cà-sa, bình bát, thiền-truợng, v.v. Thành-tâm đảnh-lễ các ngôi-tháp thờ các vị đã hoàn-toàn giác-ngộ và giải-thoát như thế, đem lại vô-lượng công-đức, và phước-báu, chẳng thể nghĩ bàn được."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Người kính-mộ bực đáng tôn-trọng,

Chư Phật cùng Thanh-văn đệ-tử,

Những bực chướng-ngại đã dẹp xong,

Phiền-não, sầu-bi cũng chẳng giữ.

(Kệ số 195.)

 

Công-đức cúng-dường các bực trước,

Bực an-tịnh, tự-tại,

Bực chẳng hề sợ-hãi,

Công-đức nầy chẳng ước-lượng được.

(Kệ số 196.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Xá-vệ: quê-hương của Đức Phật Thích-ca, nay thuộc phần đất của vương-quốc Népal; tiếng Pali là Sàvatthi.

 

- Ba-la-nại: tên thành-phố Bénarès của Ấn-độ, ngày nay là Vàrànasì. Tại vườn Lộc-uyển, gần thành nầy, Đức Phật giảng Kinh Chuyển-Pháp-Luân lần đầu cho năm anh em ông Kiều-trần-như nghe.

 

- Phật Ca-diếp: Đức Phật thuộc về Hiền-kiếp, giáng trần trước Đức Phật Thích-ca; tiếng Pali là Kassapa Buddha.

 

- Tháp: ngôi đền, nóc nhọn, bên trong thờ hình-tượng hay hài-cốt của một bực tôn-quí.

 

- Miếu: miễu thờ; ngôi đền nhỏ để thờ thần-linh.

 

- Bích-chi-Phật: phiên -âm tiếng Pali là Paccekabuddha, vị tu-hành theo thuyết Thập-Nhị Nhơn-Duyên, chứng đạo vào thời chẳng có đức Phật nào ra đời. Vị Bích-chi-Phật chẳng đi giáo-hóa chúng-sanh.

 

- Chư Thánh Thanh-văn: Thanh-văn là hàng đệ-tử sống gần bên Phật,nhờ nghe Kinh( =Thanh-văn,Sàvaka,Pali) mà tu-chứng quả Thánh.

 

- Chướng-ngại: các trở-ngại trên đường tu. Thường được phân-biệt có tam chướng (ba chướng-ngại): (1) phiền-não-chướng gồm có tham, sân, si v.v. (2) sở-tri-chướng gồm các sự hiểu-biết sai lầm như tà-kiến, định-kiến, v.v. và (3) báo-chướng, tức là tấm thân còn chịu nghiệp-báo nầy.

 

- Tự-tại = chẳng bị ràng-buộc. Ở đời, nói tự-do; đạo gọi là tự-tại.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị thuật lại việc Đức Phật nhơn thấy một người đảnh-lễ ngôi tháp, mới chỉ-dạy các tỳ-kheo nên lễ-lạy những bực hoàn-toàn giác-ngộ và giải-thoát và các ngôi tháp thờ các vị ấy.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 195 và 196:

 

Hai bài Kệ nói đến phước-báu của người biết kính-lễ các bực đại-giác và tháp thờ các Ngài. Xin xem lại Tích chuyện để biết các vị ấy.

 

HỌC TẬP:

 

- Học kỹ hai bài Kệ, ghi nhớ: đừng mê-tín mà lễ-lạy các cục đá "ông Tà", bình vôi, các miếu thờ các tà-thần.

The Story of the Golden Stupa of Kassapa Buddha

While travelling from Savatthi to Baranasi, the Buddha uttered Verses (195) and (196) of this book, with reference to a brahmin and the golden stupa of Kassapa Buddha.

On one occasion, while the Buddha and his followers were on a journey to Baranasi they came to a field where there was a spirit-shrine. Not far from the shrine, a brahmin was ploughing the field; seeing the brahmin the Buddha sent for him. When he arrived, the brahmin made obeisance to the shrine but not to the Buddha. To him the Buddha said, "Brahmin, by paying respect to the shrine you are doing a meritorious deed." That made the brahmin happy. After thus putting him in a favourable frame of mind, the Buddha, by his supernormal power, brought forth the golden stupa of Kassapa Buddha and let it remain visible in the sky. The Buddha then explained to the brahmin and the other bhikkhus that there were four classes of persons worthy of a stupa. They are: the Buddhas (Tathagatas) who are homage-worthy and perfectly self-enlightened, the Paccekabuddhas, the Ariya disciples, and the Universal Monarchs. He also told them about the three types of stupas erected in honour of these four classes of persons. The stupas where corporeal relics are enshrined are known as Sariradhatu cetiya; the stupas and figures made in the likeness of the above four personages are known as Uddissa cetiya; and the stupas where personal effects like robes, bowls, etc. of those revered personages are enshrined are known as Paribhoga cetiya. The Bodhi tree is also included in the Paribhoga cetiya. The Buddha then stressed the importance of paying homage to those who are worthy of veneration.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 195: He pays homage to those who are worthy of veneration, whether they are the Buddhas or their disciples who have overcome obstacles (to Insight Development) and have rid themselves of sorrow and lamentation.

 

Verse 196: The merit gained by such a person who pays homage to those who have been freed from moral defilements and have nothing to fear, cannot be measured by anyone, as this much or that much.


At the end of the discourse the brahmin attained Sotapatti Fruition. The stupa of Kassapa Buddha remained visible for seven more days, and people kept on coming to the stupa to pay homage and obeisance. At the end of seven days, as willed by the Buddha, the stupa disappeared, and in the place of the shrine erected to the spirits, there appeared miraculously, a big stone stupa.

Dhammapada Verses 195 and 196
Kassapadasabalassa Suvannacetiya Vatthu

Pujarahe pujayato
buddhe yadi va savake
papancasamatikkante
1
tinnasokapariddave.

Te tadise pujayato
nibbute akutobhaye
na sakka punnam sahkhatum
imettamapi kenaci.

Verse 195: He pays homage to those who are worthy of veneration, whether they are the Buddhas or their disciples who have overcome obstacles (to Insight Development) and have rid themselves of sorrow and lamentation.

Verse 196: The merit gained by such a person who pays homage to those who have been freed from moral defilements and have nothing to fear, cannot be measured by anyone, as this much or that much.


1. papancasamatikkante: lit., who have got rid of craving, pride and wrong view, factors lengthening samsara.

End of Chapter Fourteen: The Buddha (Buddhavagga)

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 178)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 243)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 211)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 269)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 499)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 886)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 909)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 710)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 496)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 564)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 611)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1467)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 842)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 637)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1675)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 1103)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4433)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8576)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1662)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 659898)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 518)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1438)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2285)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1088)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 1045)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 3131)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 198)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 568)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 680)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 3974)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 340)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 341)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,