Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 21, Phẩm Tạp-lục - The Dhammapada, Chapter 21, Miscellaneous

19 Tháng Mười Hai 201811:00 SA(Xem: 338)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 21, Phẩm Tạp-lục - The Dhammapada, Chapter 21, Miscellaneous

Chapter21-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 21, Phẩm Tạp-lục
The Dhammapada, Chapter 21, Pakinnakavagga: Miscellaneous

(Kệ 290-305 - Verses 290-305)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp290_B
Verse-Kệ 290

(214).- Tích chuyện công-đức xưa của Đức Phật. - Kệ số 290.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các công-đức về tiền-kiếp của Đức Phật Thích-ca.

 

Thuở ấy ở xứ Tỳ-da-ly, trời hạn-hán, cỏ cây khô-héo, muà-màng ruộng vườn đều hư-hỏng, gây nên nạn đói-kém nặng-nề; nhiều người chết đói. Thây người nằm ngổn-ngang chẳng được chôn-cất, khiến bịnh dịch lan-tràn. Theo mùi tử-khí, các bầy ác-quỉ đến gây thêm tác-hại. Dân chúng chẳng biết tìm đường nào để sống-sót. Họ nghe nói có Đức Phật ở nước Xá-vệ, lòng từ-bi thường hay cứu khổ, cứu nạn cho chúng-sanh, nên mới cử người đến thưa cùng các vị hoàng-tử xứ Ly-xa, đến thỉnh Đức Phật. Vương-tử Đại-ly mới cùng một phái-đoàn các người Ba-la-môn trong vùng, đến yết-kiến vua Tần-bà-sa-la nhờ nhà vua đến thỉnh Đức Phật, vì hiện Ngài đang ngụ gần thành Vương-xá, thủ-đô xứ Ma-kiệt-đà của vua Tần-bà-sa-la.

 

Khi vua Tần-bà-sa-la đến gặp Đức Phật, trình-bày sự thống-khổ của dân-chúng trong xứ Tỳ-da-ly, Đức Phật liền nhận lời đến viếng xứ ấy, trước là giúp đỡ các nạn-nhơn đói-khổ, sau là để tạo cơ-duyên tốt cho dân-chúng trong vùng biết đến Chánh-pháp và chứng-đắc quả-vị. Vua Tần-bà-sa-la rất vui lòng, ra lịnh sửa-sang đường-xá từ thành Vương-xá đến tận bờ sông Hằng, cứ độ vài do-tuần, cho dựng một nhà nghỉ mát, có đầy đủ tiện-nghi về thực-phẩm. Bên kia bờ sông Hằng, vương-tử Đại-ly cũng chuẩn-bị y như thế, từ bờ sông đến thành Tỳ-da-ly. Đến ngày lên đường, Đức Phật cùng với đông-đảo tỳ-kheo rời thành Vương-xá, ngày đi đêm nghỉ; vua Tần-bà-sa-la theo tiễn chơn đến bờ sông Hằng, rồi mới quay về.

 

Hôm Đức Phật và chư tăng vừa vượt qua khỏi sông Hằng, trời đổ mưa dầm liên-tiếp trong nhiều ngày, nước chảy tràn khắp, cuốn các tử-thi ở Tỳ-da-ly trôi theo sông ra biển cả. Nhờ đó, quang-cảnh ở Tỳ-da-ly được đổi mới, sạch-sẽ; bầu không-khí trở nên dễ chịu, uế-khí tan-rả, các loài chim kên-kên ăn xác người chết bỏ bay đi cả; bịnh dịch ngưng lan-tràn. Đức Phật lại khiến Tôn-giả A-nan cùng một số tỳ-kheo đi diễn-hành qua đường-phố trong thành, vừa đi vừa đọc tụng Kinh Tam-Bảo. Nghe tiếng tụng Kinh, các ác-quỉ hoảng-sợ, bỏ chạy cả, và các bịnh-nhơn lần lần hồi-phục, cùng rủ nhau theo sau Tôn-giả đến hầu Đức Phật . Trong bảy ngày liền, Đức Phật giảng Kinh Tam-Bảo, và Tôn-giả A-nan hằng ngày hướng-dẫn các tỳ-kheo đi vòng quanh thành tụng-đọc Kinh ấy. Thành Tỳ-da-ly trở lại bình-thường sau một tuần-lễ. Các vị hoàng-tử xứ Ly-xa rất vui mừng, mở đại-hội bố-thí và cúng-dường Đức Phật cùng chư Tăng rất là trọng-thể. Sau đó, các vị hoàng-tử và dân-chúng cùng đi tiễn Đức Phật và chư Tăng trở về, đến tận bờ sông Hằng.

 

Bên kia bờ sông Hằng, vua Tần-bà-sa-la cùng với quan-dân đang chờ đón Đức Phật và chư Tăng, trong khung-cảnh thật tưng-bừng và trang-nghiêm. Trên không-trung, chư Thiên nghinh đón trong tiếng nhạc trời. Long-vương, vua loài rồng, cùng quyến-thuộc cũng có mặt. Sau khi mọi người đảnh-lễ và dưng-cúng lễ-vật lên tăng-đoàn xong, Long vương thỉnh Đức Phật cùng chư tỳ-kheo ngồi lên thuyền rồng, trang-hoàng bằng các loại hoa sen màu sắc thật rực-rỡ, đi viếng Long-cung. Đức Phật muốn tỏ lòng quí-trọng Long-vương, nên nhận lời. Ngài thi-triển thần-thông, ánh-sáng năm màu chiếu rực-rỡ lên; quang-cảnh ấy giống như khi trước, lúc Đức Phật vừa từ cung Trời Đao-lợi trở lại thế-gian.

 

Khi cả đoàn trở về thành Vương-xá, các tỳ-kheo rất hoan-hỉ được chứng-kiến cảnh tráng-lệ vừa qua, vô cùng khen ngợi công-đức của Đức Phật trong việc cứu-độ dân-chúng ở Tỳ-da-ly. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, chẳng phải vì việc cứu-độ vừa qua, hay đã thi-triển thần-thông trên sông Hằng, mà nay Như-Lai được sự cúng-dường trọng-thể. Đó thật ra là nhờ trong đời quá-khứ, Như-Lai đã có nhiều công-đức tuy nhỏ nhưng đã đem đến các phước-báu ngày nay." Rồi Đức Phật mới kể lại tiền-kiếp, như sau:

 

Vào thuở xa-xưa, ở thành Ta-xi-la, có một người Bà-la-môn tên là San-kha, có được một người con trai tên Sử-sĩ-mã rất thông-minh.Ông San-kha gởi con đến học với một vị Bà-la-môn khác về khoa thiên-văn. Sử học rất tấn-bộ, chẳng bao lâu, kiến-thức đã ngang với thầy, nên được thầy giới-thiệu đến thọ-giáo với một vị Bích-chi-Phật. Vị nầy bảo Sử, phải thọ-giới làm tỳ-kheo, mới được chỉ-dạy. Sử vâng lời và từ đó giữ-gìn giới-luật rất đầy-đủ, tu-tập thiền-định rất tinh-tấn, trong một thời-gian đã tự mình chứng-ngộ được Bốn Chơn-lý Nhiệm-mầu và đắc quả-vị Bích-chi-Phật. Nghiệp-báo đời trước đã sớm dứt, nên Sử-sĩ-mã chẳng sống lâu thêm, liền nhập Niết-bàn. Ông San-kha tìm đến Ta-xi-la thăm con, hay tin con đã nhập-diệt, lòng rất đau-buồn, mới thiêu-xác con, lấy xá-lợi đem thờ trong ngôi tháp. Hằng ngày, ông quét dọn sạch-sẽ chung quanh tháp, trang-trí với nhiều bông hoa rừng đẹp-đẽ. Đức Phật kết-thúc câu chuyện: "Chính nhờ công-đức dựng tháp để kính-lễ một vị Bích-chi-Phật đó mà ngày nay Như-lai hưởng được phước-báu cúng dường vừa qua của Trời và người."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chính nhờ từ bỏ dục-lạc nhỏ,

Mà ta tìm thấy phước-lạc to.

Thú vui nhỏ-nhặt, người hiền bỏ,

Phước lớn Niết-Bàn, cố tìm lo.

(Kệ số 290.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tạp-lục: Tạp = có nhiều thứ khác nhau, lẫn-lộn; Lục = ghi chép. Phẩm Tạp-lục ghi chung lại các bài Kệ có nhiều đề-mục khác nhau.

 

- Tiền-kiếp Tiền = trước; Kiếp = nhiều đời; Tiền-kiếp là các cuộc đời trước, trước đời hiện-tại nầy.

 

- Thành Ty-da-ly, xứ Ly-xa: tên các điạ-danh nầy, tiếng Pali là thành Vesàli, xứ Licchavi, ở miền Bắc Ấn-độ xưa.

 

-Hạn-hán = trời nắng lâu ngày chẳng mưa, thiếu nước nên cây cỏ khô-héo.

 

- Bịnh dịch = bịnh truyền-nhiễm lây nhanh sang kẻ khác, dễ chết.

 

- Tác-hại: Tác = làm; Hại = tổn-hại; Tác-hại là tàn-ác gây tổn-hại.

 

- Từ-bi: Từ = thương người mà mang lại niềm vui; Bi = xót, tội-nghiêp cho kẻ khác mà cứu khổ họ.

 

- Vua Tần-bà-sa-la, thành Vương-xá, nước Ma-kiệt-đà: tiếng Pali: vua Bimbisara, thành Ràjagaha, nước Magadha, xưa ở miền Bắc Ấn.

 

- Chánh-pháp: giáo-lý của Đức Phật, tiếng Pali là Dhamma.

 

- Sông Hằng: một con sông lớn ở Ấn-độ, tiếng Pali là Gangà.

 

- Do-tuần: đơn-vị đo chiều dài đường-xá, hơn một cây-số; tiếng Pali là Yojana.

 

- Tử-thi: Tử = chết; Thi = thây ma; Tử-thi là thây chết chưa chôn cất

 

- Uế-khí: Uế = dơ bẩn; Khí = hơi; Uế-khí ở đây là mùi hôi-thối.

 

- Đi diễn-hành: Diễn = trải qua; Hành = đi; Đi diễn-hành là nhiều người đi trong trật-tự, từ-từ bước qua các đường phố lớn trong thành.

 

- Kinh Tam-Bảo: Tam = ba; Bảo = kho-tàng quí-báu. Trong Phật-học, chữ Tam-Bảo nói về sự quí-báu của (1) Đức Phật, (2) Chánh-pháp của Phật và (3) Tăng-già, đoàn-thể các đệ-tử tu theo giáo-lý của Phật. Tiếng Pali là Ratana Sutta (Ratana = kho báu; Sutta = Kinh). Chữ Tam Bảo thường được nói gọn là: Tam-Bảo = Phật, Pháp, Tăng.

 

- Đại-hội bố-thí: cuộc bố-thí, phát chẩn, tặng cơm gạo, quần-áo cho những người nghèo-khổ.

 

- Cúng-dường: đọc trại từ chữ Hán-Việt: cung-dưỡng; cung = cung-cấp; dưỡng = nuôi-dưỡng.

 

- Trọng-thể: Trọng = lớn, nặng; Thể = hình-thể; Trọng-thể là rất lớn, rất trang-trọng.

 

- Chư Thiên = Chư = số nhiều, số đông; Thiên = Trời.

 

- Long-vương: Long = rồng; Vương = vua.

 

- Quyến-thuộc: Quyến = gia-quyến, bà-con; Thuộc = thân-thuộc, họ-hàng.

 

- Long-cung: Long =rồng; Cung = cung-điện.

 

- Thi-triển thần-thông = biến-hoá ra các phép-tắc lạ-thường; ở đây, Đức Phật phóng hào-quang (= phát ra ánh-sáng) năm màu rực-rỡ.

 

- Đức Phật từ cung Trời Đao-lợi trở lại thế-gian: sau khi giảng pháp ở trên cõi Trời Đao-lợi cho mẹ nghe, Đức Phật trở lại chùa Kỳ-viên, ở thế-gian nầy. Xin xem lại Tich chuyện số 149, trang 464, Tập 3

 

- Tráng-lệ = thật hết là đẹp-đẽ.

 

- Thành Ta-xi-la: tên thành nầy ở nước Xá-vệ, tiếng Pali là Taxila

 

- San-kha, Sử-sĩ-mã: các tên nầy, tiếng Pali là Sankha, Susìma.

 

- Bà-la-môn: phiên-âm chữ Brahmana, giai-cấp tu-sĩ ở Ấn-độ.

 

- Thiên-văn: khoa-học khảo-sát các vị tinh-tú trong không-gian.

 

- Kiến-thức: Kiến = thấy; Thức = biết; Kiến-thức là sự hiểu-biết.

 

- Thọ-giáo: Thọ = nhận lãnh; Giáo = chỉ dạy. Thọ-giáo = theo học.

 

- Bích-chi-Phật: vị tu-hành tự mình giác-ngộ và giải-thoát vào thời chẳng có Chánh-pháp của một đức Phật nào. Tiếng Pali là Pacceka-Buddha, còn được dịch là Duyên-giác. Vị Bích-chi-Phật chỉ có sự tự-giác, chẳng có sự giác-tha (giúp cho kẻ khác giác-ngộ theo).

 

- Bốn Chơn-lý Nhiệm-mầu: chữ Hán-Việt là Tứ-Diệu-Đế, gồm có: (1) Khổ-đế, đời là Khổ; (2) Tập-đế, nguyên-nhơn của Khổ là Tham-ái; (3) Diệt-đế, sự tận-diệt hết Khổ, tức là Niết-bàn; (4) Đạo-đế, con đường đưa đến cảnh hết Khổ(Niết-bàn), tức là Bát-Chánh-Đạo.

 

- Niết-Bàn: chữ Phạn là Nirvana, chữ Pali là Nibbana, cảnh-giới đã dứt hết mọi khổ. Người chứng Niết-Bàn đã diệt hết mọi phiền-não, lià mọi tham-dục, hằng sống tự-tại trong cảnh tịch-diệt, hết tái-sanh.

 

- Nhập-diệt: Nhập = vào; diệt = tiêu mất. Nhập-diệt tức là chết đi.

 

- Dục-lạc: Dục = ham-muốn; Lạc = vui; Dục-lạc là ham các thú vui về vật-chất, về thân-xác; vì dục-lạc chỉ là tạm-bợ.

 

- Phước-lạc: niềm vui chơn-thật và bền-vững về tinh-thần; Phước-lạc ở đây là hạnh-phước thoát được mọi khổ, tự-tại trong Niết-Bàn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất dài, có thể chia ra làm ba phần: (1) nạn chết-đói vì hạn-hán ở Tỳ-da-ly; (2) Đức Phật cứu-độ dân-chúng ở Tỳ-da-ly; (3) trong một tiền-kiếp làm người Bà-la-môn, Đức Phật có công xây tháp và kính-lễ một vị Bích-chi-Phật.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là sự tiếp-đón long-trọng của Trời, Người trong dịp Đức Phật đến thành Tỳ-da-ly để cứu nạn cho dân-chúng, chẳng phải vì công-đức cứu-độ đó mà được hưởng phước-báu, mà chính là do trong một tiền-kiếp làm người Bà-la-môn, Ngài đã xây tháp thờ-cúng một vị Bích-chi-Phật, nên nay Ngài mới được sự cung-kính của Nhơn,Thiên. Ý Đức Phật muốn khuyên ta đừng bỏ qua các việc thiện nhỏ, phải dứt-bỏ các thú-vui nhỏ mà tìm phước-báu lớn là được chứng-nhập cảnh Niết-bàn.

 

(2) Ý-nghĩa của Bài Kệ số 290:

 

Tuy bài Kệ chỉ có bốn câu ngắn, gọn, dễ hiểu, nhưng tầm quan-trọng đối với người tu tại-gia rất là to lớn. Tại sao? Vì bài Kệ vạch rõ hai con đường: một đường chạy theo các thú-vui vật-chất, thoả-mãn các nhu-cầu thể-xác, tạm thời; còn một đường nêu rõ phước-báu to lớn, được thoát khỏi vĩnh-viễn cảnh khổ-đau của cuộc đời, ra khỏi vòng sanh-tử, tử-sanh lẩn-quẩn của cõi Luân-hồi lận-đận và chứng được cảnh-giới an-vui, tự-tại của Niết-Bàn. Bài Kệ dạy rõ: từ bỏ các thú-vui nhỏ, để cố tìm lo chứng được Niết-Bàn là phước-báu to lớn, bền chặt nhứt. Bằng cách nào? Học-tập và ứng-dụng Chánh-pháp trong cuộc sống hằng ngày.

 

Nói cách khác, bài Kệ chỉ ra hai con đường: sống buông-trôi theo thú-vui vật-chất tạm-bợ, để phải chịu khổ triền-miên trong cảnh tái-sanh, và lối sống tu-hành, biết khước-từ các dục-lạc (ham-muốn về thể-xác), tìm theo các lạc-thú tinh-thần, dẹp hết phiền-não, dứt mọi lậu-hoặc, để sớm chứng-đắc cảnh an-nhiên, tự-tại của Niết-Bàn. Con đường nào đưa tới Niết-Bàn? Đó là con đường thánh-đạo, tức là Bát-Chánh-Đạo.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ sự so-sánh giữa hai việc: dục-lạc nhỏ và phước-báu lớn.

 

2.- Tập dứt bỏ các thói-quen nhỏ mà xấu, như: mỗi sáng, khi tỉnh-giấc, hay "nằm nướng" trên giường; nay hăng-hái ngồi dậy rửa mặt, lo đi ngồi thiền hay niệm Phật ngay.

 

3) Tập khước-từ vài thú-vui nhỏ như ngồi nán xem thêm phim Chưởng, nên tắt sớm Tivi, lên giường xem qua vài đoạn Kinh rồi dỗ giấc ngủ.

 

4) Chứng được Niết-Bàn là điều cao-xa đối với người tu tại-gia, nhưng nhường-nhịn nhau một câu khiến cho gia-đình khỏi rầy lộn, từ-chối lời mời của bạn ghé quán rượu "nhậu sơ ba sợi", để về nhà sớm phụ vợ dọn cơm cho vui, thì sẽ khỏi bị ... cằn-nhằn, lỗ tai khỏi phải "nhức-nhối", tâm khỏi hờn mát, tránh được những cái khổ... nho-nhỏ đó, đấy là đang bước đến ngưỡng cửa của Niết-Bàn ở thế-gian!

The Story of the Buddha's Former Deeds

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (290) of this book, with reference to the power and glory of the Buddha as witnessed by many people on his visit to Vesali.

Once, a famine broke out in Vesali. It began with a serious drought. Because of drought, there was almost a total failure of crops and many people died of starvation. This was followed by an epidemic of diseases and as people could hardly cope with the disposal of the corpses there was a lot of stench in the air. This stench attracted the ogres. The people of Vesali were facing the dangers of destruction by famine, disease and also by the ogres. In their grief and sorrow they tried to look for a refuge. They thought of going for help from various sources but finally, they decided to invite the Buddha. So a mission headed by Mahali, the Licchavi prince, and the son of the chief brahmin were sent to King Bimbisara to request the Buddha to pay a visit to Vesali and help them in their distress. The Buddha knew that this visit would be of much benefit to many people, so he consented to go to Vesali.

Accordingly, King Bimbisara repaired the road between Rajagaha and the bank of the river Ganga. He also made other preparations and set up special resting-places at an interval of every yojana. When everything was ready, the Buddha set out for Vesali with five hundred bhikkhus. King Bimbisara also accompanied the Buddha. On the fifth day they came to the bank of the river Ganga and King Bimbisara sent word to the Licchavi princes. On the other side of the river, the Licchavi princes had repaired the road between the river and Vesali and had set up resting places as had been done by King Bimbisara on his side of the river. The Buddha went to Vesali with Licchavi princes but King Bimbisara stayed behind.

As soon as the Buddha reached the other bank of the river heavy rains fell in torrents, thus cleansing up Vesali. The Buddha was put up in the rest-house which was specially prepared for him in the central part of the city. Sakka, king of the devas, came with his followers to pay obeisance to the Buddha, and the ogres fled. That same evening the Buddha delivered the Ratana Sutta and asked the Venerable Ananda to go round between the threefold walls of the city with the Licchavi princes and recite it. The Venerable Ananda did as he was told. As the protective verses (parittas) were being recited, many of those who were sick recovered and followed the Venerable Ananda to the presence of the Buddha. The Buddha delivered the same Sutta and repeated it for seven days. At the end of the seven days, everything was back to normal in Vesali. The Licchavi princes and the people of Vesali were very much relieved and were overjoyed. They were also very grateful to the Buddha. They paid obeisance to the Buddha and made offerings to him on a grand and lavish scale. They also accompanied the Buddha on his return journey until they came to the bank of the Ganga at the end of three days.

On arrival at the river bank, King Bimbisara was waiting for the Buddha; so also were the devas and the brahmas and the king of the Nagas with their respective entourage. All of them paid obeisance and made offerings to the Buddha. The devas and the brahmas paid homage with umbrellas, flowers, etc., and sang in praise of the Buddha. The Nagas had come with barges made of gold, silver and rubies to invite the Buddha to the realm of the Nagas; they had also strewn the surface of the water with five hundred kinds of lotuses. This was one of the three occasions in the life of the Buddha when human beings, devas and brahmas came together to pay homage to the Buddha. The first occasion was when the Buddha manifested his power and glory by the miracle of the pairs, emitting rays of light and sprays of water; and the second was on his return from the Tavatimsa deva world after expounding the Abhidhamma.

The Buddha, wishing to honour the Nagas, then paid a visit to the realm of the Nagas accompanied by the bhikkhus. The Buddha and his entourage went in the five hundred barges brought by the Nagas. After his visit to the realm of the Nagas, the Buddha returned to Rajagaha accompanied by King Bimbisara. They arrived at Rajagaha on the fifth day. Two days after their arrival at Rajagaha, while the bhikkhus were talking about the amazing grandeur and glory of the trip to and from Vesali, the Buddha arrived on the scene. On learning the subject of their talk, the Buddha said to them, "Bhikkhus, that I have been revered so much by brahmas, devas and human beings alike and that they have made offerings on such a grand and lavish scale to me on this occasion is not due to the power I now possess; it is simply because I had done some small meritorious deeds in one of my previous existences that I now enjoy such great benefits". Then the Buddha related the story of one of his past existences, when he was a brahmin by the name of Sankha.

Once there was a brahmin named Sankha who lived in the city of Taxila. He had a son named Susima. When Susima was sixteen years old, he was sent by his father to another brahmin to study astrology. His teacher taught him all that should be learnt, but Susima was not fully satisfied. So, his teacher directed him to approach the paccekabuddhas who were then staying in Isipatana. Susima went to Isipatana, but the paccekabuddhas told him that he must first become a bhikkhu. Thus, he became a bhikkhu, and was instructed how to conduct himself as a bhikkhu. Susima diligently practised meditation and he soon comprehended the Four Noble Truths, acquired Bodhi nana, and became a paccekabuddha himself. But as a result of his previous kamma Susima did not live long; he realized parinibbana soon afterwards.

Sankha, the father of Susima, came in search of his son, but when he arrived he only found the stupa where the relics of his son were enshrined. The brahmin felt very much distressed at the loss of his son. He proceeded to clean up the precincts of the stupa, by clearing away grass and weeds; then he covered up the ground with sand and sprinkled it with water. Next, he went into the nearby woods for some wild flowers and stuck them on the wet ground. In that way, he offered his services and paid respect to the paccekabuddha who was once his son. It was because of that good deed done in that previous existence of his that the Buddha gained such benefits, that he was showered with such lavish offerings, that he was shown such deep reverence and great devotion on that particular occasion.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 290: If by giving up small pleasures great happiness is to be found, the wise should give up small pleasures seeing (the prospect of) great happiness.

Dhammapada Verse 290
Attanopubbakamma Vatthu

Matta sukhapariccaga
passe ce vipulam sukham
caje mattasukhirh dhiro
sampassam vipulam sukham
1.

Verse 290: If by giving up small pleasures great happiness is to be found, the wise should give up small pleasures seeing (the prospect of) great happiness.


1. vipulam sukham: According to the Commentary, it means the bliss of Nibbana.


dhp291_B
Verse-Kệ 291

(215).- Tích chuyện một bà hay ăn hột gà. - Kệ số 291.

 

Tích chuyện nầy giống với Tích chuyện Nữ-quái Kha-ly, số (4),trang 17, Tăp 1.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến người đàn-bà hay ăn hột gà.

 

Thuở ấy, ở một làng gần thành Xá-vệ, có một người đàn-bà nuôi một con gà mái đẻ trứng; mỗi ngày, gà vừa đẻ xong, bà lượm trứng đem vào bếp, luộc ăn. Con gà mái lòng đau-khổ vì mất trứng chẳng nở gà con, nên phát lời nguyền sẽ trả mối thù đó. Trong kiếp tới, gà mái đầu-thai làm mèo, còn người đàn-bà lại thành gà mái, bao nhiêu gà con sanh ra lần-lượt bị mèo cắn chết hết. Đến kiếp tới, một đàng sanh làm beo gấm ăn thịt nai con của nai-mẹ. Cứ thế mà mối thù truyền kiếp kéo dài hết đời nầy sang đời khác. Cho đến khi Đức Phật thị-hiện ở nước Xá-vệ, thì một đàng sanh ra làm đàn-bà, còn một đàng làm ngạ-quỉ.

 

Một hôm, người đàn-bà cùng chồng, bồng con về thăm quê mẹ. Dọc đường, trời nóng, người chồng xuống ao tắm; người đàn-bà bỗng trông thấy ngạ-quỉ đi tới, chực bắt con mình, mới lật-đật bồng con, chạy vào chùa Kỳ-viên, đặt con dưới chơn Đức Phật nhờ che-chở. Ngạ-quỉ rượt theo đến cổng chùa, bị ngăn lại. Đức Phật nhìn thấy, bảo cứ cho vào, để Ngài phán dạy. Sau khi nghe hai bên trình-bày mối thù truyền-kiếp, Đức Phật bảo: ‘Nầy hai tín-nữ, nếu hai bà chẳng đến đây gặp Như-Lai, thì mối thù truyền-kiếp giữa hai bà chẳng bao giờ chấm-dứt. Hận-thù đâu dập-tắt được hận-thù. Chỉ có lòng từ-bi mới khiến hận-thù được giải-kết."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà người đàn-bà chứng được sơ-quả Tu-đà-huờn và ngạ-quỉ xin quy-y Tam-Bảo:

 

Ai gieo đau-khổ cho người,

Để tìm hạnh-phước vui-tươi cho mình;

Kẻ ấy bị hận-tình ràng-buộc

Biết bao giờ thoát được oán-thù.

(Kệ số 291.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đầu-thai: Theo giáo-lý nhà Phật, mỗi chúng-sanh mãn đời nầy được tái-sanh vào đời sau; khi nhập vào thai mẹ, gọi là đầu-thai.

 

- Truyền-kiếp = kéo dài từ đời nầy sang nhiều đời khác.

 

- Thị-hiện: Thị = bày tỏ ra; Hiện = nổi lên, cho thấy rõ; chữ Thị-hiện ở đây muốn nói Đức Phật giáng-sanh ở cõi đời nầy, hiện lên cho thấy.

 

- Ngạ-quỉ: quỉ đói; một hạng chúng-sanh thuộc đường dữ, bụng to, cổ nhỏ, thường bị đói-khát. Tiếng Pali là Peta.

 

- Giải-kết: Giải = mở ra; Kết = buộc lại. Giải-kết là mở chỗ buộc ra

 

- Sơ-quả Tu-đà-huờn: Sơ = đầu-tiên; Quả = quả-vị, kết-quả tu-hành thành-công. Tu-đà-huờn là quả-vị thứ nhứt, còn gọi là Nhập-lưu, được vào dòng Thánh, hoặc Thất-Lai, chỉ còn tái-sanh cõi người bảy lần nữa; tiếng Pali là Sotàpatti.

 

- Quy-y Tam-Bảo: Quy = trở về; Y = nương-tựa; Tam = ba; Bảo = ngôi báu; Quy-y Tam-Bảo là nương-tựa tinh thần vào ba ngôi báu; tức là tin-tưởng vào Phật, Pháp và Tăng.

 

- Hận-tình = tình-cảm thù-oán; như chữ Hận-thù.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện nầy giống với Tích chuyện Nữ-quái Kha-ly, có ý-nghĩa dạy ta, thù-oán chỉ nên cởi mở ra, chớ đừng đem thù trả oán; thù-oán vì thế cứ kéo dài mãi chẳng thôi, ràng-buộc cả hai bên, chẳng bao giờ được giác-ngộ và giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 291:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ rất rõ-ràng, khuyên ta chớ nên vì hạnh-phước của mình, gây thù-oán với kẻ khác. Vì thù-oán gây ra ràng-buộc, khiến ta phải mắc vòng Luân-hồi mãi, chẳng giải-thoát được.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để dạy trẻ, anh chị em trong nhà chớ giận nhau, chẳng chịu nhìn mặt, hay nói chuyện cùng nhau.

 

2.- Ăn hột gà, có tội sát-sanh không? Hột gà có "trống", có mầm-mống của gà-con sẽ nở ra. Nếu không, chẳng có tội sát-sanh.

The Story of the Woman Who Ate up the Eggs of a Hen

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (291) of this book, with reference to a feud between a woman and a hen.

Once, there lived a woman in a village near Savatthi. She had a hen in her house; every time the hen laid an egg she would eat it up. The hen was very much hurt and angry and made a vow to have vengeance on the woman and made a wish that it should be reborn as some being that would be in a position to kill the offspring of that woman. The hen's wish was fulfilled as it was reborn as a cat and the woman was reborn as a hen in the same house. The cat ate up the eggs of the hen. In their next existence the hen became a leopard and the cat became a deer. The leopard ate up the deer as well as its offspring. Thus, the feud continued for five hundred existences of the two beings. At the time of the Buddha one of them was born as a woman and the other an ogress.

On one occasion, the woman was returning from the house of her parents to her own house near Savatthi. Her husband and her young son were also with her. While they were resting near a pond at the roadside, her husband went to have a bath in the pond. At that moment the woman saw the ogress and recognized her as her old enemy. Taking her child she fled from the ogress straight to the Jetavana monastery where the Buddha was expounding the Dhamma and put her child at the feet of the Buddha. The ogress who was in hot pursuit of the woman also came to the door of the monastery, but the guardian spirit of the gate did not permit her to enter. The Buddha, seeing her, sent the Venerable Ananda to bring the ogress to his presence. When the ogress arrived, the Buddha reprimanded both the woman and the ogress for the long chain of feud between them. He also added, "If you two had not come to me today, your feud would have continued endlessly. Enmity cannot be appeased by enmity; it can only be appeased by loving-kindness."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 291: He who seeks his own happiness by inflicting pain on others, being entangled by bonds of enmity, cannot be free from enmity.


At the end of the discourse the ogress took refuge in the three Gems, viz., the Buddha, the Dhamma and the Samgha, and the woman attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 291
Kukkutandakhadika Vatthu

Paradukkhupadhanena
athno sukhamicchati
verasamsaggasamsattho
vera so na parimuccati.

Verse 291: He who seeks his own happiness by inflicting pain on others, being entangled by bonds of enmity, cannot be free from enmity.


dhp292_B
dhp293_B
Verse-Kệ 292-293

(216).- Tích chuyện các tỳ-kheo đan dép cỏ. - Kệ số 292 và 293.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại thành Bá-đi-gia, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các vị tỳ-kheo lo đan dép cỏ để mang.

 

Thuở ấy, tại một tu-viện ở thành Bá-đi-gia, có một số tỳ-kheo để công ra tìm cỏ lau, đan thành dép và dùng hoa khô trang-trí lên quai dép. Đức Phật biết được sự-việc đó, mới quở rằng: "Nầy các tỳ-kheo, các ông đã từ-bỏ đời sống thế-tục, gia-nhập Tăng-đoàn là để lo tu-hành cho sớm được giác-ngộ và giải-thoát. Cớ sao lại lãng-phí thì-giờ, lo đan dép cỏ, kết hoa khô vào quai, mang đi để khoe đẹp?"

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây, nhờ đó mà một số tỳ-kheo biết nỗ-lực hành-thiền, sớm chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Chẳng làm điều đáng làm,

Chẳng nên làm, lại làm.

Thiếu tỉnh-giác, kiêu-căng,

Lậu-hoặc ắt gia-tăng.

(Kệ số 292.)

 

Năng quán thân bất-tịnh,

Siêng làm điều đáng làm,

Tránh điều chẳng nên làm,

Thông-suốt và giác-tỉnh,

Lậu-hoặc ắt tiêu-trừ.

(Kệ số 293.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Bá-đi-gia: tên thành-phố nầy tiếng Pali là Baddiya.

 

- Thế-tục: Thế = đời; Tục = thường; Đời sống thế-tục là đời sống thường, có gia-đình, trong xã-hội.

 

- Tăng-đoàn: Tăng = tu-sĩ Phật-giáo. Cứ bốn vị tăng trở lên tu chung với nhau, thành một Tăng-đoàn. Tiếng Pali là Sangha, Tăng-già

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt, dứt hết phiền-não, lìa bỏ mọi ham-muốn, thoát khỏi cảnh khổ Luân-hồi, chứng được Niết-Bàn an-vui, tự-tại. Tiếng Pali là Arahant.

 

- Tỉnh-giác: Tỉnh = chẳng mê; Giác = biết. Người tỉnh-giác khi làm, nói, nghĩ điều gì thì trong tâm biết rõ mình đang làm, nói hay nghĩ về đìều ấy, và chỉ điều ấy mà thôi, chẳng hề lo ra, luôn luôn chú-ý.

 

- Lậu-hoặc: Lậu = rỉ chảy ra; Hoặc = điều sái-quấy. Chữ Lậu-hoặc chỉ các điều sái-quấy khởi lên trong lòng, bộc-lộ ra ( =rỉ-chảy) bằng hành-động xấu, hay lời nói thô-ác. Cùng nghĩa với chữ phiền-não.

 

- Kiêu-căng = làm phách, tự-cao và khoe-khoang.

 

- Quán = ngồi Thiền, tâm yên-tịnh và suy-nghĩ sâu-xa về một đề-tài; thường nói là quán-tưởng hay quán-chiếu.

 

- Quán Thân bất-tịnh: Bất = chẳng; Tịnh = sạch. Quán Thân bất-tịnh là suy-nghi sâu-xa về tấm thân vật-chất nầy, bề ngoài xem là đẹp mà bên trong chứa nhiều chất dơ-dáy, như máu, mủ, ghèn, nước tiểu, phẩn, v.v. Do quán thấy chỗ dơ trong thân mà sanh ra nhàm-chán thân, chẳng chạy theo sắc đẹp nữa; nhờ đó mà biết thân nầy sẽ tan-rả theo lẽ Vô-thường. - Phép qán Thân bất-tịnh là một trong bốn phép quán của Tứ-niệm-xứ: (1) quán Thân bất-tịnh; (2) quán Thọ ( = cảm-giác) là khổ; (3) Tâm là vô-thường; (4) Pháp ( = muôn sự-vật) là vô-ngã Tu theo phép quán Tứ-niệm-xứ được thuần-thục, thông-suốt được ba lẽ: Khổ, Vô-thường, Vô-ngã thì sẽ chứng được quả-vị A-la-hán.

 

- Gia-tăng, Tiêu-trừ: Gia = thêm lên; Tăng = hơn lên; Tiêu = mất; Trừ = bớt. Hai chữ Gia-tăng và Tiêu-trừ nầy đối-nghịch nhau, một đàng thì thêm lên, còn một đằng mất đi hết.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, Đức Phật quở các tỳ-kheo đan dép, chẳng lo hành Thiền, cho chóng được giác-ngộ và giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 292 và 293:

 

Bài Kệ trước nói khi nào lậu-hoặc gia-tăng; bài Kệ sau chỉ cách tiêu-trừ lậu-hoặc. Cách nào? Phải luôn luôn tỉnh-giác, nỗ-lực tu-tập quán-chiếu về thân bất-tịnh.

The Story of the Baddiya Bhikkhus

While residing near the town of Baddiya, the Buddha uttered Verses (292) and (293) of this book, with reference to some bhikkhus.

Once, some bhikkhus who were staying in Baddiya made some ornate slippers out of some kinds of reeds and grasses. When the Buddha was told about this he said, "Bhikkhus, you have entered the Buddhist Order for the sake of attaining Arahatta Phala. Yet, you are now striving hard only in making slippers and decorating them."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 292: In those who leave undone what should indeed be done but do what should not be done, who are conceited and unmindful, moral intoxicants increase.

 

Verse 293: In those who always make a good effort in meditating on the body, who do not do what should not be done but always do what should be done, who are also mindful and endowed with clear comprehension, moral intoxicants come to an end.


At the end of the discourse, those bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verses 292 and 293
Bhaddiyanam bhikkhunam Vatthu

Yam hi kiccam apaviddham
akiccam pana kariyati
unnalanam pamattanam
tesam vaddhanti asava.

Yesanca susamaraddha
niccam kayagata sati
akiccam te na sevanti
kicce sataccakarino
satanam Sampajananam
attham gacchanti asava.

Verse 292: In those who leave undone what should indeed be done but do what should not be done, who are conceited and unmindful, moral intoxicants increase.

Verse 293: In those who always make a good effort in meditating on the body, who do not do what should not be done but always do what should be done, who are also mindful and endowed with clear comprehension, moral intoxicants come to an end.


dhp294_B
dhp295_B
Verse-Kệ 294-295

(217).- Tích chuyện Trưởng-lão Phát-di-gia, người thấp-lùn - Kệ số 294 và 295.

 

Tích chuyện nầy hơi giống các Tích chuyện: số (65) và số (197).

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Trưởng-lão Phát-di-gia, người thấp-lùn.

 

Thuở ấy, có một nhóm tỳ-kheo từ phương xa đến yết-kiến Đức Phật. Lúc bấy giờ, có Trưởng-lão Phát-di-gia dáng người thấp-lùn, đang đứng ở cuối phòng. Đức Phật hướng về phía Trưởng-lão, bảo các vị tỳ-kheo rằng: ‘Nầy chư tỳ-kheo, các ông có trông thấy vị Tăng đang đứng phía kia không? Đó là người đã giết xong cha cùng mẹ, nay ra đi nhẹ-nhàng, chẳng còn chút khổ-đau nào cả." Vừa nghe xong lời nói của Đức Phật, chúng tỳ-kheo rất ngạc-nhiên, chẳng hiểu được thâm-ý của Đức Phật, mới xin Đức Phật giải-thích thêm.

 

Đức Phật liền đọc hai bài Kệ sau đây để giải-thích lời ẩn-dụ:

 

Giết cha NGÃ-MẠN, mẹ ÁI-DỤC,

Diệt ĐOẠN-KIẾN,THƯỜNG-KIẾN hai vua,

Tổng-Tài ÁI-LUYẾN vừa thu-phục,

Vương-quốc MƯỜI HAI XỨ đánh thua,

Phạm-Chí ra đi chẳng sầu-muộn.

(Kệ số 294.)

 

Giết cha, giết mẹ vừa xong,

Bà-la-môn dòng hai chúa, giết luôn.

Ngũ hổ-tướng NGHI-NAN diệt hẳn,

Phạm-Chí ra đi chẳng ưu-phiền.

(Kệ số 295.)

 

Xin lưu-ý: Tích chuyện và Bài Kệ mới đọc qua, thấy khó hiểu, vì ý của Đức Phật được nói ra thành lời ẩn-dụ, nghĩa là nói thí-dụ một cách thầm-kín; vì thế mà khó hiểu được ngay. Xin chịu khó đọc qua PHẦN TÌM HIỂU, rồi trở lại đọc Tích chuyện và hai bài Kệ, sẽ rõ hơn.

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Phát-di-gia: tên vị Trưởng-lão thấp-lùn nầy, tiếng Pali là Bhaddiya

 

- Thâm-ý: Thâm = sâu-kín; Ý = ý-tưởng; Thâm-ý là ý sâu bên trong, tuy khó hiểu liền, nhưng đó mới thật là ý của người muốn nói.

 

- Lời ẩn-dụ: Ẩn = dấu kín; Dụ = thí-dụ. Lời ẩn-dụ là lời nói thí-dụ một cách bóng-bảy, ý sâu dấu-kín trong sự so-sánh của thí-dụ. Như muốn nói, tôi đói bụng, mà lại nói, trong bụng tôi có kiến cắn, vì bụng đói cồn-cào, tựa như bị con kiến cắn vậy. Ở đây, Đức Phật nói giết cha, giết mẹ, là ý Ngài muốn nói, đã diệt xong các nguyên-nhơn khiến ta phải tái-sanh ra lại; vì các nguyên-nhơn đó làm cho ta tái-sanh, thì chúng cũng như là cha, là mẹ đã sanh ra ta vậy. Hễ diệt được các nguyên-nhơn gây tái-sanh nầy xong, thì thoát khỏi vòng Luân-hồi, tức là đâu còn phải sanh lại để chịu đau-khổ nữa. Nguyên-nhơn nào gây ra sự tái-sanh? Đó là ngã-mạn và ái-dục.

 

- Ngã-mạn: Ngã = ta; Mạn = kiêu-mạn, tự-cao. Ngã-mạn, tiếng thường là làm phách, coi Ta là hơn cả, chẳng muốn Ta bị thua thiệt, bị hao-mòn, bị chết mất. Vì còn quá trọng cái Ta như thế, nên khi lìa đời, chẳng muốn cái Ta mất đi, cho nên phải tái-sanh để cái Ta tiếp-tục sống nữa, đó là nguyên-nhơn gây ra tái-sanh vậy. Vì thế, Đức Phật gọi ngã-mạn là "cha". Tiếng Pali gọi ngã-mạn là Mana.

 

- Ái-dục: Ái = thương, thích; Dục = ham-muốn. Ái-dục là một tình-cảm sâu-đậm nhứt của con người, thúc-dục ta phải khao-khát, đòi hỏi chiếm cho được điều mình thương, việc mình thích; như thèm-khát các thú-vui vật-chất, thoả-mãn các giác-quan, hưởng-thọ khoái-lạc giữa nam-nữ, tất cả những dục-lạc do cuộc sống mang lại. Vì sự khao-khát đó, nên sanh ra sự cố bám chặt vào đời sống sướng thì ít mà khổ lại nhiều nầy; do đó, ái-dục được Đức Phật xem là nguyên-nhơn gây ra Khổ, trong Chơn-lý thứ hai của Tứ Diệu-đế, tức là Tập-đế. Vì ái-dục là nguyên-nhơn gây ra cảnh Khổ trong cuộc tái-sanh trong vòng Luân-hồi, cho nên Đức Phật mới ví như bà mẹ sanh con vậy. Tiếng Pali gọi ái-dục là Tanhà.

 

- Đoạn-kiến: Đoạn = cắt rời, làm đứt đoạn; Kiến = ý-kiến. Đoạn-kiến là một tà-kiến, một tư-tưởng sai-lầm, cho rằng con người khi chết đi là hết, chẳng còn gì nữa, chẳng có đời sau, cũng như chẳng có đời trước; đó là "cắt đứt" cuộc sống vốn vô-thủy, vô-chung ( = chẳng biết lúc bắt đầu, cũng chẳng biết khi nào chấm dứt), chẳng có quả-báo chi cả. Người chấp vào đoạn-kiến chỉ biết làm sao để hưởng-thụ thật nhiều ngay trong hiện-tại, chẳng kể chi thiện-ác, vì họ đâu có tin vào Luật Nhơn-quả, chết đi là hết cả kia mà. Vì đoạn-kiến khiến họ có lối sống như thế, nên đoạn-kiến được xem như một ông vua đã sai-khiến dân chúng trong nước phải mang tà-kiến sai-lầm nặng-nề đó, bị ràng-buộc mãi trong kiếp sống trầm-luân, khổ-ách của Luân-hồi, chẳng thấy biết được ánh-sáng của sự tự-do giải-thoát . Tiếng Pali gọi đoạn-kiến là Ucchedaditthi.

 

- Thường-kiến: Thường = thường còn, chẳng hề mất đi; Kiến = ý-kiến. Thường-kiến cũng là một tà-kiến, một tư-tưởng sai-lầm, cho rằng con người có sẵn một linh-hồn bất-diệt, nay sống đây, dầu có phạm vào điều gì sái-quấy, hay thực-hiện được việc gì đạo-đức đi nữa, cũng chẳng có ảnh-hưởng chi đến linh-hồn bất-diệt kia cả, một mai thân nầy chết đi, linh-hồn đó vẫn tiếp-tục mãi trong một thế-giới thường-hằng, chẳng biến-diệt. Người vướng vào thường-kiến cũng phủ-nhận luật Nhơn-quả, lý Luân-hồi, chỉ tin vào cuộc sống ở cõi đời hiện-tại nầy, chẳng hề lo nghĩ đến các cõi ác khác, mà cái "linh-hồn" kia sẽ phải sa-đoạ. Vì thường-kiến thúc-dục con người cứ đinh-ninh sẽ giữ mãi được hiện-trạng, nên được ví như một ông vua đã khiến dân chúng cứ vui sống mãi trong thân-phận khổ nhiều sướng ít nầy, cứ bị trôi lăn trong vòng lẩn-quẩn của Luân-hồi mà chẳng hề nghĩ đến việc giải-thoát khỏi, để được tự-do, tự-tại. Tiếng Pali gọi Thường-kiến là Sassataditthi.

 

- Tổng-Tài: đây là dịch rất gượng chữ Pali sànucaram, vị quan trông coi kho bạc của nhà vua; Tổng-Tài ở đây muốn nói đến vị tổng-trưởng tài-chánh, người chịu trách nhiệm về tiền-bạc trong nước.

 

- Ái-luyến: Ái = thương, thích; Luyến = mê-luyến, say-đắm, đeo chặt. Ái-luyến là thái-độ bám-viú vào, ôm chặt lấy vào điều mình thương, vào việc mình thích, chẳng thể rời ra được, vì thế mà bị ràng-buộc nặng-nề. Sự ái-luyến sanh ra từ lòng ái-dục, vì thèm-khát mà trở nên bám chặt vào sự ước-muốn được có mãi, chẳng cho mất đi. Đây là sự thương-mến đi quá mức, trở nên một nết xấu, ràng-buộc nhiều.

 

Tiếng Pali gọi sự Ái-luyến là Nandiràga.

 

- Thu-phục: Thu = thâu giữ; Phục = làm cho phải tuân theo lịnh mình; Thu-phục là đã thắng và buộc kẻ kia phải phục-tùng mình.

 

- Vương-quốc: Vương = vua; Quốc = đất nước; Vương-quốc là cõi đất nước của một vị vua cai-trị; ở đây chữ Vương-quốc dùng theo nghĩa bóng, chỉ đến thân-tâm con người cùng hoàn-cảnh chung quanh

 

- Mười hai xứ: chữ Xứ ở đây dùng theo nghĩa bóng, chỉ vào sáu căn ( = mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và sáu trần ( = sáu hình-thể của cảnh-vật: màu-sắc, âm-thanh, mùi, vị, cảm-xúc và tư-tưởng); đó là chỉ sáu nội-nhập ( = các cơ-quan thâu nhận cảnh-vật bên ngoài đem vào tâm; nội = trong; nhập = đưa vào) và sáu ngoại-nhập ( = các hình-thái từ bên ngoài xuyên qua các giác-quan đi vào tâm; ngoại = bên ngoài). Ở đây, nói đánh thua Mười hai xứ Vương-quốc, có nghĩa là đã làm chủ được các giác-quan, biết tự-kềm-chề, khiến cho thân-tâm chẳng bị cảnh-vật bên ngoài lôi cuốn nữa. Tiếng Pali gọi các Căn là Indriya và các Trần là Dhàtu, sáu nội-nhập là Ajjhatta àyatana, sáu ngoại-nhập là Bahiddha àyatana.

 

- Phạm-Chí: cùng nghĩa với chữ Bà-la-môn (Brahmana), là bực tu-sĩ, đạo-đức cao. Ở đây, chữ Phạm-chí chỉ bực tu-sĩ đã đắc được quả-vị A-la-hán, diệt hết phiền-não, lìa mọi dục-vọng, chứng được vô-sanh ( = chẳng còn bị tái-sanh trong Luân-hồi), an-vui và tự-tại.

 

- Bà-la-môn dòng hai chúa: câu văn nầy khúc-mắc, nếu nói cho xuôi lại thì: hai chúa dòng Bà-la-môn. Hai chuá dòng Bà-la-môn ở đây nhắc lại hai Vua là Đoạn-kiến và Thường-kiến, được nói đến ở bài Kệ trước, số 194. Câu "Bà-la-môn dòng hai chúa, giết luôn" có nghĩa là đã diệt bỏ hẳn hai tà-kiến về đoạn-kiến và thường-kiến xong rồi.

 

- Ngũ-hổ-tướng NGHI-NAN: Ngũ-hổ-tướng là năm vị tướng mạnh-mẽ như cọp; Nghi-nan = nghi-ngờ, ở đây là nghi-ngờ, chẳng chịu tin theo Chánh-pháp của Đức Phật. Sao lại gọi là ngũ-hổ-tướng? Ba chữ nầy dùng theo nghĩa bóng, để chỉ năm điều ngăn-che, danh-từ Hán-Việt gọi là ngũ-cái, năm cái nấp-vung che đậy, dấu kín bên trong, chẳng thấy được Sự-Thật; đó là: (1) tham, (2) sân, (3) thùy-miên ( = mê ngủ nhiều), (4) trạo-hối ( = quá xao-động) và nghi-nan. Vì nghi-nan là vị "tướng" thứ năm trong ngũ-cái, nên mới gọi là ngũ-hổ-tướng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một nhóm tỳ-kheo từ phương xa đến yết-kiến Đức Phật. Họ được Đức Phật chỉ cho thấy Trưởng-lão Phát-di-gia, và nói cho họ biết, đó là người đã giết cha, giết mẹ, nay ra đi một cách tự-tại. Các vị tỳ-kheo rất ngạc-nhiên khi nghe nói như thế. Họ được Đức Phật đọc hai bài Kệ giải-thích, mới hiểu thâm-ý Đức Phật là muốn nói đến một vị tỳ-kheo đã chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: muốn chứng được quả-vị A-la-hán, cần phải diệt xong các phiền-não, dứt các tà-kiến, kềm-chế các giác-quan, giữ tâm an-tịnh trước hoàn-cảnh chung quanh; các điều nầy được Đức Phật kể tiếp ra trong hai bài Kệ.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 294 và 295:

 

Ý-nghĩa của hai bài Kệ là: con đường tu-tập để đi đến quả-vị A-la-hán gồm có những bước nào? Xin phân-tách từng câu và giải nghĩa thêm về các lời ẩn-dụ của Phật đã nói trong hai bài Kệ:

 

1) Giết cha NGÃ-MAN, mẹ ÁI-DUC: chẳng phải là giết cha-mẹ thật của mình, mà giết hay là diệt bỏ các nguyên-nhơn gây nên sự tái-sanh trong cõi đời nầy. Cha Ngã-mạn, Mẹ Ái-dục mới thật-sự khiến ta phải tái-sanh để mang lấy thân-tâm nầy sống trong cuộc Luân-hồi.

 

2) Diệt ĐOAN-KIẾN, THƯžNG-KIẾN hai vua: hai tà-kiến Đoạn và Thường nầy thúc-đẩy ta sống cuộc đời chẳng đúng theo đạo-đức, cũng tựa như hai Vua buộc ta phải sống theo luật-lệ trong nước của các vị ấy. Diệt hai vua đó là lìa bỏ hai tà-kiến ấy.

 

3) Tổng-tài ÁI-LUYẾN vừa thu-phục: Tổng-tài là Tổng-trưởng Tài-chánh, vị cầm giữ kho bạc trong nước; ý so-sánh ở đây là gọi sự say-đắm của Ái-luyến như sẵn có tiền, có bạc, dễ xài-phí để chạy theo các sự ham-muốn. Thu-phục được vị nầy, sự ái-luyến nầy, tức là nắm lại được quyền tự làm chủ lấy mình, tự biết kềm-chế lấy mình.

 

4) Vương-quốc MƯžI HAI XỨ đánh thua: thắng được nước kia gồm có mười hai xứ. Xứ nào? Đó là sáu căn cộng với sáu trần. Tâm bên trong yên-tĩnh được là nhờ khéo biết lúc nào nên đóng, lúc nào nên mở, sáu cánh cửa nhìn ra ngoài, chận được sáu hình-thể của cảnh-vật bên ngoài chẳng len vào được khuấy rối tâm. Đánh thua ở đây là biết điều-phục các căn vậy.

 

5) Phạm-Chí ra đi chẳng sầu-muộn: Phạm-Chí tức là Bà-la-môn, ở đây chỉ vị tu-sĩ Phật-giáo, đó là vị Trưởng-lão Phát-di-gia đã chứng được quả-vị A-la-hán. Vị Phạm-Chí đắc quả đó từ nay sống cuộc đời tự-tại, an-vui trong cảnh Niết-bàn, nên khi ra đi chẳng còn sầu-muộn.

 

Về bài Kệ thứ nhì, số 295:

 

1) Giết cha, giết mẹ vừa xong: diệt xong Ngã-mạn là cha, Ái-dục là mẹ, hai đấng sanh-thành đã đưa ta tái-sanh vào cõi đời nầy.

 

2) Bà-la-môn dòng hai chúa, giết luôn: nói lại cho xuôi câu: giết luôn cả hai vua dòng Bà-la-môn. Hai vua đó là hai tà-kiến: đoạn-kiến và thường-kiến, đã nói qua trong bài Kệ trước.

 

3) Ngũ-hổ-tướng NGHI-NAN diệt hẳn: ông tướng-lãnh thứ năm, mạnh như cọp nầy chỉ vào sự Nghi-ngờ, thiếu tin-tưởng vào Chánh-pháp của Đức Phật. Sao lại gọi là ông tướng thứ năm? Vì ông ấy đứng hàng thứ năm trong năm "ông" trong ngũ-cái, là năm điều ngăn-che, chẳng cho ta thấy được Chơn-lý. (Năm ông nào vậy? Xin xem lại Phần Nghĩa Chữ ở trên.)Hễ diệt được sự Nghi-nan, bắt đầu tin-hiểu Chánh-pháp, thì vững bước trên con đường tiến đến đạo-quả.

 

4) Phạm-Chí ra đi chẳng ưu-phiền: Vị Phạm-Chí nầy, đắc quả A-la-hán, chính là Trưởng-lão Phát-di-gia, mà Đức Phật muốn giới-thiệu với các tỳ-kheo khi họ đến đảnh-lễ Đức Phật, nói trong Tích chuyện.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Nếu bỏ công ra học thuộc lòng hai Bài Kệ, mà chẳng tìm hiểu hết ý-nghĩa ẩn-kín, thì chẳng có ích-lợi chi nhiều cho việc tu-tập. Vì hai bài Kệ chứa nhiều danh-từ chuyên-môn trong Phật-học, nên Phần Tìm Hiểu cũng giúp ích được đôi chút, nhưng phần quan-trọng chính là ở chỗ người tu-hành, phải tự-mình thực-hành, bằng không đó chỉ là sự hiểu-biết về danh-từ suông mà thôi.

 

2) Hai tà-kiến: đoạn-kiến và thường-kiến, sở dĩ ta vướng phải, là vì: hoặc vì chưa hiểu thấu các hình-thức và sự nguy-hiểm của hai tà-kiến đó; hoặc đã biết nhưng vì tự-cao, chẳng chịu tin theo Chánh-pháp, cứ ngoan-cố giữ mãi tà-kiến. Bỏ được không, chỉ do quyết-tâm.

 

3) Xin để dịp khác sẽ bàn thêm về cách dứt được Ái-Dục.

The Story of Thera Bhaddiya, the Short One

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (294) and (295) of this book, with reference to Thera Bhaddiya who was also known as Lakundaka Bhaddiya because of his short stature.

On one occasion, some bhikkhus came to visit and pay homage to the Buddha at the Jetavana monastery. While they were with the Buddha, Lakundaka Bhaddiya happened to pass by not far from them. The Buddha called their attention to the short thera and said to them, "Bhikkhus, look at that thera. He has killed both his father and his mother, and having killed his parents he goes about without any dukkha." The bhikkhus could not understand the statement made by the Buddha. So, they entreated the Buddha to make it clear to them and the Buddha explained the meaning to them.

In the above statement, the Buddha was referring to an arahat, who had eradicated craving, conceit, wrong beliefs, and attachment to sense bases and sense objects. The Buddha had made the statement by means of metaphors. Thus, the terms 'mother' and 'father' are used to indicate craving and conceit respectively. The Eternity-belief (Sassataditthi) and Annihilation-belief (Ucchedaditthi) are likened to two kings, attachment is likened to a revenue officer and the sense bases and sense objects (the ajjhatta and bahiddha ayatanas) are likened to a kingdom.

After explaining the meaning to them, the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 294: Having killed mother (i.e., Craving), father (i.e., Conceit), and the two kings (i.e., Eternity-belief and Annihilation-belief), and having destroyed the kingdom (i.e., the sense bases and sense objects) together with its revenue officer (i.e., attachment), the brahmana (i.e., the arahat) goes free from dukkha.

 

Verse 295: Having killed mother, father, the two brahmin kings and having destroyed the hindrances of which the fifth (i.e., doubt) is like a tiger-infested journey, the brahmana (i.e., the arahat) goes free from dukkha.


At the end of the discourse the visiting bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verses 294 and 295
Lakundaka Bhaddiya Vatthu

Mataram pitaram hantva
rajano dye ca khattiye
rattham sanucaram hantva
anigho yati
1 brahmano.

Mataram pitaram hantva
rajano dve ca sotthiye
veyagghapancamam
hantva
anigho yati brahmano.

Verse 294: Having killed mother (i.e., Craving), father (i.e., Conceit), and the two kings (i.e., Eternity-belief and Annihilation-belief), and having destroyed the kingdom (i.e., the sense bases and sense objects) together with its revenue officer (i.e., attachment), the brahmana (i.e., the arahat) goes free from dukkha.

Verse 295: Having killed mother, father, the two brahmin kings and having destroyed the hindrances of which the fifth (i.e., doubt) is like a tiger-infested journey, the brahmana (i.e., the arahat) goes free from dukkha.


1. anigho yati: goes unharmed, i.e., liberated from the round of rebirths (samsara).

2. veyagghapancamam: veyaggha + pancamam, i.e., like a tiger + the fifth. There are five hindrances, nivaranas. The reference here is to the fifth hindrance, viz., doubt (vicikiccha).


dhp296_B
dhp297_B
dhp298_B
dhp299_B
dhp300_B
dhp301_B
Verse-Kệ 296-301

(218).- Tích chuyện con của người đốn củi. - Sáu bài Kệ, từ số 296 đến số 301.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến người con của kẻ đốn củi.

 

Thuở ấy, ở thành Vương-xá có một người tiều-phu hằng ngày thường cùng với đứa con trai vào rừng đốn củi. Hôm ấy, trời xế chiều, họ đốn được một xe củi, mới quay về. Dọc đường, hai cha con dừng lại bên nghĩa-địa, lấy cơm ra ăn. Họ cởi cái ách khỏi cổ của đôi bò, thả cho chúng đi ăn cỏ. Hai con bò đi từ bụi cỏ nầy sang bãi cỏ khác, chẳng mấy chốc đã đi xa; đến khi người tiều-phu sực nhớ, nhìn lại chẳng thấy đôi bò đâu cả. Ông liền dặn con cứ ngồi lại bên xe, chờ ông chạy đi kiếm. Theo dấu chơn bò, người cha đi mãi vào thành. Đến khi tìm được hai con thú, thì trời đã tối mò, cửa thành đã đóng lại, ông chẳng trở ra được để tìm con. Đứa con chờ cha mãi chẳng thấy trở lại, đành nằm xuống dưới gầm xe, đánh một giấc ngủ ngon.

 

Trời càng về khuya, theo cơn gió lộng, có hai hồn ma đi lang-thang, nhìn thấy đứa bé nằm ngủ dưới gầm xe, mới dừng lại khuấy rối. Nào kéo chơn, kéo tay, nào hù doạ; nhưng đứa trẻ vốn là một Phật-tử thuần-thành, chẳng sợ-hãi, chấp tay, miệng niệm "Mô Phật" vang lên, lòng tưởng đến công-đức của Phật-đà. Nghe tiếng niệm Phật, hai hồn ma hoảng sợ, định bỏ chạy, nhưng nhìn thấy đứa trẻ thơ-ngây đang nằm một mình, e nó bị hại, mới sanh lòng thương. Rồi một hồn ma ở lại bên xe, canh chừng, còn hồn ma kia đi tìm thức ăn cho nó. Vào đền vua, hồn ma ấy thấy trong nhà bếp có dọn sẵn một mâm cơm, liền bưng đi, để lại một miếng giấy làm tin.

 

Sáng hôm sau, người nhà bếp thấy mất mâm cơm, có tờ giấy trên bàn, mới đem trình Vua Tần-bà-sa-la. Vua đọc mảnh giấy xong, biết nơi tìm, mới sai người ra nghĩa-địa. Được hạch hỏi, đứa bé chỉ trả lời là đêm qua bị ma nhát, nó liền niệm Phật được bình-yên, rồi sau đó, cha mẹ nó dọn cơm cho nó ăn, ăn xong nó nằm xuống ngủ, nó chỉ biết có thế mà thôi. Vua ra lịnh dẫn cha con người tiều-phu đến chùa, trình lên Đức Phật sự-việc đêm qua. Nhà vua hỏi: "Bạch Thế-tôn, lòng tưởng-niệm đến công-đức của Phật-đà, chí thành niệm "Mô Phật" như thế, có đủ năng-lực tránh được các tai-hoạ chăng?" Đức Phật bảo: "Nầy Đại-vương, tâm hằng tỉnh-giác tưởng-niệm đến sáu việc nầy, sẽ giúp ta tránh khỏi tội-ác và tai-hoạ."

 

Rồi Đức Phật đọc lên sáu bài Kệ sau đây, kể rõ sáu việc đó:

 

Hằng tỉnh-giác, chuyên-cần thúc-liễm,

Các đệ-tử Phật Gotama,

Chẳng kể ngày ngày, đêm đêm qua,

Công-đức Phật-đà luôn tưởng-niệm.

(Kệ số 296.)

 

Hằng tỉnh-giác, chuyên-cần thúc-liễm,

Các đệ-tử Phật Gotama,

Chẳng kể ngày ngày, đêm đêm qua,

Công đức Chánh-pháp luôn tưởng-niệm.

(Kệ số 297.)

 

Hằng tỉnh-giác, chuyên-cần thúc-liễm,

Các đệ-tử Phật Gotama,

Chẳng kể ngày ngày, đêm đêm qua,

Công-đức Tăng-già luôn tưởng-niệm.

(Kệ số 298.)

 

Hằng tỉnh-giác, chuyên-cần tinh-tấn,

Các đệ-tử Phật Gotama,

Chẳng kể ngày ngày, đêm đêm qua,

Sắc-thân bất-tịnh luôn tưởng-quán.

(Kệ số 299.)

 

Chuyên-cần tinh-tấn, hằng tỉnh-giác,

Các đệ-tử Phật Gotama,

Chẳng kể ngày ngày, đêm đêm qua,

Luôn vui với đức vô-hại-tác.

(Kệ số 300.)

 

Chuyên-cần tinh-tấn, hằng giác-tỉnh,

Các đệ-tử Phật Gotama,

Chẳng kể ngày ngày, đêm đêm qua,

Luôn vui thoả-thích tu thiền-định.

(Kệ số 301)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tiều-phu = người đốn củi trong rừng để đem bán.

 

- Vương-xá: tên thủ-đô xứ Ma-kiệt-đà (Magadha), tiếng Pali là Ràjagaha. Gần thành Vương-xá, vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) có xây tịnh-xá Trúc-lâm (Veluvana), trong vườn trúc, để dưng-cúng Đức Phật.

 

- Ách: thanh gỗ cứng, đè lên cổ trâu, bò, để buộc chúng vào xe.

 

- Gầm xe = bên dưới chiếc xe, khoảng giữa hai bánh xe.

 

- Gió lộng = gió thổi lồng-lộng, gió thổi mạnh.

 

- Hồn ma = theo sự tin-tưởng trong Phật-học, đây là một hạng chúng-sanh vô-hình, đi lang thang, vất-vưởng, thuộc vào đường dữ, thường gọi là ngạ-quỉ hay là quỉ đói.

 

- Hù-doạ = doạ nạt, khiến cho sợ-hãi.

 

- Phật-tử thuần-thành: người tin theo đạo Phật, tuân theo Chánh-pháp, siêng-năng đi chùa nghe giảng pháp, sống có đạo-đức. (Thuần = chuyên-cần, đứng-đắn, tốt; Thành = nhiệt-thành, thành-thật.)

 

- Mô Phật: nói tắt bốn chữ Nam-mô Phật-đà, tiếng Pali là Namo Buddhassa, có nghĩa là Chí-tâm đảnh-lễ Đức Phật, kính lạy Đức Phật.

 

- Nghĩa-địa = bãi tha-ma, nơi chôn cất người chết.

 

- Hạch hỏi = tra hỏi, hỏi cho kỹ để biết Sự-thật; điều-tra.

 

- Tỉnh-giác: Tỉnh = tỉnh-táo, chẳng mê; Giác = biết. Người tỉnh-giác là người luôn luôn chú-ý, đang làm, nói hay nghĩ điều gì, trong tâm biết rõ mình đang làm, nói hay nghĩ về điều đó và chỉ điều đó thôi.

 

- Thúc-liễm: Thúc = bó-buộc; Liễm = gom-góp lại; Thúc-liễm là giữ mình cẩn-thận, chẳng lơ-là, chẳng phóng-túng, tự canh-chừng lấy mình, ráng giữ để tránh các lỗi-lầm, tội-ác.

 

- Phật Gotama = Đức Phật Thích-ca; Gotama là họ, đọc là Gô-ta-ma, phiên-âm Hán-Việt là Cồ-đàm.

 

- Tưởng-niệm: luôn luôn ghi nhớ trong lòng, chẳng hề quên.

 

- Tăng-già: phiên-âm chữ Pali Sangha, đoàn-thể tu-sĩ Phật-giáo có từ bốn vị tu chung với nhau trở lên; dịch là Giáo-hội Phật-giáo.

 

- Tưởng-quán Sắc-thân bất-tịnh: Tưởng-quán = tâm an-định suy-nghĩ sâu-xa về một đề-tài thiền-quán. Sắc-thân: tấm thân vật-chất; Bất-tịnh: Bất = chẳng; Tịnh = trong-sạch. Quán-tưởng sắc-thân bất-tịnh là một phép quán, trong Kinh Tứ-niệm-xứ, riêng quán về tấm thân con người, bề ngoài xem đẹp-đẽ, mà bên trong chứa ba-mươi-hai chỗ dơ-dáy, đáng gớm-ghiếc; hễ siêng tu-tập về đề-tài thiền-quán nầy sẽ dứt bỏ được sự say-mê theo các thú-vui xác-thịt, từ từ diệt bỏ được cái Ngã, thấy rõ tấm thân nầy hay biến-đổi rồi sẽ hoại-diệt, gây ra đau-khổ, nhờ đó mà thấu-hiểu được các lẽ Vô-thường, Khổ và Vô-ngã.

 

- Vô-hại-tác: dịch gượng chữ Pali Ahimsa, đức-tánh chẳng hề làm tổn-hại ai, ngay cả đối với kẻ thù, đối với loài côn-trùng nhỏ-nhít đi nữa. (Vô = chẳng; Hại = gây sự tổn-hại; Tác = làm.)Danh-từ vô-tác-hại còn được dịch là Vô-não (Não = não-hại, gây sự phiền-não, tổn-hại.)

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện tuy dài, có thể tóm-tắt lại như sau: một đứa bé bị ma nhát, liền niệm Phật thật to, nhờ đó mà chẳng bị hại.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là nhờ tâm hằng tỉnh-giác, luôn luôn tưởng-niệm đến lời Phật dạy, nên tránh được tai-hoạ và tội-ác.

 

(2) Ý-nghĩa của sáu bài Kệ từ số 296 đến số 301:

 

Đọc kỹ sáu bài Kệ, ta thấy chúng giống nhau gần hết, chỉ trừ ở mỗi bài, nơi câu chót, có bốn chữ khác nhau:

 

1) Phần giống nhau giữa sáu bài Kệ: Các đệ-tử Phật luôn luôn tỉnh-giác, tâm hằng tưởng-niệm hoặc đến công-đức Phật, Pháp, Tăng, hoặc quán-tưởng sắc-thân bất-tịnh, hoặc vui trong tánh vô-hại-tác, hoặc thoả-thích trong Thiền-định.

 

2) Phần khác nhau về đề-mục tưởng-niệm hay quán-tưởng:

 

a)Bài Kệ số 296 nói về sự Tưởng-niệm công-đức Phật: đó là tưởng-niệm về sự tự-giác, giác-tha và giác-hành viên-mãn của Đức Phật. Nói cách khác, Đức Phật là bực tự mình giác-ngộ lấy, đi dạy kẻ khác giác ngộ theo, và công-cuộc dạy-dỗ kẻ khác của Ngài đã được hoàn-thành tốt-đẹp.

 

b) Bài Kệ số 297 nói về Tưởng-niệm công-đức Chánh-pháp: đó là tưởng-niệm về Giáo-pháp của Đức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta thấy được con đường giác-ngộ và giải-thoát khỏi mọi khổ-đau.

 

c) Bài Kệ số 298 nói về Tưởng-niệm công-đức Tăng-già: đó là dạy ta biết noi theo tấm gương tốt tu-hành của các vị đệ-tử của Đức Phật, lìa bỏ mọi ham muốn ràng-buộc, giữ giới-luật nghiêm-minh.

 

d) Bài Kệ số 299 nói về Quán-tưởng về sắc-thân bất-tịnh: nhờ đó mà lìa bỏ được các thú-vui thể-xác, thấu-hiểu rõ được các lý-lẽ vô-thường, khổ và vô-ngã, để tiến lần đến sự giác-ngộ.

 

e) Bài Kệ số 300 nói về Quán-tưởng về đức vô-hại-tác: nhờ chẳng làm hại ai, biết đem ơn ra báo oán, diệt được sân-hận, rải Tâm Từ-bi rộng đến muôn loài, khiến cho cuộc sống chung trở nên hài-hoà

 

f) Bài Kệ số 301 nói về sự Thoả-thích tu Thiền-định: nhờ đó sớm đắc định-tâm, khiến cho Trí-huệ Bát-nhã được phát-sáng, sớm đến nơi giác-ngộ và giải-thoát.

 

Tóm lại sáu bài Kệ là sáu đề-tài Thiền-quán, dùng để suy-nghĩ sâu-xa khi ngồi Thiền, và để áp-dụng trong đời sống đạo-đức.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Sáu bài Kệ tuy dài, nhưng cũng dễ nhớ; nếu muốn học thuộc lòng, chỉ cần học thuộc bài thứ nhứt; đến các bài kế, nhớ đổi bốn chữ đầu-tiên của câu chót.

 

2.- Học-tập về sáu bài Kệ, chẳng phải cố học sao thuộc nằm lòng, ngâm-nga lên cho thú-vị, mà phải đem các lời Phật dạy ra thi-hành trong đời sống hằng ngày, như:

 

- Tưởng-niệm công-đức Tam-Bảo, Phật, Pháp, Tăng: trong các khoá lễ, miệng đọc Quy-y Phật, thân cúi xuống lạy, thì trong tâm phải nhớ đến các công-đức của Phật; Quy-y Pháp và Tăng cũng vậy;

 

- Khi Quán thân bất-tịnh, nên soát lại ngày hôm nay, có bớt các đòi hỏi về ăn mặc được phần nào chưa, bụng còn muốn các món trang-sức đắt tiền không, soát lại để bỏ bớt từ từ, đó là làm thanh-tịnh cho phần tinh-thần của thân-tâm.

 

- Học đức vô-hại-tác bằng các hành-vi nhỏ-nhặt trước, vứt bỏ mấy chai thuốc giết sâu-bọ ngoài vườn; rồi đến thái-độ hoà nhã, bị đạp chơn nơi đông người, biết vui nhường bước chẳng hề cãi-vã.

 

- Tập thoả-thích tu Thiền-định, bằng cách tự-kiểm lại tâm mình, trước khóa Thiền, bụng có viện cớ nầy, cớ nọ để bỏ qua không, trong khi ngồi, có bực mình khi nghe tiếng động không, sau khi ngồi, lòng mình có thanh-thản nhẹ-nhàng hơn trước khi ngồi thiền không?

The Story of a Wood-Cutter's Son

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (296) to (301) of this book, with reference to the son of a wood-cutter.

Once in Rajagaha, a wood-cutter went into the woods with his son to cut some firewood. On their return home in the evening, they stopped near a cemetery to have their meal. They also took off the yoke from the two oxen to enable them to graze nearby; but the two oxen went away without being noticed by them. As soon as they discovered that the oxen were missing, the wood-cutter went to look for them, leaving his son with the cart of firewood. The father entered the town, looking for his oxen. When he returned to his son it was getting late and the city-gate was closed. Therefore, the young boy had to spend the night alone underneath his cart.

The wood-cutter's son, though young, was always mindful and was in the habit of contemplating the unique qualities of the Buddha. That night two ogres came to frighten him and to harm him. When one of the ogres pulled at the leg of the boy, he cried out, "I pay homage to the Buddha (Namo Buddhassa)". Hearing those words from the boy, the ogres got frightened and also felt that they must look after the boy. So, one of them remained near the boy, guarding him from all danger; the other went to the king's palace and brought the food-tray of King Bimbisara. The two ogres then fed the boy as if he were their own son. At the palace, the ogre left a written message concerning the royal food-tray; and this message was visible only to the king.

In the morning, the king's men discovered that the royal food-tray was missing and they were very upset and very much frightened. The king found the message left by the ogre and directed his men where to look for it. The king's men found the royal food-tray among the firewood in the cart. They also found the boy who was still sleeping underneath the cart. When questioned, the boy answered that his parents came to feed him in the night and that he went to sleep contentedly and without fear after taking his food. The boy knew only that much and nothing more. The king sent for the parents of the boy, and took the boy and his parents to the Buddha. The king, by that time, had heard that the boy was always mindful of the unique qualities of the Buddha and also that he had cried out "Namo Buddhassa", when the ogre pulled at his leg in the night.

The king asked the Buddha, "Is mindfulness of the unique qualities of the Buddha, the only dhamma that gives one protection against evil and danger, or is mindfulness of the unique qualities of the Dhamma equally potent and powerful?" To him the Buddha replied, "O king, my disciple! There are six things, mindfulness of which is a good protection against evil and danger."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 296: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, who by day and by night are always mindful of the qualities of the Buddha.

 

Verse 297: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, who by day and by night are always mindful of the qualities of the Dhamma.

 

Verse 298: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, who by day and by night are always mindful of the qualities of the Samgha.

 

Verse 299: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, who by day and by night are always mindful of the component parts of the body.

 

Verse 300: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, whose mind by day and by night always takes delight in being compassionate (lit., harmless).

 

Verse 301: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, whose mind by day and by night always takes delight in the cultivation (of good-will towards all).


At the end of the discourse the boy and his parents attained Sotapatti Fruition. Later they joined the Order and eventually they became arahats.

Dhammapada Verses 296 to 301
Darusakatikaputta Vatthu

Suppabuddham pabujjhanti
sada gotamasavaka
yesam diva ca ratto ca
niccam buddhagata sati.

Suppabuddham pabujjhanti
sada gotamasavaka
yesam diva ca ratto ca
niccam dhammagata sati.

Suppabuddham pabujjhanti
sada gotamasavaka
yesam diva ca ratto ca
niccam samghagata sati.

Suppabuddham pabujjhanti
sada gotamasavaka
yesam diva ca ratto ca
niccam kayagata sati.

Suppabuddham pabujjhanti
sada gotamasavaka
yesam diva ca ratto ca
ahimsaya rato mano.

Suppabuddham pabujjhanti
sada gotamasavaka
yesam diva ca ratto ca
bhavanaya rato mano.

Verse 296: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, who by day and by night are always mindful of the qualities of the Buddha.

Verse 297: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, who by day and by night are always mindful of the qualities of the Dhamma.

Verse 298: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, who by day and by night are always mindful of the qualities of the Samgha.

Verse 299: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, who by day and by night are always mindful of the component parts of the body.

Verse 300: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, whose mind by day and by night always takes delight in being compassionate (lit., harmless).

Verse 301: Fully alert and ever vigilant are Gotama Buddha's disciples, whose mind by day and by night always takes delight in the cultivation (of good-will towards all).


dhp302_B
Verse-Kệ 302

(219).- Tích chuyện vị tỳ-kheo ở Tỳ-da-ly. - Kệ số 302.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị tỳ-kheo ở Tỳ-da-ly chẳng thấy thoả-thích trong nếp sống xuất-gia.

 

Thuở ấy, vào một đêm rằm, trời trong sáng, dân-chúng trong thành Tỳ-da-ly mở hội hoa-đăng, vui đùa, ca múa thật tưng-bừng rộn-rịp, để mừng trăng-sao. Tại nơi tu-viện, một vị tỳ-kheo đứng dưới gốc cây cổ-thọ, lặng-lẽ nhìn ánh-sáng rực-rỡ nơi kinh-thành, lòng chán-nản, chép miệng than: "Trên cõi đời nầy, chẳng ai có thân-phận buồn-khổ hơn thân-phận tỳ-kheo của ta nữa!" Vào lúc ấy, vị thọ-thần trên cây cổ-thọ nghe thấy, mới hiện lên đứng bên cạnh và nói: "Nầy thầy tỳ-kheo, các kẻ bị đoạ trong địa-ngục rất thèm-khát cuộc sống trên các cõi Trời. Các người lao-động trong thành cũng ước mong được tự-tại trong cảnh rừng vắng-vẻ nơi tu-viện nầy." Nghe nói thế, vị tỳ-kheo liền tỉnh-ngộ, hiểu được lời khuyên kín-đáo và tỏ ra hối-tiếc đã có ý-nghĩ chẳng tốt đối với đời sống xuất-gia.

 

Sáng hôm sau, vị tỳ-kheo ấy đến yết-kiến Đức Phật, trình lại lời nói của vị thọ-thần. Đức Phật dạy thêm: "Nầy tỳ-kheo, cuộc sống của chúng-sanh trong cõi Luân-hồi, đều mang sẵn nỗi-niềm đau-khổ cả."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó vị tỳ-kheo giác-ngộ, nỗ lực tu-tập, chẳng bao lâu chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Rời khỏi nhà, đi tu là khó,

Vui hạnh tỳ-kheo, khó lắm thay!

Chủ gia-đình hằng ngày chịu khổ;

Gần người chẳng hợp, khổ nào tày?

Luân-hồi trôi lặn đắng cay,

Chớ theo khổ, phải dứt ngay Luân-hồi.

(Kệ số 302.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tỳ-da-ly: tên thành nầy, tiếng Pali là Vesàli.

 

- Tịnh-xá Trúc-lâm = tu-viện cất trong vườn Trúc, tiếng Pali là Veluvana, do vua Tần-bà-sa-la dưng-cúng Phật, gần thành Vương-xá.

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà. Trong Phật-học, chữ xuất-gia có nghĩa là rời khỏi nhà, lìa cuộc sống trong gia-đình, đi tu. Đối-nghĩa với xuất-gia là tại-gia, người tu-hành còn sống trong gia-đình.

 

- Hoa-đăng: Hoa = bông-hoa; Đăng = đèn; Hội hoa-đăng là buổi lễ vui treo đèn, kết hoa.

 

- Cổ-thọ: Cổ = xưa; Thọ = cây to lớn; Cổ-thọ là cây lâu năm, to lớn

 

-Thân-phận: cảnh-ngộ; vận-mạng, hoàn-cảnh đời sống của mình.

 

- Thọ-thần: Thọ = cây cổ-thọ; Thần = thần-linh. Thọ-thần là một vị thần-linh, thuộc hạng A-tu-la, sống trên cây cối.

 

- Tự-tại = tự-do, chẳng bị ràng-buộc.

 

- Tỉnh-ngộ: Tỉnh = hết mê, thức-tỉnh; Ngộ = hiểu; Tỉnh-ngộ là biết rõ trước mình đã lầm, nay theo điều đúng.

 

- Luân-hồi: Luân = bánh xe; Hồi = trở lại. Phật-học tin rằng, chúng-sanh sau cuộc sống nầy sẽ sanh trở lại, vào một cuộc sống mới, để phải chết đi rồi tái-sanh mãi, như bánh xe cứ quay tròn. Tiếng Pali là Samsàra.

 

- Giác-ngộ: Giác = biết rõ; Ngộ = hiểu thấu. Người giác-ngộ là người đã hiểu rõ Chơn-lý, biết đúng lẽ sống chết của chúng-sanh. Đức Phật là bực đại-giác.

 

- Quả-vị: kết-quả của việc tu-hành đã thành-công. Có bốn quả-vị trong hàng Thanh-văn là các đệ-tử sống gần bên Phật, nghe kinh mà tu-tập (Thanh = tiếng nói; Văn = nghe; tiếng Pali là Sàvaka); đó là (1) Tu-đà-huờn (Sotàpatti) hay Nhập-lưu, hay Thất-Lai, còn bảy lần tái-sanh; (2) Tư-đà-hàm (Sakadàgamì) hay Nhứt-Lai, còn một lần tái-sanh; (3) A-na-hàm (Anàgami) hay Bất-Lai, chẳng sanh lại cõi người; (4) A-la-hán (Arahant), chứng được vô-sanh, hết phải tái-sanh.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt trong hàng Thanh-văn. Bực A-la-hán đã diệt xong các phiền-não, lià bỏ mọi ham-muốn, chẳng phải tái-sanh nữa (gọi là chứng vô-sanh), sống an-vui, tự-tại trong cảnh Hữu-dư Niết-bàn, đến khi tịch-diệt ( = chết), thì vào Vô-dư Niết-bàn.

 

- Hạnh Tỳ-kheo: Hạnh = hạnh-kiểm, đức-hạnh; Tỳ-kheo phiên-âm tiếng Pali là Bhikkhu, hay Bí-sô hoặc Tỳ-khưu, còn dịch là Khất-sĩ, tức là tu-sĩ Phật-giáo phải đi xin ăn, tuân theo 250 điều giới-luật, sống xa gia-đình thế-tục. Phái nữ là tỳ-kheo-ni (Bhikkhuni) thọ 348 giới-luật.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một vị tỳ-kheo đứng nơi tu-viện vắng-vẻ, hướng nhìn về cảnh vui nhộn của hội hoa-đăng trong thành Tỳ-da-ly, cảm thấy buồn-tẻ, mới than-thở về thân-phận tỳ-kheo của mình. Một vị thọ-thần nghe thấy hiện lên bảo cho biết, ở dưới địa-ngục có kẻ còn đang đau-khổ, ở trong thành còn có người lao-động thiếu tự-do. Vị tỳ-kheo sực-tỉnh, hối-tiếc đã nghĩ chẳng tốt về nếp sống xuất-gia. Hôm sau, vị ấy được Đức Phật dạy thêm, chúng-sanh phải chịu khổ đau nhiều trong ba đường dữ, vậy nên phải cố-gắng tu-tập để ra khỏi cảnh tái-sanh của vòng Luân-hồi lẩn-quẩn.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: xuất-gia đi tu được là đang có phước lớn, vì đã chọn đúng con đường giải-thoát dứt khoát mọi khổ-đau.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 302:

 

Bài Kệ chẳng có chữ chi khó hiểu cả, nhưng ý-nghĩa rất thâm-sâu, xin phân-tách từng câu:

 

1) Rời khỏi nhà, đi tu là khó: Tại sao khó? Vì trong lòng còn bận-bịu, quyến-luyến đời sống ở nhà. "Rời khỏi nhà" nghĩa sâu ở đây là lìa bỏ "nhà phiền-não", tức là thân-tâm còn đeo nặng tham, sân, si.

 

2) Vui hạnh tỳ-kheo, khó lắm thay: Tại sao khó? Vì phải tuân giới-luật đã nhiều, lại nghiêm-khắc; nhưng tự khép mình trong kỷ-luật, đó lại chính là đang tự giải-thoát mình ra khỏi phiền-não và tội-ác, nên đấy mới là niềm vui của hạnh tỳ-kheo mà ít người biết đến.

 

3) Chủ gia-đình hằng ngày chịu khổ: Tại sao khổ? Vì phải vật lộn với đời để mưu-sanh, tranh sống cho mình và cho gia-đình mình.

 

4) Gần người chẳng hợp, khổ nào tày: Tại sao gần người chẳng hợp lại chẳng khổ nào bằng? Vì trái ý nhau, chống-đối nhau luôn, sanh ra khó chịu, khổ-sở. Nhưng câu nầy còn nhắc đến bảy nỗi khổ khác nữa: sanh, già, bịnh, chết, thương mà xa nhau, cầu mà chẳng được, thân-tâm chẳng thăng-bằng.

 

5. Luân-hồi trôi lặn đắng cay: Tại sao đắng cay? Vì sẽ phải đoạ vào các đường dữ: điạ-ngục, quỉ đói và thú-vật.

 

6) Chớ theo khổ, phải dứt ngay Luân-hồi: Dứt bằng cách nào? Chỉ có cách duy-nhứt là tu-hành theo Chánh-pháp, và con đường nhanh và chắc nhứt là "vui theo hạnh tỳ-kheo" đó.

The Story of the Bhikkhu from the Country of the Vajjis

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (302) of this book, with reference to a bhikkhu from Vesali, a city in the country of the Vajjis.

On the night of the full moon day of Kattika, the people of Vesali celebrated the festival of the constellations (Nakkhatta) on a grand scale. The whole city was lit up, and there was much merry-making with singing, dancing, etc. As he looked towards the city, standing alone in the monastery, the bhikkhu felt lonely and dissatisfied with his lot. Softly, he murmured to himself, "There can be no one whose lot is worse than mine". At that instant, the spirit guarding the woods appeared to him, and said, "those beings in niraya envy the lot of the beings in the deva world; so also, people envy the lot of those who live alone in the woods." Hearing those words, the bhikkhu realized the truth of those words and he regretted that he had thought so little of the lot of a bhikkhu.

Early in the morning the next day, the bhikkhu went to the Buddha and reported the matter to him. In reply, the Buddha told him about the hardships in the life of all beings.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 302: It is hard to become a bhikkhu; it is hard to be happy in the practice of a bhikkhu. The hard life of a householder is painful; to live with those of a different temperament is painful. A traveller in samsara is continually subject to dukkha; therefore, do not be a traveller in samsara; do not be the one to be subject to dukkha again and again.


At the end of the discourse the bhikkhu attained arahatship.

Dhammapada Verse 302
Vajjiputtakabhikkhu Vatthu

Duppabbajjam durabhiramam
duravasa ghara dukha
dukkho' samanasamvaso
dukkhanupatitaddhagu
tasma na caddhagu siya
na ca dukkhanupatito siya.

Verse 302: It is hard to become a bhikkhu; it is hard to be happy in the practice of a bhikkhu. The hard life of a householder is painful; to live with those of a different temperament is painful. A traveller in samsara is continually subject to dukkha; therefore, do not be a traveller in samsara; do not be the one to be subject to dukkha again and again.




dhp303_B
Verse-Kệ 303

(220).- Tích chuyện về vị gia-chủ Chi-ta. - Kệ số 303.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị gia-chủ tên là Chi-ta.

 

Thuở ấy ở thành Mã-chi-kha, có một người gia-chủ tên Chi-ta, rất giàu-có, được nghe Tôn-giả Xá-lợi-phất giảng pháp, nên chứng được đạo-quả A-na-hàm. Chi-ta dùng năm trăm xe bò chở đầy thực-phẩm và lễ vật, cùng với cả ngàn bạn đạo, lên đường đến chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, để đảnh-lễ Đức Phật. Sau hơn một tháng, cả đoàn đến nơi. Trong khi Chi-ta và các bạn đạo đang yết-kiến Đức Phật thì trên không-trung chư Thiên rải hoa trời xuống như mưa. Chi-ta và cả ngàn bạn đạo lưu lại chùa Kỳ-viên trọn tháng, hằng ngày dâng cúng thực-phẩm lên Đức Phật và chư Tăng và nghe giảng Chánh-pháp.

 

Đến gần ngày từ-giả, Chi-ta đem tất cả những bảo-vật còn lại trong các xe, chất hết vào kho chùa; nhưng lạ thay, đến lúc quay về, các xe bò đều đầy vật quí như cũ. Tôn-giả A-nan biết chư Thiên đã ban-cấp cho Chi-ta, mới vào trình Đức Phật: "Bạch Thế-tôn, vì Chi-ta đã dưng-cúng lên Đức Phật và chúng tăng nên được chư Thiên hiến- tặng lại các quí-vật; chẳng biết khi Chi-ta đi bố-thí ở những nơi khác, có được khen-ngợi và ban-tặng của-cải như thế không?" Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, một người tin-tưởng vào Phật-pháp như Chi-ta, đức-hạnh đầy-đủ, rộng lòng bố-thí như thế, đi đâu lại chẳng được cung-kính và dâng-hiến của cải."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Niềm tin đủ, vẹn-toàn giới-hạnh,

Danh-tiếng cao, tài-sản dồi-dào,

Dù cho đi đến nơi nào,

Vị nầy cũng được kính chào, tôn-vinh.

(Kệ số 303.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Chi-ta: tên người chủ gia-đình nầy, tiếng Pali là Citta ( = tâm.)

 

- Mã-chi-kha: tên thành-phố nầy, tiếng Pali là Macchikàsanda.

 

- Tôn-giả Xá-lợi-phất: Tôn-giả = người đáng tôn-trọng; Xá-lợi-phất = tên tiếng Pali Sariputta, vị đại-đệ-tử của Phật Thích-ca, được nổi tiếng là thông-minh bực nhứt.

 

- Đạo-quả A-na-hàm: Đạo = đường-lối, cách thức tu-hành, tiếng Pali là Magga; Quả = kết-quả tu-hành thành-công, tiếng Pali là Phala; A-na-hàm tiếng Pali là Anàgàmi, là quả-vị thứ ba, dịch là Bất-Lai, chẳng trở lại cõi người nữa, sanh lên Trời, tu tiếp sẽ chứng A-la-hán.

 

- Đảnh-lễ = cúi đầu lạy để làm lễ ra mắt bực trưởng-thượng.

 

- Chư Thiên = các vị Trời.

 

- Chánh-Pháp: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Pháp = phép tu. Chánh-pháp là lời Phật dạy cách tu-hành để giác-ngộ và giải-thoát.

 

- Bảo-vật: Bảo = quí-báu. Các bảo-vật như là vàng bạc, ngọc-ngà.

 

- Thế-tôn: Thế = thế-gian; Tôn = tôn-kính; Thế-tôn là bực được cả thế-gian tôn-kính. Các đệ-tử thưa với Phật bằng Thế-tôn; Phật tự xưng là Như-lai.

 

- Bố-thí: Bố = rộng khắp; Thí = tặng,. Bố-thí là hiến-tặng tiền-của, phẩm-vật, hoặc công-sức, hay lời khuyên, an-ủi, cho người cần đến.

 

- Tôn-vinh = kính trọng và khen ngợi với mọi người.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc một gia-chủ giàu-có tên là Chi-ta, cùng với đông-đảo các bạn-đạo, đi cả tháng, chở thực-phẩm và bảo-vật đến cúng-dường Đức Phật và chư Tăng ở chùa Kỳ-viên. Khi họ đảnh-lễ Đức Phật, chư Thiên trên Trời rải hoa xuống khen ngợi. Họ ở lại trọn tháng để cúng-dường thực-phẩm và nghe Phật giảng Chánh-pháp. Trước khi ra về, Chi-ta đem tặng hết các quí-vật trong xe, cất vào kho trong chùa; nhưng chư Thiên đã khiến cho các xe đầy trân-bảo như cũ.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là công-đức bố-thí chẳng hề mất, người bố-thí được mọi người kính-trọng và giúp-đỡ của-cải thêm để bố-thí.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 303:

 

Bài Kệ kể ra bốn điều-kiện để được mọi người kính-trọng: (1) đầy đủ niềm tin vào Phật-pháp, (2) giữ vẹn giới-luật, (3) có tiếng tốt, (4) của-cải nhiều, sẵn lòng bố-thí.

The Story of Citta, the Householder

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (303) of this book, with reference to Citta, a householder of Macchikasanda town.

Citta, after hearing the Dhamma expounded by the Venerable Sariputta, attained Anagami Magga and Phala. One day, Citta loaded five hundred carts with food and other offerings for the Buddha and his disciples, and left for Savatthi, accompanied by three thousand followers. They travelled at the rate of one yojana a day and reached Savatthi at the end of a month. Then Citta went ahead with five hundred of his companions to the Jetavana monastery. While he was paying obeisance to the Buddha, masses of flowers dropped miraculously from above like showers of rain. Citta stayed at the monastery for one whole month, offering alms-food to the Buddha and the bhikkhus and also feeding his own party of three thousand. All this time, the devas were replenishing his stock of food and other offerings.

On the eve of his return journey, Citta put all the things he had brought with him in the rooms of the monastery as offerings to the Buddha. The devas then filled up the empty carts with various items of priceless things. The Venerable Ananda, seeing how Citta's riches were being replenished, asked the Buddha, "Venerable Sir! is it only when Citta approached you that he is blessed with all these riches? Is he similarly blessed when he goes somewhere else?" To him the Buddha replied,"Ananda, this disciple is fully endowed with faith and generosity; he is also virtuous and his reputation spreads far and wide. Such a one is sure to be revered and showered with riches wherever he goes."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 303: He who is full of faith and virtue, who also possesses fame and fortune, is held in reverence wherever he goes.

Dhammapada Verse 303
Cittagahapati Vatthu

Saddho silena sampanno
yaso bhogasamappito
yam yam padesam bhajati
tattha tattheva pujito.

Verse 303: He who is full of faith and virtue, who also possesses fame and fortune, is held in reverence wherever he goes.


dhp304_B
Verse-Kệ 304

(221).- Tích chuyện cô Chu-la-sử. - Kệ số 304.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến cô Chu-la-sử, con gái của đại-cư-sĩ Cấp-cô-độc.

 

Ông Cấp-cô-độc vốn là một Phật-tử rất thuần-thành, mua khu vườn của Thái-tử Kỳ-đà để xây cất chùa Kỳ-viên dưng cúng Đức Phật và Tăng-đoàn. Thuở nhỏ, ông cùng học một trường với ông Úc-gia, một người theo phái ngoại-đạo. Hai người thân nhau, nên ông Cấp-cô-độc gả con gái là Chu-la-sử cho con trai ông Úc, ở xa cách đó hơn một trăm hai mươi do-tuần. Từ khi về làm dâu nhà ông Úc, cô Chu thường khen ngợi công-đức của Đức Phật. Bà mẹ chồng mong-mỏi có dịp được yết-kiến Đức Phật.

 

Một hôm, bà mẹ chồng bảo con dâu, bà muốn cung-thỉnh Đức Phật và chư Tăng về nhà để cúng-dường. Cô Chu rất mừng, đem hương-hoa lên trên từng gác thượng, hướng về chùa Kỳ-viên, cầu nguyện rằng: "Bạch Thế-tôn, con là Chu-la-sử thành-tâm phụng-thỉnh Thế-tôn và chư Tăng ngày mai đến nhà con, để mẹ con kính dâng lễ-vật cúng-dường trai-tăng." Nguyện xong, cô Chu tung các cành hoa lên không-trung, lạ thay, hoa bay theo gió thổi đến chùa Kỳ-viên, kết thành tràng, lơ-lửng giữa chánh-điện, nơi Đức Phật đang thuyết-pháp. Sau thời pháp, cư-sĩ Cấp-cô-độc đứng lên thỉnh Phật ngày mai đến thọ-thực tại nhà mình. Đức Phật từ-chối, bảo rằng Ngài vừa nhận lời đến thọ-trai ở nhà cô Chu-la-sử. Ông Cấp-cô-độc rất ngạc-nhiên, bạch với Đức Phật: "Bạch Thế-tôn, nhà của Chu ở cách thành Xá-vệ nầy hơn trăm do-tuần." Nhưng Đức Phật bảo: "Nầy thiện-nam-tử, đúng vậy, nhưng một việc thiện dầu cách xa hàng trăm do-tuần, cũng vẫn sáng rõ lồ-lộ." Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người lành dầu ở thật xa,

Sáng lồ-lộ giống như toà Tuyết-sơn.

Chẳng ai nhìn kẻ ác, gần hơn,

Như mũi tên bay trong đêm tối.

(Kệ số 304.)

 

Sáng hôm sau, Đức Phật cùng chư Tăng ngồi trên nhiều chiếc thiên-xa, trang hoàng rực-rỡ, giữa tiếng nhạc trời, bay đi trong giây phút đã đến nhà ông Úc-gia. Toàn thể gia-đình ra nghinh-tiếp, ông Úc rất đổi tán-thán vẻ trang-nghiêm của Tăng-đoàn, nên thành-tâm dưng-cúng lễ-vật lên Đức Phật. Sau đó, cả nhà được ngồi nghe Đức Phật giảng Chánh-pháp. Đức Phật lưu lại đây trong bảy ngày dạy đạo, khiến cho cả nhà ông Úc đều quy-y Tam-Bảo.

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Chu-la-sử: tên người con gái của ông Cấp-cô-độc, tiếng Pali là Cùlasubhaddà.

 

- Cấp-cô-độc: danh-hiệu người đời tặng ông Anàthapindika, vì ông xuất nhiều tiền-bạc ra bố-thí, cứu-giúp người đơn-côi, nghèo-khổ

 

- Úc-gia: tên người ngoại-đạo nầy, tiếng Pali là Ugga.

 

- Do-tuần: đơn-vị đo chiếu dài đường-xá ở Ấn-độ xưa, vào khoảng hơn một cây-số. Tiếng Pali là yojana.

 

- Ngoại-đạo: Ngoại = ngoài. Ngoại-đạo là các môn-phái tu-hành chẳng theo đạo Phật. Vào thời Đức Phật, ở Ấn có sáu phái ngoại-đạo.

 

- Từng gác thượng = sân thượng, từng cao nhứt trong nhà.

 

- Phụng-thỉnh: thành-tâm kính mời.

 

- Trai-tăng: Trai = bữa ăn chay; Tăng = tu-sĩ Phật-giáo. Trai-tăng là dâng cúng thực-phẩm lên các tu-sĩ Phật-giáo.

 

- Tràng = các bông-hoa được xâu lại thành vòng hoa lớn.

 

- Chánh-điện: căn phòng lớn thờ Phật tại chùa.

 

- Cư-sĩ: Cư = ở, ở nhà; Sĩ = người. Cư-sĩ là người tu tại-gia theo đạo Phật, có đạo-đức cao và danh-tiếng lớn.

 

- Thọ-thực, Thọ-trai: ăn cơm chay.

 

- Thiện-nam-tử: Thiện = lành; Nam = đàn-ông; Tử = con trai. Thiện-nam-tử là người đàn-ông có lòng làm lành. Phái nữ gọi thiện-nữ-nhơn.

 

- Tuyết-sơn: dãy núi Hi-mã-lạp-sơn, Himalaya, cao nhứt thế-giới.

 

- Thiên-xa = chiếc xe trên trời. (Thiên = trời; Xa = xe.)

 

- Tán-thán: khen-ngợi.

 

- Tam-Bảo: Tam = ba; Bảo = quí-báu. Tam-Bảo là ba ngôi quí-báu: Phật, Pháp và Tăng ( = Đức Phật, Giáo-pháp và các đệ-tử của Phật.)

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc cô Chu-la-sử đem hương-hoa lên sân thượng, hướng về chùa Kỳ-viên cầu-nguyện, cung thỉnh Đức Phật đến nhà để cúng-dường trai-tăng. Truyện kể hai việc nhiệm-mầu: thứ nhứt là lời cầu-nguyện của cô Chu cảm-ứng đến Đức Phật ở xa, cách đó hơn trăm dặm; thứ hai là hôm sau, Đức Phật cùng chúng Tăng ngồi trên thiên-xa bay từ chùa Kỳ-viên đến nhà cô Chu. Hai việc lạ thường nầy có thể gây thắc-mắc, khiến nhiều người chẳng tin. Nhưng sự cầu-nguyện được cảm-ứng chính do tâm thành-khẩn của người cầu đã phát ra những luồng sóng tư-tưởng chuyển-động đến tâm thanh-tịnh của Đức Phật. Và sự di-chuyển trên không-trung là do sức thần-thông của Đức Phật. Ngày nay, hai việc đó dễ-dàng xảy ra nhờ ở vô-tuyến-điện truyền-tin và phi-cơ hàng-không, cũng chẳng có chi là mê-tín.

 

Tuy nhiên ý-nghĩa của Tích chuyện chẳng phải ở hai việc nhiệm-mầu đó, mà chính là lời đáp của Đức Phật với ông Cấp-cô-độc: "Việc thiện dầu ở xa cũng vẫn sáng rõ lồ-lộ."Tại sao? Vì việc lành cũng như hương bay theo chiều gió, toả rộng khắp nơi, mọi người đều nhìn thấy; đấy là lời khuyên ta nên theo con đường lành.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 304:

 

Khác với Tích chuyện, bài Kệ chẳng chứa một sự nhiệm-mầu nào cả, mà lại nói lên một sự-thật mọi người đều biết: người lành dầu ở thật xa cũng vẫn sáng rõ được mọi người đều trông vào; còn kẻ dữ dầu có ở gần đi nữa, ai cũng lánh xa như tránh mũi tên độc.

 

HỌC TẬP:

 

1) Có mấy thái-độ cầu-nguyện sai-lầm cần nên tránh:

 

- đem hương-hoa, lễ-vật vào chùa, cầu cho con thi đậu, mình được buôn may bán đắt, đó chẳng khác gì đi lo-lót đấng thiêng-liêng.

 

- trong lời khấn, thường hứa sẽ ăn chay mấy tháng, hoặc phóng-sanh chim, cá, để tạ ơn, đó nào khác gì trả tiền công cho sự linh-ứng.

 

2) Cầu-nguyện đứng-đắn là tâm thành-khẩn hướng về người thân, rải lòng Từ đến người ấy, có nhiệt-thành mới có hiệu-quả: kẻ đang cầu thì an-tâm; thân-nhơn hưởng điển lành do tâm từ mang đến.

The Story of Culasubhadda

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (304) of this book, with reference to Culasubhadda the daughter of Anathapindika.

Anathapindika and Ugga, the rich man from Ugga, studied under the same teacher when they were both young. Ugga had a son while Anathapindika had a daughter. When their children came of age, Ugga asked for the consent of Anathapindika to the marriage of their two children. So the marriage took place, and Culasubhaddi, the daughter of Anathapindika, had to stay in the house of her parents-in-law. Ugga and his family were followers of non-Buddhist ascetics. Sometimes, they would invite those non-Buddhist ascetics to their house. On such occasions, her parents-in-law would ask Culasubhadda to pay respect to those naked ascetics, but she always refused to comply. Instead, she told her mother-in-law about the Buddha and his unique qualities.

The mother-in-law of Culasubhadda was very anxious to see the Buddha when she was told about him by her daughter-in-law. She even agreed to let Culasubhaddha invite the Buddha for alms-food to their house. So, Culasubhadda prepared food and collected other offerings for the Buddha and his disciples. She then went up to the upper part of the house and looking towards the Jetavana monastery, she made offerings of flowers and incense and contemplate the unique qualities and virtues of the Buddha. She then spoke out her wish, "Venerable Sir! May it please you to come with your disciples, to our house tomorrow. I, your devoted lay-disciple, most respectfully invite you. May this invitation of mine be made known to you by this symbol and gesture." Then she took eight fistfuls of jasmin and threw them up into the sky. The flowers floated through the air all the way to the Jetavana monastery and lay hanging from the ceiling of the congregation hall where the Buddha was expounding the Dhamma.

At the end of the discourse, Anathapindika, the father of Culasubhadda, approached the Buddha to invite him to have alms-food in his house the following day. But the Buddha replied that he had already accepted Culasubhadda's invitation for the next day.

Anathapindika was puzzled at the reply of the Buddha and said,"But, Venerable Sir! Culasubhadda does not live here in Savatthi; she lives in Ugga at a distance of one hundred and twenty yojanas from here." To him the Buddha said, "True, householder, but the good are clearly visible as if they are in one's very presence even though they may be living at a distance".

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 304: Like the Himalayas, the good are visible even from afar; like arrows shot in the night, the wicked are not seen even though they may be near.


The next day, the Buddha came to the house of Ugga, the father-in-law of Culasubhadda. The Buddha was accompanied by five hundred bhikkhus on this trip; they all came through the air in decorated floats created by the order of Sakka, king of the devas. Seeing the Buddha in his splendour and glory, the parents-in-law of Culasubhadda were very much impressed and they paid homage to the Buddha. Then, for the next seven days, Ugga, and his family gave alms-food and made other offerings to the Buddha and his disciples.

Dhammapada Verse 304
Culasubhadda Vatthu

Dure santo pakasenti
himavantova pabbato
asantettha na dissanti
rattim khitta yatha sara.

Verse 304: Like the Himalayas, the good are visible even from afar; like arrows shot in the night, the wicked are not seen even though they may be near.


dhp305_B
Verse-Kệ 305

(222).- Tích chuyện Trưởng-lão độc-cư Y-kha. - Kệ số 305.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Tỳ-kheo thường sống một mình là Trưởng-lão Y-kha.

 

Trưởng-lão Y-kha rất ít khi gia-nhập vào các nhóm tỳ-kheo thảo-luận hay trò chuyện. Trưởng-lão thường im-lặng, đứng riêng một mình nơi vắng-vẻ. Trưởng-lão sống một mình, đi một mình, đứng một mình, mà ngồi, nằm cũng một mình. Nhiều vị tỳ-kheo khác chẳng thích thái-độ độc-cư đó, cho rằng Trưởng-lão chẳng có tinh-thần hoà-hợp, mới đến trình với Đức Phật. Đức Phật chẳng những chẳng hề quở-trách Trưởng-lão Y-kha, trái lại Ngài còn khen thái-độ sống một mình đó và bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, biết sống một mình mà không buồn chán như tỳ-kheo Y-kha là điều đáng nên bắt chước!"

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Ngồi một mình, nằm cũng một mình,

Đi một mình, lòng không buồn chán.

Tự mình điều-phục chính mình,

Sống vui thoải-mái cảnh rừng xanh.

(Kệ số 305.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Trưởng-lão: Trưởng = lớn; Lão = già. Chữ Trưởng-lão dành cho vị tu-hành đã lâu năm, chứng-đắc quả-vị. Tiếng Pali là Thera.

 

- Độc-cư: Độc = cô-độc, riêng một mình; Cư = ở. Độc-cư là lối sống riêng một mình nơi vắng-vẻ.

 

- Y-kha: đây là danh-hiệu mà các vị tỳ-kheo khác đặt cho Trưởng-lão độc-cư; tiếng Pali là Ekavìhàri (Eka = một; vihàri = đang cư-trú.)

 

- Hoà-hợp = có tinh-thần hoà-hợp thì thường tham-gia vào đời sống chung, sanh-hoạt chung, chẳng có sự tranh-cãi.

 

- Điều-phục = sửa đổi lại cho đúng, giữ đúng trong vòng kỷ-luật. Tự điều-phục là tự mình kềm chế lấy mình trong kỷ-luật tu-hành.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, thuật lại việc một vị Trưởng-lão sống độc-cư ngay trong chùa, giữa những bạn đồng-tu. Trưởng-lão đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm cũng một mình, tâm luôn tỉnh-giác, lòng chẳng buồn chán. Các vị tỳ-kheo khác hiểu lầm cho đó là thái-độ thiếu hoà-hợp trong Tăng-đoàn, nhưng Đức Phật lại khen lối vui sống trong cảnh độc-cư đó và khuyên các tỳ-kheo nên bắt chước.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là nhờ biết luôn luôn quay vào bên trong, lòng hằng tỉnh-giác, người tu-hành theo dõi mọi biến-chuyển của tâm, khiến các vọng-tưởng thưa dần, sớm chứng được định-tâm.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 305:

 

Bài Kệ cũng rất giản-dị nhưng ý-nghĩa lại rất thâm-trầm, xin phân-tách từng câu:

 

1) Ngồi một mình, nằm cũng một mình: thông thường, ngồi một mình hay nhớ chuyện cũ, tưởng việc sắp đến; nằm một mình thì thả hồn mơ-mộng; đó chưa hẳn là đang sống một mình, còn đang "làm bạn" với các ý-nghĩ vẩn-vơ đó. Người biết sống một mình, khi ngồi, khi nằm, tâm giữ chánh-niệm, theo dõi nhịp thở ra vào đều-đặn, cùng với sức sống bên trong nhập lại "làm một", đấy mới thật-sự là đang sống một mình.

 

2) Đi một mình, lòng không buồn chán: thông thường khi đi một mình, hay trông cho mau đến, dọc đường bị cảnh-vật bên ngoài lôi-cuốn, đó chưa hẳn là đi một mình, vì còn có nơi sắp đến, có cảnh-vật dọc đường, đi theo làm bạn đồng-hành. Chỉ khi bước chơn lên, đặt chơn xuống, tâm biết rõ mình đang đi, bao giờ đến, cảnh gì vui, chẳng màng đến, chỉ nương theo nhịp thở ra vào của chính mình mà di-chuyển, mới sớm đắc được định-tâm trong việc thiền-hành.

 

3) Tự mình điều-phục chính mình: tâm theo dõi mỗi cử-động trên thân, mỗi biến chuyển trong tâm, đó là tự-điều-phục, làm sao vọng-tưởng có dịp khởi lên được để đánh mất định-tâm.

 

4) Sống vui thoải-mái cảnh rừng xanh: tâm an-định trong cảnh sống một mình, đó là niềm vui nhẹ-nhàng, thoải-mái, kéo dài mãi, bất cứ ở nơi đâu, thì "cảnh rừng xanh, cảnh-giới Niết-bàn" chắc cũng chẳng hơn nhiều cảnh độc-cư thật-sự đó bao nhiêu đâu.

The Story of the Thera Who Stayed Alone

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (305) of this book, with reference to a bhikkhu who stayed by himself. Because he usually stayed alone, he was known as Thera Ekavihari.

Thera Ekavihari did not mix much with other bhikkhus, but usually stayed by himself. All alone, he would sleep or lie down, or stand, or walk. Other bhikkhus thought ill of Ekavihari and told the Buddha about him. But the Buddha did not blame him; instead he said, "Yes, indeed, my son has done well; for, a bhikkhu should stay in solitude and seclusion".

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 305: He who sits alone, lies down alone, walks alone, in diligent practice, and alone tames himself should find delight in living in the forest.

Dhammapada Verse 305
Ekaviharitthera Vatthu

Ekasanam ekaseyyam
eko caramatandito
eko damayamattanam
vanante ramito siya.

Verse 305: He who sits alone, lies down alone, walks1 alone, in diligent practice, and alone tames himself should find delight in living in the forest.


1. All these postures are connected with the cultivation of Insight Development. (The Commentary)


End of Chapter Twenty-One: Miscellaneous

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Năm 20199:43 SA(Xem: 25)
Tiền kiếp – có hay không? Miêu tả 2500 trường hợp trẻ em thuộc dữ liệu của trường Đại học Virginia (Hoa Kỳ) được các nhà nghiên cứu tìm hiểu cẩn thận kể từ khi bác sĩ Ian Stevenson nghiên cứu trường hợp đầu tiên cách đây 40 năm. Những đứa trẻ này thường bắt đầu kể về kiếp trước ở độ tuổi hai hoặc ba và có thể nói về gia đình lúc trước
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 80)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 94)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩ và tìm hiểu xem có tiền kiếp và luân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 81)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 183)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 141)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 187)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 320)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 503)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 431)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 497)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 737)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 1151)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 1689)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 964)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 649)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 757)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 798)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1718)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 1056)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 830)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1771)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2625)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
18 Tháng Tư 201910:00 SA(Xem: 2203)
Thiền không phải là nỗ lực tìm cầu để đạt được cái chưa có mà là buông hết mọi nỗ lực tìm cầu thì liền thấy ra ngay đó đã có tất cả. Nhiều người nỗ lực tu luyện để thấy ra thực tánh pháp (hay kiến tánh) trong trạng thái thiền định xuất thần,
18 Tháng Tư 20199:00 SA(Xem: 1732)
Có một điều là, xưa nay Phật giáo Việt Nam đã thống nhất, nhưng là thống nhất trên ý chí, trên hiến chương, trên hình thức tổ chức chi chi đó thôi, chứ có một điều chưa bao giờ thống nhất được: ấy là tư tưởng Phật học. Mỗi tông phái thường có một số kinh điển làm tư tưởng nồng cốt cho tông phái mình, từ đó làm kim chỉ nam cho sinh hoạt, tu hành, xiển dương phát triển v.v...
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1522)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 584)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 841)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1067)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4243)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 574)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 568)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,