Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 18, Phẩm Ô-uế - The Dhammapada, Chapter 18, Impurity

16 Tháng Mười Hai 20186:13 SA(Xem: 369)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 18, Phẩm Ô-uế - The Dhammapada, Chapter 18, Impurity

Chapter18-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 18, Phẩm Ô-uế
The Dhammapada, Chapter 18, Malavagga: Impurity

(Kệ 235-255 - Verses 235-255)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp235_B
dhp236_B
dhp237_B
dhp238_B
Verse-Kệ 235-238

(182 ).- Tích chuyện con của người đồ-tể - Kệ số 235, 236, 237 và 238

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ,

 

trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến con của một người đồ-tể.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có người đồ-tể chuyên nghề giết thú-vật để bán thịt trong năm mươi lăm năm. Mỗi ngày, anh ta chừa một miếng thịt lớn để nấu cà-ry ăn. Hôm ấy, anh cắt một đùi thịt để dành trong bếp, định trưa sẽ đem nấu; nhưng vợ anh chẳng biết, lại đem bán cho người mua. Đến trưa, chẳng thấy đùi thịt, anh đồ-tể liền đi ra chuồng bò, lắt cái lưỡi của con bò, đem vào nấu-nướng. Rủi thay khi ăn, anh nhai mạnh quá cắn trúng lưỡi của mình, máu chảy tuôn ra chẳng dứt. Vài hôm sau, con bò và cả anh đồ-tể đều bị chết. Vì tội-ác đã sát-sanh trong suốt cuộc đời, nên anh đồ-tể phải sa vào địa-ngục.

 

Vợ người đồ-tể, sau khi an-táng anh ta xong, sợ căn nhà có ma-quỉ, mới bán nhà, dọn đi nơi khác. Còn người con trai được gởi đi học nghề khác ở thành Ta-xi-la. Người ấy học được nghề thợ rèn, cưới vợ và sanh được mấy người con. Sắp nhỏ sau nầy rất tôn-sùng đạo Phật, thường đến chùa nghe giảng-pháp. Chúng thấy cha mình đã già rồi mà chưa hiểu gì về Chánh-pháp, mới thỉnh Đức Phật cùng chư Tăng đến nhà cúng-dường. Sau bữa ngọ-trai, các người con qùi thưa cùng Đức Phật: "Bạch Thế-tôn, chúng con soạn lễ trai-tăng nầy, để cầu phước cho cha của chúng con. Kính mong Thế-tôn giảng một bài pháp đặc-biệt cho cha chúng con nghe." Đức Phật bảo: "Nầy thiện-nam-tử, ông nay đã già rồi mà còn chưa chuẩn-bị đầy-đủ hành-trang cho chuyến đi xa, sang cuộc đời mới. Nay ông phải tự mình làm nơi nương-tựa cho chính mình, hãy thanh-lọc thân-tâm, diệt bỏ tất cả phiền-não, để sau nầy được tái-sanh vào nhàn-cảnh."

 

Rồi Đức Phật nói lên các bài Kệ sau đây:

 

Thân người nay như lá tàn phai,

Sứ-giả Tử-thần đến bên ngoài.

Người sắp bước vào con đường chết,

Còn thiếu tư-lương dặm đường dài.

(Kệ số 235.)

 

Hãy đắp cho mình một hòn đảo,

Mau làm người trí-huệ tinh-chuyên,

Lọc-sạch bợn nhơ, bỏ phiền-não,

Người sẽ vào Thánh-cảnh chư Thiên.

(Kệ số 236.)

 

Mạng người nay sắp đến mức cùng,

Trên đường đến gặp mặt Diêm-vương,

Dọc đường chẳng có nơi ngừng-nghỉ,

Còn thiếu tư-lương dặm đường trường.

(Kệ số 237.)

 

Hãy đắp cho mình một hòn đảo,

Mau làm người trí-huệ tinh-chuyên,

Lọc sạch bợn nhơ, bỏ phiền-não,

Người đâu trở lại cảnh Sanh-Lão.

(Kệ số 238.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đồ-tể: Đồ; Tể = giết thịt thú-vật để bán; kẻ hàng thịt.

 

- Sát-sanh: Sát = giết; sanh = sanh-mạng; Tội sát-sanh là tội giết chết các sanh-vật. Đây là giới-cấm thứ nhứt của người tu tại-gia.

 

- Địa-ngục: Địa = đất; Ngục = nhà tù. Theo sự tin-tưởng của người Phật-tử, kẻ làm ác, sau khi chết, phải chịu hình-phạt trong cõi u-tối.

 

- An-táng = làm đám ma, chôn-cất người chết.

 

- Ta-xi-la: tên thành nầy, tiếng Pali là Taxila.

 

- Cúng-dường =đọc trại chữ cung-dưỡng =cung-cấp để nuôi dưỡng.

 

- Ngọ-trai: Ngọ =12 giờ trưa;Trai = bữa ăn chay.Theo giáo-lý Nam-tông, sau bữa ngọ-trai, chư Tăng chẳng được phép ăn thêm suốt ngày.

 

- Trai-tăng: lễ dưng-cúng thực-phẩm, quần-áo cho các tỳ-kheo.

 

- Thiện-nam-tử: Thiện = lành; Nam-tử = đàn-ông.

 

- Hành-trang: Hành = đi; Trang = trang-bị, vật-dụng mang theo.

 

- Nhàn-cảnh = cảnh nhàn, tức là các cõi Thánh, sống an-lạc.

 

- Sứ-giả Tử-thần: Sứ = người mang tin-tức đến; Giả = người; Tử-thần = thần Chết. Thấy có sứ-giả Tử-thần là đang có dấu-hiệu sắp chết

 

- Tư-lương: vật-dụng mang theo khi đi xa; có nghĩa là hành-trang

 

- Thánh-cảnh: cảnh Thánh, ở đây, tức là các cõi an-nhàn trên trời.

 

- Diêm-vương: vua cõi âm; theo sự tin-tưởng của người Phật-tử, mọi người khi chết sẽ chịu sự phán-xét tội, phước của Diêm-vương.

 

- Cảnh Sanh-Lão: cảnh sanh ra rồi già đi; tức là cuộc sống ở trong vòng lẩn-quẩn của Luân-hồi, sanh ra để lại chết đi, rồi tái-sanh nữa.

 

- Ô-uế: dơ-dáy, đen-đúa, bẩn-thỉu. Ở đây, Ô-uế ám chỉ các phiền-não làm cho tâm bị bợn-nhơ, phải thanh-lọc cho sạch.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện có hai phần, phần đầu nói về ông đồ-tể, vì tội-ác sát-sanh, giết thú-vật lấy thịt bán, phải sa địa-ngục; và phần thứ nhì nói về người con trai của ông, về già được nghe Đức Phật giảng Chánh-pháp, mà được tái-sanh vào nhàn-cảnh.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: phải chuẩn-bị hành-trang cho chuyến đi xa, vào đời sống mới; chuẩn-bị bằng cách thanh-lọc thân-tâm khỏi các bợn-nhơ của phiền-não. Khi tâm đã thanh-tịnh, gột rửa hẳn các ô-uế của phiền-não gây ra, sẽ được tái-sanh lên cõi Trời, và nếu tiếp-tục tu-hành, sẽ thoát khỏi vòng lẩn-quẩn Sanh, Già, Bịnh, Chết trong cảnh khổ của cõi Luân-hồi lận-đận.

 

(2) Ý-nghĩa các bài Kệ số 235, 236, 237 và 238:

 

Bài Kệ số 235 nhắc-nhở ta, Thần Chết đang chờ mọi người, vậy phải chuẩn-bị hành-trang cho chuyến đi xa.

 

Bài Kệ số 236 khuyên ta phải tự mình lo-liệu lấy, nương-tựa vào chính mình bằng cách lọc-sach các bợn nhơ phiền-não ra khỏi tâm, để được tái-sanh vào cõi chư Thiên.

 

Bài Kệ số 237 lại nhắc nhở ta ngày trình-diện Diêm-vương sắp tới, phải mau mau chuẩn-bị hành-trang, cho chuyến đi xa, chẳng có nơi dừng chơn tạm nghỉ được ( = chẳng có ai là khỏi chết cả).

 

Bài Kệ số 238 cũng lại khuyên ta sớm tự mình làm nơi nương-tựa cho chính mình, cũng bằng cách lọc sạch các bợn nhơ phiền-não ra khỏi tâm, để khỏi phải trở lại cảnh Sanh, Già, Bịnh, Chết của cõi Luân-hồi khổ-đau lận-đận.

The Story of the Son of a Butcher

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (235) to (238) of this book, with reference to the son of a butcher.

Once in Savatthi, there was a man who had been a butcher for fifty-five years. All this time, he slaughtered cattle and sold the meat and everyday he took meat curry with his rice. One day, he left some meat with his wife to cook it for the family, and then left for the riverside to have his bath. During his absence, a friend coaxed his wife to sell that particular piece of meat to him. As a result, there was no meat curry for the butcher on that day. But as the butcher never took his meal without meat curry, he hurriedly went to the back of his house, where an ox was standing. He promptly cut off the tongue of the ox and baked it over a fire. When having his meal, the butcher had a bite of the tongue of the ox, but as he did so his own tongue was cut off and fell into his plate of rice. Thus the ox and the butcher were in the same plight, both of them having had their tongues cut off. The butcher was in great pain and agony, and he went about agitatedly on his knees, with blood dripping profusely from his mouth. Then the butcher died and was reborn in the Avici Niraya.

The butcher's wife was greatly disturbed and she was anxious for her son to get away to some other place, lest this evil should befall him too. So she sent her son to Taxila. At Taxila, he acquired the art of a goldsmith. Later, he married the daughter of his master and some children were born to them. When their sons came of age he returned to Savatthi. The sons were endowed with faith in the Buddha and were religiously inclined. They were anxious about their father, who had grown old with no thought of religion or of his future existence. So one day, they invited the Buddha and the bhikkhus to their house for alms-food. After the meal they said to the Buddha, "Venerable Sir, we are making this offering to you today on behalf of our father. Kindly give a discourse specially for him." So the Buddha said, "My disciple! You are getting old; but you have not made any provisions of merit for your journey to the next existence; you should now find a support for yourself."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 235: You are now like a withered leaf; the messengers of death are near you; you are about to set out on a long journey; (yet), you have no provisions (for the journey).

 

Verse 236: Make a firm support for yourself; hasten to strive hard, and be wise. Having removed impurities and being free from moral defilements you shall enter the abodes of the Ariyas (i.e., Suddhavasa brahma realm).

 

Verse 237: Now you are of advanced age; you are going to the presence of the King of Death and you cannot stop on the way; (yet) you have no provisions (for the journey).

 

Verse 238: Make a firm support for yourself; hasten to strive hard, and be wise. Having removed impurities and being free from moral defilements you will no longer be subject to rebirth and decay.


At the end of the discourse the father of the donors of alms-food (i.e., the son of the butcher) attained Anagami Fruition.

Dhammapada Verses 235, 236, 237 and 238
Goghatakaputta Vatthu

Pandupalasova danisi
yamapurisapi ca te upatthita
uyyogamukhe
ca titthasi
patheyyampi ca te na vijjati.

So karohi dipamattano
khippam vayama pandito bhava
niddhantamalo anangano
dibbam ariyabhumim
upehisi.

Upanitavayo ca danisi
sampayatosi yamassa santikam
vase te natthi antara
patheyyampi ca te na vijjati.

So karohi dipamattano
khippam vayama pandito bhava
niddhantamalo anangano
na punam jatijaram upehisi.

Verse 235: You are now like a withered leaf; the messengers of death are near you; you are about to set out on a long journey; (yet), you have no provisions (for the journey).

Verse 236: Make a firm support for yourself; hasten to strive hard, and be wise. Having removed impurities and being free from moral defilements you shall enter the abodes of the Ariyas (i.e., Suddhavasa brahma realm).

Verse 237: Now you are of advanced age; you are going to the presence of the King of Death and you cannot stop on the way; (yet) you have no provisions (for the journey).

Verse 238: Make a firm support for yourself; hasten to strive hard, and be wise. Having removed impurities and being free from moral defilements you will no longer be subject to rebirth and decay.


1. uyyogamukhe: lit., about to set out on a long journey, i.e., the journey of samsara.

2. dibbam ariyabhumim: the celestial plane of the ariyas. The reference is to the Suddhavasa brahma realm or the Pure Abodes which are exclusively inhabited by tbe anagamis (the Never-Returners).


dhp239_B
Verse-Kệ 239

(183).- Tích chuyện người Bà-la-môn làm việc thiện - Kệ số 239

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến cách làm điều thiện của một người Ba-la-môn.

 

Thuở ấy ở nước Xá-vệ có một người Bà-la-môn thường đứng nhìn các vị tỳ-kheo xốc áo cà-sa lại cho ngay thẳng trước khi đi vào thành khất-thực. Người ấy nhận thấy vài vị tỳ-kheo có vạt áo hơi dài, chấm đất, ướt đi vì hơi sương còn đọng trên bãi cỏ. Sau khi chư Tăng đi vào thành, người Bà-la-môn liền lấy dao ra dẩy sạch các bụi cỏ. Ngày hôm sau, chư Tăng dừng lại sửa áo cà-sa cho chỉnh-tề, thì một vài vị lại để tà áo chấm vào đất ướt vừa làm cỏ xong. Người Bà-la-môn đợi cho đoàn khất-thực vào thành, mới lấy cát khô rải lên các vũng nước đọng. Hôm sau, trời bắt đầu nắng sớm, chư Tăng có nhiều vị đổ mồ-hôi, khiến cổ áo bị đẵm ướt. Người Bà-la-môn nghĩ, nên cất một trạm nghỉ chơn bên lề đường, để chư Tăng có nơi đứng sửa-soạn y-phục lại cho chỉnh-tề. Ông ta liền thuê người cất một trạm nghỉ mát bên đường, nơi các vị tỳ-kheo thường dừng chơn, để tránh cả khi nắng nóng và lúc mưa dầm. Khi xây cất xong, người Bà-la-môn thỉnh Đức Phật cùng chư Tăng đến làm lễ khánh-thành. Được hỏi lý-do vì sao cất trạm nghỉ chơn nầy, người Bà-la-môn mới bạch với Phật, từ bước một, ông đã làm cỏ, rải cát, rồi sau đó mới cất trạm nầy, để cúng-dường chư Tăng. Đức Phật khen-ngợi: "Nầy Bà-la-môn, công-đức hành thiện của thí-chủ đã được thực-hiện từng bước một, cũng như bực hiền-trí, ngày nầy qua ngày khác, chuyên-tâm lọc-sạch các bợn-nhơ lậu-hoặc từ từ cho đến khi được hoàn-toàn giải-thoát."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà vị Bà-la-môn chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Theo thứ-tự, từ chút, từ chút,

Người hiền-trí từng lúc, từng lúc,

Gột sạch bợn nhơ ra khỏi lòng mình,

Như thợ kim-hoàn lọc vàng hết cặn.

(Kệ số 239.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ ở Ấn-độ xưa, tiếng Pali là Brahmana

 

- Cà-sa: phiên-âm chữ Phạn Kasaya, áo màu vàng choàng bên ngoài của các vị tỳ-kheo.

 

- Khánh-thành: lễ ăn mừng vì được xây-dựng xong.

 

- Hành-thiện:Hành = làm;Thiện = lành.Hành-thiện là làm việc lành.

 

- Thí-chủ: Thí =bố-thí, đem cho; Thí-chủ là kẻ hiến-tặng; thọ-giả là người nhận của kẻ khác cho. Thí-chủ còn được gọi là đàn-việt.

 

- Bợn-nhơ lậu-hoặc: Lậu-hoặc là các phiền-não như tham, sân, si, mạn, nghi, từ trong tâm bộc-lộ ra (lậu = rỉ chảy ra) bằng hành-động xấu-ác, vì thế nên gọi là bợn-nhơ, chỗ dơ-dáy, bẩn-thỉu, cần gột rửa.

 

- Tu-đà-huờn: Xin nhắc lại, đó là quả-vị đầu-tiên, còn gọi là Nhập-Lưu hay Thất-Lai; tiếng Pali là Sotapatti.

 

- Hiền-trí: người tu-hành chơn-chánh, có trí-huệ rộng.

 

- Kim-hoàn: Kim = vàng; Hoàn = vòng. Thợ Kim-hoàn là thợ bạc.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc vị Bà-la-môn xây cất trạm nghỉ chơn để cúng dường chư Tăng. Công-đức hành-thiện nầy được thực-hiện từ từ, từng bước một, được Đức Phật khen ngợi.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là việc thanh-lọc các phiền-não ra khỏi Tâm, phải được thực-hiện: (1) từ-từ, từng bước một; (2) bền-chí, ngày nầy qua ngày khác, chẳng ngừng-nghỉ, cho đến khi được giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 239:

 

Bài Kệ so-sánh việc thanh-lọc các lậu-hoặc (= điều sai lầm như tham, sân, si, mạn, nghi, ác-kiến) ra khỏi thân-tâm của người tu-hành, cũng như người thợ bạc lọc hết chất cặn-bã trong khối vàng ròng.

 

Hai câu đầu nêu rõ việc thanh-lọc được tiến-hành từ bước một, ngày nầy qua ngày khác, chẳng ngừng. Nên học thuộc bài Kệ để tự nhắc-nhở mình: từ chút, từ chút và từng lúc, từng lúc, chẳng phút nào lơ-là cả, cho đến khi tâm được hoàn-toàn thanh-tịnh.

The Story of a Brahmin

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (239) of this book, with reference to a brahmin.

Once, a brahmin saw a group of bhikkhus re-arranging their robes as they were preparing to enter the city for alms-food. While he was looking, he found that the robes of some of the bhikkhus touched the ground and got wet because of dew on the grass. So he cleared that patch of ground. The next day, he found that as the robes of the bhikkhus touched bare ground, the robes got dirty. So he covered that patch of ground with sand. Then again, he observed that the bhikkhus would sweat when the sun was shining and that they got wet when it was raining. So finally, he built a rest house for the bhikkhus at the place where they gathered before entering the city for alms-food.

When the building was finished, he invited the Buddha and the bhikkhus for alms-food. The brahmin explained to the Buddha how he had performed this meritorious deed step by step. To him the Buddha replied "O Brahmin! The wise perform their acts of merit little by little, and gradually and constantly they remove the impurities of moral defilements."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 239: By degrees, little by little, from moment to moment a wise man removes his own impurities (moral defilements), as a smith removes the dross of silver or gold.


At the end of the discourse the brahmin attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 239
Annatara brahmana Vatthu

Anupubbena medhavi
thokam thokam khane khane
kammaro rajatasseva
niddhame malamattano.

Verse 239: By degrees, little by little, from moment to moment a wise man removes his own impurities (moral defilements), as a smith removes the dross of silver or gold.


dhp240_B
Verse-Kệ 240

(184).- Tích chuyện ham áo cà-sa của Trưởng-lão Thi-sa - Kệ số 240

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến lòng tham-muốn chiếc áo cà-sa của Trưởng-lão Thi-sa.

 

Thuở ấy ở nước Xá-vệ có vị Trưởng-lão tên là Thi-sa vừa nhận được một bộ áo cà-sa rất đẹp của một người thí-chủ dưng-cúng. Cả ngày, Trưởng-lão cứ rờ-rẫm chiếc áo, vuốt đi vuốt lại, trong lòng rất ham-thích. Nhưng tối hôm ấy, Trưởng-lão qua đời. Vì chẳng có ai là kẻ thừa-hưởng chánh-thức các của-cải của Trưởng-lão, nên các vị tỳ-kheo đồng-tu định đem chiếc áo ra cắt thành từng miếng nhỏ để phân chia nhau. Bấy giờ, từ trong chiếc áo, có một con rận nhỏ, chạy tới chạy lui lăng-xăng, trông bộ dáng như hoảng-hốt lắm vậy. Từ nơi hương-phòng, Đức Phật quán-thấy việc đó, Ngài ra lịnh cho các vị tỳ-kheo hãy khoan cắt tấm vải, chờ một tuần sau rồi sẽ phân-chia. Đến ngày thứ tám, các vị tỳ-kheo lấy chiếc áo cà-sa mới ra, thấy có một con rận nằm chết khô trong lằn xếp. Họ đến trình Đức Phật và thưa hỏi lý-do vì sao phải chờ đến một tuần mới cắt nhỏ chiếc áo ra. Đức Phật đáp: "Nầy chư tỳ-kheo, trước khi nhắm mắt lìa đời, tâm-niệm của tỳ-kheo Thi-sa là ham-thích chiếc áo cà-sa, cho nên tà-niệm nầy dẫn-dắt Thi-sa tái-sanh làm con rận để giữ lấy chiếc áo đó. Nhưng nhờ có công-đức tu-hành, nên bảy ngày sau mãn kiếp rận, Thi-sa được tái-sanh lên cõi Trời Đâu-suất. Vì lẽ đó, nên Như-Lai mới bảo chúng tăng hãy chờ trong một tuần-lễ rồi sẽ chia nhau chiếc áo. Nầy chư tỳ-kheo, lòng tham-ái rất là độc-hiểm, nó cũng như chất sét ( =rỉ) ăn mòn lần thanh sắt, rồi đưa ta tái-sanh vào cõi ác. Vì lẽ nầy, tỳ-kheo chớ nên tham lợi-dưỡng, mê-thích về tứ-sự cúng-dường của các thí-chủ."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Như sét từ thanh sắt sanh ra,

Rồi sét lại ăn mòn thanh sắt;

Kẻ ham lợi-dưỡng tạo điều ác,

Ác nầy trở lại hại anh ta.

(Kệ số 240.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Thi-sa: tên vị Trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Tissa.

 

- Thí-chủ: Thí = bố-thí. Thí-chủ là người đem của-cải ra hiến-tặng.

 

- Qua đời = chết đi.

 

- Thừa-hưởng chánh-thức: người nhận-lãnh gia-tài.

 

- Con rận: loại côn-trùng, sống trong quần-áo, cắn hút máu người

 

- Hương-phòng: căn phòng có hương thơm dành cho Đức Phật.

 

- Quán-thấy: ngồi Thiền, tâm an-định, nhìn thấy rõ trong tâm.

 

- Tâm-niệm: ý-nghĩ trong tâm. Tà-niệm = ý-nghĩ xấu-ác.

 

- Mãn kiếp: hết kiếp; đời sống chấm dứt.

 

- Trời Đâu-suất: cõi Trời cao nhứt của Dục-giới, hiện có Đức Đại-Bồ-tát Di-Lặc đang giảng-pháp tại đó. Tiếng Pali là Tusita.

 

- Tham-ái = Tham =ham quá chừng; Ái =thương, thích. Chính lòng tham-ái là nguồn-gốc của khổ đau. Tiếng Pali là Tanhà.

 

- Lợi-dưỡng: tiện-nghi vật-chất để cho đời sống được quá sung-sướng về thể-xác.

 

- Tứ-sự cúng-dường: Tứ = bốn; Sự = việc; Cúng-dường: cung-cấp để nuôi-dưỡng. Tứ-sự cúng-dường là bốn thứ vật-dụng mà người tín-chủ dưng-cúng cho tỳ-kheo: (1) thực-phẩm; (2) quần-áo, (3) giường chiếu; (4) thuốc men.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa:

 

1) Tầm quan-trọng của tâm-niệm vào phút lâm-chung: khi gần chết, trong tâm khởi tà-niệm, sẽ bị tái-sanh vào cõi dữ.

 

2) Lời Phật dạy: dẹp tham-ái, chớ mê lợi-dưỡng, là lời dạy cắt-đứt nguồn-gốc của khổ-đau (Khổ-đế) dứt được vòng lẩn-quẩn của Luân-hồi. Tham-ái (Tanhà) chính là Chơn-lý thứ hai trong Tứ-diệu-đế.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 240:

 

Bài Kệ so-sánh cái hại của sự tham-ái cũng như chất sét từ trong thanh sắt sanh ra, rồi lại ăn mòn thanh-sắt. Tham-ái cũng vậy, khởi từ trong tâm mà ra, vì quá ham-thích, rồi bị sự ràng-buộc nầy mà phải chịu nhiều khổ-đau sau nầy, trong cuộc sống Luân-hồi lẩn-quẩn.

The Story of Thera Tissa

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (240) of this book, with reference to Thera Tissa.

Once there was a thera named Tissa in Savatthi. One day, he received a set of fine robes and was very pleased. He intended to wear those robes the next day. But that very night he died and because he was attached to the fine set of robes, he was reborn as a louse and lived within the folds of the robes. As there was no one to inherit his belongings, it was decided that this particular set of robes should be shared by other bhikkhus. When the bhikkhus were preparing to share out among themselves, the louse was very much agitated and cried out, "They are destroying my robes!" This cry was heard by the Buddha by means of his divine power of hearing. So he sent someone to stop the bhikkhus and instructed them to dispose of the robes only at the end of seven days. On the eighth day, the set of the robes which belonged to Thera Tissa was shared out by the bhikkhus.

Later, the Buddha was asked by the bhikkhus why he had told them to wait for seven days before sharing out the robes of Thera Tissa. To them the Buddha replied, "My sons, Tissa had his mind attached to this particular set of robes at the time of his death, and so he was reborn as a louse and stayed in the folds of the robes. When you all were preparing to share out the robes, Tissa the louse was very much in agony and was running about to and fro in the folds of the robes. If you had taken the robes at that time Tissa the louse would have felt very bitter against you and he would have to go to niraya. But now, Tissa has been reborn in the Tusita deva world, and that is why I have allowed you to take the robes. Indeed, bhikkhus, attachment is very dangerous; as rust corrodes iron from which it is formed, so also, attachment destroys one and sends one to niraya. A bhikkhu should not indulge too much in the use of the four requisites or be very much attached to them."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 240: Just as rust is formed from iron, and corrodes the iron from which it is formed, so also, his own deeds lead the transgressor to a lower plane of existence (duggati).

Dhammapada Verse 240
Tissatthera Vatthu

Ayasava malan samutthitam
tatutthaya tameva khadati
evam atidhonacarinam
1
sani kammani nayanti duggatim.

Verse 240: Just as rust is formed from iron, and corrodes the iron from which it is formed, so also, his own deeds lead the transgressor to a lower plane of existence (duggati).


1. atidhonacarinam - transgressor: i.e., one who transgresses or indulges too much in the use of 'dhona', the four requisites of a bhikkhu.


dhp241_B
Verse-Kệ 241

(185).- Tích chuyện tỳ-kheo Lã-lưu-đà-di - Kệ số 241

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến tỳ-kheo Lã-lưu-đà-di rất lười đọc-tụng kinh kệ.

 

Thuở ấy, dân chúng nước Xá-vệ rất ái-mộ hai vị đại-đệ-tử của Phật Thích-ca là Tôn-giả Xá-lợi-phất và Mục kiền-liên. Tỳ-kheo Lã-lưu-đà-di, lòng hay ganh-tị, bảo với dân-chúng rằng, mình cũng thuyết-pháp chẳng thua gì hai vị Tôn-giả kia. Họ mời tỳ-kheo Lã lên nói pháp, nhưng ông ta chẳng thốt nên lời. Ông ta liền bảo, hãy mời hai vị khác lên nói trước, rồi sẽ tới phiên mình. Sau khi hai vị tỳ-kheo đăng-đàn thuyết-pháp xong, thầy Lã bước lên, nhưng miệng lại ngậm câm như hến. Dân-chúng mất cả kiên-nhẫn, quát-tháo lên. Lã hoảng-hốt, bỏ chạy; bị rượt đuổi quá, Lã lọt xuống hầm tiêu.

 

Khi Đức Phật được biết sự-việc đó, Ngài dạy: ‘’Nầy chư Tăng, Lã-lưu-đà-di chẳng có học-tập nhiều về Chánh-pháp. Kinh-kệ có nghe qua, y đâu chịu thường đọc-tụng, nên chẳng nhớ được gì. Chút ít gì y đã nghe, vì chẳng thường nhắc lại, nên đã rỉ-sét trong tâm của y."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chẳng tụng-niệm là vết nhơ Kinh-kệ,

Chẳng siêng dọn là dơ-bẩn cửa nhà,

Nhác lờ-đờ là sắc-đẹp phôi-pha,

Thường bất-cẩn là sơ-hở phòng-vệ.

(Kệ số 241.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tỳ-kheo: tu-sĩ Phật-giáo, phiên-âm chữ Phạn Bhikkhu, còn đọc là Bí-sô, cũng gọi là Khất-sĩ.

 

- Lã-lưu-đà-di: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Làludàyi.

 

- Kinh-Kệ: Kinh = lời dạy đầy-đủ của Đức Phật; Kệ = bài thơ ngắn, tóm-tắt lại bài Kinh cho dễ nhớ. Thí-dụ: Kinh A-di-đà; Kệ số 241,v.v.

 

- Ái-mộ: Ái = thương-mến; Mộ = kính-mộ.

 

- Đăng-đàn: Đăng = bước lên cao; Đàn = cái đài cao, để nói pháp, hay làm lễ. Đăng-đàn là bước lên đàn, nói chuyện với công-chúng.

 

- Câm như hến: Hến = loài sò, hai vỏ ngậm lại kín mít.

 

- Rỉ-sét = chữ nầy được dùng theo nghĩa bóng là trở nên mờ-tối.

 

- Vết-nhơ: chỗ dơ-bẩn; dịch các chữ Hán-Việt là: ô-trược, ô-uế.

 

- Nhác lờ-đờ = lười-biếng, lừ-đừ, chẳng thiết làm việc chi cả.

 

- Sắc-đẹp phôi-pha = vẻ đẹp bị giảm đi từ từ.

 

- Bất-cẩn: Bất = chẳng; Cẩn = cẩn-thận. Bất-cẩn là vô-ý vô-tứ.

 

- Phòng-vệ = giữ-gìn. Ở đây, chữ Phòng-vệ có nghĩa là ngăn-giữ các tội-ác, chẳng cho xảy ra.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc buồn-cười của một vị tỳ-kheo, vì lười-nhác chẳng đọc-tụng Kinh-Kệ, nên khi lên pháp-đàn chẳng nói được lời nào, bị dân-chúng phản-đối, bỏ chạy, lọt xuống ... hầm phẩn!

 

Đức Phật dạy, phải siêng đọc-tụng Kinh-kệ, nếu lười-biếng thì bao nhiêu những đìều nghe dạy, lần lần rỉ-sét trong tâm, rồi quên mất

 

Siêng đọc-tụng Kinh-Kệ như thế nào? Nếu mỗi ngày, có thời-khoá tụng-niệm, thì rất tốt. Bằng chẳng đủ thì-giờ, thì mỗi tuần nên đi chùa, cùng tụng-niệm theo các bạn đồng-tu, trong khoá lễ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 241:

 

Trong bài Kệ nầy, Đức Phật kể ra bốn điều ô-uế ( = nhơ-bẩn):

 

1) Chẳng tụng-niệm là vết nhơ Kinh-Kệ: Kinh-Kệ chẳng nhơ, chỉ người tu-hành chẳng chịu đọc-tụng, đó là làm dơ-bẩn Kinh-Kệ. Có người thỉnh Kinh về, để cao trên bàn thờ Phật, mà chẳng lấy ra đọc và tìm hiểu để ứng-dụng tu-hành, đó là để Kinh đóng bụi-bặm cho...dơ!

 

2) Chẳng siêng dọn là dơ-bẩn cửa nhà: vì rác-rến đầy nhà.

 

3) Nhác lờ-đờ là sắc-đẹp phôi-pha: chẳng siêng giữ-gìn sắc-đẹp, chẳng năng trang-điểm, thì dù có đẹp cũng thiếu phần sắc-sảo.

 

4) Thường bất-cẩn là sơ-hở phòng-vệ: Câu nầy có hai nghĩa: (a) ai vô-ý, vô-tứ thì chẳng biết giữ-gìn cho khỏi bị tai-nạn; (b), ai lơ-là trong việc giữ giới-luật, thì tội-lỗi mới có dịp sanh ra; người siêng giữ giới, tâm sẽ sớm an-định, nhờ đó trí-huệ phát-sáng mà biết vững bước trên con đường tu-hành để sớm được giác-ngộ và giải-thoát.

The Story of Laludayi

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (241) of this book, with reference to Thera Laludayi.

In Savatthi, people coming back after hearing the discourses given by Thera Sariputta and Thera Maha Moggallana were always full of praise for the two Chief Disciples. On one occasion, Laludayi, hearing their praises, said to those people that they would be saying the same about him after listening to his discourses. So Laludayi was asked to deliver a discourse; he climbed on to the platform but he could not say anything. So he asked the audience to let another bhikkhu take the turn first and that he would take the next turn. In this way, he put off three times.

The audience lost patience with him and shouted, "You big fool! When we praised the two Chief Disciples you were vainly boasting that you could preach like them. Why don't you preach now ?" So Laludayi ran away and the crowd chased him. As he was frightened and was not looking where he was going, he fell into a latrine pit.

When the Buddha was told about this incident, he said, "Laludayi had learned very little of the Dhamma; he does not recite the religious texts regularly; he has not memorized anything. Whatever little he has learned gets rusty by not reciting."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 241: Non-recitation is the taint of learning; non-maintenance is the taint of houses; indolence is the taint of beauty; unmindfulness is the taint of one who keeps watch.

Dhammapada Verse 241
Laludayi Vatthu

Asajjhayamala manta
anutthanamala ghara
malam vanaassa kosajjam
pamado rakkhato malam.

Verse 241: Non-recitation is the taint of learning; non-maintenance is the taint of houses; indolence is the taint of beauty; unmindfulness is the taint of one who keeps watch.


dhp242_B
dhp243_B
Verse-Kệ 242-243

(186).- Tích chuyện người bị vợ ngoại-tình - Kệ số 242 và 243

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một người bị vợ ngoại-tình.

 

Thuở ấy ở thành Vương-xá, có một người đàn-ông bị vợ ngoại-tình. Anh ta rất xấu-hổ với mọi người, nên chẳng dám đến gần đám đông. Bẵng đi một thời-gian rất lâu, anh chẳng đi chùa. Một hôm vào tối ngày rằm, anh đến tịnh-xá Trúc-lâm. Đức Phật hỏi, sao lâu quá chẳng thấy anh đến nghe pháp. Anh thuật gia-cảnh của mình cho Đức Phật nghe. Đức Phật an-ủi: "Nầy thiện-nam-tử, những người đàn-bà trắc-nết cũng như dòng sông nước chảy, cũng như con đường đất để người đi qua, cũng như cửa tiệm bán rượu, cũng như một quán-trọ trong đêm tối, cũng như lu nước để ngoài sân cho khách bộ-hành đỡ khát, họ giao-du với tất cả mọi hạng người chẳng kể tốt xấu. Tà-hạnh quả thật là một nguyên-nhơn sa-đoạ của phụ-nữ."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Tà-hạnh là vết nhơ phụ-nữ,

Xan-tham là uế-trược người cho,

Điều tệ-ác quả là cấu-uế

Trong đời nầy và các đời kế.

(Kệ số 242.)

 

Trong các mối bẩn-nhơ vừa điểm

Vô-minh là ô-uế cực-hiểm.

Nầy nầy, hỡi các vị tỳ-kheo,

Mau rửa sạch, theo hàng Vô-nhiễm.

(Kệ số 243.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ngoại-tình: Ngoại = ngoài; Tình = ái-tình; Ngoại-tình là đã có chồng hay vợ chánh-thức mà còn dan-díu tình-ái với kẻ khác.

 

- Trúc-lâm: tên tịnh-xá nầy tiếng Pali là Veluvana, vườn trúc.

 

- Vương-xá: tên thủ-đô xứ Ma-kiệt-đà (Magadha), Pali: Ràjagaha

 

- Gia-cảnh: Gia = nhà;cảnh = tình-cảnh. Gia-cảnh = tình-cảnh ở nhà

 

- Thiện-nam-tử: Thiện =lành; Nam-tử = đàn-ông. Thiện-nam-tử là người tín-đồ đàn ông. Phái nữ gọi là Thiện-nữ-nhơn.

 

- Trắc nết: tánh-hạnh chẳng ra gì, chẳng trung-thành với chồng.

 

- Giao-du: giao-thiệp, chơi-bời với nhau.

 

- Tà-hạnh: Tà = tà-vạy, xiêng-xéo; Hạnh = hạnh-kiểm, tánh-tình. Tà-hạnh, Tà-dâm là chẳng trung-thành với chồng hay vợ, dan-díu tình-ái với kẻ khác; có tánh lang-chạ.

 

- Sa-đoạ: rơi xuống thấp, lọt vào hạng hèn-hạ.

 

- Xan-tham: bỏn-sẻn, rít-róng, quá hà-tiện.

 

- Uế-trược, ô-uế, cấu-uế = chỗ dơ-bẩn, xấu-xa.

 

- Vô-minh: Vô = chẳng; Minh = sáng. Vô-minh là si-mê, ngu-tối.

 

- Cực-hiểm: cực-kỳ độc-hiểm; hết sức nguy-hiểm.

 

- Vô-nhiễm: Vô = chẳng; Nhiễm = dính nhơ. Bực vô-nhiễm là bực Thánh, chẳng còn bị phiền-não làm nhiễm-ô nữa.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tich chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc một người đàn-ông bị vợ ngoại-tình, xấu-hổ với kẻ khác, nên chẳng đi chùa nữa. Đức Phật an-ủi người ấy và bảo rằng, kẻ trắc-nết chẳng trung-thành trong tình-nghĩa vợ-chồng, sẽ sa-đoạ vào cõi dữ.

 

Tuy Tích chuyện chỉ nói đến sự trắc-nết của đàn-bà, nhưng ta phải hiểu ý-nghĩa của lời Phật dạy, chẳng phải chỉ ứng vào người đàn-bà, mà luôn cho cả đàn-ông. Lòng trung-thành trong tình-nghĩa vợ-chồng là nền-tảng của hạnh-phước gia-đình.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 242 và 243:

 

Nhơn Tích chuyện nói về sự chẳng trung-thành của người đàn-bà đối với chồng là một vết nhơ về đức-hạnh của phụ-nữ, Đức Phật kể ra các điều nhơ-bẩn khác, giúp ta biết để tránh khỏi. Đó là: (1) tà-dâm, lén-lút giao-thiệp bất-chánh với người khác phái; (2)xan-tham, rít-róng chẳng chịu bố-thí; (3) hành-động tệ-ác gây thiệt-hại cho kẻ khác; và nhứt là (4) sự ngu-tối tức là vô-minh, rất nguy-hiểm, vì tâm-trí còn ngu-tối chẳng rõ được đâu là đường lành mà theo, nẻo ác để tránh.

 

Hai câu chót của bài Kệ 243 là lời kêu gọi khẩn-thiết của Đức Phật, dạy các tỳ-kheo nên mau mau rửa sạch tâm mình cho thật thanh-tịnh, để dấn bước theo các bực Thánh, là hàng Vô-nhiễm, chẳng hề bị các vết-nhơ tội-lỗi làm ô-uế. 

The Story of a Man Whose Wife Committed Adultery

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verses (242) and (243) of this book, with reference to a man whose wife committed adultery.

Once, the wife of a man committed adultery. He was so ashamed on account of his wife's misbehaviour that he dared not face anyone; he also kept away from the Buddha. After some time, he went to the Buddha and the Buddha asked him why he had been absent all that time and he explained everything. On learning the reason for his absence, the Buddha said, "My disciple, women are just like a river, or a road, or a liquor shop or a rest house, or a water-pot stand at the roadside; they associate with all sorts of people. Indeed, sexual misconduct is the cause of ruin for a woman."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 242: Sexual misconduct is the taint of a woman; stinginess is the taint of a giver; evil ways are indeed taints in this world as well as in the next.

 

Verse 243: A taint worse than these is ignorance (of the Truth), which is the greatest of taints. O bhikkhus, abandon this taint and be taintless.


At the end of the discourse many people attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 242 and 243
Annatarakulaputta Vatthu

Malitthiya duccaritam
maccheram dadato malam
mala ve papaka dhamma
asmim loke paramhi ca.

Tato mala malataram
avijja paramam malam
etam malam pahantvana
nimmala hotha bhikkhavo.

Verse 242: Sexual misconduct is the taint of a woman; stinginess is the taint of a giver; evil ways are indeed taints in this world as well as in the next.

Verse 243: A taint worse than these is ignorance (of the Truth), which is the greatest of taints. O bhikkhus, abandon this taint and be taintless.


dhp244_B
dhp245_B
Verse-Kệ 244-245

(187).- Tích chuyện tỳ-kheo Chu-la-sĩ - Kệ số 244 và 245

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị tỳ-kheo Chu-la-sĩ, vi-phạm giới-luật cấm trị bịnh người để lấy công.

 

Thuở ấy, có vị tỳ-kheo tên là Chu-la-sĩ biết nghề làm thuốc, thường đi trị bịnh cho kẻ khác và nhận được nhiều tặng-phẩm. Một hôm, Chu đi thăm bịnh-nhơn và được biếu-tặng hậu-hĩ. Trên đường về, gặp Tôn-giả Xá-lợi-phất đang đi khất-thực, Chu liền đem các tặng-phẩm vừa nhận được ra chia-xẻ với Tôn-giả. Nhưng Tôn-giả Xá-lợi-phất lẵng-lặng đi tới, chẳng nói gì cả. Khi về đến tịnh-xá, các tỳ-kheo khác thưa-trình cùng Đức Phật về việc Tôn-gìả Xá-lợi-phất đã từ-chối quà-tặng của tỳ-kheo Chu-la-sĩ. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, Xá-lợi-phất chẳng nhận số tặng-phẩm của tỳ-kheo Chu-la-sĩ chia-xẻ, là vì Chu đã vi-phạm giới-luật, đi hành-nghề y-sĩ để được trả công. Tỳ-kheo nên biết, vi-phạm giới-luật thì rất dễ-dàng, sống buông-lung, chạy theo các lợi-dưỡng và tiện-nghi vật-chất, nào khác gì con quạ trơ-trẽn cắn lén sau lưng người, chẳng biết hổ-thẹn; tư-tưởng, lời nói cùng hành-động đều chẳng được chơn-thiện. Trái-lại, giữ giới-đức cho thanh-tịnh, khép mình trong kỷ-luật khắt-khe, biết hổ-thẹn khi lầm-lỗi, là lối sống tuy khó-khăn nhưng sớm đến nơi giác-ngộ và giải-thoát."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây, nhờ đó một số tỳ-kheo chứng-đắc được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Dễ quá mà, sống đời không biết thẹn,

Trơ-trẽn như quạ cắn lén sau lưng,

Ham công-kích người, ngã-mạn, ngông-cuồng,

Liều-lĩnh, nhiễm-ô, tánh thường hư-đốn.

(Kệ số 244.)

 

Thật là khó, sống cuộc đời khiêm-tốn,

Có lòng tự-thẹn, có hạnh viễn-ly,

Biết lánh xa tất cả mọi ràng-buộc,

Tìm cầu thanh-tịnh, tâm hằng sáng-suốt.

(Kệ số 245.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Chu-la-sĩ: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Cùlasàrì.

 

- Hành-nghề y-sĩ: làm nghề thầy thuốc chữa bịnh cho người.

 

- Lợi-dưỡng: các nguồn lợi về vật-chất để nuôi sống.

 

- Trơ-trẽn: chẳng biết hổ-thẹn, chai-lỳ chẳng biết mắc-cỡ.

 

- Chơn-thiện: Chơn = chơn-chánh, đứng-đắn; Thiện = lành.

 

- Ngã-mạn = kiêu-căng, phách-lối, tự cho mình hơn kẻ khác.

 

- Ngông-cuồng: Ngông = ngông-nghênh, chẳng biết sợ ai cả; Cuồng = điên-khùng. Người ngông-cuồng là kẻ ngang-tàng, dữ-ác.

 

- Hư-đốn: hư-hỏng và đốn-mạt; rất tệ-hại; chẳng ra gì.

 

- Khiêm-tốn: biết nhũn-nhặn, chẳng hề khoe-khoang.

 

- Tự-thẹn: biết mắc-cỡ lấy mình.

 

- Hạnh viễn-ly: Hạnh = đức-hạnh; Viễn = xa; Ly = lìa. Người có hạnh viễn-ly biết xa-lìa các lợi-dưỡng, chẳng ham thú-vui vật-chất, tránh xa mọi ràng-buộc.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một tỳ-kheo vi-phạm giới-luật, hành-nghề ý-sĩ để kiếm lợi. Ta phải hiểu rõ ý-nghĩa của sự cấm-đoán nầy: Đức Phật cấm tất cả tỳ-kheo có nghề riêng để sanh-sống, đó là vì muốn các tu-sĩ diệt được lòng tham; chớ Đức Phật chẳng cấm-đoán việc trị bịnh giúp đời. Cứu người bịnh qua khỏi cơn đau là điều thiện, đáng khuyến-khích; nhưng cứu người với lòng tham muốn để được đền công, điều nầy trái với giới-luật. Tu-sĩ Phật-giáo còn được gọi là khất-sĩ, nghĩa là phải đi ăn xin, để dẹp lòng tự-ái của mình, hạ mình xuống sống nhờ sự bố-thí của kẻ khác; vả lại khi đi khất-thực, có dịp gặp dân-chúng, để chỉ-dạy Giáo-pháp cho họ. Hiểu được ý-nghĩa nầy, mới biết tại sao Tôn-giả Xá-lợi-phất chẳng chịu nhận các tặng-phẩm của tỳ-kheo Chu-la-sĩ, vì các tặng-phẩm đó do công trị-bịnh mà ra, trái với giới-luật.

 

Tích chuyện còn ghi lại các lời dạy của Đức Phật: (1) sống buông-lung, khinh thường giới-luật, thì quá dễ và được nhiều lợi-dưỡng, đời sống sung-túc trong tiện-nghi vật-chất. Nhưng đó chẳng phải là con đường chơn-chánh mà người tu-sĩ nên noi theo; (2) sống theo giới-luật, biết hổ-thẹn khi lầm-lỗi, tuy khó khăn hơn, nhưng đó là con đường đưa ta sớm đến nơi giác-ngộ và giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 244 và 245:

 

Hai bài Kệ đối-ngược nhau, một bài nói về lối sống buông-lung, quá dễ-dãi, một bài nói về lối sống khắt-khe, tuân theo giới-luật.

 

Thử phân-tách từng câu bài Kệ số 244:

 

1) Dễ quá mà, sống đời không biết thẹn: Chẳng biết thẹn là xem thường mọi tội-ác, chẳng thấy xốn-xang, thẹn-thùng trong lòng, khi làm lỗi. Danh-từ chuyên-môn chỉ sự biết hổ-thẹn là tàm, hay quí; có lòng biết thẹn là có tâm tàm, tâm quí. Trái lại, người chẳng biết thẹn với lòng mình là người có tâm vô-tàm, có tâm vô-quí.

 

2) Trơ-trẽn như quạ cắn lén sau lưng: so-sánh người có tâm vô-tàm thì trơ-trẽn, chai-lỳ như một con quạ đen-đúa, lén mổ kẻ khác.

 

3) Ham công-kích người, ngã-mạn, ngông-cuồng: đây là ba vết nhơ cùng bắt nguồn từ tánh chấp-ngã (tự xem mình là hơn). Ham công-kích người, ham làm hại người, vì chẳng muốn người hơn mình; ngã-mạn là phách-lối, kiêu-căng, chẳng muốn ai bằng hay hơn mình; ngông-cuồng là chẳng sợ tội-ác gây ra quả-báo dữ-xấu, cứ hành-động ngang-tàng để tranh phần hơn với kẻ khác

 

4) Liều-lĩnh, nhiễm-ô, tánh thường hư-đốn: vì ỷ mình giỏi nên sanh ra liều-lĩnh; vì chẳng biết giữ-gìn, nên bị tội-ác làm nhiễm-ô; do đấy mà tánh-tình trở nên hư-đốn, mãi trôi-lăn trong cõi Luân-hồi.

 

Phân-tách bài Kệ số 245, ta thấy có hai đức-tánh quí-báu:

 

(1) sự khiêm-tốn, do lòng biết tự-thẹn sanh ra, biết nhũn-nhặn;

 

(2) hạnh viễn-ly, biết lánh xa mọi ràng-buộc. (Cái chi ràng-buộc? Các tội-lỗi ràng-buộc ta theo nghiệp xấu, nên phải trôi lăn mãi trong cõi Luân-hồi khổ-đau lận-đận).

 

Đường nầy khó, nhưng nhờ đó sớm được giác-ngộ và giải-thoát.

The Story of Culasari

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (244) and (245) of this book, with reference to a bhikkhu named Culasari who practised medicine.

One day, Culasari came back after ministering to a patient. On his way he met Thera Sariputta and related to him how he went to treat a patient and had been given some delicious food for his services. He also begged Thera Sariputta to accept some of the food from him. Thera Sariputta did not say anything to him but continued on his way. Thera Sariputta refused to accept food from that bhikkhu because that bhikkhu had transgressed the law prohibiting bhikkhus from practising medicine. Other bhikkhus reported about this to the Buddha and he said to them, "Bhikkhus! A bhikkhu who is shameless is coarse in thought, word and deed. He is arrogant like a crow, he would find a living by unlawful means and live in comfort. On the other hand, life for a bhikkhu who has a sense of shame is not easy."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 244: Life is easy for one who is shameless and bold as a crow, who slanders others and is pretentious, aggressive and corrupt.

 

Verse 245: Life is hard for one with a sense of shame, who always seeks purity, who is free from attachment, who is modest and who sees clearly what is proper livelihood.


At the end of the discourse many people attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 244 and 245
Culasaribhikkhu Vatthu

Sujivam ahirikena
kakasurena dhamsina
pakkhandina pagabbhena
samkilitthena jivitam.

Hirimata ca dujjivam
niccam sucigavesina
alinena' ppagabbhena
suddhajivena passata.

Verse 244: Life is easy for one who is shameless and bold as a crow, who slanders others and is pretentious, aggressive and corrupt.

Verse 245: Life is hard for one with a sense of shame, who always seeks purity, who is free from attachment, who is modest and who sees clearly what is proper livelihood.


dhp246_B
dhp247_B
dhp248_B
Verse-Kệ 246-248

(188).- Tích chuyện năm người cãi nhau về ngũ-giới - Kệ số 246, 247 và 248

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc năm người Phật-tử cãi nhau về ngũ-giới.

 

Thuở ấy vào dịp lễ thọ Bát-quan-trai-giới, có năm vị Phật-tử cãi nhau về cách giữ đúng ngũ-giới cho người tu-hành tại-gia. Một vị nói: "Tôi cố giữ giới chẳng sát-sanh, nhưng thấy giới nầy là khó nhứt trong ngũ-giới". ’Một vị khác cãi, giới tà-dâm là khó giữ nhứt. Còn một vị khác lại bảo, giới cấm uống rượu mới là khó giữ, trong năm giới. Vì sự bất-đồng-ý nầy, họ đến yết-kiến Đức Phật. Đức Phật: "Nầy chư thiện-nam-tử, chẳng nên xem bất cứ một giới-luật nào là quan-trọng nhứt hay ít quan-trọng hơn các giới kia. Giới nào cũng khó giữ cả, nhưng phải cố giữ sao cho trọn-vẹn cả năm giới mới được."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên các bài Kệ sau đây, nhờ đó mà cả năm vị Phật-tử chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Kẻ nào sát-hại mạng chúng-sanh,

Của không cho mà cứ lấy giành,

Tiết trinh kẻ khác lại xâm-phạm,

Nói lời dối-trá, chẳng chánh-chơn,

Chất say, rượu mạnh dùng luôn,

Đó là đào lỗ tự chôn đời nầy.

(Kệ số 246, 247.)

 

Nên biết điều nầy, hỡi các người hiền!

Tự-chế chẳng làm ác, đâu phải dễ,

Tham-lam và tội-lỗi, chẳng nên để

Chúng lôi kéo vào cảnh khổ triền-miên.

(Kệ số 248.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Phật-tử: Phật = giác, hiểu biết rõ; Tử = con. Phật-tử là người theo đạo Phật, tự xem mình là đứa con tinh-thần của Đức Phật.

 

- Ngũ-giới: Ngũ = năm; Giới = điều răn-cấm trong đạo. Với người tu tại-gia, ngũ-giới gồm có: (1) cấm sát-sanh; (2) cấm trộm-cướp; (3) cấm tà-dâm; (4) cấm nói dối; (5) cấm uống rượu. Tiếng Pali về ngũ-giới là pancasila.

 

- Lễ thọ Bát-quan-trai-giới: Theo lễ nầy, người Phật-tử vào chùa tu-hành trong 24 tiếng đồng-hồ, tuân giữ tám điều răn-cấm gồm có năm giới của người tu tại-gia cộng thêm ba giới nữa là: chẳng nằm giường cao; chẳng trang-điểm vòng-vàng, thoa dầu thơm; chẳng ăn phi-thời ( = chẳng ăn sái-giờ, ngoài bữa ăn trưa ra). Đức Phật hứa, ai thọ Bát-quan-trai-giới đàng-hoàng, thì chẳng hề bị sa vào địa-ngục.

 

- Tu tại-gia: tu-hành tại nhà. Đức Phật Thích-ca có bốn hạng đệ-tử, gọi là tứ-chúng. Tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni là hai hạng xuất-gia, rời bỏ cuộc sống thế-tục, vào chùa tu-hành; ưu-bà-tắc với ưu-bà-di là hai hạng tại-gia, đàn-ông và đàn-bà, vẫn giữ đời sống có gia-đình.

 

- Sát-sanh: Sát = giết; Sanh = sanh-mạng chúng-sanh.

 

- Tà-dâm = đã có vợ, chồng chánh-thức rồi mà còn dan-díu tình-ái với kẻ khác.

 

- Tiết trinh: sự trong-sạch, trung-thành của phụ-nữ đối với chồng.

 

- Tự-chế: tự mình răn-cấm, tự mình giữ-gìn lấy mình chẳng gây tội-lỗi.

 

- Triền-miên = lâu-dài chẳng dứt.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, thuật lại sự bất-đồng-ý của năm người về ngũ-giới. Ý-nghĩa của Tích chuyện là lời dạy của Đức Phật: giới nào cũng quan-trọng như nhau, phải giữ cho thật đầy-đủ thì mới được giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của các bài Kệ số 246, 247 và 248:

 

Hai bài Kệ 246 và 247 kể lại năm giới của người tu tại-gia, rất dễ hiểu, mỗi câu là một giới. Nên học thuộc để nhớ đủ năm giới. Lời răn-dạy rất khẩn-thiết là câu chót: hễ ai phạm các giới đó là đào lỗ tự chôn đời mình.

 

Bài Kệ số 248 khuyên ta nên biết tự-chế, chống lại sự tham-lam và tội-lỗi; đừng để chúng lôi-kéo ta vào cảnh khổ triền-miên của Luân-hồi.

The Story of Five Lay-Disciples

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (246), (247) and (248) of this book, with reference to five lay-disciples.

On one occasion five lay-disciples were keeping sabbath at the Jetavana monastery. Most of them were observing only one or two of the five moral precepts (sila). Each one of them observing a particular precept claimed that the precept observed by him was the most difficult and there were a lot of arguments. In the end, they came to the Buddha with this problem. To them the Buddha said, "You should not consider any individual precept as being easy or unimportant. Each and every one of the precepts must be strictly observed. Do not think lightly of any of the precepts; none of them is easy to observe."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verses 246 & 247: He who destroys life, tells lies, takes what is not given him, commits adultery and takes intoxicating drinks, digs up his own roots even in this very life.

 

Verse 248: Know this, O man! Not restraining oneself is evil; do not let greed and ill will subject you to prolonged misery.


At the end of the discourse the five lay-disciples attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 246, 247 and 248
Panca Upasaka Vatthu

Yo panamatipateti
musavadanca bhasati
loke adinnamadiyati
paradaranca gacchati.

Suramerayapananca
yo naro anuyunjati
idheva meso lokasmim
mulam khanati attano.

Evam bho purisa janahi
papadhamma asannata
ma tam lobho adhammo ca
ciram dukkhaya randhayum.

Verses 246 & 247: He who destroys life, tells lies, takes what is not given him, commits adultery and takes intoxicating drinks, digs up his own roots even in this very life.

Verse 248: Know this, O man! Not restraining oneself is evil; do not let greed and ill will subject you to prolonged misery.


dhp249_B
dhp250_B
Verse-Kệ 249-250

(189).- Tích chuyện vị tỳ-kheo ganh-tị - Kệ số 249 và 250

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến thái-độ ganh-tị của một vị tỳ-kheo trẻ tuổi tên là Thi-sa.

 

Thuở ấy có một tỳ-kheo trẻ tuổi tên là Thi-sa, tánh hay ganh-tị, thường chê-bai sự bố-thí cúng-dường của người khác. Thậm-chí, Thi-sa cũng chẳng hề khen ngợi công-đức của hai vị đại-thí-chủ nổi tiếng đương-thời là cư-sĩ Cấp-cô-độc và nữ-cư-sĩ Vi-sa-kha. Hơn nữa, Thi-sa lại thường khoe-khoang, tự-hào rằng gia-đình mình rất giàu-có, tiền-bạc nhiều như nước trong giếng, ai muốn đến xin, cứ việc múc lấy mà dùng.

 

Nghe lời khoác-lác nầy, các vị tỳ-kheo khác rất nghi-ngờ mới tìm về làng của Thi-sa; họ khám-phá ra rằng, nhà-cửa của Thi-sa rất là bần-cùng, các thân-nhơn họ hàng của Thi-sa bữa đói, bữa no. Các vị tỳ-kheo mới trình lên Đức Phật sự-việc đó. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, tu-sĩ nào chẳng hoan-hỉ khi thấy các vị tỳ-kheo khác nhận được sự cúng-dường, và tỏ lòng ganh-tị, thì chẳng bao giờ chứng-đắc được Đạo và Quả cả."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Do niềm tin và tâm hoan-hỉ,

Con người mới sanh lòng bố-thí.

Thấy người khác nhận được cúng-dường

Đồ ăn, thức uống, mà đố-kỵ,

Cả ngày lẫn đêm, kẻ ganh-tị

Chẳng thể nào đắc được định-tâm.

(Kệ số 249.)

 

Ai cắt được ganh-tị trong lòng,

Bứng tận rễ và dẹp bỏ xong,

Định-tâm người ấy thường chứng được

Đêm cũng như ngày, nếu ra công.

(Kệ số 250.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ganh-tị: đố-kỵ, ghen-ghét, cà-nanh, đòi cho hơn kẻ khác.

 

- Đại-thí-chủ: Đại = lớn; Thí-chủ = người bố-thí, còn gọi là thí-giả

 

- Cư-sĩ: Cư = ở; ở tại nhà; Sĩ = người. Cư-sĩ là người tu tại-gia.

 

- Cấp-cô-độc: tên của vị cư-sĩ xây cất chùa Kỳ-viên, tiếng Pali là Anàthapindika.

 

- Vi-sa-kha: tên của vị nữ-cư-sĩ xây cất nữ-tu-viện Đông-viên (Pubbàràma), ở phía Đông chùa Kỳ-viên, tiếng Pali là Visakha.

 

- Khoác-lác = láo-toét, khoe láo.

 

- Bần-cùng:Bần = nghèo;Cùng = cùng-khổ.Bần-cùng là nghèo-khổ.

 

-Hoan-hỉ = vui-mừng, hân-hoan.

 

- Đạo, Quả: Đạo = con đường, đường-lối tu-hành (Pali: Magga); Quả = kết-quả, sự tu-hành đã thành-công tốt-đẹp (Pali: Phala). Danh-từ chuyên-môn trong Bắc-tông, gọi là hướng và quả, như Tu-đà-huờn hướng và Tu-đà-huờn quả.

 

- Định-tâm: Định = đứng yên lại, chẳng xao-động; Tâm = lòng. Đắc được định-tâm là ngồi Thiền, tâm vắng-lặng, chuyên-chú vào một đề-mục duy-nhứt, chẳng hề xao-lãng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, kể lại tánh xấu hay ganh-tị của một vị tỳ-kheo. Đức Phật dạy, kẻ nào biết diệt lòng ganh-tị, hoan-hỉ khi thấy người khác được cúng-dường, thì khi ngồi Thiền sẽ sớm đắc định-tâm.

 

(2) Ý-nghĩa hai bài Kệ số 249 và 250:

 

1) Hai câu đầu của bài Kệ số 249: Do đâu mà sanh lòng bố-thí? Do niềm tin vào phước-báo, và lòng hoan-hỉ, vui-mừng thấy người nhận của bố-thí được vui. Thấy người vui mà vui theo gọi là Tuỳ-hỉ.

 

2) Bốn câu sau của bài Kệ số 249: vì trong tâm sanh ra ganh-tị, cú lo ganh-ghét mãi, nên ngồi Thiền chẳng đắc được định-tâm.

 

3) Hai câu đầu của bài Kệ số 250: phải bứng tận gốc-rễ lòng ganh-tị. Gốc-rễ đó ở đâu? Chính ngay trong tâm mình, nên dẹp bỏ đi

 

4) Hai câu chót của bài Kệ số 250: tại sao đắc được định-tâm? Vì nếu ra công dọn dẹp cõi lòng cho trong-sạch, thì tâm định ngay.

The Story of Tissa

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (249) and (250) of this book, with reference to Tissa, a young bhikkhu.

Tissa, a young bhikkhu, had a very bad habit of disparaging other people's charities and good deeds. He even criticized the charities given by such renowned donors like Anathapindika and Visakha. Besides, he boasted that his relatives were very rich and were like a well where anyone could come for water. Hearing him boast thus, other bhikkhus were very sceptical; so they decided to find out the truth.

Some young bhikkhus went to the village from where he came and made enquiries. They found out that Tissa's relatives were all poor and that all this time Tissa had only been making a vain boast. When the Buddha was told about this, he said, "Bhikkhus, a bhikkhu who is displeased with others receiving gifts and offerings can never attain Magga and Phala."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 249: People give according to their faith and their devotion; one who is displeased with others receiving food and drink cannot attain concentration (samadhi) by day or by night.
 
Verse 250: He who has this feeling of displeasure cut off, uprooted and removed, will surely attain concentration (samadhi) by day or by night.

Dhammapada Verses 249 and 250
Tissadahara Vatthu

Dadati ve yathasaddham
yathapasadanam jano
tattha yo ca manku bhavati
paresam panabhojane
na so diva va rattim va
samadhimadhigacchati.

Yassa cetam samucchinnam
mulaghaccam samuhatam
sa ve diva va rattim va
samadhimadhigacchati.

Verse 249: People give according to their faith and their devotion; one who is displeased with others receiving food and drink cannot attain concentration (samadhi) by day or by night.

Verse 250: He who has this feeling of displeasure cut off, uprooted and removed, will surely attain concentration (samadhi) by day or by night.


dhp251_B
Verse-Kệ 251

(190).- Tích chuyện năm người ngồi nghe pháp - Kệ số 251

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến thái-độ ngồi nghe kinh của năm người tín-đồ.

 

Thuở ấy, có năm người tín-đồ tu tại-gia đến chùa Kỳ-viên, nghe Đức Phật giảng-pháp. Trong khi Đức Phật nói pháp, một người ngồi ngủ gục; một người lấy ngón tay vẽ-vạch xuống đất. Người thứ ba, ngồi phía sau, gần gốc cây, lắc nhẹ vào cành lá. Người thứ tư ngẩng đầu nhìn lên trời xanh. Còn người thứ năm, ngồi gần bên Đức Phật, chăm-chỉ nghe lời giảng, chẳng bỏ sót câu nào. Tôn-giả A-nan, đứng hầu bên cạnh Phật, nhìn thấy rõ năm người đó, đến khi Đức Phật giảng xong, mới thưa trình riêng cùng Đức Phật thái-độ ngồi nghe kinh của họ. Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, năm người cư-sĩ nầy còn chưa dẹp bỏ xong các thói-quen của họ trong tiền-kiếp. Người ngồi ngủ gục, kiếp trước, vốn là con rắn, thường khoanh mình trong xó, ngủ liên-miên. Kiếp trước của người thứ hai là con trùn thường chui qua chui lại trong đất. Người thứ ba vốn là con khỉ trong đời trước, cứ mãi chuyền từ cành nầy sang nhánh nọ trên cây. Còn người thứ tư, đời trước là một chiêm-tinh-gia, cứ ngẩng đầu lên xem các ngôi sao trên trời. Riêng người thứ năm, biết chăm-chỉ nghe pháp, kiếp trước là nhà thiên-văn-học. Nầy A-nan, cần phải chú-tâm, chăm-chỉ, mới biết nghe Chánh-pháp. Vẫn còn có rất nhiều người chẳng biết chú-ý lắng nghe."

 

Tôn-giả A-nan bạch Phật: "Bạch thế-tôn, có sự ngăn-cản nào khiến cho người ta chẳng nghe hiểu được Chánh-pháp đang giảng?" Đức Phật đáp: "Có ba mối lậu-hoặc lớn ngăn cản người nghe chẳng thấu-hiểu rõ Chánh-pháp: tham, sân và si; nhứt là lửa tham nó đốt cháy tất cả cõi lòng mà chẳng hề ngưng-nghỉ."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Lửa nào bằng với lửa tham,

Chấp nào hơn được chấp tâm giận-thù.

Lưới nào như lưới khờ-ngu,

Sông nào sánh được sông sâu ái-hà.

(Kệ số 251.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tín đồ: Tín = tin-tưởng; Đồ = đồ-đệ, học-trò.Tín-đồ là người theo Đạo; trong Phật-giáo, còn gọi là thiện-nam, tín-nữ.

 

- Tu tại-gia: tu-hành tại nhà. Đối nghĩa với xuất-gia, rời nhà đi tu.

 

- Cư-sĩ: Cư = ở; Sĩ = người. Cư-sĩ là người theo đạo Phật, tu tại-gia

 

- Tiền-kiếp: Tiền = trước; Kiếp = đời sống. Theo sự tin-tưởng trong Phật-giáo, chúng-sanh có nhiều đời, đời trước đời hiện nay là tiền-kiếp

 

- Chiêm-tinh-gia = Chiêm =xem xét; Tinh = ngôi sao; Gia = nhà, người. Chiêm-tinh-gia xem sao trên trời mà đoán số-mạng con người.

 

- Thiên-văn-học: khoa-học về vũ-trụ, không-gian, các hành-tinh, các ngôi sao, v.v.

 

- Lậu-hoặc: Lậu = rỉ-chảy; Hoặc = điều sai-lầm. Lậu-hoặc là các lỗi-lầm từ bên trong tâm rỉ-chảy, biểu-lộ ra bằng hành-động, lời nói xấu-ác. Có ba lậu-hoặc chánh: tham, sân, si; còn gọi là phiền-não.

 

- Lửa tham: ví sự tham-lam như lửa, nó nung-nấu, thúc-dục lòng mình phải dành cho được, được rồi lại muốn thêm nữa, chẳng nguôi.

 

- Chấp tâm giận-thù: Chấp là sự bám-chặt trong lòng, chẳng lúc nào chịu rời ra; như giận ai thì giận mãi tới già, chết xuống tuyền-đài cơn giận vẫn chưa tan.

 

- Lưới khờ-ngu: nghĩa bóng của sự si-mê, nó bao trùm tâm-trí kín-mít chẳng thấy được lẽ phải và điều lành.

 

- Sông sâu ái-hà: Ái = thương; Hà = sông. Sông ái tức là lòng tham-ái, đắm-say, vừa sâu vừa nguy-hiểm, kéo ta trôi lăn mãi trong vòng sanh-tử khổ-đau của Luân-hồi lẩn-quẩn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Nhơn thái-độ ngồi nghe pháp, chẳng đúng-đắn của bốn người tín-đồ, Đức Phật dạy, chỉ vì lòng còn tham, sân, si nên người nghe pháp, chẳng hiểu-thấu cho rõ-ràng được Chánh-pháp.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 251:

 

Bài kệ nầy kể rõ các sự ngăn-trở khiến ta chẳng thông-hiểu được Chánh-pháp: (1) lửa tham; (2) tâm cố-chấp sân-hận; (3) lưới si-mê; (4) sông ái-hà. Bốn điều ô-uế đó, ta phải cố rửa cho sạch khỏi lòng ta.

The Story of Five Lay-disciples

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (251) of this book, with reference to five lay disciples.

On one occasion, five lay-disciples were present while the Buddha was expounding the Dhamma at the Jetavana monastery. One of them was asleep while sitting, the second one was drawing lines with his fingers on the ground, the third was trying to shake a tree, the fourth was looking up at the sky. The fifth was the only one who was respectfully and attentively listening to the Buddha. Thera Ananda, who was near the Buddha fanning him saw the different behaviour of the five disciples and said to the Buddha, "Venerable Sir! While you were expounding the Dhamma like big drops of rain falling from the sky, only one out of those five people were listening attentively." Then Thera Ananda described the different behaviour of the other four to the Buddha and asked why they were behaving thus.

The Buddha then explained to Thera Ananda, "Ananda, these people could not get rid of their old habits. In their past existences, the first one was a snake; as a snake usually coils itself up and goes to sleep, so also, this man goes to sleep while listening to the Dhamma. The one who was scratching the earth with his hand was an earthworm, the one who was shaking the tree was a monkey, the one who was gazing up at the sky was an astronomer and the one who was listening attentively to the Dhamma was a learned astrologer. In this connection, Ananda, you must remember that one must be attentive to be able to understand the Dhamma and that there are many people who cannot follow what was being said."

Thera Ananda then asked the Buddha, "Venerable Sir! What are the things that prevent people from being able to take in the Dhamma?" And the Buddha replied, "Ananda, passion (raga), ill will (dosa) and ignorance (moha) are the three things that prevent people from taking in the Dhamma. Passion burns one; there is no fire like passion. The world may burn up when seven suns rise in the sky, but that happens very rarely. Passion burns always and without any break."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 251: There is no fire like passion, there is no grip like ill will, there is no net like ignorance, there is no river like craving.


At the end of the discourse the one who was listening attentively attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 251
Panca Upasaka Vatthu

Natthi ragasamo aggi
natthi dosasamo gaho
natthi mohasamam jalam
natthi tanhaisama nadi
1.

Verse 251: There is no fire like passion, there is no grip like ill will, there is no net like ignorance, there is no river like craving.


1. natthi tanhasama nadi: There is no river like craving. This is because although a river can be full at times, craving can never be full, ie., satiated.


dhp252_B
Verse-Kệ 252

(191).- Tích chuyện vị hào-phú Mẫn-đà-kha - Kệ số 252

 

Vào một thời kia, Đức Phật du-hành đến xứ An-già, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị hào-phú tên là Mẫn-đà-kha.

 

Thuở ấy, ở thành Bá-đi-gia, xứ An-già, có một vị hào-phú tên là Mẫn-đà-kha, của-cải rất nhiều mà cũng có lòng bố-thí thật rộng-rãi. Thiên-hạ đồn rằng, ông Mẫn đã đào lên phiá sau vườn nhà mình được nhiều pho-tượng chạm hình con dê, bằng vàng ròng. Lại cũng có lời đồn rằng, trong nhiều kiếp trước, vào thời Đức Phật Tỳ-bà-thi, ông Mẫn đã xây cất một tu-viện trang-nghiêm, với đầy-đủ phòng-ốc, điện-sảnh; rồi dưng-cúng thực-phẩm lên chư Tăng trong hơn bốn tháng. Trong một kiếp sau nữa, ông Mẫn tái-sanh vào thành Ba-la-nại, gặp nạn đói-kém, liền xuất tiền ra sắm-sửa thức ăn bố-thí cho dân-chúng. Trong số những người đến khất-thực, có một vị Bích-chi-Phật, ông Mẫn đều cúng-dường đầy-đủ. Nhờ phước-báo đó mà ngày nay, ông Mẫn trở nên rất giàu-có.

 

Hay tin Đức Phật du-hành đến thành Bá-đi-gia, ông Mẫn cùng với cả gia-đình gồm có sáu người, đồng đi đến nơi, nghe Đức Phật thuyết-giảng. Sau khi cúng-dường Đức Phật và chư Tăng xong, ông Mẫn bạch với Phật: "Bạch Thế-tôn, trên đường con đi đến đây, con có gặp vài người ẩn-tu khổ-hạnh đã nói xấu Thế-tôn, và bảo con đừng đến đây nghe pháp." Đức Phật đáp: "Nầy đại-thí-chủ, thật chẳng khó-khăn gì đi vạch lỗi của kẻ khác mà lại cố dấu-diếm tật xấu của chính mình."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà mọi người trong gia-đình ông Mẫn đều chứng-đắc được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Dễ thay, thấy lỗi người ta,

Lỗi mình thấy được, thật là khó thay!

Phanh-phui vạch lỗi của ai

Như đang quạt gạo, trấu bay ra ngoài.

Lỗi mình che kín chẳng khai,

Như cờ-bạc lận, quân bài dấu trong.

(Kệ số 252.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Hào-phú: Hào = có quyền-thế; Phú = giàu. Hào-phú là giàu và có nhiều quyền-thế.

 

- Mẫn-đà-kha: tên vị hào-phú nầy, tiếng Pali là Mendaka.

 

- Xứ An-già, thành Bá-đi-gia, thành Ba-la-nại: tên các địa-danh nầy, tiếng Pali là: Anga, Baddiya, Bénarès hay Vàrànasì.

 

- Tỳ-bà-thi: tên một vị Phật giáng-sanh năm kiếp trước Đức Phật Thích-ca; tiếng Pali là Vipassì.

 

- Điện-sảnh: Điện = căn phòng lớn trang-nghiêm; Sảnh = phòng.

 

- Bích-chi-Phật: một vị Phật tự-mình giác-ngộ và giải-thoát, vào thời chẳng có giáo-pháp của một đức Phật nào; tiếng Pali là Paccekabuddha. Bích chi-Phật còn gọi là Độc-giác, tự mình giác-ngộ lấy, nhưng chẳng đi giáo-hoá kẻ khác để họ được giác-ngộ theo.

 

- Ẩn-tu khổ-hạnh: Ẩn-tu = tu một mình nơi xa-vắng; Khổ-hạnh = tu ép xác với hi-vọng mau được giác-ngộ và giải-thoát.

 

- Đại-thí-chủ: Đại = lớn, Thí-chủ = người bố-thí; còn gọi là thí-giả.

 

- Tu-đà-huờn: quả-vị đầu-tiên trong hàng Thanh-văn ( =đệ-tử sống gần Phật, nghe kinh mà tu-tập); tiếng Pali là Sotapatti, dịch là Nhập-Lưu ( =vào dòng Thánh) hay Thất-Lai ( = chỉ còn tái-sanh bảy lần)

 

- Cờ-bạc lận: cờ gian bạc lận; đánh bài ăn gian.

 

- Quân bài = lá bài, con-bài.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện có hai phần: phần đầu thuật lại công-đức bố-thí của ông Mẫn trải qua nhiều đời; phần sau, nhận-xét của Đức Phật về tánh hay vạch lỗi của kẻ khác và che dấu lỗi của mình. Ý-nghĩa của nhận-xét nầy là chẳng nên vạch lỗi kẻ khác, trái lại phải biết tự-xét lấy lỗi mình mà tránh đi, để thân-tâm trở nên trong-sạch, khỏi các cấu-uế.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 252:

 

Bài Kệ đưa ra hai hình-ảnh rất sống động: (1)vạch lỗi của người như đang quạt gạo, trấu bay ra, dễ thấy; (2) che-dấu lỗi mình kỹ-lưỡng cũng như đứa cờ-bạc gian-lận dấu con-bài bên trong, chẳng cho ai thấy cả. Ý-nghĩa của bài Kệ dĩ-nhiên khuyên ta chớ vạch lỗi kẻ khác.

The Story of Mendaka the Rich Man

While residing near the town of Baddiya, the Buddha uttered Verse (252) of this book with reference to the renowned rich man Mendaka and his family.

Once, during his tour of Anga and Uttara regions, the Buddha saw in his vision that time was ripe for Mendaka, his wife, his son, his daughter-in-law, his granddaughter and his servant, to attain Sotapatti Fruition. Seeing the prospect of these six people attaining Sotapatti Fruition, the Buddha went to the town of Baddiya.

Mendaka was an extremely rich man. It was said that he found a large number of life-size golden statues of goats in his backyard. For this reason, he was known as Mendaka (a goat) the rich man. Again, it was also said that during the time of Vipassi Buddha he had donated a monastery for Vipassi Buddha and a congregation hall complete with a platform for the preacher. On completion of these buildings he made offerings of alms-food to Vipassi Buddha and the bhikkhus for four months. Then, in yet another of his past existences, when he was a rich man in Baranasi, there was a famine throughout the region. One day, they had cooked a meal just enough for the members of the family when a paccekabuddha stood at the door for alms-food. Then and there he offered all the food. But due to his great faith and generosity, the rice pot was later found to be miraculously filled up again; so also were his granaries.

Mendaka and his family, hearing that the Buddha was coming to Baddiya, went to pay homage to him. After hearing the discourse given by the Buddha, Mendaka, his wife Candapaduma, his son Danancaya, his daughter-in-law Sumanadevi, his granddaughter Visakha and the servant Punna attained Sotapatti Fruition. Mendaka then told the Buddha how on his way, some ascetics had spoken ill of the Buddha and had tried to dissuade him from coming to see him. The Buddha then said, "My disciple, it is natural for people not to see one's own faults, and to exaggerate other people's faults and failings."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 252: It is easy to see the faults of others, but difficult to see one's own. A man broadcasts the fault; of others like winnowing chaff in the wind, but hides his own faults as a crafty fowler covers himself.

Dhammapada Verse 252
Mendakasetthi Vatthu

Sudassam vajjamannesam
attano pana duddsam
paresam hi so vajjani
opunati yatha bhusam
attano pana chadeti
kalimva kitava satho.
1

Verse 252: It is easy to see the faults of others, but difficult to see one's own. A man broadcasts the fault; of others like winnowing chaff in the wind, but hides his own faults as a crafty fowler covers himself.


1. Satho: a cheat, a gambler. According to the Commentary, it means a crafty fowler.


 dhp253_B
Verse-Kệ 253

(192).- Tích chuyện tỳ-kheo Úc-gia - Kệ số 253

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị tỳ-kheo tên Úc-gia.

 

Thuở ấy, có một vị tỳ-kheo tên Úc-gia, tánh hay kẽ-vạch lỗi-lầm của người khác, và thường hay nói xấu các bạn đồng-tu. Các vị tỳ-kheo khác mới thưa-trình cùng Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, nếu có ai nói rõ lỗi-lầm của người khác và chỉ-dạy cho họ cách sửa-chữa lại, thì đó là chẳng phải là một hành-động xấu-ác, đáng chê-trách đâu. Trái lại, nếu có kẻ nào luôn luôn chỉ-trích chỗ sai-lầm của người khác với ý-định hiểm-độc để nói xấu, thì người nầy chẳng thể nào chứng-đắc được định-tâm. Y lại chẳng bao giờ thông-hiểu được Chánh-pháp, và các mối lậu-hoặc nơi người ấy ngày càng gia-tăng."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Kẻ nào cứ thấy lỗi của ai,

Thường sanh lòng chỉ-trích chê-bai,

Lậu-hoặc người đó tăng hoài,

Tiêu-trừ cho sạch, biết ngày nào xong.

(Kệ số 253.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Úc-gia: tên của vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Ujjhànasanni.

 

- Kẽ-vạch = moi-móc, cố tìm chỗ sơ-hở của kẻ khác để nói ra.

 

- Chỉ-trích: phê-bình, khen hay chê, thường là có ý chê hơn khen

 

- Hiểm-độc: Hiểm = nguy-hiểm; Độc = độc-ác. Hiểm-độc là làm việc ác ngầm, dấu ác-ý chẳng cho lộ rõ ra, nên nguy-hiểm lắm.

 

- Định-tâm: Định = dừng lại, đứng yên; Tâm = lòng. Khi ngồi Thiền, tâm chẳng xao-động, chỉ chú-ý vào đề-mục duy-nhứt là đang có định-tâm.

 

- Chánh-pháp = Chánh = chơn-chánh, đúng-đắn; Pháp = pháp-tu. Chữ Chánh-pháp ( = Dhamma) được hiểu là giáo-pháp của Đức Phật.

 

- Lậu-hoặc = các phiền-não trong tâm lộ ra bằng hành-động hoặc bằng lời nói. Có ba mối lậu-hoặc chánh: tham, sân, si và các món phụ- thuộc như nghi-ngờ, ngã-mạn, tà-kiến. (Lậu = rỉ chảy ra; Hoặc = điều sai-lầm, lỗi-lầm, phiền-não.)

 

- Gia-tăng: càng ngày càng nhiều.

 

- Tiêu-trừ: dẹp bỏ cho tan mất hết.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một tỳ-kheo có thói xấu hay kẽ-vạch lỗi-lầm của người khác để chê-bai. Việc đó đến tai Đức Phật, Ngài dạy rằng: "Chỉ-dạy lỗi-lầm của kẻ khác và cách sửa-chữa lại cho tốt, là điều đáng làm; nhưng nếu vạch lỗi của kẻ khác để chê-bai, chỉ-trích với ý-định nói xấu, đó là điều nên tránh." Đức Phật lại bảo: "Người hay moi-móc lỗi của kẻ khác để nói xấu, khi tu thiền, chẳng những chẳng thể đắc được định-tâm, mà nơi tâm người ấy, lậu-hoặc sẽ gia-tăng hoài, chẳng gột rửa hết được."

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là phải thường thường xét đến chính lòng mình, thấy những lỗi-lầm, thiếu-sót của chính mình, hơn là quay sang người đồng-tu, tìm lỗi của họ, để che dấu lỗi của mình. Có như thế mới khiến cho tâm mình dễ an-định, các lậu-hoặc như sân, si, ngã-mạn, ganh-tị lần lần được dũa mòn mà tiêu-tan đi.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 253:

 

Bài Kệ rất rõ nghĩa, chỉ dạy ta phải dẹp bỏ thói xấu chỉ-trích lỗi kẻ khác để che dấu lỗi của mình.

 

Thử phân-tách ý-nghĩa bài Kệ để tìm các sự ô-uế, các lậu-hoặc xảy ra trong tâm người hay kẽ-vạch:

 

1) Thấy lỗi kẻ khác, chỉ-trích chê-bai: đây là ác-ý muốn hạ kẻ khác, để ngầm tôn mình lên, đó là một hình-thức của sự ngã-mạn.

 

2) Lậu-hoặc người đó tăng hoài: Lậu-hoặc nào? Đó là sự ganh-tị, ghen-ghét kẻ khác, thấy ai hơn mình thì chẳng ưa. Người hay ganh-tị lo binh-vực cái Ta của mình, khiến cho cái Ta ấy càng ngày càng to-lớn thêm, chẳng thấy được các lỗi-lầm đầy-dẫy nơi tâm mình. Vì lẽ nầy, bài Kệ mới nói: Tiêu-trừ cho sạch, biết ngày nào xong.

The Story of Thera Ujjhanasanni

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (253) of this book, with reference to Thera Ujjhanasanni.

Thera Ujjhanasanni was always finding fault with and speaking ill of others. Other bhikkhus reported about him to the Buddha. The Buddha replied to them, "Bhikkhus, if someone finds fault with another so as to teach him in good way; it is not an act of evil and is therefore not to be blamed. But, if someone is always finding fault with others and speaking ill of them just out of spite and malice, he will not attain concentration and mental absorption (jhana). He will not be able to understand the Dhamma, and moral (intoxicants asavas) will increase in him."

Verse 253: In one who constantly sees the faults of others and is always disparaging them, moral intoxicants (asavas) increase; he is far from extinction of moral intoxicants (i.e., he is far from attainment of arahatship).

Dhammapada Verse 253
Ujjhanasannitthera Vatthu

Paravajjanupassissa
niccam ujjhanasannino
asava tassa vaddhanti
ara so asavakkhaya.

Verse 253: In one who constantly sees the faults of others and is always disparaging them, moral intoxicants (asavas) increase; he is far from extinction of moral intoxicants (i.e., he is far from attainment of arahatship).


dhp254_B
dhp255_B
Verse-Kệ 254-255

(193).- Tích chuyện ông Tu-bạt-đà-la, vị đệ-tử chót của Đức Phật- Kệ số 254 và 255

 

Vào một thời kia, Đức Phật đến rừng Ta-la, xứ Câu-thi-na, trước khi nhập Niết-bàn, có đề-cập đến vị đệ-tử cuối-cùng của Đức Phật là ông Tu-bạt-đà-la.

 

Thuở ấy, ở xứ Câu-thi-na có một người Bà-la-môn, sống trên trăm tuổi, thường theo học các vị sư ngoại-đạo, nhưng còn chưa vừa lòng. Khi nghe tin Đức Phật sắp nhập Niết-bàn, trong rừng Sa-la ở Câu-thi-na, ông Tu-bạt-đà-la mới đến xin yết-kiến Đức Phật, để thưa hỏi về ba câu hỏi mà lòng ông còn thắc-mắc, chưa được ai giải-đáp thoả-đáng cả. Tôn-giả A-nan bấy giờ hầu-cận bên Đức Phật, thấy Phật đang mệt, mới từ-chối chẳng để ông Tu-bạt-đà-la vào gặp Phật. Đức Phật nằm trên giường, giữa hai cây Ta-la, nghe tiếng năn-nỉ của ông Tu-bạt-đà-la, mới gọi Tôn-giả A-nan, bảo hãy đưa ông ấy vào.

 

Ông Tu-bạt-đà-la, sau khi thăm hỏi Đức Phật, liền nêu lên ba câu hỏi mà từ lâu ông thắc-mắc tìm chưa được lời giải-đáp:

 

1) Giữa hư-không, có dấu-tích gì chăng?

 

2) Có vị sa-môn nào đứng bên ngoài Chánh-pháp của Như-lai chăng?

 

3) Có sự-vật hữu-vi nào mà thường-hằng mãi chăng?

 

Cả ba câu hỏi, Đức Phật đều đáp là không, và Ngài nói lên hai bài Kệ sau đây, nhờ đó mà ông Tu-bạt-đà-la, vị đệ-tử cuối cùng của Đức Phật, chứng đắc được quả-vị A-la-hán:

 

Chẳng vết-tích gì giữa hư-không,

Bên ngoài Chánh-pháp, không Sa-môn.

Phàm-phu thoả-thích trong chướng-ngại,

Chướng-ngại, Như Lai trải qua xong.

(Kệ số 254.)

 

Chẳng vết-tích gì giữa hư-lhông,

Bên ngoài Chánh-pháp, không Sa-môn.

Các hành hữu-vi chẳng thường-trụ,

Chư Phật Như-lai ổn-cố xong.

(Kệ số 255.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tu-bạt-đà-la: tên vị đệ-tử chót của Phật, tiếng Pali là Subhadda

 

- Rừng Ta-la, xứ Câu-thi-na: rừng cây Ta-la, thân cây cao lớn, cành lá xanh-tươi, trong xứ Câu-thi-na, nơi Đức Phật Thích-ca nhập Niết-bàn ( = mất). Tiếng Pali là cây Sala, xứ Kusinàrà.

 

- Các sư ngoại-đạo: các giáo-chủ các môn-phái tu khác chống đối với đạo Phật, như nhóm ông Phú-lan-na Ca-diếp (Purana Kassapa, chẳng tin lý-thuyết nghiệp-báo), như nhóm loã-thể Ni-liền-tử ( = nhóm Nigandha, tu khổ-hạnh, chẳng mặc quần-áo), v.v.

 

- Nhập Niết-bàn: vào cảnh-giới Tịch-diệt. Trong Phật-học, chữ Nhập Niết-bàn dùng để chỉ khi các bực Thánh lià thân-xác nầy (tức là chết đi), được tin là vào cõi vắng-lặng, an-nhiên, tự-tại của Niết-bàn.

 

- Hư-không: khoảng trống-không bao-trùm tất cả vạn-vật, vũ-trụ. Vì chẳng có bờ-bến, vì chẳng có hình-sắc, nên gọi là hư, tức là chẳng phải có thật để dùng giác-quan mà biết được, nhưng thật có, vì hư-không thì thường-hằng, tồn-tại mãi.

 

- Dấu-tích, vết-tích: chỗ còn sót lại.

 

- Sa-môn = tu-sĩ Phật-giáo. Xin nhắc lại: Sa-môn ( Pali: Samana) có ba nghĩa: (1) cần-giả ( = siêng làm điều thiện), (2) tức-giả ( = ngưng dứt làm việc ác), (3) bần-giả ( = cam chịu sự nghèo khó để tu-hành); ở đây chữ Sa-môn có thêm một nghĩa nữa là bực Thánh, đã diệt hết các phiền-não, chẳng còn tái-sanh nữa.

 

- Chánh-pháp của Như-Lai = giáo-pháp do các Đức Phật đã chỉ-dạy. Như-lai ( Tathàgata ) chỉ pháp-thân của Phật.

 

- Chướng-ngại: điều ngăn-trở. Ở đây chữ chướng-ngại trỏ vào các lậu-hoặc, phiền-não, như tham-ái, sân-si, ngã-mạn, v.v.

 

- Hữu-vi: Hữu = có; Vi = làm, tạo-tác ra. Sự-vật hữu-vi là những sự-vật do sự tạo-tác ra mà có, vì thế bị điều-kiện-hoá, nghĩa là do một nguyên-nhơn nào đó mà sanh ra, rồi cũng bị một nguyên-nhơn nào đó làm cho tiêu-diệt đi. Sự-vật hữu-vi, còn gọi là các hành hữu-vi (hành, tiếng Pali là sankhàra) ngày nay ta gọi là các sự-vật bị điều-kiện-hoá, nghĩa là chẳng phải tự-nhiên mà có, mà do nhơn-duyên mà thành, rồi cũng do nhơn-duyên mà diệt đi mất.

 

- Thường-hằng: thường còn mãi-mãi; trái với chơn-lý vô-thường, theo đó, muôn vật có hình-tướng đều thay đổi, biến-dạng, tiêu-mòn rồi diệt đi, chớ chẳng còn mãi được. Vô-thường, Pali gọi là Anicca.

 

- Thường-trụ: Thường = luôn luôn, trụ = ở yên mãi một chỗ, chẳng mất. Cùng nghĩa với: thường-hằng, thường-trú, thường-còn.

 

- Ổn-cố: Ổn = yên-ổn; Cố = cố- =định; Ổn-cố là làm cho yên-ổn, cố-định, chẳng phải thay-đổi, biến-hoại nữa.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện lâm-ly thuật lại việc Đức Phật vào giờ phút chót trước khi lià đời còn thâu-nhận đệ-tử và chỉ-dạy giáo-lý.

 

Ông Tu-bạt-đà-la, tin theo ngoại-đạo, đến thưa hỏi Đức Phật ba câu hỏi về Giáo-pháp: (1) Giữa hư-không, có vết-tích gì không? Có lẽ ông muốn biết, ngoài hư-không còn có một cảnh-giới nào khác hơn là các cõi Người và các bực Thánh nữa không?; (2)Bên ngoài Chánh-pháp có Sa-môn không? Có lẽ ông muốn biết, ngoài các vị được chứng-đắc theo Giáo-pháp của các Đức Phật, còn có kẻ nào tu theo ngoại-đạo được thành bực Thánh không?; (3) Các sự-vật hữu-vi có thường-hằng mãi không? Có lẽ ông muốn biết tấm thân năm-uẩn hữu-vi và hữu-lậu nầy, có được thường-còn mãi không?

 

Trong Kinh Pháp-Cú nầy, Đức Phật trả lời rất vắn-tắt là "Không"; nhưng khi thuật lại việc thưa-hỏi của ông Tu-bạt-đà-la, trong Kinh Đại-Niết-bàn (Đại-bản), phẩm 40, Đức Phật giải-đáp rất cặn-kẽ, nhứt là về cái "Không" và trong Kinh Đại-Niết-Bàn (Tiểu-bản), phẩm 15, kể ra đầy-đủ các bực Thánh, hiền tu theo Bát-chánh-đạo, trong Tứ-diệu-đế.

 

[ Vì vấn-đề nầy rất thâm-sâu, Thiện-Nhựt xin thưa thêm ba đìều:

 

(1) Muốn quán-sát về Không, về Hư-không, phải biết nhìn vào thực-tướng ( = tướng thật-sự) của muôn pháp. Thực-tướng nầy là tướng diệt của muôn pháp hữu-vi; thí-dụ, ngọn đèn dầu đang cháy, hết dầu, lửa tắt, thì lửa đi về đâu? Nhìn lửa, trước thì cháy, nay tắt mất đi, đó là tướng diệt, đó là thực-tướng. Hư-không cũng thế, ở cùng khắp nơi, mà ta chưa biết rõ chỗ nào xác-định. Cái Không chính là đó. Vì Hư-không chưa xác-định, làm sao biết có vết-tích gì ở đó cho được.

 

(2) Trong Tứ-diệu-Đế, chơn-lý thứ tư là Đạo-đế, chỉ rõ con đường thánh-đạo, gồm có tám ngành: Chánh-kiến, Chánh-tư-duy, Chánh-ngữ, Chánh-mạng, Chánh-nghiệp, Chánh tinh-tấn, Chánh-niệm và Chánh-định. Ai theo con đường nầy mà tu-tập, lần-lượt chứng đắc các quả-vị: (a) Tu-đà-huờn, (b) Tư-đà-hàm, (c ) A-na-hàm, là ba quả-vị hiền, còn phải tái-sanh, và (d) A-la-hán là quả-vị Thánh, thoát khỏi Luân-hồi. Các vị tu-hành chứng-đắc đó, theo Tích chuyện nầy gọi là Sa-môn. Xét qua sáu phái ngoại-đạo vào thời ông Tu-bạt-đà-la, chẳng có giáo-lý của phái nào có được con đường Thánh-đạo như trong Phật-giáo, vì thế Đức Phật mới bảo: "Ngoài Chánh-pháp của các Đức Phật, chẳng có Sa-môn."

 

(3)) Chữ Pali Sankhàrà, nghĩa vừa rộng, vừa chẳng được xác-định rõ, thường được dịch tiếng Hán-Việt là Hành.

 

Nghĩa rộng của chữ Sankhàrà, Hành, là sự kết-hợp và biến-chuyển của một sự-vật gồm có hai phần, phần có hình-sắc và phần vô-hình. Vì là sự kết-hợp và đang biến-chuyển, nên sự-vật ấy được gọi là sự-vật hữu-vi, do các nhơn-duyên trong quá-khứ và hiện-tại mà thành, rồi lại biến-chuyển theo các điều-kiện của các nhơn-duyên hiện-tại và tương-lai mà thay-đổi, hao-mòn rồi biến-diệt mất. Như thế, nghĩa rộng của chữ Sankhàrà, Hành, là tất cả sự-vật trong thế-giới hiện-tượng, thấy được tạo-tác ra, có sự biến-chuyển từ bên trong rồi thay-đổi và diệt mất theo các điều-kiện gọi là các nhơn-duyên. Hữu-vi chính là tánh-cách kết-hợp tạm-thời đó, vì thế nên chẳng thể nào thường-hằng được.

 

Trong số các nghĩa chẳng xác-định rõ, chữ Sankhàrà, Hành, lại riêng chỉ đến các hiện-tượng tâm-linh, vô-hình nhưng có tướng, nhận thấy rõ trong tâm. Các hiện-tượng tâm-linh đó kết-hợp lại tạm-thời, được gọi là hành-uẩn, thường được giải-thích, một cách vắn-tắt, là các hành-động, lộ ra bên ngoài bằng lời nói hay việc làm. Nhưng các hiện-tượng trong hành-uẩn thường là những ý-tưởng đang biến-chuyển, di-động, nên các dịch-giả Tây-phương thường gọi hành-uẩn là mental formations ( = những sự kết-thành của phần tâm-linh đang biến-chuyển). Vì hành-uẩn là uẩn thứ tư trong ngũ-uẩn, nên một nghĩa nữa của chữ Sankhàrà, Hành, lại chỉ đến thân-tâm ngũ-uẩn đang tạm-thời hiện có đây, nhưng rồi sẽ tan-rả mà trở về Không. (Đấy là điều căn-bản trong Tâm-kinh mà Bồ-tát Quán-tự-tại nói rõ, khi Ngài chuyển pháp Bát-nhã Ba-la-mật, soi thấy thực-tướng của thân-tâm ngũ-uẩn là Không, nên mới vượt qua mọi khổ-nạn được.)

 

Để tóm-tắt, Thiện-Nhựt xin nhắc lại về ba câu hỏi của ông Tu-bạt-đà-la: (1) về Hư-không, đó tướng diệt của muôn sự-vật, chẳng còn vết-tích gì, nên mới gọi là Không; (2) chẳng hề có bực Sa-môn, hay Thánh-hiền nào cả, trong giới ngoại-đạo, vì họ chẳng biết theo con đường thánh là Bát-Chánh-đạo; (3) trong các hành hữu-vi, tức là các hiện-tượng bị điều-kiện-hoá, thân-tâm ngũ-uẩn nầy là vô-thường.

 

Kính xin người đọc vui lòng chỉ dạy thêm cho Thiện-Nhựt.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 254 và 255:

 

Đây là hai bài Kệ rất khó, hai câu khởi đầu giống nhau, hai câu chót của mỗi bài đưa đến hai kết-luận khác nhau:

 

1) Chẳng vết-tích gì giữa hư-không: những sự-vật có hình-tướng, khi tiêu-diệt, trở về với thực-tướng ( =tướng chơn-thật) thì nằm trong Hư-không, chẳng để lại dấu-vết chi. Nhưng nên hiểu ngầm thêm, là bên trong cái Không đã có sẵn cái Có, chỉ chờ hội đủ mọi nhơn-duyên để lại hiện lên.

 

2) Bên ngoài Chánh-pháp, chẳng Sa-môn: chẳng ai chứng được bực Thánh, gọi là Sa-môn, mà chẳng tu theo Bát-chánh-đạo trong Chánh-pháp của các Đức Phật cả. Nên hiểu ngầm thêm, giáo-lý của bất cứ phái-tu nào thiếu Bát-Chánh-đạo, thì đó là tà-đạo, chớ tin theo.

 

3) Phàm-phu thoả-thích trong chướng-ngại; Chướng-ngại Như-lai trải qua xong: Chướng-ngại đây là các phiền-não, lậu-hoặc như tham, sân, si, mạn, nghi, ác-kiến, phàm-phu chẳng biết sự độc-hại, nên thoả-thích trong đó; còn các Đức Như-lai đã dứt trừ chúng xong.

 

4) Các hành hữu-vi chẳng thường-trụ, Chư Phật Như-Lai ổn-cố xong: Các hành hữu-vi, ở đây, trỏ vào năm uẩn của thân-tâm. Phàm-phu chẳng biết, cho đó là thường còn; còn chư Phật Như-lai, dùng Trí-huệ Bát-nhã quán-chiếu thấy thân-tâm năm uẩn thấy vừa rỗng-rang, lại vừa giả-tạm, nên đạt đến giác-ngộ và giải-thoát, được tự-tại trong cảnh an-nhiên, tịch-diệt, đó tức là các bực Đại-giác đã ổn-cố xong.

The Story of Subhadda the Wandering Ascetic

Verses (254) and (255) of this book were uttered by the Buddha in the Sal Grove of the Malla princes near Kusinara, just before the parinibbana (passing away) of the Buddha, in reply to the questions raised by Subhadda, the wandering ascetic (paribbajaka).

Subhadda the wandering ascetic was staying at Kusinara when he heard that the parinibbana of Gotama Buddha would take place in the last watch of that night. Subhadda had three questions which had been troubling him for a long time. He had already put these questions to other religious leaders, namely, Purana Kassapa, Makkhali Gosala, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccayana, Sancaya Belatthaputta and Nigantha Nataputta, but their answers did not satisfy him. He had not yet asked Gotama Buddha, and he felt that only the Buddha could answer his questions. So, he hurried off to the Sal Grove, but the Venerable Ananda did not allow him to see the Buddha, because the Buddha was by that time very weak. The Buddha overheard their conversation and consented to see Subhadda. Subhadda asked three questions. They are: (1) Are there any tracks in the sky? (2) Are there any ariya bhikkhus (samanas) outside the Teaching of the Buddha? and (3) Is there any conditioned thing (sankhara) that is permanent? The Buddha's answer to all the above questions was negative.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 254: In the sky there is no track; outside the Buddha's Teaching there is no ariya bhikkhu (samana). All beings take delight in fetters (i.e., craving, pride and wrong view) that prolong samsara; all the Buddhas are free from these fetters.

 

Verse 255: In the sky there is no track; outside the Buddha's Teaching there is no ariya bhikkhu (samana). There is no conditioned thing that is permanent; all the Buddhas are unperturbed (by craving, pride and wrong view).


At the end of the discourse Subhadda attained Anagami Fruition and as requested by him the Buddha admitted him to the Order of the bhikkhus. Subhadda was the last one to become a bhikkhu in the life time of the Buddha. Eventually, Subhadda attained arahatship.

Dhammapada Verses 254 and 255
Subhaddaparibbajaka Vatthu

Akaseva padam natthi
samano natthi bahire
papancabhirata paja
nippapanca tathagata.

Akaseva padam natthi
samano natthi bahire
sankhara sassatta natthi
natthi buddhanaminjitam.

Verse 254: In the sky there is no track; outside the Buddha's Teaching there is no ariya bhikkhu (samana). All beings take delight in fetters (i.e., craving, pride and wrong view) that prolong samsara; all the Buddhas are free from these fetters.

Verse 255: In the sky there is no track; outside the Buddha's Teaching there is no ariya bhikkhu (samana). There is no conditioned thing that is permanent; all the Buddhas are unperturbed (by craving, pride and wrong view).

End of Chapter Eighteen: Impurities

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Năm 20199:43 SA(Xem: 25)
Tiền kiếp – có hay không? Miêu tả 2500 trường hợp trẻ em thuộc dữ liệu của trường Đại học Virginia (Hoa Kỳ) được các nhà nghiên cứu tìm hiểu cẩn thận kể từ khi bác sĩ Ian Stevenson nghiên cứu trường hợp đầu tiên cách đây 40 năm. Những đứa trẻ này thường bắt đầu kể về kiếp trước ở độ tuổi hai hoặc ba và có thể nói về gia đình lúc trước
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 80)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 94)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩ và tìm hiểu xem có tiền kiếp và luân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 81)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 183)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 141)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 187)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 320)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 503)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 431)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 500)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 738)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 1152)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 1689)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 964)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 649)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 757)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 801)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1719)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 1056)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 831)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1771)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2625)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
18 Tháng Tư 201910:00 SA(Xem: 2203)
Thiền không phải là nỗ lực tìm cầu để đạt được cái chưa có mà là buông hết mọi nỗ lực tìm cầu thì liền thấy ra ngay đó đã có tất cả. Nhiều người nỗ lực tu luyện để thấy ra thực tánh pháp (hay kiến tánh) trong trạng thái thiền định xuất thần,
18 Tháng Tư 20199:00 SA(Xem: 1732)
Có một điều là, xưa nay Phật giáo Việt Nam đã thống nhất, nhưng là thống nhất trên ý chí, trên hiến chương, trên hình thức tổ chức chi chi đó thôi, chứ có một điều chưa bao giờ thống nhất được: ấy là tư tưởng Phật học. Mỗi tông phái thường có một số kinh điển làm tư tưởng nồng cốt cho tông phái mình, từ đó làm kim chỉ nam cho sinh hoạt, tu hành, xiển dương phát triển v.v...
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1524)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 585)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 841)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1067)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4243)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 574)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 570)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,