Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 17, Phẩm Sân-hận - The Dhammapada, Chapter 17, Anger

15 Tháng Mười Hai 20187:53 SA(Xem: 399)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 17, Phẩm Sân-hận - The Dhammapada, Chapter 17, Anger

Chapter17-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 17, Phẩm Sân-hận
The Dhammapada, Chapter 17, Kodhavagga: Anger

(Kệ 221-234 - Verses 221-234)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp221_B
Verse-Kệ 221

(174).- Tích chuyện công-chúa Lỗ-hi-nhi - Kệ số 221

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Chùa Cây Sung, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến công-chúa Lỗ-hi-nhi, em của Trưởng-lão A-nâu-lâu-đà.

 

Thuở ấy, Trưởng-lão A-nâu-lâu-đà viếng thành Ca-tỳ-la-vệ. Trong thời-gian nầy, các thân-nhơn đều đến thăm-viếng Trưởng-lão, chỉ trừ người em ruột là công-chúa Lỗ-hi-nhi chẳng thấy đến. Trưởng-lão cho người đi mời. Công-chúa bấy giờ đang mắc bịnh cùi ( = hủi), lấy khăn quàng đầu, che các chỗ lở-lói, rồi mới đến chùa. Trưởng-lão liền hỏi công-chúa đã có làm được một việc thiện nào không? Công-chúa đáp, chưa. Trưởng-lão khuyên công-chúa nên đem các đồ nữ-trang và quần-áo đẹp của mình ra bán, lấy tiền xây cất một phòng ăn cho chư Tăng ở tu-viện. Công-chúa vâng lời làm theo lời dạy. Bấy giờ, Trưởng-lão lại khuyên công-chúa, mỗi ngày nên quét-tước chung quanh tu-viện, gánh nước đổ đầy lu trong chùa, trong khi phòng ăn được xây cất. Công-chúa đều tuân theo lời anh mình dạy.

 

Đến khi phòng ăn được xây cất xong và bàn-ghế được trang-hoàng đẹp-đẽ, Trưởng-lão thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến tu-viện để khánh-thành. Sau buổi ngọ-trai, Đức Phật cho mời vị thí-chủ đã dưng-cúng phòng ăn. Công chúa được gọi đến trình-diện cùng Đức Phật. Đức Phật ngỏ lời tán-thán công-đức cúng-dường của công-chúa, và hỏi công-chúa có biết vì sao nay bị bịnh cùi không? Công-chúa thưa, chẳng biết. Đức Phật mới kể lại tích xưa như sau:

 

Vào một thời xa xưa, có bà hoàng-hậu xứ Ba-la-nại, nhan-sắc đẹp-đẽ nhưng tánh-tình hay ghen-tuông. Nhà vua lại có một nàng cung-nữ trẻ đẹp muá hát thật khéo, được vua cưng-chiều lắm. Hoàng-hậu ganh-tị, lén cho người rắc thuốc ngứa vào chăn-chiếu của cô cung-nữ. Rồi trong khi nàng múa hát, các tỳ-nữ theo lịnh của Hoàng-hậu, thoa phấn ngứa vào mình người vũ-nữ, khiến cho quá ngứa ngáy, phải chạy lui về phòng, quấn mình trong chăn, lại càng thêm ngứa-ngáy. Vì tội-ác đó, hoàng-hậu nay lại tái-sanh làm công-chúa Lỗ-hi-nhi với căn bịnh gớm-ghiếc. Nghe Đức Phật kể xong, công-chúa tỏ lòng ăn-năn, hết sức hối-tiếc tội-lỗi đã qua.

 

Bấy giờ Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó công-chúa Lỗ-hi-nhi chứng được sơ-quả Tu-đà-huờn, và bịnh cùi cũng từ từ khỏi:

 

Phải dẹp bỏ sân-hận,

Phải lià xa ngã-mạn,

Kết-sử phải vượt qua hết.

Chẳng luyến-ái danh-sắc

Thoát khỏi mọi lậu-hoặc,

Phiền-não sẽ chừa người nầy ra.

(Kệ số 221.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Lỗ-hi-nhi: tên vị công-chúa nầy, tiếng Pali là Rohinì.

 

- Chùa Cây Sung: tên ngôi tu-viện nầy, tiếng Pali là Nigrodàràma. Chữ Nigrodà có nghĩa là cây Sung.

 

- A-nâu-lâu-đà: còn được gọi là A-na-luật, tiếng Pali Anuruddha

 

- Ca-tỳ-la-vệ: thủ-đô nước Xá-vệ, quê-hương của Đức Phật Thích-ca; tiếng Pali là Kapilavatthu.

 

- Khánh-thành: Khánh = mừng; Thành = xong; Lễ khánh-thành là lễ ăn mừng việc xây-cất đã xong.

 

- Ngọ-trai: Ngọ = 12 giờ trưa; Trai = bữa ăn chay. Sau bữa ngọ-trai, chẳng được ăn thêm nữa suốt ngày, theo giới-luật Nam-tông.

 

- Thí-chủ: Thí = bố-thí, ban cho; Chủ: người đứng làm chủ. Thí-chủ hay Thí-giả, là người cho (= bố-thí), còn người nhận gọi là Thọ-giả.

 

- Tán-thán: khen ngợi.

 

- Tái-sanh: sanh trở lại, sau khi đã chết.

 

- Sơ-quả: Sơ = ban sơ, đầu-tiên. Sơ-quả là quả-vị đầu-tiên, tức là quả-vị Tu-đà-huờn.

 

- Ngã-mạn: kiêu-căng, tự xem mình là hơn kẻ khác, khoe giỏi.

 

- Kết-sử: Kết = ràng-buộc; Sử = sai-khiến. Kết-sử là những tình-cảm, tư-tưởng có tánh-cách ràng-buộc, thúc-dục, sai-khiến ta phải làm theo đường quấy. Tiếng Pali là Sanyojana, dịch là thúc-thằng; thúc = ràng-buộc; thằng = sợi dây; thúc-thằng là sợi dây trói buộc, dùng theo nghĩa bóng.

 

Theo giáo-lý Bắc-tông, có tất cả 10 kết-sử, chia ra:

 

a) ngũ-độn-sử: (1) thân-kiến, chấp lấy thân nầy làm cái Ta; (2) nghi, chẳng tin ở Chánh-pháp; (3) giới-cấm-thủ, mê-tín tin vào các nghi-thức cúng-tế tà-đạo; (4) tham, (5) sân, giận-hờn.

 

b) ngũ lợi-sử: (6) sắc-ái-kết, tham-luyến cảnh Sắc-giới; (7) vô-sắc-ái, tham-luyến cảnh Vô-sắc-giới; (8) mạn, kiêu-căng; (9) trạo, giao-động, bối-rối; (10) vô-minh, sự si-mê.

 

Khó mà nhớ đủ mười món kết-sử, cần nhớ năm món chánh nầy, để dẹp bỏ, là: tham, sân, si, mạn và nghi. Dẹp xong năm độn-sử chứng được quả-vị A-na-hàm; dẹp cả mười, chứng quả A-la-hán.

 

- Danh-sắc: Danh = tên gọi; Sắc = vật-chất. Chữ Danh-sắc có nghĩa là thân và tâm; thân trỏ vào sắc; còn tâm trỏ vào danh.

 

- Lậu-hoặc; Lậu = rỉ chảy; Hoặc = điều sai lầm. Chữ lậu-hoặc trỏ vào các điều sai-lầm trong tình-cảm, tư-tưởng, chảy lộ ra, bộc-lộ ra, bằng các hành-động xấu-ác. Cùng nghĩa với chữ phiền-não.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc công-chúa Lỗ-hi-nhi bị bịnh cùi, bởi trong tiền-kiếp có tội-ác làm ngứa-ngáy một cung-nữ, vì bụng-dạ sân-hận thúc-đẩy. Nay nhờ biết dưng-cúng phòng ăn cho chư Tăng, và làm công-quả ở chùa, mà được Đức Phật chỉ rõ lỗi-lầm đã qua, và nhờ biết ăn-năn, mà từ-từ khỏi được bịnh.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 221:

 

Bài Kệ kể ra những việc phải làm để phiền-não chừa mình ra: dẹp bỏ sân-hận, xa-lià ngã-mạn, vượt qua các kết-sử, bỏ luyến-ái thân-tâm, thoát mọi lậu-hoặc. Đây là cả một chương-trình tu dài hạn cả một đời, hay cả nhiều đời: chứng-quả A-la-hán, bằng cách diệt-tiêu tất cả mọi phiền-não. Nên bắt đầu bằng cách dẹp ngay Sân-hận.

The Story of Princess Rohini (Rohinikkattiyakanna Vatthu)

While residing at the Nigrodharama monastery, the Buddha uttered Verse (221) of this book, with reference to Princess Rohini, sister of Thera Anuruddha.

On one occasion, Thera Anuruddha visited Kapilavatthu. While he was staying at the monastery there, all his relatives, with the exception of his sister Rohini, came to see him. On learning from them that Rohini did not come because she was suffering from leprosy, he sent for her. Covering her head in shame, Rohini came when she was sent for. Thera Anuruddha told her to do some meritorious deed and he suggested that she should sell some of her clothing and jewelry; and with the money raised, to build a refectory for the bhikkhu. Rohini agreed to do as she was told. Thera Anuruddha also asked his other relatives to help in the construction of the hall. Further, he told Rohini to sweep the floor and fill the water-pots every day even while the construction was still going on. She did as she was instructed and she began to get better.

When the hall was completed, the Buddha and his bhikkhus were invited for alms-food. After the meal, the Buddha asked for the donor of the building and alms-food, but Rohini was not there. So the Buddha sent for her and she came. The Buddha asked her whether she knew why she was inflicted with this dreaded disease and she answered that she did not know. So the Buddha told her that she had the dreadful disease because of an evil deed she bad done out of spite and anger, in one of her past existences. As explained by the Buddha, Rohini was, at one time, the chief queen of the king of Baranasi. It so happened that the king had a favourite dancer and the chief queen was very jealous of her. So the queen wanted to punish the dancer. Thus one day, she had her attendants put some itching powder made from cow-hage pods in the dancer's bed, her blankets, etc. Next, they called the dancer, and as though in jest, they threw some itching powder on her. The girl itched all over and was in great pain and discomfort. Thus itching unbearably, she ran to her room and her bed, which made her suffer even more.

As a result of that evil deed Rohini had become a leper in this existence. The Buddha then exhorted the congregation not to act foolishly in anger and not to bear any ill will towards others.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 221: Give up anger, abandon conceit, overcome all fetters. Ills of life (dukkha) do not befall one who does not cling to mind and body and is free from moral defilements.


At the end of the discourse, many in the congregation attained Sotapatti Fruition. Princess Rohini also attained Sotapatti Fruition, and at the same time her skin disease disappeared, and her complexion became fair, smooth and very attractive.

Dhammapada Verse 221
Rohinikkattiyakanna Vatthu

Kodham jahe vippajaheyya manam
samyojanam
sabbamatikkameyya
tam namarupasmimasajjanamam
akincanam
nanupatanti dukkha.

Verse 221: Give up anger, abandon conceit, overcome all fetters. Ills of life (dukkha) do not befall one who does not cling to mind and body and is free from moral defilements.


1. samyojanam: a fetter. There are ten fetters of human passion which bind man to the round of rebirths; these are cast off at different stages of Magga Insight.

2. akincanam: free from kincana: the three kincana are passion, ill will and ignorance.


dhp222_B
Verse-Kệ 222

(175).- Tích chuyện vị Thọ-thần - Kệ số 222

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tháp Ất-gia-la, gần thành A-la-vi, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến một vị thọ-thần, sống dựa vào cây cổ-thụ trong rừng.

 

Thuở ấy, có một vị tỳ-kheo muốn cất cho mình một cái am để tiện tu-tập. Vị ấy vào rừng, đốn một cây cổ-thọ, bên trên có gia-đình một vị thần-linh đang trú-ngụ. Vị thọ-thần bước ra năn-nỉ, xin đừng đốn cây, làm mất nơi nương-tựa cho gia-đình mình. Vị tỳ-kheo chẳng nghe theo, cầm cưa, cưa một nhánh lớn. Vị thọ-thần liền nghĩ, có lẽ để đứa con nhỏ trên nhánh cây, vị tỳ-kheo sợ nó té xuống mà ngưng đốn chăng. Chẳng ngờ lưỡi cưa đi quá nhanh, khiến đứa bé té gãy tay. Vị thọ-thần liền nổi giận, muốn giết chết vị tỳ-kheo. Vừa đưa tay lên định đấm vào vị tỳ-kheo, thì vị thọ-thần liền nghĩ lại: "Nếu ta giết chết một người đang tuân theo giới-luật, thì ta phải chịu quả-báo, sa vào địa-ngục. Các thọ-thần khác trong rừng, rồi cũng bắt chước theo lỗi của ta, và sẽ có nhiều vị tỳ-kheo khác bị hại sau nầy. Nhưng, tỳ-kheo tu-tập, tất có thầy dạy, chi bằng ta đến thưa cùng Đức Phật, xem Ngài phân-xử ra sao." Nghĩ xong, vị thọ-thần bồng con đến nơi Đức Phật đang ngụ và thuật lại cớ-sự. Đức Phật bảo: "Nầy nữ-thọ-thần, bà rất đáng khen, biết tự kềm-chế cơn giận. Nay bà cứ dọn về ở trong vườn, gần nơi hương-phòng của ta, chẳng ai đến khuấy rối nữa." Và ngay hôm đó, Đức Phật ra giáo-chỉ, cấm tất cả tỳ-kheo đốn cây.

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chận cơn giận-dữ nổi lên,

Như xe ngon trớn, thắng liền ngừng ngay.

Đấy là người đánh xe tài,

Các người khác chỉ là nài cầm cương.

(Kệ số 222.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Thọ-thần: Thọ = cây cổ-thọ, cây to sống lâu năm; Thần = thần-linh. Thọ-thần là thần-linh sống trên cây-cối; tiếng Pali: rukkha devatà

 

- Tháp Ất-gia-la, thành A-la-vi: tên các địa-danh nầy, tiếng Pali là tháp Aggàlava và thành Àlavi.

 

- Am = một căn nhà nhỏ, sơ-sài, dùng làm nơi trú-ngụ cho người ẩn-tu. Còn gọi là cốc, hay thất, hoặc tịnh-xá.

 

- Giới-luật: các điều răn-cấm trong đạo Phật mà vị tỳ-kheo phải tuân theo. Giữ đúng giới-luật là người có giới-đức thanh-tịnh.

 

- Quả-báo: kết-quả của việc ác sẽ xảy ra sau nầy cho kẻ làm ác.

 

- Điạ-ngục: Điạ = đất; Ngục = nhà giam tù. Theo thuyết Luân-hồi, kẻ làm ác, khi chết đi, phải sa vào nơi u-tối, chịu hình-phạt nặng-nề để đền lại tội-ác đã gây lúc còn sống.

 

- Kềm-chế: giữ-gìn chẳng cho xảy ra; thí-dụ muốn ăn đồ ngọt, nghĩ rằng chất ngọt dễ hư răng, ngưng lại chẳng ăn, đó là kềm-chế.

 

- Hương-phòng: căn phòng có hương thơm, dành riêng cho Đức Phật; tiếng Pali là gandhakuti.

 

- Giáo-chỉ: Giáo =tôn-giáo; Chỉ = điều lịnh cấm-đoán. Giáo-chỉ là lịnh của Tăng-đoàn đưa ra, buộc mọi tỳ-kheo phải tuân theo.

 

- Thắng = cái thắng, bộ-phận làm ngừng xe đang chạy.

 

- Nài = người giữ ngựa, chỉ cầm cương, nhưng chẳng biết cách điều-khiển và làm chủ được con ngựa.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại một vị thọ-thần bị xâm-phạm nơi cư-trú, con bị gãy tay, nổi giận muốn giết người, nhưng kịp nghĩ lại, chận được niềm sân-hận. Đức Phật khen-ngợi sự biết kềm-chế sân-hận nầy.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: đề-cao sự tự-kềm-chế để chống lại sự giận-dữ. Biết tự-kềm-chế là tự-thắng được mình, còn vẻ-vang hơn là thắng kẻ khác.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 222:

 

Bài Kệ ví sự tự-kềm-chế trước cơn giận-dữ, như người đánh xe có tài: thắng được xe đang ngon trớn; khác với người thường hay để cho cơn giận lôi-kéo mình vào đường tội-lỗi, ví như tên nài chỉ biết cầm cương ngựa mà chẳng điều-khiển nổi con ngựa.

 

Học thuộc bài Kệ, để khi cần, biết tự mình... vuốt giận lấy mình.

The Story of a Bhikkhu

While residing at the Aggalava stupa in the city of Alavi, the Buddha uttered Verse (222) of this book, with reference to a bhikkhu.

Once, a bhikkhu from Alavi wanted to build a monastery for himself and so he began to cut down a tree. The deva dwelling in that tree (rukkha devata) tried to stop him, saying that she and her infant son had nowhere to go. Failing to stop the bhikkhu she put her son on a branch, hoping that it would stop him from felling the tree. By then, the bhikkhu was already swinging his axe and he could not stop it in time and unintentionally cut off an arm of the child. Seeing her child being harmed in this way, the mother flew in a rage and was about to kill the bhikkhu. As she raised her hands to strike the bhikkhu, she suddenly checked herself and thought, "If I were to kill a bhikkhu, I would be killing one who observes the moral precepts (sila); in that case, I would surely suffer in niraya. Other guardian devas of the trees would be following my example and other bhikkhus would also be killed. But this bhikkhu has a master; I must go and see his master." So she went weeping to the Buddha and related all that had happened.

To her the Buddha said, "O rukkha devata! You have done well to control yourself."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 222: He who restrains his rising anger as a skilful charioteer checks a speeding chariot, — him I call a true charioteer; other charioteers only hold the reins.


At the end of the discourse the deva attained Sotapatti Fruition, and for her dwelling place she was offered a tree near the Perfumed Chamber of the Buddha. After this incident, the Buddha forbade bhikkhus to cut vegetation, such as grass, plants, shrubs and trees.

Dhammapada Verse 222
Annatarabhikkhu Vatthu

Yo ve uppatitam kodham
ratham bhantamva varaye
tamaham sarathim brumi
rasmiggaho itaro jano.

Verse 222: He who restrains his rising anger as a skilful charioteer checks a speeding chariot, — him I call a true charioteer; other charioteers only hold the reins.


dhp223_B
Verse-Kệ 223

(176).- Tích chuyện cô tín-nữ Úc-ta-ra - Kệ số 223

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một cô tín-nữ tên là Úc-ta-ra.

 

Thuở ấy, có một người tín-nữ tên là Úc-ta-ra, con gái của gia-chủ Phú-na. Một hôm, gia-đình ông Phú-na dưng-cúng thực-phẩm cho Tôn-giả Xá-lợi-phất, sau khi Tôn-giả vừa xuất cơn diệt-tận-định; nhờ công-đức cúng-dường to-lớn nầy mà gia-đình ông Phú-na trở nên giàu-có. Trong khi cày ruộng, ông Phú-na bắt gặp được một khối vàng lớn, và sau đó, được Đức Vua phong chức Trưởng Ty Ngân-khố của hoàng-gia. Cô Úc-ta-ra về sau được gả chồng về một gia-đình ngoại-đạo, rất giàu-có trong vùng.

 

Từ khi về nhà chồng, cô Úc thường than-thở: "Tại sao cha ta lại gả ta về một nơi như tù-ngục thế nầy, cả tháng chẳng được trông thấy một vị tỳ-kheo đi khất-thực, cả năm chẳng được cúng-dường Đức Phật và Tăng-đoàn." Lời than-thở của cô Úc được cha cô nghe đến, mới gởi tới cho một số tiền to là mười lăm ngàn tiền vàng. Cô Úc liền thưa cùng chồng, muốn đem tiền ra thuê một người dâm-nữ, thay-thế cô trong mười lăm ngày để phụng-sự cho chồng. Còn cô, cô xin được phép tổ-chức lễ trai-tăng dâng-cúng thực-phẩm lên Tăng-đoàn trong thời-gian đó. Người chồng ưng-thuận và một cô dâm-nữ, tên là Sĩ-mã, nhan-sắc đẹp-đẽ được chọn về nhà thay-thế cho cô Úc.

 

Sáng sớm hôm ấy, cô Úc đang bận rộn nấu-nướng thực-phẩm trong nhà bếp, chồng cô đứng nhìn qua cửa sổ, miệng mỉm cười, nói lẩm-bẩm: "Sao mà nó ngu-dại đến thế! Chẳng biết ta đang hưởng thú-vui cùng người đẹp, mà cả buổi lại đi lo nấu-nướng cực nhọc thế kia!"Cô dâm-nữ Sĩ-mã nghe thấy thế, tỏ lòng ghen-tức với người vợ chánh-thức là cô Úc, quên mất phận mình là người vợ hờ trong nhà. Cô ta bỗng nổi lên ý-định xấu-ác, muốn đem cả cái chảo bơ chiên nóng đổ lên đầu cô Úc cho bỏ ghét. Trong khi đó, lòng cô Úc lại rất nhẹ-nhàng, thanh-thản, nghĩ rằng, nhờ có Sĩ-mã mà mình mới được tự-do, có đủ thời-giờ chuẩn-bị lễ cúng-dường, và sẽ được nghe giảng Chánh-pháp nhiệm-mầu của Đức Phật. Bỗng đùng một cái, cô Sĩ-mã bước đến gần cô Úc, trút cả chảo bơ chiên nóng lên đầu cô Úc. Trong cơn bàng-hoàng, cô Úc nghĩ: ‘Nếu ta có ý oán-hờn Sĩ-mã, thì cho chảo bơ nầy làm phỏng hết đầu ta; nếu lòng ta chẳng có ý-định thù-oán Sĩ-mã, xin nguyện cho chảo bơ chẳng hại chi đến ta cả." Lạ thay, bơ vừa chảy đến tóc, liền nguội lại và cô Úc chẳng bị phỏng. Đầy-tớ xúm lại, chực đánh cô Sĩ-mã, thì cô Úc liền can, nói nhờ có cô Sĩ-mã mà mình mới được tự-do chuẩn-bị lễ trai-tăng. Cô Sĩ-mã, lòng đầy hối-hận, qùi xuống xin cô Úc tha tội cho. Cô Úc nói: "Hãy đợi Đức Từ-phụ đến đây, ta trình cớ-sự, mới biết phải tha-tội hay không." Cả nhà đều tưởng cô Úc sẽ mời ông Phú-na là cha ruột của cô đến để thưa hỏi, nhưng cô Úc lại bảo tiếp: "Ta nói Đức Từ-phụ, chẳng phải là cha ruột của ta là người đã đưa ta vào vòng sanh-tử của Luân-hồi nầy, mà chính là Đức Phật, vị Từ-phụ, người cha tinh-thần, đã chỉ cho ta biết con đường lành thoát khổ khỏi cõi Ta-bà nầy."

 

Đến trưa, khi Đức Phật và chúng tăng đến nhà thọ-thực xong, sau khi nghe người nhà thuật lại việc xảy ra buổi sáng, Đức Phật liền hỏi: "Nầy tín nữ Úc-ta-ra, khi bị cô Sĩ-mã đổ bơ nóng lên trên đầu, trong lòng tín-nữ đã nghĩ như thế nào?" Cô Úc thưa: "Bạch Thế-tôn, con lúc đó nghĩ rằng, nhờ có chị Sĩ-mã thay-thế cho con phục-vụ chồng con, mà con có được tự-do chuẩn-bị thực-phẩm cúng dường Tăng-đoàn, đó là một ơn lớn đối vớí con, nên lòng con chẳng hề oán-giận chị Sĩ-mã chút nào cả, trái lại tâm con lúc nào cũng rải lòng Từ đến chị Sĩ-mã." Đức Phật khen ngợi: "Lành thay! Lành thay! Tín-nữ Úc-ta-ra, với tấm lòng bao-dung, cô đã chinh-phục được người vì ganh-ghét đã làm hại cô; với tấm lòng vô-não-hại, cô đã chinh-phục được kẻ vì sân-hận đã hành-hung mình; với tấm lòng khoan-hậu, cô sẽ chinh-phục được những kẻ bủn-xỉn; với tấm lòng tôn-trọng Sự-Thật, cô sẽ chinh-phục được những kẻ nói dối."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Vô-sân chế-phục giận-hờn,

Điều thiện phải thắng, phải hơn điều tà.

Trị xan-tham, chính là bố-thí,

Chống hư-ngụy, Chơn-lý đề-cao.

(Kệ số 223.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

-Tín-nữ: Tín = tin-tưởng; Nữ = phụ-nữ, đàn-bà.Tín-nữ là người phụ-nữ có lòng tin-tưởng nơi Phật, Pháp và Tăng.Phái nam gọi thiện-nam.

 

- Úc-ra-ra, Phú-na, Sĩ-mã: tên các người nầy tiếng Pali là Uttara, Punna, Sirimà.

 

-Trúc-lâm, Vương-xá: tên tịnh-xá và thành nầy, tiếng Pali là vườn Veluvana, thành Rajàgaha. Vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) xây cất tịnh-xá Trúc-lâm, trong vườn Trúc, dưng-cúng Đức Phật và Tăng-đoàn.

 

- Diệt-tận-định: Diệt = trừ dứt; Tận = hết cả; Định = tâm-trạng người tu Thiền đã lắng-đọng, an-ổn. Diệt-tận-định là tình-trạng tâm vắng-lặng, dứt được mọi cảm-giác và tri-giác, trong cơn đại-định, vượt qua khỏi cảnh-giới đệ-tứ-thiền.Tiếng Pali là Nirodha Samàpatti.

 

- Tôn-giả Xá-lợi-phất: tên vị đại-đệ-tử của Phật Thích-ca, tiếng Pali là Sariputta; người nổi tiếng là thông-minh vào bực nhứt.

 

- Ngoại-đạo = Ngoại = ở ngoài; Đạo: ở đây chỉ về đạo Phật. Ngoại-đạo là những giáo-phái tu-hành chẳng theo đạoPhật. Có tất cả sáu phái vào thời Đức Phật, gọi là lục-sư ngoại-đạo.

 

- Trưởng Ty Ngân-khố của hoàng-gia: Ngân-khố của hoàng-gia là kho bạc của Nhà Vua.Trưởng-ty Ngân-khố là vị giữ chức chủ kho bạc.

 

- Dâm-nữ = người đàn-bà bán sắc-đẹp để mua vui cho đàn-ông.

 

- Phụng-sự, phục-vụ = theo hầu-hạ, giúp-đỡ.

 

- Vợ hờ: người tạm-thời làm vợ, chẳng phải là vợ chánh-thức.

 

- Phỏng = da phồng, sưng lên; tiếng miền Bắc là bỏng.

 

- Bàng-hoàng = còn đang phân-vân, lo-ngại, chưa tỉnh-táo.

 

- Trai-tăng: Trai = bữa ăn chay; Tăng = tu-sĩ Phật-giáo. Lễ Trai-tăng là lễ dưng-cúng thực-phẩm lên cho các vị tỳ-kheo.

 

- Từ-phụ: Từ = từ-bi, hiền-lành, đem lòng thương muốn cứu-khổ cho kẻ khác; Phụ = cha. Đấng Từ-phụ tức là Cha lành, chỉ Đức Phật.

 

- Vòng sanh-tử của Luân-hồi: theo thuyết Luân-hồi, chúng-sanh chết đi, tùy theo nghiệp lành hay dữ mà tái-sanh lại ở cõi đời nầy.

 

- Cõi Ta-bà: cõi chúng ta đang sanh-sống đây. Đây là cõi Nhẫn-độ (Phạn = Saha) chúng-sanh phải kham-chịu sướng ít mà khổ nhiều.

 

- Thọ-thực:Thọ = nhận; Thực = ăn. Tiếng nhà chùa, có nghĩa là ăn.

 

- Rải lòng Từ = trong tâm nghĩ điều lành hướng về người kia.

 

- Bao-dung: Bao = che-chở; dung = dung-thứ, tha cho. Lòng Bao-dung là lòng nhơn-từ, hay tha thứ cho kẻ khác.

 

- Chinh-phục: Chinh = đánh lấy; Phục = hàng-phục, bắt phải theo lịnh mình. Chinh-phục được ai là khiến kẻ ấy phục và nghe theo mình. Cùng nghĩa với chữ Chế-phục.

 

- Vô-não-hại: Vô = chẳng; Não = phiền-não; Hại = hiếp-đáp. Lòng vô-não-hại là lòng từ-bi, chẳng hề làm hại ai, chẳng gây phiền-não cho ai. Tiếng Pali là ahimsa.

 

- Hành-hung: Hành = làm; Hung = hung-dữ, ác. Hành-hung ai là làm cho kẻ ấy phải chịu đau-đớn, khổ-sở.

 

- Khoan-hậu: Khoan = rộng-rãi, Hậu = dày, nhiều. Lòng khoan-hậu là lòng rộng-rãi, hay hiến-tặng nhiều cho kẻ khác.

 

- Xan-tham, Bủn-xỉn = Xan = bỏn-sẻn, rít-róng, quá hà-tiện. Tánh-tình xan-tham, bủn-xỉn chỉ biết ham cho mình có thật nhiều và chẳng hề chịu bố-thí chút gì cho ai cả.

 

- Vô-sân: Vô = chẳng;Sân = giận. Lòng vô-sân trái với sự giận-hờn.

 

- Hư-nguỵ: Hư = hư-dối, chẳng thiệt; Ngụy = giả-dối, chẳng đúng với Sự-thật. Hư-ngụy là giả-dối, giả-tạo, bầy đặt láo.

 

- Chơn-lý = Sự-Thật.

 

- Đề-cao: được nêu cao lên để mọi người bắt chước theo.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện tuy dài, có thể tóm gọn lại như sau: Cô Úc-ta-ra, mặc dầu bị đổ bơ nóng lên đầu, vẫn chẳng giận người làm quấy, mà còn rải lòng Từ-bi đến cho người đó. Đức Phật khen-ngợi thái-độ đáng quí đó và dạy ta những đức-tánh: vô-sân để kềm-chế sự giận-dữ; vô-não-hại để chinh-phục kẻ hành-hung; khoan-hậu để diệt bụng rít-róng; biết trọng Sự-thât để khuất-phục người nói dối.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 223:

 

Bài Kệ nầy khó nhớ vì có nhiều danh-từ chuyên-môn; xin chịu khó xem lại phần Tìm hiểu. Các đức-tánh kể trong bài Kệ giúp ta thắng được chính ta: thắng tánh hay giận của mình, thắng lòng bỏn-xẻn chẳng chịu bố-thí, thắng được sự hay binh-vực mình để nói sai Sự-thật. Tự thắng mình là chiến-thắng vẻ-vang nhứt, như Phật đã dạy.

The Story of Uttara the Lay-Disciple

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (223) of this book, with reference to Uttara, a female lay-disciple.

Uttara was the daughter of a farm labourer named Punna and his wife. Punna worked for a rich man named Sumana, in Rajagaha. One day, Punna and his wife offered alms-food to Thera Sariputta soon after his arising from sustained deep mental absorption (nirodha samapatti), and as a result of that good deed they suddenly became very rich. Punna came upon gold in the field he was ploughing, and the king officially declared him a royal banker. On one occasion, the family of Punna offered alms-food to the Buddha and the bhikkhus for seven days. and on the seventh day, after hearing the Buddha's discourse, all the three members of the family attained Sotapatti Fruition.

Later, Uttara the daughter of Punna married the son of the rich man Sumana. That family being non-Buddhist, Uttara did not feel happy in her husband's home. So, she told her father, "My father, why have you put me in this cage? Here, I do not see any bhikkhu and I have no chance to offer anything to any bhikkhu." Her father felt sorry for her and sent her fifteen thousand in cash. With this money, after getting permission from her husband, Uttara engaged a courtesan to look to the needs of her husband. So it was arranged that Sirima, a well-known and very beautiful courtesan, was to take her place as a wife for fifteen days.

During that time, Uttara offered alms-food to the Buddha and the bhikkhus. On the fifteenth day, as she was busy preparing food in the kitchen, her husband saw her from the bedroom window and smiled, and then muttered to himself, "How foolish she is! She does not know how to enjoy herself. She is tiring herself out with this alms-giving ceremony!" Sirima saw him smile, and forgetting that she was only a paid substitute wife felt very jealous of Uttara. Being unable to control herself, Sirima went into the kitchen and got a ladleful of boiling butter with the intention of pouring it over the head of Uttara. Uttara saw her coming, but she bore no ill will towards Sirima. She reflected that because Sirima had stood in for her, she had been able to listen to the dhamma, make offerings of alms-food for fifteen days, and perform other acts of charity. Thus she was quite thankful to Sirima. Suddenly, she realized that Sirima had come very close to her and was going to pour boiling-hot butter over her; so she made this asseveration: "If I bear any ill will towards Sirima may this boiling-hot butter burn me; if I have no ill will towards her may it not burn me."

As Uttara had no ill will towards Sirima, the boiling butter poured over her head by Sirima was just like cold water. Then Sirima thought the butter must have gone cold; and as she went for another ladleful of boiling butter, the attendants of Uttara fell upon her and beat her hard. Uttara stopped her attendants and instructed them to rub Sirima with medicinal ointment.

Then, Sirima remembered her true position and she regretted that she had done wrong to Uttara and asked Uttara to forgive her. To her Uttara replied, "I have my father; I shall ask him whether I should accept your apology." Sirima then said that she would readily go and apologize to the rich man, the father of Uttara. Uttara then explained to Sirima, "Sirima,. when I said 'My father', I did not mean my real father, who had brought me into this round of rebirths. I was referring to my father, the Buddha, who had helped me break the chain of rebirths, who had taught me the Dhamma, the Noble Truths." Sirima then expressed her wish to see the Buddha. So it was arranged that Sirima should offer alms-food to the Buddha and the bhikkhus on the following day at the house of Uttara.

After the meal, the Buddha was told everything that had happened between Sirima and Uttara. Sirima then owned up that she had done wrong to Uttara and entreated the Buddha that she should be forgiven, for otherwise Uttara would not forgive her. The Buddha then asked Uttara how she felt in her mind when Sirima poured boiling butter on her head, and Uttara answered, "Venerable Sir, because I owed so much to Sirima I had resolved not to lose my temper, not to bear any ill will towards her. I sent forth my love towards her". The Buddha then said, "Well done, well done, Uttara! By not bearing any ill will you have been able to conquer one who has done you wrong through hate. By not abusing, you should conquer one who abuses you; by being generous you should conquer one who is stingy; by speaking the truth you should conquer one who tells lies."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 223: Conquer the angry one by not getting angry (i.e., by loving-kindness); conquer the wicked by goodness; conquer the stingy by generosity, and the liar by speaking the truth.


At the end of the discourse Sirima and five hundred ladies attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 223
Uttara Upasika Vatthu

Akkodhena jine kodham
asadhum sadhuna jine
jine kadariyam danena
saccena' likavidinam.

Verse 223: Conquer the angry one by not getting angry (i.e., by loving-kindness); conquer the wicked by goodness; conquer the stingy by generosity, and the liar by speaking the truth.


dhp224_B
Verse-Kệ 224

(177).- Tích chuyện Tôn-giả Mục-kiền-liên hỏi Phật - Kệ số 224

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến các câu hỏi của Tôn-giả Đại Mục-kiền-liên.

 

Thuở ấy, Tôn-giả Đại Mục-kiền-liên, một hôm dùng thần-thông lên viếng trên cõi Trời. Tôn-giả thấy các thiên-nam, thiên-nữ đang vui sống thảnh-thơi trong các lầu-đài nguy-nga tráng-lệ. Tôn-giả mới hỏi các vị ấy: "Do đâu mà được sanh lên cõi Trời?" Một vị đáp: "Chẳng phải tôi đã bố-thí thật nhiều của-cải, hay chăm nghe Chánh-pháp mới được sanh lên cõi Trời. Tôi chỉ biết luôn luôn nói đúng theo Sự-thật, có làm sao thì tôi nói làm vậy, thôi." Môt vị thiên-nữ lại đáp: "Trong đời trước, tôi làm nô-lệ cho một ông chủ rất khó tánh; bị rầy, bị đánh, tôi chẳng hề giận hay oán chủ chút nào, nhờ đó mà được sanh lên đây." Một vị thiên-nam khác lại nói: "Còn tôi, tôi nhớ chỉ có mấy lần tặng cho kẻ khác một khúc mía, một trái cam, hay một bó rau; nhờ phước đó mà tôi được làm thiên-nam sống ở cõi trời nầy."

 

Khi trở về dương-thế, Tôn-giả đến bạch Phật: "Bạch Thế-tôn, có phải chăng chỉ cần biết giữ lời nói đúng Sự-Thật, chỉ cần biết kềm-chế mình chẳng giận-hờn, chỉ cần hiến-tặng những vật nhỏ-mọn như khúc mía, bó rau, mà tất cả đều được sanh lên cõi Trời chăng?" Đức Phật đáp: ‘Nầy Mục-kiền-liên, sao ông còn lại hỏi; bộ ông chẳng chính mắt thấy, chính tai nghe các thiên-nam, thiên-nữ đã nói với ông những gì trước đó hay sao? Ông chớ có nghi-ngờ, một công-đức dù nhỏ bé, được làm với tấm lòng thành, cũng đưa ta tái-sanh lên cõi Trời, hưởng phước dài lâu."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Nói lên lời chánh-chơn,

Chẳng nổi cơn giận-hờn,

Ít, cũng cho, khi được hỏi:

Đấy là ba đường lên tới cõi Trời.

(Kệ số 224.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tôn-giả Đại Mục-kiền-liên: Tôn = đáng kính; Giả = người. Đại Mục-kiền-liên = tên của tôn-giả tiếng Pali là Mahà Moggallàna. Tôn-giả là vị đại-đệ-tử của Phật Thích-ca, giỏi nhứt về thần-thông.

 

- Thần-thông: các khả-năng đặc-biệt nhờ nơi định-lực cao, như bay trên không, đi trên mặt nước, v.v.

 

- Thiên-nam, Thiên-nữ: Thiên = trời; các chúng-sanh ở cõi Trời.

 

- Nô-lệ = đầy-tớ ở suốt đời với chủ, chẳng có tự-do cá-nhơn.

 

- Dương-thế: tức là cõi trần, nơi ta đang sống đây.

 

- Bạch = thưa hỏi với bực trưởng-thượng.

 

- Tái-sanh: Tái = một lần nữa; Tái-sanh là được sanh lại lần nữa.

 

- Công-đức: việc thiện tạo nên phước về sau.

 

- Chánh-chơn: chơn-chánh, đứng-đắn, đúng với Sự-Thật.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc Tôn-giả Mục-kiền-liên lên thăm-viếng cõi Trời, và nghe các thiên-nam, thiên-nữ cho biết do đâu mà được sanh lên trên đó: biết nói đúng theo Sự-thật, chẳng giận-hờn, tặng cho kẻ khác vài vật nhỏ mọn như khúc mía, bó rau, v.v. Đức Phật xác nhận, đường lên cõi Trời chỉ cần làm một công-đức nhỏ với tấm lòng thành mà thôi.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 224:

 

Bài Kệ vạch rõ con đường lên cõi Trời: (1) nói lời chơn-chánh; (2) chẳng nổi giận; (3) dầu có ít, nhưng được ai hỏi xin, cũng đem cho. Nếu biết làm đúng, với tấm lòng thành, Đức Phật nói sẽ được tái-sanh lên cõi Trời hưởng phước dài lâu.

 

Theo trong Kinh Thập Thiện Nghiệp-đạo, người nào giữ đúng mười điều lành nầy, sẽ sanh lên cõi Trời: (1) về thân, có ba việc là chẳng sát-sanh, chẳng trộm-cắp, chẳng tà-dâm; (2) về miệng, có bốn việc là chẳng nói dối, chẳng nói đâm-thọc, chẳng nói lời thô-ác, chẳng lời vô-nghĩa ( = ngồi lê đôi mách), (3) về ý, có ba việc, chẳng tham, chẳng sân (giận), chẳng có tà-kiến (ý-kiến sai-lầm).

The Story of the Question Raised by Thera Maha Moggallana

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (224) of this book, with reference to the question raised by Thera Maha Moggallana.

Once, Thera Maha Moggallana visited the deva world and found many devas living in luxurious mansions. He asked them for what good deed they were reborn in the deva world and they gave him different answers. One of them was reborn in the deva world not because he gave away much wealth in charity or because he had listened to the dhamma, but just because he always spoke the truth. The second one was a female deva who was reborn in the deva world because she did not get angry with her master and had no ill will towards him even though he often beat her and abused her. For keeping her temper and abandoning hatred she was reborn in the deva world. Then, there were others who were reborn in the deva world because they had offered little things like a stick of sugar cane, a fruit, or some vegetables to a bhikkhu or to someone else.

On his return from the deva world, Thera Maha Moggallana asked the Buddha whether it was possible to gain such great benefits by just speaking the truth, or by restraining one's actions, or by giving small amounts of such trifling things like fruits and vegetables. To him the Buddha answered, "My son, why do you ask? Have you not seen for yourself and heard what the devas said? You should not have any doubt. Little deeds of merit surely lead one to the world of the devas."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 224: One should speak the truth, one should not yield to anger, one should give when asked even if it is only a little. By means of these three, one may go to the world of the devas.

Dhammapada Verse 224
Mahamoggallanapanha Vatthu

Saccam bhane na kujjheyya
dajja appampi yacito
etehi tihi thanehi
gacche devana santike.

Verse 224: One should speak the truth, one should not yield to anger, one should give when asked even if it is only a little. By means of these three, one may go to the world of the devas.


dhp225_B
Verse-Kệ 225

(178).- Tích chuyện một người Bà-la-môn tự-nhận là cha Đức Phật - Kệ số 225

 

Vào một thời kia, Đức Phật trú tại rừng An-già, gần thành Sa-kê, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một người Bà-la-môn tự nhận mình là cha của Đức Phật.

 

Một hôm, Đức Phật và chư tỳ-kheo đi vào thành Sa-kê để khất-thực. Dọc đường, Ngài gặp một người Bà-la-môn già-cả đến gần và nói: "A! nầy con, sao lâu quá chẳng thấy con về nhà. Con hãy theo cha về, kẻo mẹ con trông con lắm đó." Rồi người ấy liền thỉnh Đức Phật và chư Tăng về nhà dưng-cúng thực-phẩm. Khi Đức Phật và các tỳ-kheo bước vào phòng khách, bà Bà-la-môn đã ân-cần nói: "Đã hèn lâu, con mới về nhà. Nào sắp nhỏ đâu, hãy mau ra chào đón người anh-cả của các con đây!"

 

Kể từ hôm đó, vợ chồng người Bà-la-môn già đó tiếp-tục hàng ngày cúng-dường Đức Phật và chư Tăng. Họ được nghe Đức Phật giảng-dạy Chánh-pháp, và chẳng bao lâu cả hai vợ chồng đều chứng-đắc được quả vị A-na-hàm. Đức Phật và chúng Tăng mới lưu lại rừng An-già trong ba tháng, nhờ đó, vợ chồng người Bà-la-môn chứng được quả-vị A-la-hán, rồi nhập Niết-bàn.

 

Chư Tăng rất ngạc-nhiên thấy tại sao vị Bà-la-môn và vợ lại tự nhận họ là cha mẹ của Đức Phật, và nay họ được tái-sanh về cõi nào. Đức Phật bảo: "Trong tiền-kiếp, cách đây một ngàn năm trăm đời, ông bà ấy đã có thời làm cha mẹ ta, đã có thời làm chú bác ta. Họ nay chứng được quả-vị A-la-hán rồi, chẳng còn phải tái-sanh nữa, hằng tự-tại trong cõi Niết-bàn an-lạc."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người hiền chẳng hại nhân.

Thường tự-chế tâm-thân,

Hướng đến cõi Niết-bàn bất-diệt,

Đến đấy, phiền-muộn đều dứt hết.

(Kệ số 225.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Bà-la-môn: giai-cấp thứ nhứt của Ấn-độ xưa, hạng người tu-sĩ. Có bốn giai-cấp: (1) Bà-la-môn(Brahmana), tu-sĩ; (2) Sát-đế-lợi,(Khat-tiya) vua, quan; (3) Phệ-xá (Vessa), buôn-bán; (4) Thủ-đà-la (Suddà), công nhơn, nông-phu.

 

- Rừng An-già, thành Sa-kê: tên hai địa-danh nầy, tiếng Pali là rừng Anjana, thành Sàketa.

 

- Anh-cả: người con trai lớn nhứt trong gia-đình.

 

- A-na-hàm: quả-vị thứ ba trong hàng Thanh-văn ( = các đệ-tử Phật, sống gần Phật, nghe kinh mà tu-tập.) Chứng được quả-vị nầy, hành-giả đã dứt trừ được năm món phiền-não: (1) thân-kiến ( =chấp thân nầy làm Ta), (2) nghi-ngờ về Chánh-pháp, (3) giới-cấm-thủ ( = tin theo các nghi-thức cúng-tế của ngoại-đạo), (4) tham, (5)sân ( = giận). Tiếng Pali:Anàgàmi, dịch là Bất-Lai, chẳng còn tái-sanh vào cõi người

 

- A-la-hán: quả-vị Thánh, cao nhứt trong hàng Thanh-văn. Đến quả-vị nầy, hành-giả dẹp xong tất cả phiền-não, lìa xa mọi ham-muốn sống tự-tại trong cảnh-giới Niết-bàn. Pali là Arahant, theo nghĩa chuyên-môn là (1) vô-sanh, hết bị tái-sanh; (2)sát tặc, giết hết giặc phiền-não; (3) ứng-cúng, xứng-đáng được Trời và Người cúng-dường.

 

- Niết-bàn: tiếng Phạn là Nirvana; Pali là Nibbana, có nghĩa là ra khỏi rừng phiền-não u-tối, sống trong cảnh an-nhiên và tự-tại. Đây là cảnh-giới xuất-thế-gian, chẳng thể dùng lời nói thường mà giải-nghĩa được; ai chứng Niết-bàn, bấy giờ mới tự mình biết cảnh nầy ra sao.

 

- Tiền-kiếp: kiếp trước. Theo kinh-sách, kiếp, hay kiếp-ba (Phạn: Kalpa) là khoảng thời-gian rất dài; một tiểu-kiếp dài hơn16 trìệu năm, gồm có kiếp tăng, kiếp giảm, thành một trung-kiếp; bốn trung-kiếp: thành, trụ, hoại, diệt, thành một đại-kiếp, kéo dài khoảng 1tỷ 300 triệu năm; trong khi đó đời sống con người chẳng lâu hơn 100 năm.

 

- Tự-tại = tự-do; ngoài đời nói tự-do, trong Đạo gọi tự-tại.

 

- Hại-nhân: Nhân = người; Chẳng hại-nhân = chẳng làm hại người.

 

- Tâm-thân = thân-tâm, thân-thể và tâm-linh.

 

- Tự-chế: tự mình kềm-chế mình, giữ sao chẳng làm điều quấy-ác

 

- Bất-diệt: Bất = chẳng; Diệt = tiêu-diệt, mất. Bất-diệt là còn hoài.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị: một người Bà-la-môn tự nhận đã làm cha của Đức Phật trong một tiền-kiếp. Điều nầy được Đức Phật xác-nhận là đúng. Tuy giản-dị, nhưng Tích chuyện mang hai ý-nghĩa rất quan-trọng về giáo-lý:

 

1) Đời sống con người chẳng phải chỉ thu-hẹp vào khoảng thời-gian trăm năm rồi hết luôn, mà đã bắt đầu từ nhiều đời trước, và sẽ kéo dài vào nhiều đời sau nữa. Đó là lý-thuyết vô-thuỷ ( = chẳng biết chắc được lúc khởi-thuỷ ) và vô-chung ( = chẳng biết được đến lúc nào chung-cuộc, sẽ chấm-dứt), của đời sống, của thế-giới, của vũ-trụ.

 

2) Chúng-sanh trôi-lăn trong vòng sanh-tử, tử-sanh của Luân-hồi, trong kiếp sống có thể làm cha, làm mẹ lẫn cho nhau. Vì lẽ nầy, trong Đạo Phật, dạy ta phải thương-yêu mọi chúng-sanh, có thể đó là thân-nhơn của ta trong kiếp trước hay vào kiếp sau. Đấy là căn-bản của lòng từ-bi, thương-yêu hết mọi chúng-sanh, chẳng còn phân-biệt.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 225:

 

Thử phân-tách từng câu của bài Kệ:

 

1) Người hiền chẳng hại-nhân: Chữ Hiền ở đây có hai nghĩa: (a) theo nghĩa thường là hiền-lành; (b) theo nghĩa chuyên-môn, bực Hiền là những người đã chứng-đắc được một trong ba quả-vị đầu-tiên là Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm và A-na-hàm. Tính theo số lần phải tái-sanh, thì Tu-đà-huờn còn sanh lại bảy lần, gọi là Thất-Lai; Tư-đà-hàm còn sanh lại một lần, gọi là Nhất-Lai, còn A-na-hàm, chẳng phải tái-sanh vào cõi người nữa, nên gọi là Bất-Lai. Đến bực Hiền, tâm đã thanh-tịnh, dứt trừ được sân-hận, nên chẳng hề làm hại đến chúng-sanh nữa.

 

2) Thường tự-chế tâm-thân: vì lúc nào cũng tỉnh-giác, bực Hiền biết giữ-gìn ba nghiệp: thân, miệng và ý cho trong-sạch.

 

3) Hướng đến cõi Niết-bàn bất-diệt: lấy Niết-bàn làm mục-tiêu tu-tập, nghĩa là dứt trừ mọi phiền-não để được tự-tại mãi ( = bất-diệt)

 

4) Đến đấy, phiền-muộn đều dứt hết: "Đến đấy" là đến đâu? Đến được cảnh Niết-bàn; đó chẳng phải là một nơi chốn nào riêng-biệt trong trời đất, mà chính là ngay trong tâm, tâm đã thanh-tịnh.

The Story of the Brahmin who had been the 'Father of the Buddha'

While residing at the Anjana wood, near Saketa, the Buddha uttered Verse (225) of this book, with reference to a brahmin, who claimed that the Buddha was his son.

Once, the Buddha accompanied by some bhikkhus entered the town of Saketa for alms-food. The old brahmin, seeing the Buddha, went to him and said, "O son, why have you not allowed us to see you all this long time? Come with me and let your mother also see you." So saying, he invited the Buddha to his house. On reaching the house, the wife of the brahmin said the same things to the Buddha and introduced the Buddha as "Your big brother" to her children, and made them pay obeisance to him. From that day, the couple offered alms-food to the Buddha every day, and having heard the religious discourses, both the brahmin and his wife attained Anagami Fruition in due course.

The bhikkhus were puzzled why the brahmin couple said the Buddha was their son; so they asked the Buddha. The Buddha then replied, "Bhikkhus, they called me son because I was a son or a nephew to each of them for one thousand five hundred existences in the past." The Buddha continued to stay there, near the brahmin couple for three more months and during that time, both the brahmin and his wife attained arahatship, and then realized parinibbana.

The bhikkhus, not knowing that the brahmin couple had already become arahats, asked the Buddha where they were reborn. To them the Buddha answered:

"Those who have become arahats are not reborn anywhere; they have realized Nibbana."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 225: The arahats, who do not harm others and are always restrained in their actions, go to the deathless Nibbana, where there is no sorrow.

Dhammapada Verse 225
Buddhapitubrahmana Vatthu

Ahimsaka ye munayo
niccam kayena sarmvuta
te yanti accutam
thanam
yattha gantva na socare.

Verse 225: The arahats, who do not harm others and are always restrained in their actions, go to the deathless Nibbana, where there is no sorrow.


1. accutam: changeless; deathless. It does not mean immortality.


dhp226_B
Verse-Kệ 226

(179).- Tích chuyện nô-tỳ Phú-na - Kệ số 226

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại núi Linh-thứu, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một người nô-lệ gái tên là Phú-na.

 

Thuở ấy ở gần thành Vương-xá, có một người nô-lệ gái tên là Phú-na, mỗi đêm phải thức khuya để giã gạo. Trong phút chốc ngồi nghỉ mệt, Phú-na nhìn lên lưng-chừng núi thấy Trưởng-lão Đắc-ba đang hướng-dẫn các tỳ-kheo quay trở về tịnh-xá, sau khi nghe giảng-pháp. Phú-na suy-nghĩ: "Thân-phận tôi-đòi của ta phải thức khuya giã gạo nhọc-nhằn, thì đành rồi; còn các vị tu-sĩ hiền-lành kia, cớ sao lại chẳng đi nghỉ sớm, giờ nầy còn đang bận-rộn, có lẽ có tu-sĩ nào đang bị bịnh, hay có một con rắn nào đến khuấy rối chăng?"

 

Sáng sớm hôm sau, Phú-na thức dậy sớm, đem chỗ tấm-cám vụn giã thành bột, nhồi thành bánh và đem nướng. Cô định mang bánh ấy ra bờ ao ngồi ăn. Vừa lúc ấy, Đức Phật và chư Tăng đi khất-thực ngang qua đó. Cô muốn đem bánh dưng-cúng Phật, nhưng trong lòng còn ngại, chẳng biết Đức Phật có khứng nhận cho hay không. Nhìn cô, Đức Phật đọc được tư-tưởng bên trong, nên Ngài bảo Tôn-giả A-nan trải toạ-cụ bên bờ ao, để Ngài ngồi. Cô Phú-na ngập-ngừng đến dưng bánh. Đức Phật vui-vẻ nhận, ăn xong, bảo cô Phú-na ngồi bên cạnh nghe Ngài giải-đáp chỗ cô còn thắc-mắc đêm qua. Đức Phật bảo: "Nầy Phú-na, con chẳng được đi ngủ sớm, vì con còn công-việc giã gạo phải làm. Còn các vị tỳ-kheo đây, cũng chẳng đi ngủ sớm, vì họ phải luôn luôn tỉnh-giác và chuyên-cần tu-tập về đêm."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà cô Phú-na chứng được sơ-quả Tu-đà-hườn:

 

Những người tỉnh-giác luôn luôn

Ngày đêm siêng tu Tam-Học,

Chuyên-tâm hướng về Niết-bàn,

Mọi lậu-hoặc được tiêu-tan.

(Kệ số 226.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Nô-tỳ, Nô-lệ: đầy-tớ ở suốt đời với chủ, chẳng có tự-do cá-nhơn

 

- Núi Linh-thứu: núi nầy gần thành Vương-xá, xứ Ma-kiệt-đà, tiếng Pali là Gijjhakùta. Hình ngọn núi giống chim kên-kên(chim thứu)

 

- Phú-na: tên cô nô-lệ nầy, tiếng Pali là Punna.

 

- Đắc-ba: tên vị trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Dabba.

 

- Toạ-cụ: Toạ = ngồi; Cụ = khí-cụ, vật-dụng. Toạ-cụ là tấm nệm nhỏ, còn gọi là bồ-đoàn, kê bên dưới để ngồi Thiền.

 

- Tỉnh-giác: Tỉnh = tỉnh-thức, chẳng mê; Giác = biết rõ. Người tỉnh-giác lúc đang làm, nói, nghĩ điều gì, thì trong tâm biết rõ và theo dỡi mình đang làm, nói và nghĩ điều ấy, và chỉ điều ấy mà thôi.

 

- Tam-Học: Tam = ba; Học = môn học. Tam-Học là Giới, Định, Huệ, còn gọi là Tam vô-lậu-học, ba môn học khiến cho mọi phiền-não, lậu-hoặc chấm-dứt. Nhờ giữ Giới, tự đặt mình trong kỷ-luật tu-hành mà tâm được an-định, chẳng chạy buông-lung nữa; khi tâm đã Định, thì trí-Huệ phát sáng lên, nhờ đó thấy rõ con đường giác-ngộ và giải-thoát. Theo học Tam-Học, là chọn con đường Bát-Chánh-Đạo.

 

- Lậu-hoặc: Lậu = rỉ chảy; Hoặc = điều sái-quấy. Lậu-hoặc là các phiền-não như tham, sân, si, mạn, nghi, tà-kiến, từ trong tâm phát lộ ra hành-động bên ngoài. Người nào đã dứt hết lậu-hoặc, thì chứng quả A-la-hán, tự-tại trong cảnh Niết-bàn an-lạc.

 

- Sơ-quả Tu-đà-huờn: quả-vị thứ nhứt là Tu-đà-huờn, hay Thất Lai

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện so sánh sự cực-khổ của người nô-tỳ thức khuya giã gạo với sự kiên-trì, giữ sự tỉnh-thức trong tâm của các vị tu-hành chơn-chánh. Tỉnh-thức để theo môn Tam-học là con đường tiêu-diệt phiền-não và chứng-đắc Niết-bàn.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 226:

 

Bài Kệ khuyên ta hai điều quan-trọng: (1) luôn luôn chú-ý, hướng về bên trong, tâm hằng tỉnh-giác; (2) siêng tu Tam-học: giữ -gìn giới-luật thật cẩn-thận; giữ tâm hằng an-định thì trí-huệ sẽ phát-sáng. Theo được đầy đủ hai điều nầy là tiến gần đến cảnh an-lạc của Niết-bàn.

The Story of Punna, the Slave Girl

While residing at the Gijjhakuta mountain, the Buddha uttered Verse (226) of this book, with reference to a slave girl in Rajagaha.

One night, Punna the slave girl was up pounding rice for her master. As she got tired she rested for a while. While resting, she saw Thera Dabba leading some bhikkhus to their respective monasteries on their return from listening to the Dhamma. The girl seeing them up so late, pondered, "I have to be up at this late hour because I am so poor and have to work hard. But, why are these good people up at this late hour? Maybe a bhikkhu is sick, or are they being troubled by a snake?"

Early in the morning the next day, Punna took some broken rice, soaked it in water and made a pan-cake out of it. Then, intending to eat it at the riverside she took her cheap, coarse pan-cake along with her. On the way, she saw the Buddha coming on an alms-round. She wanted to offer her pan-cake to the Buddha, but she was not sure whether the Buddha would condescend to eat such cheap, coarse pan-cake. The Buddha knew her thoughts. He accepted her pan-cake and asked Thera Ananda to spread the small mat on the ground. The Buddha sat on the mat and ate the pan-cake offered by the slave girl. After eating, the Buddha called Punna to him and answered the question which was troubling her. Said the Buddha to the slave girl, "Punna, you cannot go to sleep because you are poor and so have to work hard. As for my sons the bhikkhus, they do not go to sleep because they have to be always vigilant and ever mindful."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 226: In those who are ever vigilant, who by day and by night train themselves in the three sikkhas (i.e., sila, samadhi and panna), and who have their mind directed towards Nibbana, moral intoxicants become extinct.


At the end of the discourse Punna attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 226
Punnadasi Vatthu

Sada jagaramananam
ahorattanusi kkhinam
nibbanam adhimuttanam
attham gacchanti asava.

Verse 226: In those who are ever vigilant, who by day and by night train themselves in the three sikkhas (i.e., sila, samadhi and panna), and who have their mind directed towards Nibbana, moral intoxicants become extinct.


dhp227_B
dhp228_B
dhp229_B
dhp230_B
Verse-Kệ 227-230

(180).- Tích chuyện chàng thanh-niên A-tu-la - Kệ số 227, 228, 229 và 230

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến thanh-niên A-tu-la và các bạn-hữu.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có chàng thanh-niên tên là A-tu-la cùng với đông-đảo bạn-bè, muốn được nghe giảng Chánh-pháp, mới đến gặp Trưởng-lão Lê-va-ta. Trưởng-lão nhìn họ, trầm-ngâm, chẳng nói lên lời nào, tựa như con sư-tử đang nằm yên trong động đá. Cả bọn rất thất-vọng bỏ đi, đến gặp Tôn-giả Xá-lợi-phất. Tôn-giả ân-cần thuyết-giảng cho họ nghe về Vi-diệu-pháp, lời giảng thật thâm-trầm, ý-nghĩa thật sâu-xa với các chi-tiết thật cặn-kẽ. Họ chẳng hiểu nổi lẽ huyền-diệu của thời pháp, nên cũng thất-vọng, cùng nhau tìm đến Tôn-giả A-nan. Chuyến nầy, họ được Tôn-giả A-nan chỉ-dạy thật vắn-tắt thế nào là các điều căn-bản trong Giáo-pháp. Họ vẫn chưa thấu hiểu được nghĩa-lý, cho rằng bài giảng của Tôn-giả A-nan quá ngắn-ngủi, quá cô-đọng.

 

Sau cùng, họ dẫn nhau đến yết-kiến Đức Phật. A-tu-la bạch Phật: "Bạch Thế-tôn, lòng chúng con muốn tìm hiểu cho rõ-ràng về Chánh-pháp. Chúng con lần-lượt đến gặp các vị Trưởng-lão thông-thái như Lê-va-ta thì chẳng chịu nói gì, như Xá-lợi-phất thì giảng tràng-giang đại-hải, còn A-nan thì lại quá tóm lược. Chúng con vẫn còn mù-tịt, chẳng biết đường nào mà tìm hiểu cho thật rõ-ràng Chánh-pháp của Thế-tôn."

 

Đức Phật bảo: "Nầy chư thiện-nam, chê-trách kẻ khác chẳng phải là điều gì mới lạ cả. Từ ngàn xưa, chẳng có ai là chẳng bị chê-trách. Thiên-hạ chê cả đức Vua, trách cả đức Phật. Nhưng bị người khờ-dại chê-trách cũng chẳng đưa đến đâu. Chỉ có lời phê-bình, khen hoặc chê, của bực hiền-trí mới thật là lời phán-đoán đúng-đắn, khiến ta nên mừng khi nghe khen, hay nên sửa đổi lại, khi bị chê."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên các bài Kệ sau đây, nhờ đó mà A-tu-la cùng một số bạn-hữu chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Nầy A-tu-la, nên biết rõ,

Chẳng phải chỉ ngày nay mới có,

Tự ngàn xưa, việc đó cũng thường:

Họ chê người nín thinh,

Họ khinh kẻ lắm lời,

Nói vừa vừa cũng trách.

Thế-gian, chẳng có cách nào tìm được

Người chưa hề phải rước lấy lời chê.

(Kệ số 227.)

 

Từ xưa cho đến nay,

Mãi đến tận sau nầy,

Chưa hề có những ai

Hoặc hoàn-toàn bị chê-bai,

Hoặc trọn-vẹn được khen-ngợi.

(Kệ số 228.)

 

Ngày qua ngày, nhận xét rõ,

Người trí mới khen vị đó.

Đời sống chẳng tí vết nhơ,

Cả giới, định, huệ đều có.

(Kệ số 229.)

 

Ai dám khinh-chê vị ấy

Hạnh sáng tỏ tợ vàng ròng.

Các bực Trời khen hết lòng,

Cả đức Phạm-Thiên cũng vậy.

(Kệ số 230.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- A-tu-la: tên chàng thanh-niên nầy, tiếng Pali là Atula. Xin đừng lầm với chữ A-tu-la, phiên-âm tiêng Pali là Asura, dịch nghĩa là thần-linh, tức là hạng chúng-sanh có phép thần-thông, tánh thường nóng-giận, lại hay tranh-chiến với các bực Trời.

 

- Chánh-pháp: lời giảng-dạy của Đức Phật về con đường tu-hành để được giác-ngộ và giải-thoát.

 

- Lê-va-ta, Xá-lợi-phất, A-nan: tên các vị Tôn-giả nầy, tiếng Pali là Revata, Sariputta, Ànanda.

 

- Trầm-ngâm = giũ sự im-lặng, đang nghĩ-ngợi.

 

- Vi-diệu-pháp: Vi-diệu = nhiệm-mầu, cao-thâm; Pháp = pháp-tu. Vi-diệu-pháp (Abhidhamma), là phần Luận giảng về tâm-pháp, nhơn-sinh-quan ( =đời sống con người),vũ-trụ-quan ( =sự cấu-tạo của vũ-trụ.)

 

- Huyền-diệu: sâu-kín và khéo-léo.

 

- Thời-pháp: thời-gian giảng pháp, bài giảng pháp.

 

- Cô-đọng: rút lại thật ngắn-gọn, chỉ có điều chánh-yếu mà thôi.

 

- Yết-kiến: đến gặp bực trưởng-thượng để thưa hỏi.

 

- Thông-thái = bực hiểu-biết thật rộng-rãi và rõ-ràng.

 

- Tràng-giang đại-hải: Tràng =dài; Giang = sông; Đại = lớn; Hải = biển. Nói tràng-giang đại-hải là nói huyên-thiên, nhiều lời, khiến người nghe bị tràn-ngập chẳng hiểu được chỗ cốt-yếu.

 

- Hiền-trí: Hiền = hiền-lành, Trí =trí-huệ. Chữ Hiền-trí ở đây chỉ vào các bực tu-hành đã chứng quả, có sự hiểu-biết đúng-đắn và rộng-rãi, thường chỉ dạy điều lành cho kẻ khác. Còn gọi là Thiện-tri-thức nữa.

 

- Quả-vị Tu-đà-huờn: quả-vị thứ nhứt trong hàng các đệ-tử sống gần bên Phật. Người chứng quả Tu-đà-huờn chẳng còn chấp thân-tâm làm Ta nữa, chấm-dứt sự nghi-ngờ về Chánh-pháp và bỏ các nghi-thức cúng-tế theo tà-đạo. Tiếng Pali là Sotapatti, dịch là Nhập-Lưu.

 

- Giới, Định, Huệ = còn gọi là Tam Học, hay Tam vô-lậu-học, ba môn học giúp ta diệt-trừ hết mọi phiền-não, chứng quả A-la-hán.

 

- Hạnh sáng = giới-hạnh, đức-hạnh thật trong-sạch, sáng-tỏ.

 

- Phạm-Thiên: Đức Vua cõi Trời Phạm, tiếng Pali là Brahma.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại A-tu-la và các bạn của anh, đến thưa hỏi các vị trưởng-lão, để được nghe giảng về Chánh-pháp. Họ chẳng hiểu nổi, nên chê trách Ngài Lê-va-ta giữ im-lặng, Ngài Xá-lợi-phất, nói nhiều quá, Ngài A-nan nói quá vắn-tắt. Họ đến gặp Phật và Phật dạy họ rằng, ở đời chẳng ai là khỏi bị chê: nín cũng bị chê, nói cũng bị chê, nói nhiều cũng trách, nói ít cũng trách. Đừng chú-trọng đến lời phê-bình của người khờ-dại, chỉ nên nghe lời phán-đoán của bực hiền-trí.

 

(2) Ý-nghĩa các bài Kệ số 227, 228, 229 và 230:

 

Bốn bài Kệ sắp chung lại thành ra hai bài: (1) Kệ số 227 và 228 nói về sự khen chê thường-tình của người đời; (2) Kệ số 229 và 230 nói về bực hiền đủ giới, định, huệ, được cả Trời, Người đều khen-ngợi.

 

Các bài Kệ khuyên ta giữ giới để lòng được an-định, nhờ đó mà trí-huệ phát-sanh, thấy rõ được con đường giác-ngộ và giải-thoát.

The Story of Atula the Lay-disciple

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (227) to (230) of this book, with reference to Atula and his companions.

Once, Atula and his companions numbering five hundred, wishing to listen to words of dhamma, went to Thera Revata. The thera however was very aloof like a lion; he did not say anything to them. They were very much dissatisfied and so they went to Thera Sariputta. When Thera Sariputta learned why they had come, he expounded exhaustively on the Abhidhamma. He also was not to their liking, and they grumbled that Thera Sariputta had been too lengthy and too profound. Next, Atula and his party approached Thera Ananda. Thera Ananda expounded to them the bare essentials of the Dhamma. This time, they remarked that Thera Ananda had been too brief and too sketchy. Finally they came to the Buddha and said to him, "Venerable Sir, we have come to listen to your teaching. We have been to other teachers before we come here, but we are not satisfied with any of them. Thera Revata did not bother to teach us and he just kept silent; Thera Sariputta was too exhaustive and the Dhamma he taught us was too difficult for us. As for Thera Ananda, he was too brief and too sketchy. We do not like any of their discourses."

To them the Buddha said, "My disciples, blaming others is not something new. There is no one in this world who is never blamed; people would blame even a king, or even a Buddha. To be blamed or to be praised by a fool is of no consequence; one is truly blamed only when he is blamed by a wise man, and truly praised only when praised by a wise man."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 227: It is not new, O Atula! It has always been done from ancient times. They blame one who is silent, they blame one who speaks much, they blame one who speaks little. There is no one in this world who is not blamed.

 

Verse 228: There never has been, there never will be, nor is there now, anyone who is always blamed or always praised.

 

Verses 229 - 230: If the wise praise him day after day, knowing him to be truly faultless, wise and endowed with knowledge and virtue, who would blame him, who is like a nikkha of pure gold? The devas praise him; he is praised even by the great Brahmas.


At the end of the discourse Atula and his companions attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 227, 228, 229 and 230
Atula Upasaka Vatthu

Poranametam Atula
netam ajjatanamiva
nindanti tunhimasinam
nindanti bahubhaninam
mitabhanimpi nindanti
natthi loke anindito.

Na cahu na ca bhavissati
na cetarahi vijjati
ekantam nindito poso
ekantam va pasamsito.

Yam ce vinnu pasamsanti
anuvicca suve suve
acchiddavuttim medhavim
pannasilasamahitam.

Nikkham jambonadasseva1
ko tam ninditumarahati
devapi nam pasamsanti
brahmunapi pasamsito.

Verse 227: It is not new, O Atula! It has always been done from ancient times. They blame one who is silent, they blame one who speaks much, they blame one who speaks little. There is no one in this world who is not blamed.

Verse 228: There never has been, there never will be, nor is there now, anyone who is always blamed or always praised.

Verses 229 - 230: If the wise praise him day after day, knowing him to be truly faultless, wise and endowed with knowledge and virtue, who would blame him, who is like a nikkha of pure gold? The devas praise him; he is praised even by the great Brahmas.


1. nikkham jambonadasseva: like a nikkha of jambonada gold. Jambonada gold which comes from Jambu river is the finest gold. A nikkha can be a weight-unit of gold, an ornament or a coin.


dhp231_B
dhp232_B
dhp233_B
dhp234_B
Verse-Kệ 231-234

(181).- Tích chuyện sáu vị tỳ-kheo mang guốc - Kệ số 231, 232, 233 và 234

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến sáu vị tỳ-kheo mang guốc gỗ, gây ra nhiều tiếng động.

 

Thuở ấy, có sáu vị tỳ-kheo thường mang guốc đi đi, lại lại trên sân đá, tiếng guốc khua vang, làm kinh-động đến các vị tỳ-kheo khác đang ngồi Thiền. Tiếng guốc vang đến tịnh-xá, khiến Đức Phật phải gọi vị thị-giả là Tôn-giả A-nan vào hỏi tiếng động gì vang lên mãi thế. Khi biết sáu vị tỳ-kheo kia, mang guốc đi lại trong sân, Đức Phật ra giáo-chỉ, cấm tỳ-kheo chẳng được mang guốc gỗ nữa. Đức Phật lại dạy thêm, tỳ-kheo phải biết giữ-gìn ba nghiệp cho thật trong sạch: giữ thân chẳng hành-động sái-quấy, giữ miệng chẳng nói lời cộc-cằn, giữ tâm-ý chẳng nghĩ điều đen-tối.

 

Rồi Đức Phật mới nói lên các bài Kệ sau đây:

 

Đừng hờn-giận, giữ thân mình,

Chớ vì cau-có, thân sanh làm sằng.

Hành-vi xấu, thân hằng dứt bỏ;

Cử-chỉ lành, thân cố giữ-gìn.

(Kệ số 231.)

 

Đừng hờn-giận, giữ miệng mình,

Chớ vì cau-có, miệng sanh cộc-cằn.

Lời thô-ác, miệng hằng dứt bỏ;

Tiếng dịu-hiền, miệng cố giữ-gìn.

(Kệ số 232.)

 

Đừng hờn-giận, giữ ý mình,

Chớ vì cau-có, ý sanh dữ-dằn.

Tà-kiến ác, ý hằng dứt bỏ

Chánh-tư-duy, ý cố giữ-gìn.

(Kệ số 233.)

 

Bực hiền-trí chế-phục thân,

Giữ-gìn cửa miệng, giữ an tâm mình.

Giữ sao ba nghiệp: thân, miệng, ý

Thanh-tịnh hoàn-toàn, điều-phục xong.

(Kệ số 234.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Guốc: dép làm bằng gỗ, có quai. Ở Việt-nam, guốc làm bằng gỗ cây vông, nhẹ và ít tiếng kêu.

 

- Kinh-động = gây tiếng động làm giựt mình kẻ khác.

 

- Giáo-chỉ:Giáo = đạo;Chỉ = lịnh, sắc-chỉ.Giáo-chỉ là lịnh trong Đạo

 

- Nghiệp = hành-động thường làm, có ảnh-hưởng đến đời nầy và cả đời sau nữa. Có ba nghiệp: về thân, về miệng và về tâm-ý.

 

- Làm sằng = làm điều sằng-bậy, làm đìều sái-quấy.

 

- Cộc-cằn, thô-ác: lời nói xấu ác, dữ-dằn, mắng nhiếc, chửi rủa.

 

- Tà-kiến: ý-kiến sai-lầm, xấu-ác.

 

- Chánh-tư-duy = suy-nghĩ chơn-chánh, đúng-đắn.

 

- Chế-phục, Điều-phục = kềm-chế, giữ-gìn để tránh tội-lỗi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc sáu vị tỳ-kheo thiếu ý-thức mang guốc đi lốp-cốp, khuấy-động các bạn đồng-tu trong việc ngồi Thiền. Đức Phật liền ra lịnh cấm mang guốc, và dạy ta phải biết giữ gìn ba nghiệp: thân, miệng, ý cho thật trong-sạch.

 

(2) Ý-nghĩa các bài Kệ aố 231, 232, 233 và 234:

 

Ba bài Kệ đầu dạy giữ-gìn thân-nghiệp, khẩu-nghiệp và ý-nghiệp cho thật trong-sạch. Bài Kệ sau tóm-tắt ý-nghĩa ba bài trước và chỉ cho ta thấy bực hiền-trí biết điều-phục thân-tâm để giữ cho ba nghiệp thanh-tịnh, nhờ đó mà được giải-thoát khỏi mọi khổ-đau nơi cuộc đời.

The Story of a Group of Six Bhikkhus

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verses (231) to (234) of this book, with reference to a group of six bhikkhus.

Six bhikkhus wearing wooden sandals, and each holding a staff with both hands, were walking to and fro on a big stone slab, making much noise. The Buddha hearing the noises asked Thera Ananda what was going on, and Thera Ananda told him about the six bhikkhus. The Buddha then prohibited the bhikkhus from wearing wooden sandals. He further exhorted the bhikkhus to restrain themselves both in words and deeds.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 231: Guard against evil deeds, control your body. Giving up evil deeds, cultivate good deeds.

 

Verse 232: Guard against evil speech, control your speech. Giving up evil speech, cultivate good speech.

 

Verse 233: Guard against evil thoughts, control your mind. Giving up evil thoughts, cultivate good thoughts.

 

Verse 234: The wise are controlled in deed, they are controlled in speech, they are controlled in thought. Indeed, they are perfectly self-controlled.

Dhammapada Verses 231, 232, 233 and 234
Chabbaggiya Vatthu

Kayappakopam rakkheyya
kayena sambyuto siya
kayaduccaritam hitva
kayena sucaritam care.

Vacipakopam rakkheyya
vacaya samvuto siya
vaciduccaritam hitva
vacaya sucaritam care.

Manopakopam rakkheyya
manasa samvuto siya
manoduccaritam hitva
manasa sucaritam care.

Kayena samvuta dhira
atho vacaya sambuta
manasa samvuta dhira
te ye suparisamvuta.

Verse 231: Guard against evil deeds, control your body. Giving up evil deeds, cultivate good deeds.

Verse 232: Guard against evil speech, control your speech. Giving up evil speech, cultivate good speech.

Verse 233: Guard against evil thoughts, control your mind. Giving up evil thoughts, cultivate good thoughts.

Verse 234: The wise are controlled in deed, they are controlled in speech, they are controlled in thought. Indeed, they are perfectly self-controlled.

End of Chapter Seventeen: Anger (Kodhavagga)

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 75)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 86)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩ và tìm hiểu xem có tiền kiếp và luân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 79)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 180)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 138)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 183)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 314)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 502)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 427)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 493)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 733)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 1150)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 1680)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 962)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 646)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 757)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 795)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1714)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 1053)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 787)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 825)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1768)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2620)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
18 Tháng Tư 201910:00 SA(Xem: 2196)
Thiền không phải là nỗ lực tìm cầu để đạt được cái chưa có mà là buông hết mọi nỗ lực tìm cầu thì liền thấy ra ngay đó đã có tất cả. Nhiều người nỗ lực tu luyện để thấy ra thực tánh pháp (hay kiến tánh) trong trạng thái thiền định xuất thần,
18 Tháng Tư 20199:00 SA(Xem: 1728)
Có một điều là, xưa nay Phật giáo Việt Nam đã thống nhất, nhưng là thống nhất trên ý chí, trên hiến chương, trên hình thức tổ chức chi chi đó thôi, chứ có một điều chưa bao giờ thống nhất được: ấy là tư tưởng Phật học. Mỗi tông phái thường có một số kinh điển làm tư tưởng nồng cốt cho tông phái mình, từ đó làm kim chỉ nam cho sinh hoạt, tu hành, xiển dương phát triển v.v...
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1519)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 580)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 838)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1062)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4241)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 569)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 566)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,