Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 22, Phẩm Địa-ngục - The Dhammapada, Chapter 22, Hell

20 Tháng Mười Hai 20186:35 SA(Xem: 88)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 22, Phẩm Địa-ngục - The Dhammapada, Chapter 22, Hell

Chapter22-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 22, Phẩm Địa-ngục
The Dhammapada, Chapter 22, Nirayavagga: Hell

(Kệ 306-319 - Verses 306-319)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp306_B
Verse-Kệ 306

(223).- Tích chuyện bà Sơn-đà-ly. - Kệ số 306.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bà Sơn-đà-ly, người ngoại-đạo, muốn làm giảm thanh-danh của Đức Phật.

 

Thuở ấy, các nhóm ngoại-đạo nhận thấy các tín-đồ của họ lần lần ngả theo Phật-giáo, số phẩm-vật lợi-dưỡng của họ bị giảm bớt, nên mới tìm cách phá-hoại thanh-danh của Phật. Họ bàn mưu tính kế với một thiếu-phụ trẻ đẹp tên Sơn-đà-ly, để vu tội dâm cho Đức Phật.

 

Mỗi buổi chiều trời chạng-vạng, bà Sơn ăn mặc diêm-dúa, đi về hướng chùa Kỳ-viên, gặp ai hỏi thì đáp, vào chùa ngủ chung với Phật ở hương-phòng. Gần đến cổng, bà ta lại rẽ sang khu-vực nhóm ngoại-đạo. Đến sáng sớm ra về, dọc đường khoe với kẻ khác, đêm qua bà ở trong hương-phòng. Cứ như thế, được ba hôm, nhóm ngoại-đạo mướn bọn côn-đồ say rượu rình giết chết bà Sơn, đem thây chôn dưới đống rác phía sau chùa. Chúng sai người đến tố-cáo nơi đền Vua rằng, các tỳ-kheo đã giết bà Sơn-đà-ly để che-dấu tội dâm của Đức Phật.

 

Chưa kịp điều-tra sự thật cho rõ-ràng, các quan đã cho phép bọn ngoại-đạo đi khắp đường phố trong thành, rêu-rao tội các tỳ-kheo đã giết người dấu xác để che đậy sự dâm-loạn của tu-sĩ Cồ-đàm. Thấy dân-chúng xôn-xao, nhà Vua ra lịnh truy-tầm hung-thủ, bắt được bọn côn-đồ say rượu, họ thú-nhận đã lấy tiền của nhóm ngoại-đạo mà thi-hành tội-ác. Nhà vua liền bắt các kẻ chủ-mưu dẫn đi khắp thành, hô to lên: "Chính chúng tôi mới là kẻ giết người để vu-oan tội dâm cho tu-sĩ Cồ-đàm." Thanh-danh của Đức Phật chẳng hề bị thương-tổn.

 

Nơi chùa Kỳ-viên, khi nghe các tỳ-kheo tường trình lại biến-cố vừa qua, Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người nói dối phải sa địa-ngục,

Kẻ làm ác, chối: "chẳng có làm",

Cả hai bị địa-ngục giam,

Ác-nghiệp đã làm, đồng khổ kiếp sau.

(Kệ số 306.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sơn-đà-ly: tên người đàn-bà nầy, tiếng Pali là Sundarì.

 

- Lợi-dưỡng: Lợi = có ích-lợi; Dưỡng: nuôi-dưỡng. Lợi-dưỡng là các phẩm-vật, tiện-nghi cung-cấp cho người tu-hành để nuôi thân.

 

- Vu tội = đặt điều nói xấu khiến cho người khác mắc tội oan.

 

- Chạng-vạng: trời sắp tối.

 

- Hương-phòng: căn phòng có hương thơm dành cho Đức Phật, tiếng Pali là Gandhakutì.

 

- Cồ-đàm: họ của Đức Phật Thích-ca, tiếng Pali là Gotama.

 

- Truy-tầm hung-thủ = lùng kiếm kẻ đã gây tội-ác (giết người).

 

- Thanh-danh: danh-tiếng tốt; danh-dự.

 

- Điạ-ngục: Điạ = đất; Ngục = nhà giam tù. Theo giáo-lý nhà Phật, kẻ làm tội-ác nặng, khi chết đi, phải chịu hình-phạt nơi cõi u-tối, gọi là Điạ-ngục (tiếng Pali là Niraya). Điạ-ngục là một trong ba đường dữ, hai đường kia là quỉ đói và súc-sanh ( =thú-vật.)

 

- Ác-nghiệp = những việc ác đã làm tạo nên ác-nghiệp. (Nghiệp = những hành-động đã làm, gồm có việc làm, lời nói và ý-tưởng.)

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc các nhóm ngoại-đạo bị mất tín-đồ vì họ đi theo Phật-giáo, muốn vu tội dâm cho Đức Phật, nên họ nhờ bà Sơn-đà-ly giả làm người đi lại với Phật, rồi sai kẻ côn-đồ giết chết, dấu xác bà sau chùa. Về sau, nhà vua cho điều-tra ra sự-thật, bắt được kẻ chủ-mưu, truyền dẫn đi khắp thành, nói lên tội-ác của họ.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là lời Phật nói trong bài Kệ: kẻ nói dối sẽ bị sa điạ-ngục.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 306:

 

Bài Kệ nêu rõ tội nói dối, vu oan kẻ khác và chối tội, sẽ phải chịu hình-phạt sa vào điạ-ngục khi chết đi. Nhưng ngay trong hiện đời, kẻ quen nói dối chẳng bao giờ được sự tín-nhiệm của ai cả. Sự nói dối tạo nên ác-nghiệp, đeo theo người nối dối, phải chịu khổ trong kiếp tới nữa. Vì lẽ đó, giới-luật thứ tư của người tu tại-gia là cấm nói sai sự-thật, chỉ trừ một trường-hợp duy-nhứt là nói dối để cứu mạng người.

The Story of Sundari the Wandering Female Ascetic

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (306) of this book, with reference to Sundari, a wandering female ascetic.

As the number of people revering the Buddha increased, the non-Buddhist ascetics found that the number of their following was dwindling. Therefore, they became very jealous of the Buddha; they were also afraid that things would get worse if they did not do something to damage the reputation of the Buddha. So, they sent for Sundari and said to her, "Sundari, you are a very beautiful and clever young lady. We want you to put Samana Gotama to shame, by making it appear to others that you are having sexual dealings with him. By so doing, his image will be impaired, his following will decrease and many would come to us. Make the best use of your looks and be crafty."

Sundari understood what was expected of her. Thus, late in the evening, she went in the direction of the Jetavana monastery. When she was asked where she was going, she answered, "I am going to visit Samana Gotama; I live with him in the Perfumed Chamber of the Jetavana monastery." After saying this, she proceeded to the place of the non-Buddhist ascetics. Early in the morning the next day, she returned home, if anyone asked her from where she had come she would reply, "I have come from the Perfumed Chamber after staying the night with Samana Gotama." She carried on like this for two more days. At the end of three days, those ascetics hired some drunkards to kill Sundari and put her body in a rubbish heap near the Jetavana monastery.

The next day, the ascetics spread the news about the disappearance of Paribbajika Sundari. They went to the king to report the matter and their suspicion. The king gave them permission to search where they wished. Finding the body near the Jetavana monastery, they carried it to the palace. Then they said to the king, "O king, the followers of Gotama have killed this Paribbajika and have thrown away her body in the rubbish heap near the Jetavana monastery to cover up the misdeed of their teacher." To them the king replied, "In that case, you may go round the town and proclaim the fact." So they went round the town carrying the dead body of Sundari, shouting, "Look! What the followers of Gotama have done; see how they have tried to cover up the misdeed of Gotama!" The procession then returned to the palace. The bhikkhus living in the Jetavana monastery told the Buddha what those ascetics were (doing to damage his reputation and impair his image. But the Buddha only said, "My sons, you just tell them this,"and then spoke in verse as follows:

Verse 306: One who tells lies (about others) goes to niraya; one who has done evil and says "I did not do it" also goes to niraya. Both of them being evil-doers, suffer alike (in niraya) in their next existence.


The king next ordered his men to further investigate the murder of Sundari. On investigation, they found out that Sundari had died at the hands of some drunkards. So they were brought to the king. When questioned, the drunkards disclosed that they were hired by the ascetics to kill Sundari and put her body near the Jetavana monastery. The king then sent for the non-Buddhist ascetics, and they finally confessed their role in the murder of Sundari. The king then ordered them to go round the town and confess their guilt to the people. So they went round the town saying, "We are the ones who killed Sundari. We have falsely accused the disciples of Gotama just to bring disgrace on Gotama. The disciples of Gotama are innocent, only we are guilty of the crime." As a result of this episode, the power, the glory and the fortune of the Buddha were very much enhanced.

Dhammapada Verse 306
Sundariparibbajika Vatthu

Abhutavadi nirayam upeti
yo vapi katva na karomi caha
ubhopi te pecca sama bhavanti
nihinakamma manuja parattha.

Verse 306: One who tells lies (about others) goes to niraya; one who has done evil and says "I did not do it" also goes to niraya. Both of them being evil-doers, suffer alike (in niraya) in their next existence.


dhp307_B
Verse-Kệ 307

(224).- Tích chuyện Tôn-giả Mục-kiền-liên thấy ngạ-quỉ. - Kệ số 307.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các ngạ-quỉ do Tôn-giả Mục-kiền-liên nhìn thấy.

 

Thuở ấy, Tôn-giả Mục-kiền-liên cùng với một vị Trưởng-lão, một hôm đi từ trên đỉnh núi Linh-thứu xuống, đến triền núi, bỗng thấy một con quỉ-đói, thân hình ốm-o như một bộ xương khô. Tôn-giả nhìn kỹ, lại thấy thêm bốn vị tỳ-kheo mặc áo vàng, đang oằn-oại trong ngọn lửa bốc cháy. Khi về đến tịnh-xá, Tôn-giả mới trình với Đức Phật những điều trông-thấy. Đức Phật bảo: "Vào thời Đức Phật Ca-diếp, có bốn tỳ-kheo đã phạm nhiều tội-ác, họ vừa mãn hạn trong điạ-ngục xong, nay phải chịu nốt hình-phạt trong kiếp ngạ-quỉ bị lửa đốt cháy."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Nhiều người khoác áo cà-sa,

Tâm chưa nhiếp-phục, ác-tà nhiễm-ô.

Vì nghiệp dữ đẩy xô vào điạ-ngục,

Cảnh khổ nầy do ác-hạnh sanh ra.

(Kệ số 307.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Mục-kiền-liên: tên vị đại-đệ-tử của Phật, giỏi nhứt về thần-thông, tiếng Pali là Moggallàna.

 

- Tịnh-xá Trúc-lâm, thành Vương-xá: tu-viện nầy do vua Tần-bà-sa-la (Bimbisàra), nước Ma-kiệt-đà (Magadha), xây cất gần thủ đô Vương-xá (Ràjagaha), trong vườn trúc, để dâng-cúng Đức Phật. Tịnh-xá Trúc-lâm, tiếng Pali là Veluvana.

 

- Linh-thứu: chim kên-kên; ngọn núi giống hình chim kên-kên xoè hai cánh ra; nơi đây Đức Phật giảng Kinh Pháp-Hoa. Tên ngọn núi nầy, tiếng Pali là Gijjhakùta.

 

- Ngạ-quỉ = quỉ đói; một hạng chúng-sanh ở cõi dữ, thân ốm, bụng to, cổ nhỏ, luôn đói khát. Tiếng Pali là Peta.

 

- Phật Ca-diếp: Đức Phật Kassapa ra đời trước Đức Phật Thích-ca.

 

- Điạ-ngục = cõi u-tối, nơi các tội-nhơn chịu hình-phạt khi chết.

 

- Cà-sa: tiếng Pali là Kasaya, áo choàng bên ngoài, màu vàng, của tu-sĩ Phật-giáo.

 

- Nhiếp-phục: điều-phục, tuân theo kỷ-luật. Tâm nhiếp-phục chẳng còn chạy lang-thang nữa, biết tập-trung tư-tưởng và chú-tâm.

 

- Ác-tà: Ác = dữ; Tà = xiêng-xéo, chẳng đúng-đắn.

 

- Nhiễm-ô = Nhiễm = lây, dính dơ; Ô = ô-trọc; dơ-dáy.

 

- Ác-hạnh: Ác = xấu, dữ; Hạnh = hạnh-kiểm; Ác-hạnh là tánh-tình xấu- ác, thường gây ra tội-lỗi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện nầy giống với Tích chuyện số (207), trang 607, Tập 3 nói về vì sao phải tái-sanh làm ngạ-quỉ, tức là quỉ đói. Ở Tích chuyện nầy, bốn vị tỳ-kheo vào thời Đức Phật Ca-diếp, vì chẳng giữ đúng giới-luật, tâm buông-lung, phạm nhiều tội-ác, nên sau khi mãn hạn ở điạ-ngục ra, phải sanh làm quỉ đói bị lửa đốt cháy. Theo kinh-sách, khi còn sống mà quá bỏn-xẻn, rít-róng, keo-kiệt, thì kiếp sau sẽ vướng vào đường dữ của quỉ đói, đó là ý-nghĩa của Tích chuyện.

 

Nhơn đây, xin nói thêm về sáu cõi trong Luân-hồi: chúng-sanh tùy theo nghiệp mà được sanh vào một trong sáu cõi, chia ra ba đường lành và ba đường dữ:

 

- Ba đường lành: (1) cõi Trời; (2) cõi Người; (3) cõi A-tu-la, tức là cõi thần-linh;

 

- Ba đường dữ: (4) điạ-ngục; (5) ngạ-quỉ; (6) súc-sanh.

 

Tùy theo nghiệp lành hay dữ, chúng-sanh cứ trôi lăn mãi trong sáu cõi của Luân-hồi. Tu chứng được quả-vị A-la-hán, mới dứt.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 307:

 

Bài Kệ nói về các vị tỳ-kheo tu-hành chẳng đứng-đắn, phạm giới-luật, gây tội-ác, nên phải sa vào điạ-ngục. Sau một đời ở điạ-ngục rất lâu, lại phải tái-sanh làm ngạ-quỉ, chịu đói-khát trong một đời nữa. Đó là ý-nghĩa răn-dạy của hai câu: "Vì nghiệp dữ đẩy xô vào điạ-ngục; Cảnh khổ nầy do ác-hạnh sanh ra." (Chữ "cảnh khổ nầy" ám-chỉ cảnh khổ của loài ngạ-quỉ.)

The Story of Those Who Suffered for Their Evil Deeds

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (307) of this book, with reference to some petas.

Once, the Venerable Maha Moggallana was coming down the Gijjhakuta hill with Thera Lakkhana when he saw some petas. When they were back at the monastery, Thera Maha Moggallana told Thera Lakkhana, in the presence of the Buddha, that he had seen a peta who was just a skeleton. Then he added that he had also seen five bhikkhus with their body burning in flames. On hearing the statement about those bhikkhus, the Buddha said, "During the time of Kassapa Buddha, those bhikkhus had done much evil. For those evil deeds they had suffered in niraya and now they are serving out the remaining term of suffering as petas."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 307: Many men wearing the yellow robe up to their necks who have an evil disposition and are unrestrained in thought, word and deed are reborn in niraya on account of their evil deeds.

Dhammapada Verse 307
Duccaritaphalapilita Vatthu

Kasavakantha bahavo
papadhamma asannata
papa papehi kammehi
nirayam te upapajjare.

Verse 307: Many men wearing the yellow robe up to their necks who have an evil disposition and are unrestrained in thought, word and deed are reborn in niraya on account of their evil deeds.


dhp308_B
Verse-Kệ 308

(225).- Tích chuyện các tỳ-kheo tăng-thượng-mạn. - Kệ số 308.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ nơi rừng Đại-lâm, xứ Tỳ-da-ly, trong kỳ một giảng-pháp, có đề-cập đến một nhóm tỳ-kheo tăng-thượng-mạn.

 

Thuở ấy, xứ Hoa-di đang bị đói-kém, thực-phẩm khan-hiếm, dân chúng phải chịu đói khổ. Có một nhóm tỳ-kheo đến bên bờ sông Lạc-thuỷ, sống qua mùa an-cư kiết-hạ ở xứ đó. Họ bàn-luận cùng nhau làm cách nào để được dân-chúng cúng-dường thực-phẩm đầy-đủ . Họ kháo lên rằng trong nhóm có người nầy đã chứng được Đạo, người kia đã đắc được Quả, vị nọ thường vào Thiền-định. Mỗi khi có dân-chúng đến viếng, họ thưa gọi nhau bằng các quả-vị, xưng-tụng đạo-hạnh lẫn nhau, khiến cho dân-chúng lầm tin là họ đã thật-sự chứng-đắc, nên bớt phần thực-phẩm trong nhà, đem dâng-cúng dồi-dào cho họ.

 

Mãn mùa an-cư, chư Tăng quay về tịnh-xá để đảnh-lễ Đức Phật. Ngài thăm hỏi chư tỳ-kheo, đã trải qua mùa hè ra sao, tu-tập như thế nào. Hầu hết các vị tu-sĩ đều xanh-xao vì thiếu ăn trong ba tháng; chỉ riêng có nhóm tỳ-kheo sống bên bờ sông Lạc-thủy xem ra hồng-hào, lại có phần mập-mạp ra. Đức Phật hỏi họ: "Xứ Hoa-di đang đói kém, chư Tăng ở bên sông Lạc-thủy có gặp khó-khăn trong việc ăn-uống không?" Họ thưa, không. Đức Phật gạn hỏi lý-do, họ liền thưa lại việc họ gọi nhau bằng các quả-vị, nên được dân-chúng tin-tưởng cúng-dường đầy-đủ. Đức Phật hỏi lại: "Trong số các ông đây, ai đã thật-sự chứng được Đạo, Quả?" Chẳng ai đáp có. Đức Phật liền quở trách họ: "Chưa chứng-đắc mà bảo là đã chứng-đắc, đó là tăng-thượng-mạn, tỳ-kheo phải dẹp bỏ lòng ngã-mạn mới chứng được Đạo, Quả."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Thà nuốt hòn-sắt đỏ lửa hồng,

Hơn ăn vật-thực được cúng-dường,

Nếu chưa giữ được tròn giới-hạnh:

Nghĩ, nói, làm, xấu cả ba đường.

(Kệ số 308.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tăng-thượng-mạn: Tăng = gia-tăng, thêm; Thượng = trên; Mạn = kiêu-căng, quá tự-cao. Tăng-thượng-mạn là nết xấu hay khoe-khoang, của kẻ tu-hành, chưa chứng-đắc quả-vị mà tự nhận đã chứng-đắc.

 

-Rừng Đại-lâm, xứ Tỳ-da-ly: khu rừng lớn, tiếng Pali là Mahàvana trong xứ Vesàli, miền Bắc của Ấn-độ xưa.

 

- Xứ Hoa-di, sông Lạc-thuỷ: phiên-âm và dịch gượng hai điạ-danh nầy; tiếng Pali là xứ Vaggis, sông Vaggumudà ( =khả-ái và an-vui.)

 

- An-cư kiết-hạ: An-cư = ở yên; kiết-hạ = qua mùa hè.An-cư kiết-hạ: ở Ấn-độ mùa hè, mưa dầm, côn trùng sinh-sản nhiều, tỳ-kheo chẳng đi ra ngoài để khất-thực, ngại đạp chết côn-trùng, lưu lại tịnh-xá lo tu-tập, sống nhờ sự cúng-dường của các tín-đồ. Cứ mỗi mùa an-cư như thế, người tu tăng thêm một tuổi-đạo, được gọi là lạp-tuế.

 

- Đạo, Quả: Đạo = đường, đường-lối, cách-thức tu-hành; Quả = kết-quả việc tu-hành đã thành-công. Có bốn Đạo: Tu-đà-huờn-hướng, Tư-đà-hàm-hướng, A-na-hàm-hướng, A-la-hán-hướng và bốn Quả là Tu-đà-huờn-quả, Tư-đà-hàm-quả, A-na-hàm-quả và A-la-hán-quả.

 

- Thiền-định: tu Thiền và đắc định; khi ngồi Thiền, tâm an-định

 

- Ngã-mạn: tự-cao, phách-lối, coi cái Ngã ( =Ta) của mình là hơn hết

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại mưu-mô của các tỳ-kheo tăng-thượng-mạn, gọi nhau bằng các quả-vị còn chưa xứng vì họ chưa chứng được, với mục-đích là để dân-chúng lầm họ đã đắc đạo mà cúng-dường nhiều. Họ bị Đức Phật quở về tội tăng-thượng-mạn đó.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 308:

 

Bài Kệ khuyên các vị tu-hành phải tự-xét đức-hạnh của mình có đầy-đủ mới dám nhận lễ-vật cúng-dường của các tín-đồ hiến-tặng.

 

1) Hai câu đầu: thà chịu đói-khát chớ chẳng lạm-nhận của cúng-dường. Tại sao? Vì người đi tu mà lạm-nhận, sẽ bị sa vào điạ-ngục., để phải nuốt hòn sắt nóng đỏ.

 

2) Hai câu chót nhắc nhở đến ba nghiệp: thân, miệng, ý có trong-sạch, thì giới-đức mới được tròn vẹn.

The Bhikkhus Who Lived on the Bank of the Vaggumuda River

While residing at the Mahavana forest near Vesali, the Buddha uttered Verse (308) of this book, with reference to the bhikkhus who spent the vassa on the bank of the Vaggumuda River.

At that time, there was a famine in the country of the Vajjis. So, to enable them to have enough food, those bhikkhus made it appear to the people that they had attained Magga and Phala although they had not done so. The people from the village, believing them and respecting them, offered much food to them leaving very little for themselves.

At the end of the vasa, as was customary, bhikkhus from all parts of the country came to pay homage to the Buddha. The bhikkhus from the bank of the river Vaggumuda also came. They looked hale and hearty while the other bhikkhus looked pale and worn out. The Buddha talked to all the bhikkhus and enquired how they fared during the vassa. To the bhikkhus from Vaggumuda River the Buddha specifically asked whether they had any difficulty in getting alms-food on account of the famine. They answered that they had no difficulty at all in getting alms-food.

The Buddha knew how those bhikkhus had managed to get enough alms-food. But he wanted to teach them on this point, so he asked, "How did you manage so well in getting alms-food throughout the vassa ?" Then the bhikkhus told him how they discussed among themselves and decided that they should address one another in such a way that the villagers would think that they had really attained jhana, Magga and Phala. Then the Buddha asked them whether they had really attained jhana, Magga and Phala. When they answered in the negative, the Buddha reprimanded them.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 308: It is better for one to eat a red-hot lump of iron burning like a flame than to eat alms-food offered by the people, if one is without morality (sila) and unrestrained in thought, word and deed.

Dhammapada Verse 308
Vaggumudatiriya Bhikkhu Vatthu

Seyyo ayogulo bhutto
tatto aggisikhupamo
yance bhunjeyya dussilo

ratthapindamasannato.

Verse 308: It is better for one to eat a red-hot lump of iron burning like a flame than to eat alms-food offered by the people, if one is without morality (sila) and unrestrained in thought, word and deed.


dhp309_B
dhp310_B
Verse-Kệ 309-310

(226).- Tích chuyện thanh-niên Khê-ma-ca. - Kệ số 309 và 310.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến chàng thanh-niên đẹp trai, tánh hay trăng-gió, tên là Khê-ma-ca.

 

Khê-ma-ca là con nhà giàu-có, gọi cư-sĩ Cấp-cô-độc bằng bác. Dáng-vóc đẹp trai, ăn nói duyên-dáng, nên Khê được nhiều phụ-nữ trong vùng mê-say, do đó Khê đã phạm nhiều lần tội thông-dâm với kẻ đã có chồng. Đã bị bắt quả-tang cả ba lần, nhưng nhà chức-trách nể-nang cư-sĩ Cấp-cô-độc, nên chẳng truy-tố Khê về tội gian-dâm. Nhưng lần phạm tội sau cùng, cư-sĩ Cấp-cô-độc bắt dẫn Khê-ma-ca đến trình Đức Phật. Đức Phật giảng cho Khê-ma-ca biết sự đồi-bại của tội tà-dâm và các hậu-quả nặng-nề mà gian-phu, dâm-phụ phải chịu.

 

Rồi Đức Phật nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Bốn điều bất-hạnh đang chờ-chực

Kẻ dể-duôi dâm-dật vợ người:

Mang tai-hoạ, ngủ đâu yên giấc,

Ba: bị trách; bốn: sa điạ-ngục.

(Kệ số 309.)

 

Mang tai-hoạ, phải đọa vào đường dữ,

Vui phút giây, đôi dâm-đãng phập-phồng;

Vua lại ban-hành cực-hình xét-xử.

Vậy, đừng phạm tiết những ai có chồng.

(Kệ số 310.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Khê-ma-ca: tên chàng thanh-niên nầy, tiếng Pali là Khemaka.

 

- Tánh hay trăng-gió: nghĩa bóng là ham thích thú-vui với phụ-nữ

 

- Cư-sĩ Cấp-cô-độc: vị cư-sĩ nổi tiếng nầy, thường giúp đỡ kẻ cô-đơn, cất chùa Kỳ-viên; tên tiếng Pali là Anàthapindika.

 

- Thông-dâm, gian-dâm, tà-dâm: Dâm = sự giao-hợp giữa trai gái Gian-dâm, tà-dâm là tội-phạm lấy vợ hay lấy chồng của kẻ khác. Giới thứ ba của người tu tại-gia là cấm tà-dâm, phải có lòng trung-thành với nhau trong tình-nghĩa chồng-vợ. Đối với kẻ xuất-gia, giới-luật cấm hẳn việc dâm-dục, phải sống độc-thân.

 

- Bắt quả-tang = bị bắt tại trận, bị bắt đủ bằng-cớ đang phạm tội.

 

- Nể-nang = vị bụng, vì kính-nể mà bỏ qua chẳng nói đến.

 

- Truy-tố = đưa ra xét xử để trị tội.

 

- Đồi-bại = xấu-xa, hư-hỏng đáng phỉ-nhổ.

 

- Gian-phu, dâm-phụ: Gian-phu = đàn-ông gian; Dâm-phụ =đàn-bà dâm-đãng.

 

- Bất-hạnh: Bất = chẳng; Hạnh = may-mắn. Bất-hạnh = chẳng may

 

- Dể-duôi = thiếu sự tự kềm-chế, dễ theo điều quấy.

 

- Dâm-đãng, Dâm-dật = chạy theo thú-vui thể-xác giữa trai gái.

 

- Cực-hình = hình-phạt nghiêm-khắc, nặng-nề.

 

- Phạm tiết: vi-phạm trinh-tiết; vì gian-dâm khiến mất sự trung-thành giữa vợ-chồng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc chàng Khê-ma-ca đẹp trai, con nhà giàu, ăn nói có duyên, ham-thích việc gió-trăng, phạm tội thông-dâm cùng phụ-nữ có chồng. Chàng được người bác là cư-sĩ Cấp-cô-độc dẫn đến nghe Đức Phật chỉ-dạy về tội-ác tà-dâm cần tránh, để khỏi bị các hậu-quả tai-hại, trong đó có việc sa vào điạ-ngục là nặng-nề nhứt.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 309 và 310:

 

Hai bài Kệ kể ra những hậu-quả tại-hại của tội tà-dâm:

 

1) Hai câu đầu của bài Kệ số 309 báo bốn điều bất-hạnh:

 

2) Câu thứ ba nêu ra hai hậu-quả: (1) mang tai-hoạ, vì người chồng trả thù; (2) ngủ chẳng yên-giấc, vì cứ lo-sợ lộ tội; (3) bị trách phạt; (4) sa vào điạ-ngục.

 

3) Câu đầu của bài Kệ số 310: "Mang tai-hoạ, phải đoạ vào đường dữ, đó là sa vào điạ-ngục, chịu hình-phạt nặng và lâu ở cõi âm.

 

4) Câu "Vui phút giây, đôi dâm-đãng phập-phồng" cho thấy rõ thú-vui thể-xác rất ngắn-ngủi, đâu bù lại sự lo-lắng kéo dài, sợ lộ tội.

 

5) Câu ‘’Vua lại ban-hành cực-hình xét-xử" nói rõ hình-phạt ngay trong hiện-đời nầy, bị tù-tội theo luật-lệ trong xã-hội.

 

6) Câu chót là lời kết-luận: đừng phạm tội tà-dâm.

The Story of Khemaka, the Son of a Rich Man

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (309) and (310) of this book, with reference to Khemaka, the son of a rich man. Khemaka was also the nephew of the renowned Anathapindika.

Khemaka, in addition to being rich, was also very good-looking and women were very much attracted to him. They could hardly resist him and naturally fell a prey to him. Khemaka committed adultery without compunction. The king's men caught him three times for sexual misconduct and brought him to the presence of the king. But King Pasenadi of Kosala did not take action because Khemaka was the nephew of Anathapindika. So Anathapindika himself took his nephew to the Buddha. The Buddha talked to Khemaka about the depravity of sexual misconduct and the seriousness of the consequences.

Verse 309: Four misfortunes befall a man who is unmindful of right conduct and commit sexual misconduct with another man's wife: acquisition of demerit, disturbed sleep, reproach, and suffering in niraya.
 
Verse 310: Thus, there is the acquisition of demerit, and there is rebirth in the evil apaya realms. The enjoyment of a scared man with a scared woman is short-lived, and the king also metes out severe punishment. Therefore, a man should not commit misconduct with another man's wife.


At the end of the discourse Khemaka attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 309 and 310
Khemakasetthiputta Vatthu

Cattari thanani naro pamatto
apajjati paradarupasevi
apunnalabham na nikamaseyyam
nindam tatiyam nirayam catuttham.

Apunnalahho ca gati ca papika
bhitassa bhitaya rati ca thokika
raja ca dandam garukam paneti
tasma naro paradaram na seve.

Verse 309: Four misfortunes befall a man who is unmindful of right conduct and commit sexual misconduct with another man's wife: acquisition of demerit, disturbed sleep, reproach, and suffering in niraya.

Verse 310: Thus, there is the acquisition of demerit, and there is rebirth in the evil apaya realms. The enjoyment of a scared man with a scared woman is short-lived, and the king also metes out severe punishment. Therefore, a man should not commit misconduct with another man's wife.


dhp311_B
dhp312_B
dhp313_B
Verse-Kệ 311-313

(227).- Tích chuyện vị tỳ-kheo xem nhẹ giới-cấm nhỏ. - Kệ số 311, 312, 313.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị tỳ-kheo hay khinh thường các giới-cấm nhỏ.

 

Thuở ấy, có một vị tỳ-kheo vô-ý cắt đứt một nắm cỏ, phạm vào giới-luật cấm đốn cây, nhổ cỏ, trong Tăng-đoàn. Mặc dầu vị ấy đã theo đúng thủ-tục thú-tội mình với bạn đồng-tu rồi, nhưng trong tâm vẫn còn thắc-mắc, lo-ngại mình đã trót vi-phạm giới-luật. Một vị tỳ-kheo khác nghe than-thở, mới bảo: "Một vi-phạm nhỏ vào giới-luật, theo đúng thủ-tục thú-tội xong, thì kể như giới-đức đã được thanh-tịnh rồi, có chi mà phải thắc-mắc. Vả lại, nhổ cỏ là việc nhỏ, chẳng quan-trọng gì, nè, tôi thử nhổ cho bạn xem." Nói xong, vị ấy cúi xuống vừa bứt một nắm cỏ, miệng vừa cười.

 

Sự-việc đó đến tai Đức Phật. Ngài cho gọi vị tỳ-kheo cố-tình nhổ cỏ ấy đến quở trách và nói lên ba bài Kệ sau đây:

 

Ai vụng nắm cỏ kusa,

Bàn tay bị cỏ cắt đứt.

Cùng thế ấy, đã xuất-gia

Hạnh Sa-môn mà lơ-là

Ắt phải sa điạ-ngục.

(Kệ số 311.)

 

Một hành-động làm cho có lệ,

Giữ giới-đức bị ô-nhiễm tệ,

Sống Phạm-hạnh một cách khả-nghi,

Chứng được quả cao, đâu có lẽ!

(Kệ số 312.)

 

Có điều cần phải làm, làm ngay,

Làm hăng say, làm hết năng-lực.

Sống cuộc đời tu-sĩ phóng-dật,

Chỉ làm tăng cát bụi tung bay.

(Kệ số 313.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Khinh thường = xem nhẹ, chẳng coi là quan-trọng chi cho lắm.

 

- Cấm đốn cây, nhổ cỏ: đây là một giới-cấm Phật đặt ra, để tránh sự sát-hại các loại côn-trùng sống dưới mặt đất.

 

- Thủ-tục thú-tội: theo Luật-tạng, các gìới-luật được phân ra thành trọng-cấm và khinh-cấm. Các tội năng như tội dâm, tội sát-sanh nếu phạm phải sẽ bị trục-xuất khỏi Tăng-đoàn. Các tội nhẹ, như nhổ cỏ, chỉ cần thưa thiệt với vị tỳ-kheo đồng-tu, tỏ lòng sám-hối là đủ.

 

- Giới-đức thanh-tịnh: giữ cho hạnh-kiểm, thái-độ của mình được đứng-đắn, chẳng bị tội-lỗi làm dơ-bẩn.

 

- Cỏ kusa: một loại cỏ có mùi thơm, lá bén như lá xả.

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà, gia-đình. Bực xuất-gia là người đã rời bỏ cuộc sống trong nhà, đi tu.

 

- Hạnh Sa-môn: Hạnh = giới-hạnh, hạnh-kiểm; Sa-môn = tu-sĩ Phật-giáo. Chữ Sa-môn có ba ý-nghĩa: (1) cần-giả, siêng làm việc lành; (2) tức-giả, thôi chẳng làm việc ác; (3) bần-giả, nguyện chịu nghèo-khổ để tu-hành.

 

- Làm cho có lệ = làm qua loa, chẳng chú tâm vào; như tụng kinh, miệng đọc thuộc lòng mà bụng lo ra, nghĩ đến việc ... đi chợ.

 

- Ô-nhiễm tệ: Ô = đen, dơ; Nhiễm = dính, lây; Tệ = xấu, dở.

 

- Phạm-hạnh: hạnh tu thanh-tịnh, nguyện dứt bỏ hẳn sự dâm-dục

 

- Khả-nghi: đáng ngờ-vực, khó tin được.

 

- Phóng-dật: buông-lung, chẳng siêng-năng, cố-gắng chi cả.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là chớ xem thường mọi điều gìới-cấm, dầu nặng, dầu nhẹ, lúc nào cũng phải tuân-phục. Vì nếu tỏ ra lơ-là, giới-đức sẽ bị nhiễm-ô, mất sự thanh-tịnh.

 

(2) Ý-nghĩa của ba bài Kệ số 311, 312 và 313:

 

Bài Kệ số 311 khuyên ta chớ lơ-là trong việc giữ gìn giới-luật, vì nếu đã nguyện giữ mà lại phá giới, sẽ bị tội sa vào điạ-ngục. Hai câu: "Ai vụng nắm cỏ kusa, Bàn tay bị cỏ cắt đứt" so-sánh sự sắc-bén của giới-luật với lá cỏ bén kusa; nếu chẳng khéo cầm-giữ sẽ bị đứt tay.

 

Bài Kệ số 312 chê-trách kẻ tu-hành giữ giới-luật một cách lấy lệ, làm cho có chừng vậy thôi. Thái-độ lơ-là nầy dễ khiến giới-đức bị nhiễm-ô, mất cả sự thanh-tịnh. Hậu-quả là chẳng thể nào chứng được đạo-quả.

 

Bài Kệ số 313 khuyên nên tu-hành cho thật tinh-tấn:

 

- "Có điều cần phải làm, làm ngay": điều chi? Đó là việc giữ gìn giới-đức thanh-tịnh để chóng đến ngày giác-ngộ và giải-thoát.

 

- "Làm hăng-say, làm hết năng-lực": đấy là thái-độ tinh-tấn của người tu-hành đang gắng sức, chẳng có lúc nào lơ-là cả.

 

- "Sống cuộc đời tu-sĩ phóng-dật, Chỉ làm tăng cát-bụi tung bay" Cuộc đời phóng-dật, ở đây, là chẳng biết, chẳng chịu, khép mình vào kỷ-luật của giới-đức. Như thế chỉ làm tăng thêm tội-lỗi, ví như cát-bụi dơ-bẩn tung bay lên, nêu gương xấu cho dân-chúng.

 

HỌC TẬP:

 

Tuy Tích chuyện cùng ba bài Kệ nói đến các vị xuất-gia tu-hành, nhưng chúng ta cũng rút ra được những bài học nhỏ về việc giữ gìn giới-luật cho người tu tại-gia.

 

1) Người Phật-tử tu tại nhà phải giữ trọn ngũ-giới gồm có: (1) chẳng sát-sanh; (2) chẳng trộm-cắp; (3) chẳng tà-dâm; (4) chẳng nói dối; (5) chẳng uống rượu. Đây là năm điều căn-bản của việc tu-hành tại-gia, có là bao, khi so-sánh với 250 điều của tỳ-kheo và 350 điều của tỳ-kheo-ni của các bực xuất-gia.

 

2) Xin kể vài điểm lơ-là thường thấy trong việc giữ ngũ-giới:

 

- ăn chay là để tránh sát-sanh; tối đói bụng, nói "Tối rồi, Phật đi ngủ, mình cứ ăn tô phở nhỏ cho hết xót ruột!"

 

- cấm trộm-cắp là để diệt lòng tham; trong sở sẵn giấy trắng, cứ lấy vài tờ ra viết thơ cho bạn, có hề chi!

 

- cấm tà-dâm là để giữ lòng trong-sạch, lại thích làm bộ lỡ đụng nhè-nhẹ vào người đẹp khác phái!

 

- cấm nói dối là để tôn-trọng sự-thật; đi xa về kể chuyện thường thêm-thắt vài chi-tiết vẽ-vời ra, cho câu chuyện thêm ... dòn!

 

- cấm uống rượu là để trí-óc được sáng-suốt; trong buổi tiếp-tân, pha rượu loảng nhâm-nhi chơi, chút đỉnh mà, nào có hại chi đâu!

The Story of the Obstinate Bhikkhu

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (311), (312) and (313) of this book, with reference to an obstinate bhikkhu.

Once, there was a bhikkhu who was feeling remorse for having unwittingly cut some grass. He confided about this to another bhikkhu. The latter was reckless and stubborn by nature, and he did not think much about committing small misdeeds. So he replied to the first bhikkhu, "Cutting grass is a very minor offence; if you just confide and confess to another bhikkhu you are automatically exonerated. There is nothing to worry about." So saying, he proceeded to uproot some grass with both hands to show that he thought very little of such trivial offences. When the Buddha was told about this, he reprimanded the reckless, stubborn bhikkhu.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 311: Just as kusa grass if badly held cuts that very hand, so also, the ill-led life of a bhikkhu drags that bhikkhu down to niraya.
 
Verse 312: An act perfunctorily performed, or a practice that is depraved, or a questionable conduct of a bhikkhu is not of much benefit.
 
Verse 313: If there is anything to be done, do it well; do it firmly and energetically; for the slack life of a bhikkhu scatters much dust (of moral defilements).


At the end of the discourse the reckless obstinate bhikkhu realized the importance of restraint in the life of a bhikkhu and strictly obeyed the Fundamental Precepts for the bhikkhus. Later, through practice of Insight Meditation, that bhikkhu attained arahatship.

Dhammapada Verses 311, 312 and 313
Dubbacabhikkhu Vatthu

Kuso yatha duggahito
hatthameva' nukantati
samannam dupparamattham
nirayayu' pakadhati.

Yam kinci sithilam kammam
samkilitthanca yam vatam
sankassaram brahmacariyam
na tam hoti mahapphalam.

Kayira ce kayirathenam
dalhamenam parakkame
sithilo hi paribbajo
bhiyyo akirate rajam.

Verse 311: Just as kusa grass if badly held cuts that very hand, so also, the ill-led life of a bhikkhu drags that bhikkhu down to niraya.

Verse 312: An act perfunctorily performed, or a practice that is depraved, or a questionable conduct of a bhikkhu is not of much benefit.

Verse 313: If there is anything to be done, do it well; do it firmly and energetically; for the slack life of a bhikkhu scatters much dust (of moral defilements).


dhp314_B
Verse-Kệ 314

(228).- Tích chuyện người vợ ghen-tuông. - Kệ số 314.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc một người đàn-bà tánh hay ghen-tuông, hành-hạ một đứa tớ gái.

 

Thuở ấy ở nước Xá-vệ có một người đàn-bà tánh hay ghen-tuông, nghi chồng mình tằng-tịu với đứa tớ gái. Bà ta bắt đứa tớ, đem trói lại, tra khảo, rồi trong cơn ghen-giận, bà xẻo tai, cắt mũi nó, đem giam nó vào phòng tối. Sau đó, bà theo chồng đến chùa để lạy Phật.

 

Một lát sau, thân-nhơn của đứa tớ gái, đến nhà chủ để thăm nó, nghe tiếng nó rên la trong phòng tối, mới vào cổi trói cho nó và dẫn nó đến chùa, thưa trình cùng Phật. Bấy giờ Đức Phật đang giảng pháp cho đông-đảo tín-đồ ngồi nghe. Sau thời pháp, thân-nhơn đứa tớ gái trình Phật sự-thể vì sao nó bị hành-hạ tàn-nhẫn như thế. Rồi họ chỉ vào thân-thể tiều-tuỵ, bị đánh-đập nhiều vết thương-tích trên mặt của đứa tớ gái cho mọi người trông thấy. Đức Phật bảo: "Nầy chư thiện-nam, tín-nữ, chớ nên làm điều ác, vì điều ác dầu dấu kín mấy đi nữa, cũng lộ ra sau nầy và đem lại đau-khổ ray-rứt cho người đã làm ác. Còn việc thiện dầu âm-thầm làm, cũng mang lại hạnh-phúc và yên-vui."

 

Rồi đó Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Việc ác, tốt hơn, nên bỏ dứt,

Trót làm sanh ray-rứt trong lòng.

Việc thiện, tốt hơn, làm lập-tức,

Chẳng hề hối-tiếc khi làm xong.

(Kệ số 314.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ghen-tuông: nết xấu sợ chồng hay vợ mình thương-yêu kẻ khác

 

- Tằng-tịu = dan-díu tình-ái với kẻ khác một cách bất-chánh.

 

- Tra-khảo = đánh-đập để vặn hỏi.

 

- Thân-nhơn: người thân trong gia-đình.

 

- Tín-đồ: Tín = tin-tưởng; Đồ = đồ-đệ; học trò. Tín-đồ = kẻ theo đạo.

 

- Thiện-nam, tín-nữ: Thiện = lành; Tín = tin-tưởng; Thiện-nam = đàn-ông làm lành; Tín-nữ = đàn-bà tin đạo. Ở đây, chỉ các tín-đồ.

 

- Ray-rứt: gây sự đau-khổ kéo dài, ngấm-ngầm bên trong tâm.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc người vợ ghen-tuông đánh-đập, hành-hạ một đứa tớ gái vì nghi nó dan-díu tình-ái với chồng mình, rồi giam nó trong phòng kín. Nhưng nó được thân-nhơn giải-cứu, dẫn đến trình cùng Đức Phật. Đức Phật bảo: "Việc ác dầu dấu kín, sớm muộn chi cũng lộ, rồi gây đau khổ ray-rứt trong lòng người làm ác..."

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là đừng vì ghen-tuông mà có những hành-động ác, hãy dẹp bỏ ngay sự sân-hận.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 314:

 

Bài Kệ số 314, chẳng nói đến việc đánh ghen trong Tích chuyện, chỉ phân-biệt rõ hai hành-động thiện và ác:

 

1) Việc ác sanh ray-rứt trong lòng: Tại sao? Vì người làm ác hối-tiếc đã gây đau-khổ cho người khác, trong lòng ray-rứt chẳng nguôi. Do đó, phải dứt bỏ ngay việc ác, mỗi khi ác-ý vừa khởi lên trong tâm.

 

2. Việc thiện nên làm ngay lập-tức: Tại sao? Nên làm, vì việc thiện đem an-vui đến cho kẻ khác và cho mình. Phải làm ngay lập-tức, vì nếu chần-chờ làm việc thiện, cơ-hội đi qua, sẽ mất dịp tạo thêm nghiệp lành cho bản thân.

The Story of a Woman of Jealous Disposition

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (314) of this book, with reference to a woman who was by nature very jealous.

Once, a woman with a very strong sense of jealousy lived with her husband in Savatthi. She found that her husband was having an affair with her maid. So one day, she tied up the girl with strong ropes, cut off her ears and nose, and shut her up in a room. After doing that, she asked her husband to accompany her to the Jetavana monastery. Soon after they left, some relatives of the maid arrived at their house and found the maid tied up and locked up in a room. They broke into the room, untied her and took her to the monastery. They arrived at the monastery while the Buddha was expounding the Dhamma. The girl related to the Buddha what her mistress had done to her, how she had been beaten, and how her nose and ears had been cut off. She stood in the midst of the crowd for all to see how she had been mistreated. So the Buddha said, "Do no evil, thinking that people will not know about it. An evil deed done in secret, when discovered, will bring much pain and sorrow; but a good deed may be done secretly, for it can only bring happiness and not sorrow."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 314: It is better not to do an evil deed; an evil deed torments one later on. It is better to do a good deed as one does not have to repent for having done it.


At the end of the discourse the couple attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 314
Issapakata Itthi Vatthu

Akatam dukkatam seyyo
paccha tappati dukkatam
katanca sukatam seyyo
yam katva nanutappati.

Verse 314: It is better not to do an evil deed; an evil deed torments one later on. It is better to do a good deed as one does not have to repent for having done it.


dhp315_B
Verse-Kệ 315

(229).- Tích chuyện các tỳ-kheo qua muà an-cư nơi biên-ải - Kệ số 315.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một nhóm Tỳ-kheo qua mùa an-cư tại một nơi xa-xôi gần biên-giới.

 

Thuở ấy, vào mùa an-cư kết-hạ, có một nhóm Tỳ-kheo đến cư-trú tại một vùng gần biên-giới. Trong tháng đàu của mùa mưa, họ được dân-chúng trong vùng cung-cấp đày-đủ thực-phậm và các tiện-nghi khác.

 

Vào tháng thứ hai, vùng biên-giới bị giặc-giã đến cướp-phá, nhiều người dân bị giặc bắt đi. Dân chúng vì phải lo phòng-vệ cửa ải, cứu-trợ người bị thương, xây-dựng lại các nơi bị tàn-phá, nên chẳng thể cung-ứng đầy-đủ cho chư Tăng. Vì thế, các tỳ-kheo đã trải qua mùa an-cư trong thiếu-thốn, nhưng chẳng vì thế mà việc tu-tập bớt phần tinh-tấn.

 

Mãn mùa an-cư, chư Tăng quay về chùa, tường-trình lên Đức Phật kết-quả tu-tập trong ba tháng hè vừa qua. Được biết chư Tăng gặp khó-khăn nơi biên-ải, Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, rất khó mà có được đời sống vật-chất đầy-đủ đủ tiện-nghi mà chẳng cần phải cố-gắng. Cũng như dân-chúng vùng biên-thuỳ đã phòng-vệ thị-trấn của họ, gìn-giữ cả bên trong thành cũng như bên ngoài ải, tỳ-kheo phải biết phòng-hộ thân-tâm mình, cả bên trong lẫn bên ngoài."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó một số tỳ-kheo nỗ-lực tu-tập mà chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Canh-phòng cửa ải ngoài biên-giới,

Phải canh cả trong thành ngoài ải.

Tự phòng-vệ mình, nào có khác.

Gặp dịp tốt học Pháp, chớ bỏ qua,

Lỡ dịp, đau buồn khi sa cõi ác.

(Kệ số 315.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

-Biên-ải, Biên-giới, Biên-thuỳ: Biên =ngoài bià, gần lằn ranh; Ải = đồn-binh giữ giặc; Giới, Thuỳ = ranh-giới. Biên-ải là đồn lính đóng ngoài biên-giới, để giữ vững biên-thùy cho đất nước.

 

- An-cư kiết-hạ: An-cư = ở yên; Kiết hạ = trải qua mùa hè. An-cư kiết-hạ là trong thời-gian ba tháng hè, mưa dầm, các tỳ-kheo chẳng ra ngoài đi khất-thực, vì ngại đạp chết côn-trùng đang sanh-sản nhiều, lưu lại nơi tịnh-xá để tu-tập, sống nhờ sự cúng-dường của tín-đồ.

 

- Phòng-vệ, phòng-hộ: Phòng = đề-phòng; Hộ =Vệ = giữ gìn.

 

- Cung-ứng = châu-cấp cho đầy-đủ; tiếp-tế.

 

- Thị-trấn: Thị = chợ, thành-thị; Trấn = trấn-giữ; nơi được canh chừng. Thị-trấn là thành-phố được tăng-cường việc phòng-thủ.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt của bực tu-hành đã diệt hết các phiền-não, vượt các chướng-ngại, lìa bỏ mọi ham muốn, chứng được vô-sanh ( = chẳng phải tái-sanh trong Luân-hồi nữa), sống tự-tại trong cảnh-giới Niết-Bàn. Tiếng Pali là Arahant.

 

- Pháp = Chánh-pháp, lời dạy của Phật ghi trong Kinh-kệ, chỉ rõ đường-lối tu-hành để được giác-ngộ và giải-thoát.

 

- Cõi ác: ba đường dữ trong Luân-hồi: điạ-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại mùa an-cư kiết-hạ của một nhóm tỳ-kheo đến sống gần biên-giới. Họ gặp phải khó-khăn trong vấn-đề ăn-uống, vì dân-chúng phải lo phòng-vệ cửa ải, nên chẳng cung-ứng đủ thực-phẩm. Đức Phật nhơn chuyện đó, dạy các tỳ-kheo phải biết phòng-hộ thân-tâm mình, cũng như dân-chúng phòng vệ cửa ải, bên trong cũng như bên ngoài.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là việc phòng-hộ thân-tâm phải luôn luôn gìn-giữ và điều-phục tâm bên trong cũng như các căn bên ngoài.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 315:

 

Bài Kệ số 315 khuyên ta nên phòng-hộ thân-tâm ta cũng như dân-chúng vùng biên-giới phòng-vệ cửa ải, cả trong thành lẫn ngoài ải. Như thế, người tu-hành phải, bên ngoài điều-phục các căn, bên trong tỉnh-giác, giữ chánh-niệm trong tâm. Nhưng cách phòng-vệ hữu-hiệu và bền-lâu nhứt, chính là việc học-tập Chánh-pháp; nếu có dịp được nghe Pháp mà bỏ qua, về sau hối-tiếc đã quá muộn, khi đau-khổ phải sa vào ba đường ác của cõi Luân-hồi.

 

HỌC TẬP:

 

1) Điều-phục các căn như thế nào? Mắt đừng chạy theo cảnh; tai đừng mê âm-thanh; mữi chớ quá thích mùi thơm; lưỡi chớ thèm vật ngon-ngọt quá; tay chớ ham sờ vật êm-láng; để giữ cho tâm yên.

 

2) Điều-phục tâm như thế nào? Luôn giữ chánh-niệm theo hơi thở ra vào nhẹ-nhàng, khiến cho tâm an-tịnh, chẳng vọng-động.

The Story of Many Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (315) of this book, with reference to a group of bhikkhus who spent the vassa in a border town.

In the first month of their stay in that border town, the bhikkhus were well provided and well looked after by the townsfolk. During the next month the town was plundered by some robbers and some people were taken away as hostages. The people of the town, therefore, had to rehabilitate their town and reinforce fortifications. Thus, they were unable to look to the needs of the bhikkhus as much as they would like to and the bhikkhus had to fend for themselves. At the end of the vassa, those bhikkhus came to pay homage to the Buddha at the Jetavana monastery in Savatthi. On learning about the hardships they had undergone during the vassa, the Buddha said to them "Bhikkhus, do not keep thinking about this or anything else; it is always difficult to have a carefree, effortless living. Just as the townsfolk guard their town, so also, a bhikkhu should be on guard and keep his mind steadfastly on his body."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 315: As a border town is guarded both inside and outside, so guard yourself. Let not the right moment go by for those who miss this moment come to grief when they fall into niraya.

At the end of the discourse those bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verse 315
Sambahulabhikkhu Vatthu

Nagaram yatha paccantam
guttam santarabahiram
evam gopetha attanam
1
khano vo ma upaccaga
khanatita hi socanti
nirayamhi samappita.

Verse 315: As a border town is guarded both inside and outside, so guard yourself. Let not the right moment go by for those who miss this moment come to grief when they fall into niraya.


1. evam gopetha attanam: so guard yourself; i.e., to guard the internal as well as the external senses. The six internal senses (sense bases) are eye, ear, nose, tongue, body and mind; the six external senses (sense objects) are visible object, sound, odour, taste, touch and idea.


dhp316_B
dhp317_B
Verse-Kệ 316-317

(230).- Tích chuyện nhóm loã-thể Ni-kiền-tử. - Kệ số 316 và 317.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tai chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến nhóm tu-sĩ loã-thể Ni-kiền-tử.

 

Thuở ấy có nhóm tu-sĩ loã-thể Ni-kiền-tử đi khất-thực, tay cầm bình bát có miếng vải nhỏ che bên trên, mình chỉ quấn khố che hạ-bộ. Các vị tỳ-kheo trông thấy, bảo: ‘Các vị tu-sĩ Ni-kiền-tử có khố che phiá dưới, trông ra có phần trang-nhã hơn các ẩn-sĩ loã-lồ." Các tu-sĩ Ni-kiền-tử đáp: "Chúng ta che phiá dưới thân-thể, chẳng phải là vì sợ xấu-hổ đâu. Chúng ta lấy vải đậy bình bát lại là để tránh bụi-bặm, vì trong bụi-bặm vẫn có sự-sống."

 

Khi trở về chùa, các vị tỳ-kheo trình lại Phật những điều các tu-sĩ Ni-kiền-tử đã nói. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, bọn Ni-kiền-tử chỉ che hạ-bộ mà chẳng biết thẹn ở chỗ đáng thẹn, họ lại che bình bát, thẹn ở nơi chẳng đáng thẹn. Vướng-mắc tà-kiến như thế, họ sẽ sa vào đường dữ của Luân-hồi."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây, vài người trong nhóm Ni-kiền-tử nghe hiểu được, mới xin quy-y Tam-Bảo:

 

Chẳng đáng hổ-ngươi mà lại thẹn,

Việc đáng thẹn mà lại trơ-trẻn.

Tà-kiến đó, chúng-sanh nào ôm-ấp

Sẽ đoạ vào cõi thấp, khi tái-sanh.

(Kệ số 316.)

Chẳng đáng sợ mà lại hãi-hùng,

Việc đáng ghê mà lại dửng-dưng.

Tà-kiến đó, chúng-sanh nào ôm-ấp,

Sẽ đoạ vào cõi thấp, khi tái-sanh.

(Kệ số 317.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Loã-thể Ni-kiền-tử: Loã = loã-lồ, chẳng che-đậy; Thể = thân-thể; Ni-kiền-tử = phiên-âm tên nhóm tu-sĩ loã-thể, tiếng Pali là Nigantha.

 

- Khất-thực: Khất = đi xin, Thực = ăn. Theo giáo-lý nhà Phật, các tỳ-kheo theo hạnh khất-sĩ, hạ mình xuống đi xin ăn, để diệt lòng tự-ái và có dịp gặp dân-chúng để chỉ-dạy Chánh-pháp cho họ.

 

- Bình bát: tô chén lớn như cái nồi, bằng sành, bằng gỗ hay bằng đồng, dùng đựng thức-ăn khi xin được.

 

- Khố = mảnh vải nhỏ và dài, che phiá dưới, chẳng mặc quần.

 

- Hạ-bộ: Hạ = dưới, Bộ = bộ-phận. Hạ-bộ tức là bộ-phận sanh-dục

 

-Tà-kiến: Tà = xiêng-xéo; Kiến = ý-tưởng; Tà-kiến là ý-tưởng sai-lầm

 

- Đường dữ: Luân-hồi có ba đường dữ, điạ-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh

 

- Quy-y Tam-Bảo: Quy-y = Quy = trở về; Y = nương-tựa; Tam =ba; Bảo = ngôi báu. Đó là quay về nương-tựa nơi Phật, Pháp và Tăng.

 

- Hổ-ngươi = thẹn, mắc-cở.

 

- Trơ-trẻn: chẳng biết thẹn, chẳng biết mắc-cở, chai-lỳ lắm!

 

- Hãi-hùng: sợ-hãi lắm, ghê-sợ nhiều.

 

- Dửng-dưng = chẳng hề cảm-động, chẳng động tâm, trơ-trơ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mô-tả thái-độ chẳng đứng-đắn của nhóm loã-thể Ni-kiền-tử, chẳng thẹn chỗ đáng thẹn, lại thẹn chỗ chẳng đáng thẹn. Đức Phật dạy, thẹn và chẳng biết thẹn như thế, cùng với sự sợ và chẳng sợ đúng chỗ là đang vướng phải hai tà-kiến, sẽ đưa ta vào cõi thấp trong Luân-hồi, khi tái-sanh.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là phải gạt bỏ các tà-kiến, biết thẹn và sợ-hãi, khi lỡ làm việc ác.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 316 và 317:

 

Hai bài Kệ giống nhau ở hai câu chót: đưa ta tái-sanh vào đường thấp, và khác nhau ở chỗ thẹn và sợ chẳng đúng chỗ. Vướng vào hai tà-kiến thẹn và sợ chẳng đúng chỗ nầy, là vì chẳng thông-hiểu Chánh-pháp, chưa phân-biệt rõ điều chánh với điều tà.

 

HỌC TẬP:

 

Ứng-dụng: (1) biết thẹn khi lầm-lỗi; chẳng hề thẹn vì: màu da, nòi-giống, tật-nguyền, nghề lao-động, cảnh nghèo-khó. (2) biết sợ các đìều ác mà tránh; chẳng hề sợ vì: ma nhát, bạo-quyền, sự giàu-sang của kẻ khác cùng sự kỳ-thị.

The Story of the Nigantha Ascetics

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (316) and (317) of this book, with reference to Nigantha ascetics, who covered only the front part of their bodies.

One day, some Niganthas went on an alms-round with their bowls covered with a piece of cloth. Some bhikkhus seeing them commented, "These Nigantha ascetics who cover the front part of the body are more respectable compared to those Acelaka ascetics who go about without wearing anything." Hearing this comment, those ascetics retorted, "Yes, indeed, we do cover up our front part (by covering our bowls); but we cover it up not out of shame in going naked. We only cover up our bowls to keep away dust from our food, for even dust contains life in it."

When the bhikkhus reported what the Nigantha ascetics said, the Buddha replied, "Bhikkhus, those ascetics who go about covering only the front part of their bodies are not ashamed of what they should be ashamed of, but they are ashamed of what they should not be ashamed of; because of their wrong view they would only go to bad destinations."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 316: Those beings who are ashamed of what should not be ashamed of, who are not ashamed of what should be ashamed of, and who hold wrong views go to a lower plane of existence (duggati).

 

Verse 317: Those beings who see danger in what is not dangerous, who do not see danger in what is dangerous, and who hold wrong views go to a lower plane of existence (duggati).


At the end of the discourse many Nigantha ascetics became frightened and joined the Buddhist Order.

Dhammapada Verses 316 and 317
Nigantha Vatthu

Alajjitaye lajjanti
lajjitaye na lajjare
micchaditthisamadana
satta gacchanti duggatim.

Abhaye thayadassino
bhaye cabhayadassino
micchaditthisamadana
satta gacchanti duggatim.

Verse 316: Those beings who are ashamed of what should not be ashamed of, who are not ashamed of what should be ashamed of, and who hold wrong views go to a lower plane of existence (duggati).

Verse 317: Those beings who see danger in what is not dangerous, who do not see danger in what is dangerous, and who hold wrong views go to a lower plane of existence (duggati).


dhp318_B
dhp319_B
Verse-Kệ 318-319

(231).- Tích chuyện nhóm người dị-giáo. - Kệ số 318 và 319.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Cây Sung, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến nhóm người theo Dị-giáo.

 

Thuở ấy, những người theo Dị-giáo thường dạy con cháu họ, chớ nên chơi đùa với những đứa trẻ theo Phật-giáo, chẳng được vào chùa Kỳ-viên, chẳng nên chào-kính các vị tỳ-kheo. Một hôm, lũ trẻ nô-đùa ngoài sân chùa, có một số khát nước, muốn nhờ các trẻ theo đạo Phật, vào chùa lấy nước đem ra cho chúng giải-khát. Một đứa đi vào chùa, gặp Đức Phật, Ngài bảo nó cứ trở ra mời bọn trẻ vào chùa mà uống nước. Cả bọn đồng vào trong. Sau khi chúng đã uống xong, Đức Phật hỏi han từng đứa và nhơn đó tùy theo sự hiểu-biết mỗi đứa mà giảng pháp cho chúng nghe. Bọn trẻ nghe hiểu, tỏ lòng quy-ngưỡng ba ngôi báu: Phật, Pháp và Tăng.

 

Về nhà, mấy đứa trẻ rất thích-thú, kể lại cho cha mẹ chúng nghe. Cha mẹ chúng phần đông ít học, hoảng-sợ lên: "Thôi rồi, trẻ con nhà mình bị Phật quyến-rũ, từ nay mình sẽ mang tiếng là phản-đạo mất rồi." Họ khóc lên, kể lể; người hàng xóm nghe được, khuyên họ dẫn con lên chùa gặp Đức Phật. Họ nghe lời, đến chùa Kỳ-viên, lại được Đức Phật giảng cho nghe giáo-lý rồi Ngài nói lên hai bài Kệ sau đây, khiến cho cả cha con người theo Dị-giáo đều xin quy-y Tam-Bảo:

 

Chẳng sái-quấy lại bảo là sai,

Việc lỗi-lầm, lại bảo đúng ngay.

Tà-kiến đó, chúng-sanh nào ôm giữ

Sẽ sa vào cõi dữ, khi tái-sanh.

(Kệ số 318.)

 

Sai, bảo là sai.

Phải, bảo là phải.

Ai biết giữ chánh-kiến nầy

Vào cõi lành, khi sanh lại.

(Kệ số 319.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Dị-giáo: Dị = khác; Giáo = tôn-giáo. Dị-giáo là tôn-giáo khác với Đạo Phật; tạm dịch từ tiếng Pali là Titthi.

 

- Chùa Cây Sung: tạm dịch từ tiếng Pali là Nigrodàràma, (Nigrodha là loại cây lớn như cây da, có trái giống trái sung.)

 

- Quy-ngưỡng: Quy = quay về; Ngưỡng = ngưỡng-mộ, kính-trọng.

 

- Tam-Bảo = Ba ngôi báu: Tam = ba; Bảo = quí-báu. Tam-Bảo là ba ngôi quí-báu: (1)Đức Phật, bực đại-giác, (2)Chánh-pháp, lời Phật dạy đường-lối giác-ngộ và giải-thoát;(3) Tăng-già, các đệ-tử tu-hành theo đúng đường-lối của Phật.

 

- Quy-y: Quy = quay về; Y = nương-tựa. Quy-y là tìm về nương-tựa tinh-thần vào ngôi Tam-bảo.

 

- Cõi dữ: có ba cõi dữ trong Luân-hồi: (1) điạ-ngục, ngạ-quỉ ( =quỉ đói), súc-sanh ( =thú-vật). Cõi dữ, đường dữ, tiếng Pali: Duggati

 

- Cõi lành: ba cõi lành: (1) cõi Người; (2) cõi A-tu-la, thần-linh (Asura); (3) cõi Trời. Cõi lành, đường lành, tiếng Pali là Suggati.

 

- Chánh-kiến: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Kiến = kiến-thức. Có chánh-kiến là có kiến-thức ( = nghe thấy, hiểu-biết) thật đúng-đắn. Chánh-kiến đứng đầu trong Bát-chánh-đạo, con đường Thánh đưa ta đến cảnh-giới Niết-bàn. (Pali: Sammaditthi = Chánh-kiến.)

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại cơ-duyên rất may-mắn của nhóm người ngoại-đạo theo Dị-giáo, được Đức Phật dạy cho Chánh-pháp, biết rõ con đường giác-ngộ và giải-thoát. Họ bỏ được tà-kiến mê-tín, noi theo Chánh-kiến mà quy-y Tam-Bảo.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: rời bỏ tà-kiến của Dị-giáo để theo Chánh-kiến của đạo Phật giải-thoát, đó chẳng phải là "phản-đạo", mà là sự sáng-suốt và can-đảm biết thoát khỏi sự ràng-buộc của mê-tín.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 318 và 319:

 

Hai bài Kệ nêu rõ sự khác nhau giữa tà-kiến và chánh-kiến: sai, bảo là sai; đúng, bảo là đúng. Tà-kiến đưa ta vào cõi dữ, chánh-kiến dắt ta theo đường lành. (Tưởng ta nên học thuộc lòng hai bài Kệ nầy).

The Story of the Disciples of Non-Buddhist Ascetics

While residing at the Nigrodarama monastery, the Buddha uttered Verses (318) and (319) of this book, with reference to some disciples of the Titthis (non-Buddhist ascetics).

The disciples of the Titthis did not want their children to mix with the children of the followers of the Buddha. They often told their children, "Do not go to the Jetavana monastery, do not pay obeisance to the bhikkhus of the Sakyan clan." On one occasion, while the Titthi boys were playing with a Buddhist boy near the entrance to the Jetavana monastery, they felt very thirsty. As the children of the disciples of the Titthis had been told by their parents not to enter a Buddhist monastery, they asked the Buddhist boy to go to the monastery and bring some water for them. The young Buddhist boy went to pay obeisance to the Buddha after he had had a drink of water, and told the Buddha about his friends who were forbidden by their parents to enter a Buddhist monastery. The Buddha then told the boy to tell the non-Buddhist boys to come and have water at the monastery. When those boys came, the Buddha gave them a discourse to suit their various dispositions. As a result, those boys became established in faith in the Three Gems i.e., the Buddha, the Dhamma and the Samgha.

When the boys went home, they talked about their visit to the Jetavana monastery and about the Buddha teaching them the Three Gems. The parents of the boys, being ignorant, cried, "Our sons have been disloyal to our faith, they have been ruined," etc. Some intelligent neighbours advised the wailing parents to stop weeping and to send their sons to the Buddha. Somehow, they agreed and the boys as well as their parents went to the Buddha.

The Buddha knowing why they had come spoke to them in verse as follows:

Verse 318: Beings who imagine wrong in what is not wrong, who do not see wrong in what is wrong, and who hold wrong views go to a lower plane of existence (duggati).
 
Verse 319: Beings who know what is wrong as wrong. who know what is right as right, and who hold right views go to a happy plane of existence (suggati).


At the end of the discourse all those people came to be established in faith in the Three Gems, and after listening to the Buddha's further discourses, they subsequently attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 318 and 319
Titthiyasvaka Vatthu

Avajje vajjamatino
vajje cavajjadassi no
micchaditthisamada
satta gacchanti duggatim.

Vajjanca vajjato natva
avajjanca avajjato
sammaditthisamadana
satta gacchanti suggatim.

Verse 318: Beings who imagine wrong in what is not wrong, who do not see wrong in what is wrong, and who hold wrong views go to a lower plane of existence (duggati).

Verse 319: Beings who know what is wrong as wrong. who know what is right as right, and who hold right views go to a happy plane of existence (suggati).

End of Chapter Twenty-Two: Niraya

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 78)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 155)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 688)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 463)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 457)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 354)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 393)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 447)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1208)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 669)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 489)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1415)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 900)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4189)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8409)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1424)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 593105)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1770)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 778)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 1007)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
03 Tháng Giêng 20199:26 SA(Xem: 125)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1148)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1964)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 657)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 748)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2725)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
16 Tháng Giêng 20195:32 CH(Xem: 124)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama, là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
12 Tháng Giêng 20194:48 CH(Xem: 105)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 105)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 657)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 748)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 379)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript