Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 15, Phẩm An-lạc - The Dhammapada, Chapter 15, Happiness

13 Tháng Mười Hai 20187:46 SA(Xem: 241)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 15, Phẩm An-lạc - The Dhammapada, Chapter 15, Happiness

Chapter15-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 15, Phẩm An-lạc
The Dhammapada, Chapter 15, Sukhavagga: Happiness

(Kệ 197-208 - Verses 197-208)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp197_B
dhp198_C
dhp199_B
Verse-Kệ 197-199

(157).- Tích chuyện giải-hoà giòng-họ Thích-ca - Kệ số 197, 198 và 199

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến sự tranh-chấp giữa dòng-họ Thích-ca và bộ-tộc Cô-ly-gia, cùng sống ở hai bên bờ sông Lỗ-hi-ni.

 

Thuở ấy, thành Ca-tỳ-la-vệ của dòng họ Thích-ca nằm bên bờ sông Lỗ-hi-ni, còn bên kia bờ có thành Cô-ly-gia của bộ-tộc nầy. Cả hai bộ-tộc đều nhờ vào nước sông mà trồng-trọt sanh-sống. Vào một năm kia, trời hạn-hán, nước sông cạn dần, chẳng đủ cho dân hai bên bờ dùng. Dân bộ-lạc Cô-ly-gia dùng cuốc xẻng, đào sông, dẫn dòng nước chảy sang địa-phận mình, khiến đồng ruộng bên phiá bộ-lạc Thích-ca trở nên khô-khan, lúa mạ uá héo hết. Sự tranh-chấp giưã nông-phu hai bên bờ sông càng ngày càng gây cấn, khiến cho dân-chúng và vua quan ở hai thành chuẩn-bị chiến-tranh để đánh nhau, giành độc-quyền xử-dụng nguồn nước sông.

 

Sáng sớm hôm đó, Đức Phật trong cơn thiền-định, quán-thấy các người trong bộ-tộc Thích-ca đang sửa-soạn khí-giới để đánh nhau với bộ-tộc Cô-ly-gia, Ngài mới dùng sức thần-thông bay đến giữa dòng sông, rồi ngồi lơ-lửng trên không. Bấy giờ, ở bờ sông bên nầy, các thân-nhơn của Đức Phật nhìn thấy Ngài đang ngồi nhập-định trên cao, liền buông hết khí-giới, chấp tay đảnh-lễ. Ở bờ bên kia, dân-chúng bộ-tộc Cô-ly-gia cũng vứt bỏ dao, gậy xuống và qùi lạy Đức Phật. Ngài bảo: "Nầy dân chúng bộ-tộc Thích-ca và Cô-ly-gia, các người đánh nhau đổ máu, để giành vài giọt nước sông, mà quên mất tánh-mạng mình còn quí-báu hơn nhiều. Nếu các người chẳng chịu hoà-giải với nhau, máu đôi bên sẽ chảy còn nhiều hơn nước sông kia!"

 

Rồi Đức Phật mới nới lên ba bài Kệ sau đây:

 

Hạnh-phước thay, ta sống không thù-hận

Giữa những người còn đang mãi hận-thù!

Hạnh-phước thay, ta chẳng hề oán-giận

Giữa những người hiềm-hận chẳng hề nguôi!

(Kệ số 197.)

 

Hạnh-phước thay, ta đang sống mạnh-khoẻ

Giữa những người còn ươn-yếu, ốm đau!

Hạnh-phước thay, sức khoẻ ta dồi-dào

Giữa nhưng người bịnh-tật làm kiệt-quệ!

(Kệ số 198.)

 

Hạnh-phước thay, ta sống chẳng khao-khát,

Giữa những người tham-dục còn rộn-ràng!

Hạnh-phước thay, ta chẳng màng tham-dục,

Giữa những người lòng dục đang gia-tăng!

(Kệ số 199.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Thích-ca: tên bộ-tộc nầy, tiếng Pali là Sakya.

 

- Cô-ly-gia: tên bộ-tộc nầy, tiếng Pali là Koliya.

 

- Ca-tỳ-la-vệ: tên thành nơi Thái-tử Tất-đạt-ta ở khi chưa đi tu thành Phật, tiếng Pali là Kapilavatthu.

 

- Lỗ-hi-ni: tên con sông nầy, tiếng Pali là Rohini

 

- Bộ-tộc: Bộ =bộ-lạc, nhớm gia-đình cùng một họ sống chung nhau vào đời thật xa-xưa; Tộc = họ. Bộ-tộc = bộ-lạc.

 

- Hạn-hán: nắng nhiều, chẳng có mưa nên khô-khan, thiếu nước.

 

- Độc-quyền: Độc = riêng một mình. Độc-quyền là quyền chỉ riêng mình có, người khác chẳng chia-xẻ được, chẳng cho ai chia-xẻ.

 

- Thiền-định = ngồi thiền, nhập-định; giữ tâm yên-vắng.

 

- Thần-thông = pháp-lực cao-cường, khác thường, như bay trên không, đi trên nước. Có được thần-thông nhờ ở định-lực cao.

 

- Đảnh-lễ: qùi lạy, làm lễ chào ra mắt.

 

- Hoà-giải = vui-vẻ cùng nhau, bỏ qua điều tranh-chấp, quên đi sự thù-hận, làm lành với nhau.

 

- Hiềm-hận: Hiềm = nghi, chẳng vừa ý; Hận = giận ngầm và dai.

 

- Kiệt-quệ = tàn-tạ, khô-héo

 

- Tham-dục = tham-lam và ham-muốn

 

- An-lạc: An = yên-ổn; Lạc = vui-vẻ. An-lạc = hạnh-phước.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại cuộc hoà-giải của Đức Phật khiến cho hai bộ-tộc Thích-ca và Cô-ly-gia tránh được sự đổ máu vì tranh-chiến.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: hận-thù gây ra chiến-tranh khiến cả hai bên đều khổ-sở. Sớm biết hoà-giải cùng nhau sẽ mang lại hạnh-phước chung cho nhau.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 197:

 

Bài Kệ số 197 nói lên hạnh-phước của người sống chẳng hận-thù. Tại sao lại có được hạnh-phước? Vì trong lòng thanh-thản, nhẹ-nhàng, chẳng mang niềm oán-ghét ai và cũng chẳng sợ ai oán-ghét mình. Người mang lòng thù-hận ai, trong lòng lúc nào cũng tìm cách hại kẻ thù, cho nên chẳng an-tâm, vì thế mà thiếu niềm an-lạc.

 

(3) Ý-nghĩa bài Kệ số 198:

 

Bài Kệ số 198 nói lên sự sung-sướng của người đầy-đủ sức khoẻ. Hạnh-phước của người khoẻ-mạnh nổi bật lên giữa những bị bịnh-tật, đau-yếu. Cho dầu có nhiều tiền-của, quyền-thế, mà thiếu sức-khoẻ, thì cũng chẳng hưởng được; nay đau mai ốm, tinh-thần vì thế mà suy-nhược, chán đời.

 

(4) Ý-nghĩa của bài Kệ số 199:

 

Bài Kệ số 199 nói lên hạnh-phước của người biết dứt-bỏ mọi ham muốn. Đây là hạnh-phước mà người thường ít thấy, ít hiểu để mà biết hưởng. Giản-dị mà nói, thí-dụ như muốn đi nghe một buổi trình-diễn ca-nhạc của ban nhạc danh-tiếng, phải xếp hàng cả buổi chờ mua được vé; người chẳng còn ham-thích theo thú-vui của ... lỗ tai, biết điều-phục nhĩ- căn, đâu phải bắt thân chịu khổ đứng chờ lâu.

 

Người nào đã hoàn-toàn ly-dục, dứt bỏ mọi tham-muốn, là bực đang chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc ba bài Kệ, ghi nhớ: hạnh-phước bắt nguồn từ trong tâm ta; hễ tâm biết lià bỏ khát-vọng là thân-tâm đang được an-lạc.

The Story of the Pacification of the Relatives of the Buddha

The Buddha uttered Verse (197) to (199) of this book, in the Sakyan country, with reference to his relatives who were quarrelling over the use of the water from the Rohini river.

Kapilavatthu the town of the Sakyans and Koliya the town of the Kolyans were situated on either side of the Rohini river. The cultivators of both towns worked the fields watered by the Rohini river. One year, they did not have enough rain and finding that the paddy and other crops were beginning to shrivel up, cultivators on both sides wanted to divert the water from the Rohini river to their own fields. Those living in Koliya said that there was not enough water in the river for both sides, and that if only they could channel the water just once more to their fields that would be enough for the paddy to mature and ripen. On the other hand, people from Kapilavatthu argued that, in that case, they would be denied the use of the water and their crops would surely fail, and they would be compelled to buy from other people. They said that they were not prepared to go carrying their money and valuables to the opposite bank of the river in exchange for food.

Both sides wanted the water for their own use only and there was much ill will between them due to abusive language and accusations on both sides. The quarrel that started between the cultivators came to the ears of the ministers concerned, and they reported the matter to their respective rulers, and both sides prepared to go to war.

The Buddha, surveying the world with his supernormal powers, saw his relatives on both sides of the river coming out to meet in battle and he decided to stop them. All alone, he went to them by going through the sky, and stopped immediately above the middle of the river. His relatives seeing him, powerfully and yet peacefully sitting above them in the sky, hid aside all their weapons and paid obeisance to the Buddha. Then, the Buddha said to them, "For the sake of some water, which is of little value, you should not destroy your lives which are of so much value and priceless. Why have you taken this stupid action? If I had not stopped you today, your blood would have been flowing like a river by now. You live hating your enemies, but I have none to hate; you are ailing with moral defilements, but I am free from them; you are striving to have sensual pleasures, but I do not strive for them."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 197: Indeed we live very happily, not hating anyone among those who hate; among men who hate we live without hating anyone.

 

Verse 198: Indeed we live very happily, in good health among the ailing; among men who are ailing we live in good health.

 

Verse 199: Indeed we live very happily, not striving (for sensual pleasures) among these who strive (for them); among those who strive (for them) we live without striving.


At the end of the discourse many people attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 197, 198 and 199
Natikalahavupasamana Vatthu

Susukham vata jivama
verinesu averino
verinesu manussesu
viharama averino.

Susukham vata jivama
aturesu
1 anatura
aturesu manussesu
viharama anatura.

Susukham vata jivama
ussukesu anussuka
ussukesu manussesu
viharama anussuka.

Verse 197: Indeed we live very happily, not hating anyone among those who hate; among men who hate we live without hating anyone.

Verse 198: Indeed we live very happily, in good health among the ailing; among men who are ailing we live in good health.

Verse 199: Indeed we live very happily, not striving (for sensual pleasures) among these who strive (for them); among those who strive (for them) we live without striving.


1. aturesu/atura: ailing or ailment; moral ailment is meant here.


dhp200_C
Verse-Kệ 200

(158).- Tích chuyện Ma-vương khuấy Phật - Kệ số 200

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ gần làng Ngũ-sảnh, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến việc Ma-vương đến khuấy phá Đức Phật.

 

Thuở ấy, vào một buổi sáng sớm, Đức Phật quán-thấy đã đủ cơ-duyên giúp cho một số đông phụ-nữ ở làng Ngã-sảnh chứng được đạo-quả Tu-đà-huờn, Ngài liền lên đường đi khất-thực nơi làng ấy. Đến đầu làng, Ngài gặp một đám đông phụ-nữ cùng nhau ra bờ sông tắm gội, xong họ vội-vã trang-sức diễm-lệ để đi dự hội, mà chẳng lo việc cúng-dường bố-thí cho chư Tăng, vì tâm của họ đang bị Ma-vương ám-ảnh, cám-dỗ mau mau đi đến chỗ vui-đùa.

 

Trên đường trở về tịnh-xá, Đức Phật gặp Ma-vương, y mỉa-mai hỏi Phật, khất-thực có đầy-đủ thức ăn chăng? Đức Phật quán-thấy, biết Ma-vương khuấy rối Ngài, đáp: "Nầy Ma-vương, chính bàn tay tội-lỗi của ông đã lôi kéo các vị phụ-nữ trong làng xao-lãng công-đức cúng-dường chư Tăng đó." Ma-vương chẳng cải-chánh, lại muốn tìm cách khuấy thêm, liền bảo Phật: "Sao Ngài chẳng trở lại làng, xem lần nầy có được ai cúng-dường chăng?"

 

Vừa lúc ấy, các bà đi dự hội ra về, trông thấy Đức Phật, họ liền qùi xuống đảnh-lễ. Ma-vương cười bảo: "Hôm nay, Đức Phật chẳng được gì để ăn, nên đang đói bụng lắm đấy!" Đức Phật: "Nầy Ma-vương, mặc dầu chư Tăng chẳng được cúng-dường sáng nay, nhưng chúng ta sống chẳng phải chỉ nhờ vào thực-phẩm mà thôi. Cũng như chư Thiên trên cõi Trời Quang-âm, chúng ta sống nhờ vào phỉ và lạc trong Chánh-pháp."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà một số đông các vị phụ-nữ của làng Ngũ-sảnh chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Hạnh-phước thay, ta sống không chướng-ngại;

Những gì của ta, chẳng hề giữ lại.

Bằng niềm phỉ-lạc, ta dưỡng-nuôi ta,

Như chư Thiên Quang-Âm thường tự-tại.

(Kệ số 200.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ma-vương = Vua Ma, còn gọi là Ma Ba-tuần, tượng-trưng cho sự cám-dỗ, sự xúi-dục làm điều quấy.

 

- Ngũ-sảnh: dịch tiếnf Pali: Pancasàlà, Panca =Ngũ, năm; Sàla = đại-sảnh, phòng lớn. Tên làng là "Làng có năm đại-sảnh".

 

- Tu-đà-huờn: quả-vị thứ nhứt, còn gọi là Nhập-Lưu, tiếng Pali là Sotàpatti.- - Diễm-lệ = đẹp-đẽ.

 

- Cúng-dường: đọc trại chữ Hán-Việt cung-dưỡng, cung-cấp để nuôi-dưỡng. Tiếng nhà chùa nghĩa là dưng cúng thực-phẩm, tiền-bạc.

 

- Chư Thiên cõi Trời Quang-Âm = Trời Quang-âm là cõi cao nhứt trong đệ-nhị Thiền của Sắc-giới. Chư Thiên cõi nầy chẳng dùng lời nói mà dùng ánh-sáng ( =quang) để thay-thế tiếng ( =âm) khi giao-thiệp.

 

- Phỉ = niềm vui sướng trong-sáng; tiếng Pali là piti.

 

- Lạc = sự sung-sướng; tiếng Pali là sukha.

 

- Chướng-ngại: sự ngăn-trở. Ở đây, chữ chướng-ngại dịch chữ Kincanam, trỏ vào các phiền-não tham, sân, si làm chướng-ngại trên đường tu-tập của hành-giả.

 

- Tự-tại = tự-do. Ngoài đời, nói tự-do; trong đạo, nói tự-tại.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại Ma-vương khuấy phá việc khất-thực, bằng cách cám-dỗ các phụ-nữ ham vui, lãng quên công-đức cúng-dường. Tuy bị đói bụng, nhưng Đức Phật nói Ngài và chư Tăng sống nhờ phỉ-lạc, chớ chẳng phải chỉ nhờ vào thực-phậm không thôi. Ma-vương khuấy chẳng thành-công, vì sau khi dự hội trở về, dọc đường gặp Phật, các người đàn-bà liền đảnh-lễ, nghe Phật giảng-pháp và chứng được đạo-quả Tu-đà-huờn.

 

(2) Ý-nghĩa của Bài Kệ số 200:

 

Bài Kệ nêu lên sự cao-quí của hạnh dứt-bỏ: bỏ tất cả chướng-ngại trong tâm là tham, sân, si; bên ngoài, bỏ tất cảngã-sở ( =những gì của ta đang có), để sống trong niềm vui phỉ-lạc của Chánh-pháp.

 

HỌC TẬP:

 

- Học bài Kệ: ghi nhớ: An bần lạc đạo = thà nghèo mà an vui với Đạo.

The Story of Mara

The Buddha uttered Verse (200) of this book in a brahmin village known as Pancasala (village of five halls), with reference to Mara.

On one occasion, the Buddha saw in his vision that five hundred maidens from Pancasala village were due to attain Sotapatti Fruition. So he went to stay near that village. The five hundred maidens went to the riverside to have a bath; after the bath they returned to the village fully dressed up, because it was a festival day. About the same time, the Buddha entered Pancasila village for alms-food but none of the villagers offered him anything because they had been possessed by Mara.

On his return the Buddha met Mara, who promptly asked him whether he had received much alms-food.

The Buddha saw the hand of Mara in his failure to get any alms-food on that day and replied, "You wicked Mara! It was you who turned the villagers against me. Because they were possessed by you they did not offer any alms-food to me. Am I not right ?" Mara made no reply to that question, but he thought that it would be fun to entice the Buddha back to the village and get the villagers to insult the Buddha by making fun of him. So he suggested, "O Buddha, why don't you go back to the village again? This time, you are sure to get some food."

Just then, the five hundred village maidens arrived on the scene and paid obeisance to the Buddha. In their presence, Mara taunted the Buddha, "O Buddha, since you received no alms-food this morning, you must be feeling the pangs of hunger!" To him the Buddha replied,"O wicked Mara, even though we do not get any food, like the Abhassara brahmas who live only on the delightful satisfaction (piti) and bliss (sukha) of jhana, we shall live on the delightful satisfaction and bliss of the Dhamma."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 200: Indeed we live very happily, without any anxiety (i.e., without greed, ill will and ignorance); like the Abhassara brahmas we shall live on delightful satisfaction (piti) as our food.


At the end of the discourse, the five hundred maidens attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 200
Mara Vatthu

Susukham vata jivama
yesam no natthi kincanam
1
pitibhakkha bhavissama
deva abhassara
yatha.

Verse 200: Indeed we live very happily, without any anxiety (i.e., without greed, ill will and ignorance); like the Abhassara brahmas we shall live on delightful satisfaction (piti) as our food.


1. natthi kincanam: without any anxiety, here it means without greed, ill will and ignorance (raga, dosa and moha).

2. deva abhassara: Abhassara brahmas are the radiant brahmas of the abode of the second Rupavacara Jhana Brahmaloka.


dhp201_B
Verse-Kệ 201

(159).- Tích chuyện vua xứ Câu-tát-la thất-trận - Kệ số 201

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến việc thất-trận của vua xứ Câu-tát-la.

 

Thuở ấy, vua xứ Câu-tát-la có người em gái gả cho vua Tần-bà-sa-la nước Ma-kiệt-đà, phong làm Hoàng-hậu Vi-đề-hy. Bà Vi-đề-hy sanh ra người con là A-xà-thế, khi lớn lên lại chống-đối với cậu mình là vua xứ Câu-tát-la. Đã ba lần chiến-đấu với A-xà-thế, vua xứ Câu-tát-la đều thất-trận. Nhà Vua rất thất-vọng, đau buồn, than-thở rằng: "Thật là nhục-nhã biết bao cho ta, đánh chẳng lại một đứa con-nít, miệng còn hôi-sữa! Nhục quá! Ta còn sống làm gì nữa!" Quá chán-chường, Nhà Vua bỏ cả ăn-uống, cứ nằm dài mãi trên giường.

 

Tin vua xứ Câu-tát-la bị buồn-nản vì thất-trận đến tai Đức Phật. Ngài nói với các tỳ-kheo: "Nầy chư Tăng, kẻ chiến-thắng gây thêm thù-hận; còn người thất-trận phải chịu khổ-đau, áo-não!"

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chiến-thắng gây thù-hận,

Thất-bại chịu khổ-đau.

Vui thay, sống an-hoà,

Thắng bại bỏ lại sau.

(Kệ số 201.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Xứ Câu-tát-la: tên xứ nầy, giáp với nước Xá-vệ và Ma-kiệt-đà, tiếng Pali là Kosala.

 

- Thất-trận: đánh giặc bị thua.

 

- Vua Tần-bà-sa-la nước Ma-kiệt-đà: tên vua nước nầy, tiếng Pali là Bimbisara, nước Magadha, giáp với nước Câu-tát-la.

 

- Vi-đề-hy: tên của Hoàng-hậu, tiếng Pali là Vedehì.

 

- A-xà-thế: phiên-âm tên vị nầy, tiếng Pali là Ajàtasattu.

 

- Chiến-đấu = chống-cự lại, tranh-đấu.

 

- Áo-não = phiền-não, khổ-sở, đau-đớn về tinh-thần.

 

- An-hoà: An = yên; Hoà = hợp, chẳng chống-đối. Sống an-hoà là sống hiền-lành, chẳng gây-gổ với ai, chẳng chống-đối ai.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, kể lại sự chán-chường vì thất-trận của vua xứ Câu-tát-la. Đức Phật bảo: "Thắng ai là gây thêm thù-hận; thua ai thì thêm đau-khổ; kẻ sống an-hoà, chẳng gây-gổ với ai, mới là sung-sướng."

 

Thông-thường, khi thất-bại, người đời thường khuyên nhau, hãy giữ vững tinh-thần, chuẩn-bị để tranh-đấu cho đến thành-công. Đây là lời khuyên đứng-đắn, nhưng chẳng đúng với tinh-thần bất-tác-hại của đạo Phật. Tại sao? Vì trả thù, sẽ gây thên thù-oán. Thành-công, sau khi thất-trận, là tìm thấy những khuyết-điểm của mình mà sửa đổi lại, chớ chẳng phải tìm nhược-điểm của đối-phương để tấn-công vào. Càng chống-đối nhau, càng gây thêm đau-khổ cho đôi bên.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 201:

 

Bài Kệ số 201 nêu ra ba thái-độ: thắng, thua và hiếu-hoà ( = mến sự an-hoà).

 

Chiến-thắng gây thù-hận: tại sao? Vì người thua sẽ tìm cách trả thù, như thế, chiến-thắng còn chưa trọn-vẹn.

 

Thất-bại chịu khổ-đau: tại sao? Dĩ nhiên, vì thua kém, vì bị chèn-ép. Cả hai thái-độ: thắng và thua, đều do sự chống-đối nhau mà sanh ra sự bất-lợi, bất lợi ngay cho người thắng, chớ chẳng riêng cho người thua.

 

Thái-độ thứ ba: sống an-hoà, chẳng những thoát ra khỏi các bất-lợi của hai thái-độ trước, nó còn chứng-tỏ sự thông-minh của người hiếu-hoà, biết tránh trước những hậu-quả khó-khăn của sự tranh-đấu, nó còn đem lại hoà-bình, an-vui trong gia-đình, ngoài xã-hội.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc bài Kệ, ghi nhớ: sống an-hoà chẳng phải là chẳng tranh-đấu; người hiếu-hoà vẫn tranh-đấu chống lại hận-thù nơi tâm mình.

The Story of the Defeat of the King of Kosala

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (201) of this book, with reference to the King of Kosala who was defeated in battle by Ajatasattu, his own nephew.

In fighting against Ajatasattu, the King of Kosala was defeated three times. Ajatasattu was the son of King Bimbisara and Queen Vedehi, the sister of the King of Kosala. The King of Kosala was ashamed and very much depressed over his defeat. Thus his lamentation: "What a disgrace! I cannot even conquer this boy who still smells of mother's milk. It is better that I should die." Feeling depressed and very much ashamed, the king refused to take food, and kept to his bed. The news about the king's distress spread like wild fire and when the Buddha came to learn about it, he said, "Bhikkhus! In one who conquers, enmity and hatred increase; one who is defeated suffers pain and distress."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 201: Conquest begets enmity; the conquered live in misery; the peaceful live happily having renounced conquest and defeat.

Dhammapada Verse 201
Kosalaranno Parajaya Vatthu

Jayam veram pasavati
dukkham seti parajito
upasanto
1 sukham seti
hitva jayaparajayam.

Verse 201: Conquest begets enmity; the conquered live in misery; the peaceful live happily having renounced conquest and defeat.


dhp202_B
Verse-Kệ 202

(160).- Tích chuyện đôi vợ chồng sắp cưới - Kệ số 202

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc đôi thanh-niên nam-nữ sắp làm lễ thành-hôn, chứng được quả-vị Tu-đà-huờn.

 

Thuở ấy, có một gia-đình kia sắp gả con gái, mới làm lễ cúng-dường thực-phẩm lên Đức Phật và tám mươi vị tỳ-kheo. Chàng rể tương-lai cũng được mời đến phụ-giúp việc chuẩn-bị. Trong khi bưng dọn thức ăn, chú rể có dịp đến gần bên cô dâu, nên trong lòng tỏ ra rộn-rã, thiếu sự chú-tâm để phục-vụ chu-đáo đến chư Tăng. Đức Phật nom thấy, biết chàng ta đang say-đắm nghĩ đến người yêu, chẳng để hết lòng thành vào việc dưng-cúng, nên Ngài mới nói cùng chàng: "Nầy thiện-nam, chẳng có ngọn lửa nào nóng bằng lửa tham-dục ở nội-tâm, chẳng có cơn gió nào thổi mạnh bằng gió sân-hận nổi lên trong lòng, chẳng có gánh nặng nào đè lên vai bằng thân-tâm năm uẩn nầy, và cũng chẳng có hạnh-phước nào to lớn và bền-vững bằng cảnh an-lạc hoàn-toàn của Niết-bàn tịch-diệt." Chàng rể lắng nghe, tỉnh-ngộ, dẹp qua một bên mối dục-tình vừa nhen-nhúm trong lòng và chú-tâm đến việc cúng-dường.

 

Sau buổi lễ trai-tăng, Đức Phật giảng-pháp, cả hai cô dâu và chú rể đều theo dõi lời Phật dạy. Rồi Đức Phật mới nói lên bài bài kệ sau đây, nhờ đó, đôi vợ chồng sắp cưới chứng đuợc quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Lửa nào sánh lửa tham,

Ác nào bằng ác sân,

Khổ nào so khổ năm ấm,

An-lạc nào hơn tối-thượng Niết-bàn.

(Kệ số 202.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Quả-vị Tu-đà-huờn: Xin nhắc lại: đây là quả-vị thứ nhứt, còn gọi là Nhập-Lưu, hay Thất-Lai, tiếng Pali là Sotàpatti, được bước chơn vào dòng nước Thánh, đi đúng đường rồi, tu tiếp sẽ thành bực Thánh.

 

- Lễ thành-hôn = làm đám cưới, cưới vợ, gả chồng.

 

- Tỳ-kheo: tu-sĩ Phật-giáo, phiên-âm tiếng Pali: Bhikkhu, hay bí-sô, dịch là khất-sĩ ( = tu-sĩ đi xin ăn). Phái nữ là tỳ-kheo-ni = Bhikkhuni.

 

- Phục-vụ = phụ-giúp, hầu-hạ ở bên cạnh.

 

- Thiện-nam: Thiện = lành; Nam = đàn-ông.Phật-học gọi các trai lành là thiện-nam, các gái hiền là tín-nữ, tất cả ngưòi tin vào đạo Phật

 

- Tham-dục = ham-muốn; ở đây chỉ vào mối dục-tình trong lòng chú rể khi thấy cô dâu.

 

- Nội-tâm: Nội = bên trong;Tâm = lòng. Nội-tâm: trong lòng mình.

 

- Sân-hận = giận-hờn, oán-giận.

 

- Thân-tâm năm uẩn = Thân và Tâm có năm phần, gọi là năm uẩn, hay năm ấm: (1) sắc-uẩn, thân vật-chất; (2) thọ-uẩn, các tình-cảm; (3) tưởng-uẩn, các tư-tưởng; (4) hành-uẩn, các hành-động; (5) thức-uẩn, các hiểu-biết. Vì tập-hợp lại mà có, nên thân-tâm chẳng bền, có ngày sẽ tan-rả đi, khiến cho đời sống phải chịu khổ nhiều, hưởng sướng ít.

 

- Niết-bàn: tiếng Phạn là Nirvana, ra khỏi rừng u-tối. Rừng nào?- Rừng phiền-não tham, sân, si. Niết-bàn là tâm-trạng người đã dứt bỏ hết phiền-não, hết bị tái-sanh trong Luân-hồi nữa, tự-tại trong an-lạc.

 

- Tối-thượng: Tối = hơn hết; Thượng = cao; Tối-thượng = cao nhứt.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một chàng trai đi làm rể, quá mê cô dâu nên chẳng để hết lòng thành vào việc cúng-dường Phật và chư Tăng. Được Phật nhắc-nhở, chàng tỉnh-ngộ, và sau đó nghe lời Phật giảng dạy, chú rể, và cả cô dâu, đều chứng được quả-vi Tu-đà-huờn.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 202:

 

Ba câu đầu nêu sự Khổ, câu chót chỉ cảnh An-lạc vô-biên:

 

1.- Lửa nào sánh lửa tham: Ví lòng tham như ngọn lửa, nung-nấu, thúc-dục người tham phải dành lấy cho được đìều mình muốn.

 

2.- Ác nào bằng ác sân: Ví sự tức-giận với sự độc-ác, vì muốn diệt-bỏ cho tiêu mất điều mình ghét.

 

3.- Khổ nào so khổ năm ấm = khổ nào bằng mang lấy thân nầy.

 

4.- An-lạc nào hơn tối-thượng Niết-bàn = chẳng có gì an-lạc hơn, sung-sướng hơn là cõi Niết-bàn tối-thượng. 

The Story of a Young Bride

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (202) of this book at the house of a lay-disciple, with reference to a young bride.

On the day a young woman was to be wedded to a young man, the parents of the bride invited the Buddha and eighty of his disciples for alms-food. Seeing the girl as she moved about the house, helping with the offering of alms-food, the bridegroom was very much excited, and he could hardly attend to the needs of the Buddha and the other bhikkhus. The Buddha knew exactly how the young bridegroom was feeling and also that time was ripe for both the bride and the bridegroom to attain Sotapatti Fruition.

By his supernormal power, the Buddha willed that the bride would not be visible to the bridegroom. When the young man could no longer see the young woman, he could pay full attention to the Buddha, and his love and respect for the Buddha grew stronger in him. Then the Buddha said to the young man, "O young man, there is no fire like the fire of passion; there is no evil like anger and hatred; there is no ill like the burden of the five aggregates of existence (khandhas); there is no bliss like the Perfect Peace of Nibbana."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 202: There is no fire like passion; there is no evil like hatred; there is no ill like (the burden of) khandhas; there is no bliss that surpasses the Perfect Peace (i.e., Nibbana).


At the end of the discourse both the bride and bridegroom attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 202
Annatarakuladarika Vatthu

Natthi ragasamo aggi
natthi dosasamo kali
natthi khandhasama dukkha
natthi santiparam sukham.

Verse 202: There is no fire like passion; there is no evil like hatred; there is no ill like (the burden of) khandhas; there is no bliss that surpasses the Perfect Peace (i.e., Nibbana).


dhp203_B
Verse-Kệ 203

(161).- Tích chuyện người chăn mất con bò - Kệ số 203

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề cập đến một người chăn bò nghèo khổ ở làng Anh-huy.

 

Thuở ấy, ở làng Anh-huy, có một người chăn bò nghèo khổ. Một hôm, Đức Phật du-hành đến làng nầy, lại nhằm lúc anh chăn bò đang lạc mất một con bò. Suốt buổi sáng, anh chạy đi lùng khắp nơi từ lùm cây bụi cỏ của khu rừng thưa mà chẳng tìm thấy. Mãi đến gần trưa, anh mới thấy bò đang gậm cỏ bên bờ suối. Mừng quá, anh đuổi bò quay lại nhập đàn, rồi ghé vào nơi Đức Phật cùng chư Tăng đang thọ-trai, tại nhà một tín-chủ. Bấy giờ, sau buổi ngọ-trai, chư tỳ-kheo và dân-chúng đang ngồi im, chờ được nghe Đức Phật giảng pháp. Nhưng Ngài lại bảo gia-chủ dọn cơm cho người chăn bò ăn. Sau khi người chăn bò ăn xong, Đức Phật mới bắt đầu thuyết-pháp. Lần-lượt Ngài nói đến bốn Chơn-lý Nhiệm-mầu dẫn đến con đường thánh của Bát-Chánh-Đạo. Người chăn bò lẳng-lặng, chăm chú nghe xong, chứng được đạo-quả Tu-đà-huờn.

 

Trên đường quay về tịnh-xá, có vị tỳ-kheo thắc-mắc, tại sao Đức Phật chẳng thuyết-giảng ngay sau buổi ngọ-trai, mà lại bảo dọn cơm cho kẻ chăn bò ăn xong, rồi mới giảng. Ngài bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, chẳng có bịnh nào bằng bịnh đói, chẳng có khổ nào bằng khổ năm uẩn. Nếu bụng đang đói cào mà nghe Chánh-pháp, thì làm sao mà thâu-thập được hết lẽ nhiệm-mầu?"

 

Rồi đó, Đức Phật liền nói lên bài Kệ sau đây:

 

Đói là bịnh tối-trọng,

Thân năm uẩn là khổ tối-đa.

Điều nầy như-thật hiểu qua,

Là chứng an-lạc Niết-bàn tối-thượng,

(Kệ số 203.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Anh-huy: tên làng nầy, tiếng Pali là Àlavi

 

- Du-hành = đi dạo đến, đi thăm-viếng.

 

- Thọ-trai = đang ăn cơm chay vào buổi trưa. Ngọ = 12 giờ trưa

 

- Tín-chủ: Tín = tin-tưởng; nói về người tin vào đạo Phật, thường dưng-cúng thực-phẩm, vật-dụng hay tiền-bạc cho chùa.

 

- Gia-chủ = chủ nhà. (Gia = nhà)

 

- Bốn Chơn-lý Nhiệm-mầu = Tứ-Diệu-Đế, gồm có (1)Khổ-đế, về sự Khổ; (2)Tập-đế, nguyên-nhơn của Khổ; (3) Diệt-đế, dứt hết Khổ, tức là chứng cõi an-lạc Niết-bàn; (4) Đạo-đế, con đường Bát-chánh-đạo dẫn đến sự diệt hết khổ-đau.

 

- Bát-Chánh-Đạo = con đường thánh-đạo, đưa đến cõi Niết-bàn an-lạc, gồm 8 ngành: (1)Chánh-kiến; (2) Chánh tư-duy; (3)Chánh-ngữ; (4) Chánh-mạng; (5) Chánh-nghiệp; (6) Chánh tinh-tấn; (7) Chánh-niệm; (8) Chánh-định.

 

- Tối-trọng = quan-trọng nhứt.

 

- Tối-đa = nhiều nhứt.

 

- Như-thật: đúng như Sự-Thật; hiểu thật đúng theo Chơn-lý.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc người chăn bò bụng đói đến nghe giảng kinh, được Đức Phật bảo dọn cơm ăn no xong mới nghe Pháp. Nhờ no dạ, tỉnh-táo, nên người ấy hiểu được lời Phật giảng mà chứng quả.

 

Ý- nghĩa của Tích chuyện là khi nghe giảng hay đọc kinh, chẳng nên để đói quá, vì như thế, sẽ thiếu mất sự chú-tâm.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 203:

 

Những chữ khó đã được tìm hiểu ở phần Nghĩa Chữ.

 

Riêng hai câu chót, mới đọc qua thấy lủng-củng, xin viết lại cho suông: Nếu đã hiểu đúng như Sự-thật: "Đói là bịnh nặng; mang thân năm uẩn nầy là khổ nhiều", thì mới có cơ chứng được cảnh an-lạc của Niết-bàn.

 

Ý-nghĩa bài Kệ nầy cũng giống ý-nghĩa bài Kệ trước, số 202.

The Story of a Lay-Disciple

The Buddha uttered Verse (203) of this book at the village of Alavi, with reference to a lay-disciple.

One day, the Buddha saw in his vision that a poor man would attain Sotapatti Fruition at the village of Alavi. So he went to that village, which was thirty yojanas away from Savatthi. It so happened that on that very day the man lost his ox. So, he had to be looking for the ox. Meanwhile, alms-food was being offered to the Buddha and his disciples in a house in the village of Alavi. After the meal, people got ready to listen to the Buddha's discourse; but the Buddha waited for the young man. Finally, having found his ox, the man came running to the house where the Buddha was. The man was tired and hungry, so the Buddha directed the donors to offer food to him. Only when the man had been fed, the Buddha gave a discourse, expounding the Dhamma step by step and finally leading to the Four Noble Truths. The lay-disciple attained Sotapatti Fruition at the end of the discourse.

Afterwards, the Buddha and his disciples returned to the Jetavana monastery. On the way, the bhikkhus remarked that it was so surprising that the Buddha should have directed those people to feed the young man before he gave the discourse. On hearing their remarks, the Buddha said, "Bhikkhus! What you said is true, but you do not understand that I have come here, all this distance of thirty yojanas, because I knew that he was in a fitting condition to take in the Dhamma. If he were feeling very hungry, the pangs of hunger might have prevented him from taking in the Dhamma fully. That man had been out looking for his ox the whole morning, and was very tired and also very hungry. Bhikkhus, after all, there is no ailment which is so difficult to bear as hunger."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 203: Hunger is the greatest ailment, khandhas are the greatest ill. The wise, knowing them as they really are, realize Nibbana, the greatest bliss.

Dhammapada Verse 203
Eka Upasaka Vatthu

Jighacchaparama roga
sankharaparama dukha
etam natva yathabhutam
nibbanam paramam sukham.

Verse 203: Hunger is the greatest ailment, khandhas are the greatest ill. The wise, knowing them as they really are, realize Nibbana, the greatest bliss.


dhp204_B
Verse-Kệ 204

(162).- Tích chuyện vua Ba-tư-nặc bớt ăn - Kệ số 204

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một giảng-pháp, có đề-cập đến vua Ba-tư-nặc, xứ Câu-tát-la.

 

Một hôm, vua Ba-tư-nặc, sau khi ăn sáng thật no-nê, đến chùa Kỳ-viên yết-kiến Đức Phật. Vì còn đang nặng bụng, nên khi Đức Phật giảng-pháp, nhà vua cảm thấy buồn ngủ, gục lên gục xuống nhiều lần. Sau thời pháp, Đức Phật hỏi nhà Vua có phải vì quá no nên buồn ngủ chăng. Vua Ba-tư-nặc đáp phải. Đức Phật khuyên nhà vua nên bớt ăn từ từ, mỗi bữa bớt đi chừng nửa chén, lần lần giảm xuống đến một phần ba số lượng thực-phẩm dùng hàng ngày. Nhà Vua tuân theo lời Phật dạy. Ba tháng sau, thân-thể nhà Vua thon lại, trở nên gọn-gàng, bụng chẳng còn phệ xuống, đi đứng khoan-thai, nhẹ-nhàng, tinh-thần cảm thấy sảng-khoái vì sức khoẻ dồi-dào. Nhà Vua bạch Phật sự tiến-bộ về thể-xác đó. Đức Phật bảo: "Nầy Đại-vương, sức-khoẻ là món quà tốt-đẹp nhứt; sự biết-đủ là tài-sản quí-báu nhứt; một người bạn thân trung-thành là họ-hàng gần-gũi nhứt và Niết-bàn là hạnh-phước an-lạc nhứt."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Sức-khoẻ là tặng-phẩm tối-hảo,

Biết đủ là tài-sản tối-bảo,

Bạn thành-tín là họ-hàng tối-thân,

An-lạc là Niết-bàn tối-thượng.

(Kệ số 204.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Vua Ba-tư-nặc xứ Câu-tát-la: vị vua nầy rất tôn-sùng đạo Phật, tên tiếng Pali là Pasenadi, nước Kosala.

 

- Sảng-khoái: Sảng = trong-sáng; Khoái = vui-vẻ, lanh-lợi.

 

- Sự biết-đủ: dịch từ chữ Hán-Việt là Tri-túc, biết vừa đủ, chẳng quá độ, chẳng lạm dùng.

 

- Niết-bàn: xin nhắc lại: tiếng Phạn là Nirvana, ra khỏi rừng phiền-não u-tối. Đây là tâm-trạng của người đã dứt sạch phiền-não, hết bị tái-sanh, tự-tại trong cảnh an-lạc tịch-diệt.

 

- Tối-hảo: Tối = vào bực nhứt; Hảo = tốt. Tốt vào bực nhứt.

 

- Tối-bảo: Bảo = quí. Quí vào bực nhứt.

 

- Tối-thân = thân-thiết vào bực nhứt.

 

- Tối-thượng = cao vào bực nhứt.

 

- Thành-tín: Thành = thành-thật; Tín = tin.Thành-tín = đáng tin-cậy.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại vua Ba-tư-nặc vì ăn sáng quá nhiều, đến nghe Đức Phật giảng-pháp, chẳng thể chú-ý được vì buồn ngủ. Được Đức Phật khuyên, nên bớt ăn lại, để giữ-gìn sức khoẻ tốt, nhà Vua tuân theo lời, nhờ đó mà sức-khoẻ trở nên dồi-dào.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện khuyên ta chớ nên ăn nhiều quá; đồng thời nêu ra bốn thứ quí-báu: (1) sức khoẻ, (2) sự biết-đủ; (3) có bạn thân trung-thành với mình và (4) cõi Niết-bàn an-lạc.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 204:

 

Thử phân-tách từng câu:

 

1) Sức-khoẻ là tặng-phẩm tối-hảo: Tại sao gọi sức-khoẻ là một tặng-phẩm? Vì sức-khoẻ do sự ăn-uống điều-độ mang đến cho ta. Tại sao lại tối-hảo? Vì sức khoẻ mang đến hạnh-phước cho người.

 

2) Biết-đủ là tài-sản tối-bảo: Người biết-đủ là người cần-kiệm, chẳng phung-phí, chẳng lạm-dụng, nên giỏi việc giữ-gìn tài-sản; dó đó đức-tánh biết-đủ được xem như một tài-sản tinh-thần.

 

3) Bạn thành-tín là họ-hàng tối-thân: Một người bạn trung-thành giúp-đỡ, bảo-vệ mình còn hơn cả bà-con thân-tộc nữa.

 

4) An-lạc là Niết-bàn tối-thượng: giản-dị mà nói, được an-lạc ( =yên-vui), đó là hạnh-phước ở trần-gian rồi; có lẽ cảnh Niết-bàn cũng an-vui như thế, có hơn chăng là ở chỗ bền-lâu và vững-chắc của cõi Niết-bàn mà thôi.

 

Ý-nghĩa của bài Kệ đề-cao sự chứng-đắc Niết-bàn, hơn cả ba điều trước: (1) sức-khoẻ, (2) biết-đủ và (3) bạn trung-thành. 

The Story of King Pasenadi of Kosala

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (204) of this book, with reference to King Pasenadi of Kosala.

One day, King Pasenadi of Kosala went to the Jetavana monastery after having his full morning meal. It was said that the king had eaten one quarter basket (about half a bushel) of rice with meat curry on that day; so while listening to the Buddha's discourse he felt very sleepy and was nodding most of the time. Seeing him nodding, the Buddha advised him to take a little less rice everyday and to decrease the amount on a sliding scale to the minimum of one-sixteenth part of the original amount he was taking. The king did as he was told and found that by eating less he became thin, but he felt very much lighter and enjoyed much better health. When he told the Buddha about this, the Buddha said to him, "O king! Health is a great boon; contentment is a great wealth; a close and trusted friend is the best relative; Nibbana is the greatest bliss."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 204: Health is the greatest gift, contentment is the greatest wealth, a trusted friend is the best relative, Nibbana is the greatest bliss.

Dhammapada Verse 204
Pasenadikosala Vatthu

Arogyaparama labha
santutthiparamam dhanam
vissasaparama
1 nati
nibbanam paramam sukham.

Verse 204: Health is the greatest gift, contentment is the greatest wealth, a trusted friend is the best relative, Nibbana is the greatest bliss.


1. vissasaparama: vissasa + parama: vissasa here means trust, also interpreted as intimacy.


dhp205_B
Verse-Kệ 205

(163).- Tích chuyện Trưởng-lão Thi-sa ngồi Thiền - Kệ số 205

 

(Tích chuyện nầy giống với Tích chuyện Trưởng-lão Ất-tha-đạt)

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại thành Tỳ-da-ly, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Thi-sa.

 

Thuở ấy, khi nghe Đức Phật tuyên-bố, trong bốn tháng nữa, Ngài sẽ nhập Niết-Bàn, các vị tỳ-kheo chưa chứng-đắc đạo-quả rất lo-ngại. Họ chẳng biết phải làm gì, cả ngày chỉ quanh-quẩn bên cạnh Đức Phật. Trái lại, Trưởng-lão Thi-sa quyết-tâm chứng đắc quả-vị A-la-hán, ngay lúc Phật còn tại-thế, nên Trưởng-lão liền rút vào nơi rừng sâu, xa vắng bóng người, để hành Thiền. Các vị tỳ-kheo khác chẳng hiểu được ý-định của Trưởng-lão Thi-sa, cho rằng thái-độ của Trưởng-lão chẳng chút nào tỏ ra mến-tiếc Đức Phật cả, mới thưa trình cùng Đức Phật. Khi nghe Trưởng-lão Thi-sa trình-bày lý-do cố-gắng tu-tập để chứng quả A-la-hán trước ngày Đức Phật nhập Niết-bàn, Đức Phật bảo chư Tăng: "Nầy chư Tỳ-kheo, những ai kính-trọng và quí-mến Như-Lai, nên bắt chước mà làm theo như Thi-sa. Quí-vị đừng tưởng rằng đem hương hoa đến cho ta là tỏ lòng ngưỡng-mộ ta. Thực-hành đúng theo Chánh-pháp, đến nơi xa vắng nỗ lực Thiền-định theo lời dạy của ta, đó mới thật là biết cách trả ơn ta."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người nếm hương-vị đời ẩn-dật,

Hưởng an-lạc tịch-tĩnh Niết-bàn.

Nhiễm-ô và sợ-hãi đều thoát,

Vị pháp-hỷ, người ấy thấm-nhuần.

(Kệ số 205.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tỳ-da-ly: tên thành nầy, tiếng Pali là Vesàli.

 

- Nhập Niết-Bàn = theo nghĩa thông-thường, Nhập Niết-bàn là chết đi; nhưng theo nghĩa trong Phật-học, là lià bỏ thân-xác nầy, đi vào cõi tịch-diệt, vắng-lặng, tự-tại mãi trong cảnh an-lạc.

 

- Thi-sa: tên vị Trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Tissa.

 

- Còn tại-thế: Thế = thế-gian. Theo nghĩa thường là còn sống ở đời.

 

- Quả-vị A-la-hán: Quả-vị = kết-quả khi tu thành; A-la-hán (Arahant) = quả-vị cao nhứt trong hàng đệ-tử sống gần Phật, dứt hết phiền-não, chẳng bị tái-sanh trong vòng Luân-hồi, sống trong an-lạc.

 

- Như-Lai: Như = như thế; Lai = đến. Chữ Như-Lai, tiếng Pali là Tathàgatha, có nghĩa là bực đã đến đây như thế đó. Thường Đức Phật tự xưng là Như-Lai, trong khi các đệ-tử gọi Ngài là Thế-tôn.

 

- Ẩn-dật = sống nơi xa vắng, ít người biết đến mình.

 

-Tịch-tĩnh: Tịch = vắng; Tĩnh = yên-lặng. Tịch-tĩnh là vắng-lặng.

 

- Nhiễm-ô: Nhiễm = dính dơ, Ô = dơ-dáy, đen-đúa. Chữ Nhiễm-ô ở đây dùng theo nghĩa bóng, chỉ sự vướng-bận vào các phiền-não.

 

- Vị pháp-hỷ: Vị = mùi vị; Pháp = Chánh-pháp, pháp-tu; Hỷ = niềm vui. Vị pháp-hỷ là niềm vui khi hiểu-biết về Chánh-pháp, do Chánh-pháp đem lại cho người tu-tập.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại sự hiểu-lầm về thái-độ của Trưởng-lão Thi-sa: thấy Trưởng-lão rút vào nơi xa vắng, cho rằng thiếu sự thương-mến Đức Phật khi Ngài sắp nhập Niết-bàn. Nào ngờ, đó mới là thái-độ đáng khen, vì Trưởng-lão đang nỗ-lực theo lời Phật dạy, vào nơi xa-vắng để tu thiền hầu chứng-quả cho kịp trước ngày Phật nhập-diệt.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: muốn trả ơn cho Thầy, phải làm cho đúng, cho vẹn, lời Thầy đã dạy.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 205:

 

Bài Kệ đề-cao cuộc đời ẩn-dật của bực tu-sĩ thấm-nhuần pháp-vị. Thử phân-tách từng câu:

 

1) Người nếm hương-vị đời ẩn-dật: Hương-vị nầy là sự vắng-lặng, thuận-tiện cho việc sống với nội-tâm;

 

2) Hưởng an-lạc tịch-tĩnh Niết-bàn: sống hạnh-phước trong cảnh yên-tịnh của cõi Niết-bàn tại thế-gian.

 

3) Nhiễm-ô và sợ-hãi đều thoát: dứt hết phiền-não, lậu-hoặc

 

4) Vị pháp-hỷ, người ấy thấm-nhuần: tự nuôi sống bằng niềm vui trong Chánh-pháp. 

The Story of Thera Tissa

The Buddha uttered Verse (205) of this book at Vesali, with reference to Thera Tissa.

When the Buddha declared that in four months' time he would realize parinibbana, many puthujjana bhikkhus were apprehensive. They were at a loss and did not know what to do, and so they kept close to the Buddha. But Thera Tissa, having resolved that he would attain arahatship in the life-time of the Buddha did not go to him, but left for a secluded place to practise meditation. Other bhikkhus, not understanding his behaviour, took him to the Buddha and said, "Venerable Sir, this bhikkhu does not seem to cherish and honour you; he only keeps to himself instead of coming to your presence." Thera Tissa then explained to them that he was striving hard to attain arahatship before the Buddha realized parinibbana, and that was the only reason why he had not come to see the Buddha.

Having heard his explanation, the Buddha said to the bhikkhus,"Bhikkhus! Those who love and respect me should act like Tissa. You are not paying homage to me by just offering me flowers, perfumes and incense. You pay homage to me only by practising the Lokuttara Dhamma, i.e., Insight Meditation."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 205: Having had the taste of solitude and the taste of Perfect Peace of Nibbana, one who drinks in the joy of the essence of the Dhamma is free from fear and evil.


At the end of the discourse Thera Tissa attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 205
Tissatthera Vatthu

Pavivekarasam pitva
rasam upasamassa ca
niddaro hoti nippapo
dhammapitirasam pivam.

Verse 205: Having had the taste of solitude and the taste of Perfect Peace of Nibbana, one who drinks in the joy of the essence of the Dhamma is free from fear and evil.


dhp206_B
dhp207_B
dhp208_B
Verse-Kệ 206-208

(164).- Tích chuyện vua Trời Đế-Thích săn-sóc Phật - Kệ số 206, 207 và 208

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại làng Tre, gần thành Tỳ-da-ly, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Vua Trời Đế-Thích.

 

Vào khoảng mười tháng trước ngày nhập Niết-bàn, vào muà hè tại làng Tre, gần thành Tỳ-da-ly, Đức Phật mắc bịnh kiết. Khi hay tin, vua Trời Đế-Thích liền hiện đến bên cạnh Ngài để săn-sóc. Đức Phật bảo vua Trời chớ quá lo, vì xung quanh còn nhiều tỳ-kheo, nhưng vị vua Trời vẫn tiếp-tục hầu-hạ Đức Phật cho đến khi Ngài lành hẳn bịnh.

 

Bấy giờ, nhiều tỳ-kheo ngạc-nhiên thấy vị vua Trời theo hầu luôn bên cạnh Phật như thế. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, chẳng có chi đáng ngạc-nhiên cả. Vào kiếp trước, khi thấy mình có tướng suy-thoái sắp chết, vua Đế-Thích đến nghe Ta giảng Chánh-pháp và theo đó mà tu-tập, nên mới chứng được quả Tu-đà-huờn. Sau khi chết đi, được tái sanh lên Trời lần nữa, như hiện nay. Nầy chư tỳ-kheo, được gần bên bực Thánh là một nguồn an-lạc; sống bên người ngu là sự khổ-sở."

 

Rồi đó Đức Phật nói lên ba bài Kệ sau đây:

 

Lành thay, mừng gặp Thánh-nhơn!

Sống được bên Ngài là chơn hạnh-phước.

Người ngu, khỏi gặp, mừng thay!

Khỏi gần bên họ, lâu dài hưởng vui.

(Kệ số 206.)

 

Quả thật,

Cùng đi với người ngu,

Sầu như sống với kẻ thù.

Được theo bên người trí,

Vui như sống với họ-hàng.

(Kệ số 207.)

 

Do đó,

Với những người thông-suốt, trí-huệ,

Giới-hạnh trang nghiêm, biết tự-chế;

Với các bực Thánh-nhơn như thế,

Ta nên cùng kết-hợp tình-thân,

Như trăng chiếu theo đường sao sáng.

(Kệ số 208.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Vua Trời Đế-Thích: Vua cõi trời Đao-lợi (Pali: Tavatimsa), còn gọi là cõi Trời Tam-thập-tam thiên. Tên bằng tiếng Pali là Sakka.

 

- Làng Tre: tên làng nầy, tiếng Pali là Veluva.

 

- Thành Tỳ-da-ly: tên thành nầy, tiếng Pali là Vesàli; chính tại thành nầy, một trăm năm sau khi Phật mất, có cuộc kết-tập kinh-điển lần thứ hai.

 

- Tướng suy-thoái: các hình-tướng suy-yếu về thân-thể của bực Trời, khi gần hết phước sắp chết, như tóc rối, thân dơ, chảy mồ-hôi...

 

-Chơn hạnh-phước = hạnh-phước chơn-chánh, thật-sự sung-sướng

 

- Giới-hạnh trang-nghiêm: giũ đúng theo giới-luật.

 

- Tự-chế: tự giữ lấy kỷ-luật, đè-nén sự ham-muốn của mình

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại vua Trời Đế-Thích đến hầu-hạ săn-sóc Đức Phật, khi Ngài bị bịnh kiết ở làng Tre gần thành Tỳ-da-ly. Các tỳ-kheo tỏ vẻ ngạc-nhiên khi thấy Vua Trời Đế-Thích bên cạnh Phật. Đức Phật bảo, kiếp trước nhờ gặp Phật, nghe pháp tu-hành chứng quả mà vua Đế-Thích, khi hết phước lại được tái-sanh lên Trời.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là lời dạy của Đức Phật; nên thân-cận với bực Thánh, nên tránh xa chớ gần người ngu.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 206:

 

Bài Kệ số 206 cho rằng hạnh-phước to lớn là việc được gần bên bực Thánh và nguồn vui lâu dài là khỏi phải gặp người ngu.

 

(3) Ý-nghĩa bài Kệ số 207:

 

Bài Kệ số 207 so sánh: sống với nguuời ngu như sống khổ bên cạnh kẻ thù; còn sống bên người Trí như sống yên vui với bà-con.

 

(4) Ý-nghĩa bài Kệ số 208:

 

Bài Kệ số 208 khuyên ta nên tìm cách thân-cận với bực trí-giả, có giới-đức cao, biết tự-kềm-chế, để học-hỏi về đường tu. Biết làm được như thế, cũng như được ánh trăng sáng soi khắp nẻo đường. 

The Story of Sakka

While residing at the village of Veluva, the Buddha uttered Verses (206), (207) and (208) of this book, with reference to Sakka, king of the devas.

About ten months before the Buddha realized parinibbana, the Buddha was spending the vassa at Veluva village near Vesali. While he was staying there, he suffered from dysentery. When Sakka learned that the Buddha was ailing, he came to Veluva village so that he could personally nurse the Buddha during his sickness. The Buddha told him not to worry about his health as there were many bhikkhus near him; but Sakka did not listen to him and kept on nursing the Buddha until he recovered.

The bhikkhus were surprised and awe-struck to find Sakka himself attending on the Buddha. When the Buddha heard their remarks he said, "Bhikkhus! There is nothing surprising about Sakka's love and devotion to me. Once, when the former Sakka was growing old and was about to pass away, he came to see me. Then, I expounded the Dhamma to him. While listening to the Dhamma, he attained Sotapatti Fruition; then he passed away and was reborn as the present Sakka. All these happened to him simply because he listened to the Dhamma expounded by me. Indeed, bhikkhus, it is good to see the Noble Ones (ariyas); it is a pleasure to live with them; to live with fools is, indeed, painful."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 206: It is good to see the Noble Ones (ariyas); to live with them is always a pleasure; not seeing fools is also always a pleasure.

 

Verse 207: He who walks in the company of fools has to grieve for a long time. Association with fools is ever painful, as living with an enemy; association with the wise is a pleasure, as living with relatives.

 

Verse 208: Therefore one should follow a resolute, intelligent, learned, persevering and dutiful ariya; follow such a virtuous and wise man, as the moon follows the path of the stars.


Dhammapada Verses 206, 207 and 208
Sakka Vatthu

Sahu dassanamariyanam
sannivaso sada sukho
adassanena balanam
niccameva sukhi siya.

Balasangatacari hi
dighamaddhana socati
dukkho balehi samvaso
amitteneva sabbada
dhiro ca sukhasamvaso
natinam va samagamo.

Tasma hi
dhiranca pannanca bahussutanca
dhorayhasilam vatavantamariyam
tam tadisam sappurisam sumedham
bhajetha nakkhattapathamva candima.

Verse 206: It is good to see the Noble Ones (ariyas); to live with them is always a pleasure; not seeing fools is also always a pleasure.

Verse 207: He who walks in the company of fools has to grieve for a long time. Association with fools is ever painful, as living with an enemy; association with the wise is a pleasure, as living with relatives.

Verse 208: Therefore one should follow a resolute, intelligent, learned, persevering and dutiful ariya; follow such a virtuous and wise man, as the moon follows the path of the stars.

End of Chapter Fifteen: Happiness (Sukhavagga)


__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 178)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 243)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 211)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 269)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 499)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 887)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 909)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 710)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 496)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 564)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 611)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1467)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 842)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 637)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1675)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 1103)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4433)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8576)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1662)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 659898)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 518)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1438)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2285)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1088)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 1045)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 3131)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 198)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 568)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 680)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 3974)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 340)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 341)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,