Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 23, Phẩm Voi - The Dhammapada, Chapter 23, The Elephant

21 Tháng Mười Hai 20187:13 SA(Xem: 90)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 23, Phẩm Voi - The Dhammapada, Chapter 23, The Elephant

Chapter23-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 23, Phẩm Voi
The Dhammapada, Chapter 23, Nagavagga: The Elephant

(Kệ 320-333 - Verses 320-333)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp320_B
dhp321_B
dhp322_B
Verse-Kệ 320-322

(232).- Tích chuyện bà Mã-can-di-hoa. - Kệ số 320, 321 và 322.

 

Tích chuyện nầy hơi giống với Tích chuyện số (15): Hoàng-hậu Sa-mã-hoa.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tu-viện Cô-si-ta, nước Cô-sâm-bi, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bà Mã-can-di-hoa.

 

Thuở ấy ở nước Cô-sâm-bi có một thiếu-nữ tên là Mã-can-di-hoa nhan-sắc rất lộng-lẫy, được nhiều vương-tôn, công-tử gấm-ghé. Cha cô còn chưa ưng gả cho ai, đến khi ông trông thấy dáng-mạo trang nghiêm của Đức Phật, trên đường khất-thực, ông liền ngỏ lời cầu-thân cùng Đức Phật. Đức Phật từ chối và bảo: "Đối với tấm thân bên trong đầy chất dơ-bẩn, nước tiểu và phẩn, ta chẳng muốn để chơn ta đụng phải." Trước lời nói thẳng-thắn của Đức Phật, cha mẹ cô Mã-can-di-hoa sực tỉnh-ngộ, hiểu được lẽ vô-thường của sắc-thân, chứng được quả-vị A-na-hàm; nhưng cô Mã bị chạm tự-ái, rất căm-hận Đức Phật, nguyện sẽ trả thù.

 

Về sau, cô Mã được chọn vào hoàng-cung, vua Ưu-đề-na phong làm vương-phi. Khi hay tin Đức Phật và chư Tăng đến xứ Cô-sâm-bi, cô Mã liền cho thuê nhiều tay du-đãng cứ đi theo sau lưng Đức Phật, dùng lời thô-tục mà nhục-mạ Ngài. Tôn-giả A-nan chịu chẳng nổi các lời bỉ-ổi, hỗn-láo với Đức Phật như thế, mới xin Phật hãy rời thành Cô-sâm-bi đi sang xứ khác. Đức Phật từ-tốn nói: ‘Nầy A-nan, đi sang nơi khác, rồi cũng bị nhục-mạ nữa, thì phải làm sao? Chi bằng, cứ giải-quyết vấn-đề khó-khăn ngay tại đây. Cũng như con voi xông-pha tên đạn tứ phía ngoài mặt trận, ta vẫn thản-nhiên kiên-nhẫn hứng chịu các lời nói nhục-mạ kia, từ cửa miệng của bọn người còn thiếu đạo-đức!"

 

Rồi Đức Phật nói lên hai bài Kệ sau đây, khiến cho bọn du-đãng biết hối lỗi mà tự giải-tán:

 

Như voi chiến xông ngoài trận-mạc,

Hứng lằn tên, mũi đạn tơi-bời,

Như-Lai chịu phỉ-báng mọi lời

Của những người vẫn còn đức bạc.

(Kệ số 320.)

 

Voi, ngựa thuần mới đem dự hội.

Con nào nhuần-nhã được Vua cởi.

Quí nhứt, người đã luyện tinh-thông

Nhẫn-nhịn chịu mọi lời chửi-bới.

(Kệ số 321.)

 

Ngựa rặc giống, la con thuần nết,

Đại-tượng ngà dài, đều quí hết.

Nhưng tối-thượng lại chính là người

Trang-nghiêm giới-đức, tự điều-tiết.

(Kệ số 322.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Mã-can-di-hoa: tên người đẹp nầy, tiếng Pali là Màgandiyà.

 

- Tu-viện Cô-si-ta, nước Cô-sâm-bi: tên ngôi chùa nầy, tiếng Pali là Ghositàràma, ở nước Kosambi, thuộc miền Bắc Ấn-độ xưa.

 

- Vương-tôn = cháu vua; Công-tử = con quan.

 

- Gấm-ghé: muốn xin cưới làm vợ.

 

-Cầu-thân: nghĩa rộng ở đây là muốn gả con để làm thân với nhau

 

- Tỉnh-ngộ: Tỉnh = hết mê; Ngộ = hiểu được Sự-thật. Người tỉnh-ngộ là người nhận ra trước mình lầm, nay biết được Sư-thật.

 

- Sắc-thân = tấm thân vật-chất.

 

- Vô-thường: chẳng bền-chặt, hay biến-đổi để đi đến hoại-diệt

 

- A-na-hàm: quả-vị thứ ba, còn được dịch là Bất-lai, chẳng phải bị tái-sanh vào cõi người nữa, sanh lên trời, tu tiếp để chứng A-la-hán. A-na-hàm, tiếng Pali là Anàgàmi.

 

- Vua Ưu-đề-na: tên vua xứ Cô-sâm-bi, tiếng Pali là Udena.

 

- Vương-phi = vợ vua.

 

- Du-đãng = côn-đồ, bọn du-côn hay phá làng, phá xóm.

 

- Từ-tốn: nói-năng chẫm-rãi, điềm-đạm, chẳng hề tức-giận.

 

- Thản-nhiên: tâm yên-tịnh, lời nói hiền-hoà, lòng chẳng hờn-giận, dửng-dưng.

 

- Kiên-nhẫn = bền-chí.

 

- Nhục-mạ = nói lời xấu-ác nặng-nề để người nghe buồn-lòng.

 

- Giải-tán = bỏ đi chỗ khác.

 

- Trận-mạc = bãi chiến-trường, nơi đánh giết nhau.

 

- Như-Lai: tiếng Đức Phật tự xưng khi nói với kẻ khác; tiếng Pali là Tathàgata.(Như = như thế; Lai = đến; Người đã đến đây như thế vậy.)

 

- Đức bạc = thiếu đức-hạnh, đạo-đức còn mỏng-mảnh.

 

- Thuần = Nhuần-nhã = được luyện tập kỹ-lưỡng rồi, dễ sai-khiến.

 

- Rặc giống = (loài thú) chẳng lai giống, thuần một nòi, rất quí.

 

- La = giống lai giữa ngựa và lừa.

 

- Đại-tượng = con voi lớn.

 

- Ngà = một cặp răng nanh dài của voi, màu trắng đục, rất đẹp.

 

- Tối-thượng: Tối = hết sức, bực nhứt; Thượng = cao, trên. Tối-thượng là cao-quí nhứt, chẳng chi hơn được.

 

- Tự điều-tiết: Tự = chính mình; Điều = điều-phục, điều-khiển; Tiết = tiết-chế, chế-phục. Tự điều-tiết là tự mình biết giữ lấy kỷ-luật nghiêm-khắc, chẳng để sơ-hở mà phạm lỗi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc bà Mã-can-di-hoa căm-hận Đức Phật đã chẳng khen bà đẹp, lại thẳng-thắn nói lên Sự-thật về tấm thân bất-tịnh của bà, bên trong chứa nhiều chất dơ-bản, nên bà mướn du-đãng theo chủi-rủa Đức Phật. Ngài thản-nhiên, kiên-nhẫn chịu đựng các lời nhục-mạ thô-tục của bọn côn-đồ mất dạy.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện dạy ta phải biết nhẫn-nhục khi nghe lời mắng-nhiếc, chẳng hờn-giận, chẳng để dạ thù-oán.

 

(2) Ý-nghĩa của ba bài Kệ số 320, 321 và 322:

 

Cả ba bài Kệ đều dạy ta nên nhẫn-nhục, nghe lời nhục-mạ mà chẳng khởi tâm lên tức-giận, chẳng hề để dạ căm-thù. Thái-độ nhẫn-nhục nầy được Đức Phật so-sánh với sự dõng-mãnh của con voi trận, sẵn-sàng hứng chịu lằn tên, mũi đạn chẳng chút nao-núng.

 

Ý-nghĩa của các bài Kệ khuyên ta nên cố-gắng tập-luyện cho tinh-thông sự nhẫn-nhục; đây là một đức-tánh rất quí-báu cho người tu-hành: tự chiến-thắng được lòng sân-hận bên trong tâm mình, hơn là cố tranh thắng với người đang làm nhục mình. Tự chiến-thắng đó mới là chiến-thắng "tối-thượng", vẻ-vang nhứt.

On Subduing Oneself

While residing at the Ghositarama monastery, the Buddha uttered Verses (320), (321) and (322) of this book, with reference to the patience and endurance manifested by himself when abused by the hirelings of Magandiya, one of the three queens of King Udena.

Once, the father of Magandiya, being very much impressed by the personality and looks of the Buddha, had offered his very beautiful daughter in marriage to Gotama Buddha. But the Buddha refused his offer and said that he did not like to touch such a thing which was full of filth and excreta, even with his feet. On hearing this remark both Magandiya's father and mother discerning the truth of the remark attained Anagami Fruition. Magandiya, however, regarded the Buddha as her arch enemy and was bent on having her revenge on him.

Later, she became one of the three queens of King Udena. When Magandiya heard that the Buddha had come to Kosambi, she hired some citizens and their servants to abuse the Buddha when he entered the city on an alms-round. Those hirelings followed the Buddha and abused him using such abusive words as 'thief, fool, camel, donkey, one bound for niraya'. Hearing those abusive words, the Venerable Ananda pleaded with the Buddha to leave the town and go to another place. But the Buddha refused and said, "In another town also we might be abused and it is not feasible to move out every time one is abused. It is better to solve a problem in the place where it arises. I am like an elephant in a battlefield; like an elephant who withstands the arrows that come from all quarters, I also will bear patiently the abuses that come from people without morality."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 320: As an elephant in battlefield withstands the arrow shot from a bow, so shall I endure abuse. Indeed, many people are without morality.

 

Verse 321: Only the trained (horses and elephants) are led to gatherings of people; the King mounts only the trained (horses and elephants). Noblest among men are the tamed, who endure abuse.

 

Verse 322: Mules, thoroughbred horses, horses from Sindh, and great elephants are noble only when they are trained; but one who has tamed himself (through Magga Insight) is far nobler.


At the end of the discourse, those who had abused the Buddha realized their mistake and came to respect him; some of them attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 320, 321 and 322
Attadanta Vatthu

Aham nagova sangame
capato patitam saram
ativakyam titikkhissam
dussilo hi bahujjano.

Dantam nayanti samitim
dantam raja' bhiruhati
danto settho manussesu
yo' tivakyam titikkhati.

Varamassatara danta
ajaniya ca sindhava
kunjara ca mahanaga
attadanto tato varam.

Verse 320: As an elephant in battlefield withstands the arrow shot from a bow, so shall I endure abuse. Indeed, many people are without morality.

Verse 321: Only the trained (horses and elephants) are led to gatherings of people; the King mounts only the trained (horses and elephants). Noblest among men are the tamed, who endure abuse.

Verse 322: Mules, thoroughbred horses, horses from Sindh, and great elephants are noble only when they are trained; but one who has tamed himself (through Magga Insight) is far nobler.


dhp323_B
Verse-Kệ 323

(233).- Tích chuyện người quản-tượng. - Kệ số 323.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị tỳ-kheo trước kia làm nghề quản-tượng.

 

Thuở ấy, có hai vị tỳ-kheo đang đi dọc bờ sông A-xi-ra, trông thấy một người quản-tượng dẫn voi xuống sông tắm. Con voi lún bùn, rút chơn lên chẳng được, người quản-tượng lúng-túng chẳng biết làm thế nào để kéo voi ra giữa dòng. Một vị tỳ-kheo, nguyên trước làm nghề quản-tượng, cười bảo vị đồng-tu, mách cách thúc voi sao cho nó biết rút chơn khỏi bùn. Người quản-tượng nghe thấy, liền làm theo lời chỉ-dạy, con voi mới ngoan-ngoãn ngâm mình xuống nước.

 

Khi về đến tịnh-xá, vị tỳ-kheo thuật lại tài khéo điều-phục voi của bạn mình lên Đức Phật nghe. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, chẳng phải khoe tài khéo huấn-luyện voi mà kẻ tu-hành sớm đến được cảnh-giới Niết-bàn. Chỉ những ai khéo tự huấn-luyện mình mới sớm chứng được cảnh vô-sanh, an-lạc ấy."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chẳng phải cởi voi, ngựa ấy lên đàng,

Mà ta đến được Niết-bàn vô-sanh.

Chỉ có người tự-ngã khắc-phục

Đến được mục-tiêu, nhờ thuần-thục.

(Kệ số 323.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Quản-tượng: Quản = cai-quản, điều-khiển; Tượng = voi lớn. Người quản-tượng là kẻ chăn voi, huấn-luyện voi.

 

- Sông A-xi-ra: tên con sông nầy, tiếng Pali là Aciravatì.

 

- Mách: chỉ bảo cho.

 

- Điều-phục: Điều = điều-khiển; Phục = thâu-phục. Điều-phục voi là huấn-luyện voi, bắt nó theo lịnh của mình.

 

- Cảnh-giới Niết-bàn: Cảnh-giới = nơi, vùng, trong giới-hạn; Niết-Bàn: tiếng Phạn là Nirvana, tiếng Pali là Nibbana; đây là tâm-trạng (chớ chẳng phải một cõi nào trong không-gian) của bực tu-hành đã diệt xong các phiền-não, chướng-ngại, lìa mọi ham-muốn, chứng được vô-sanh ( =chẳng còn tái-sanh trong Luân-hồi), nay sống an-vui.

 

- Mục-tiêu: Mục = con mắt; Tiêu = cái mốc. Có nghĩa là mục-đích.

 

- Tự-ngã khắc-phục: Khắc-phục = thắng được và bắt theo lịnh của mình; Tự-ngã = cái "Ngã", cái "Ta" của mình. Người đã khắc-phục tự-ngã của mình là người đã quên mình, xem thân-tâm nầy tạm-bợ, dẹp hết các phiền-não và tuân theo giới-luật đầy-đủ.

 

- Thuần-thục = nhuần-nhã, rành-rẽ lắm rồi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một vị tỳ-kheo, trước làm nghề quản-tượng, nhơn đi dọc bờ sông, thấy một người chăn voi lúng-túng chẳng biết làm sao thúc-đẩy voi ra khỏi vũng bùn, để ra sông tắm. Vị ấy cười nói với bạn đồng-tu cách-thức phải điều-phục voi làm sao cho nó ngoan-ngoãn theo lịnh mình. Người chăn voi nghe được, làm theo, dắt voi khỏi chỗ sa lầy. Khi Đức Phật nghe được sự-việc đó, Ngài quở vị tỳ-kheo cựu-quản-tượng và dạy rằng: "Chẳng phải nhờ điều-phục voi mà ta đến Niết-Bàn được, chỉ những ai biết điều-phục tự-ngã của chính mình mới chứng được Niết-bàn an-vui và tự-tại."

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: chớ xao-lãng việc khắc-phục tự-ngã của mình, có tuân-hành giới-luật, nỗ-lực tu-tập mới chứng được Niết-Bàn.

 

(2).- Ý-nghĩa của bài Kệ số 323:

 

1) "Chẳng phải cởi voi, ngựa ấy lên đàng, Mà ta đến được Niết-Bàn vô-sanh": vì Niết-bàn chẳng phải là nơi chốn, mà là một tâm-trạng của mình đã dứt hết phiền-não, cho nên chẳng có voi, có ngựa, hay phương-tiện chuyên-chở nào, đưa ta đến cảnh-giới ấy được.

 

2) "Chỉ có người tự-ngã khắc-phục": người khắc-phục được tự-ngã là người làm chủ được thân-tâm mình, chẳng xem cái"Ta", và những sự-vật "của Ta" là quí nữa.

 

3) "Đến được mục-tiêu, nhờ thuần-thục": mục-tiêu nào? Đó là cảnh-giới an-vui tự-tại của Niết-bàn, khi tâm thanh-tịnh đã dứt xong các phiền-não, vượt mọi chướng-ngại và lià mọi ham-muốn.

The Story of the Bhikkhu Who Had Been a Trainer of Elephants

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (323) of this book, with reference to a bhikkhu who had previously been an elephant trainer.

On one occasion, some bhikkhus saw an elephant trainer and his elephant on the bank of the river Aciravati. As the trainer was finding it difficult to control the elephant, one of the bhikkhus, who was an ex-elephant trainer, told the other bhikkhus how it could be easily handled. The elephant trainer hearing him did as told by the bhikkhu, and the elephant was quickly subdued. Back at the monastery, the bhikkhus related the incident to the Buddha. The Buddha called the ex-elephant trainer bhikkhu to him and said, "O vain bhikkhu, who is yet far away from Magga and Phala ! You do not gain anything by taming elephants. There is no one who can get to a place where one has never been before (i.e.. Nibbana) by taming elephants; only one who has tamed himself can get there."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 323: Indeed, not by any means of transport (such as elephants and horses) can one go to the place one has never been before (i.e., Nibbana); but by thoroughly taming oneself, the tamed one can get to that place (i.e., Nibbana).


Dhammapada Verse 323
Hatthacariyapubbaka Bhikkhu Vatthu

Na hi etehi yanehi
gaccheyya agatam disam
yatha' ttana sudantena
danto dantena gacchati.

Verse 323: Indeed, not by any means of transport (such as elephants and horses) can one go to the place one has never been before (i.e., Nibbana); but by thoroughly taming oneself, the tamed onecan get to that place (i.e., Nibbana).


1. The tamed one: One, who having first controlled the senses, has later developed Magga Insight. (The Commentary)


dhp324_B
Verse-Kệ 324

(234).- Tích chuyện người cha già bị các con ruồng-bỏ. - Kệ số 324.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một cụ-già bị bốn người con trai ruồng-bỏ.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ có một vị Bà-la-môn nhà giàu-có, sanh được bốn người con trai; gia-tài lên đến tám mươi vạn đồng. Khi mỗi người con trai lập gia-đình riêng, cụ tặng cho mười vạn đồng. Đến khi bà vợ chết, cụ còn được bốn mươi vạn. Các con mới thưa, cha nay già-cả quá rồi, cứ đem số tiền chia cho chúng con, chúng con sẽ thay phiên nhau phụng-dưỡng cha. Cụ nghe lời, đem của cải ra phân-chia hết cho các con. Rồi cụ về ở chung với người con cả. Chưa đầy một tháng, người con dâu lớn đã bảo: "Cha có cho con trai trưởng của cha thêm vài ngàn đồng nào đâu, mà sao cha cứ ở lì tại đây mãi vậy? Bộ cha chẳng biết đường đi đến ở nhà mấy chú khác hay sao?" Nghe lời nói đó, tội-nghiệp! cụ già tủi thân đi sang nhà người con thứ. Cũng vậy, chưa được ba tuần-lễ, người con dâu thứ lại cũng nói với cụ những lời tương-tợ như lời của chị dâu lớn. Cụ lại dọn sang nhà đứa con thứ ba, rồi đến đứa con út, mà cũng chẳng được đối-xử khá hơn chút nào. Buồn lòng, cụ mang một cái bát, chống một cây gậy, đi xin ăn, lần bước đến chùa, vào thưa với Đức Phật.

 

Sau khi nghe cụ kể-lể nỗi lòng, bị các con lấy hết tiền, rồi hất-hủi, Đức Phật nói: "Nầy Bà-la-môn, nay ta dạy cho ông một bài thơ, cứ vừa đi xin, vừa đọc lên, nhứt là vào chỗ đông người:

 

Tôi nay có bốn người con,

Miệng thưa "Cha!" ngọt, mà lòng chẳng thương.

Nghe lời vợ, đuổi ra đường.

Tay cầm chiếc bát, thân nương gậy nầy.

Ai thương cảnh khổ già đây,

Nhớ cho bát, gậy hơn bầy con hư!"

 

Cụ chống gậy, ôm bát, nghêu ngao hát cả ngày. Dân-chúng nghe thấy, động lòng thương cụ và trách bốn người con trai quá bất-hiếu, hất-hủi cha già. Các người con hổ-thẹn, rước cha về nhà, mỗi ngày mỗi ngưòi dâng một mâm cơm đầy-đủ thức ăn ngon. Cụ chẳng dùng hết mỗi ngày đến bốn mâm, mới bảo con mang hai mâm đem vào chùa cúng-dường Đức Phật và chư Tăng. Nhơn đó, Đức Phật giảng Chánh-pháp cho họ nghe, Ngài lại nói đến lòng hiếu-thảo của con voi rừng tên là Tài-Hộ, bị bắt, bỏ cả ăn-uống, lòng thường nghĩ đến voi cha, voi mẹ trong rừng xanh.

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Voi tên Tài-Hộ rất hung-hăng,

Khi phát-dục tiết mùi hôi-thối,

Bị bắt nhốt, chẳng chịu uống ăn,

Tưởng nhớ rừng voi, hằng mong-mỏi.

(Kệ số 324.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ruồng-bỏ = đuổi đi, chẳng săn-sóc, chẳng giúp đỡ chi cả.

 

- Bà-la-môn: tiếng Pali là Brahmana, giai-cấp tu-sĩ ở Ấn-độ xưa.

 

- Phụng-dưỡng = chăm nuôi người bề trên.

 

- Con trai trưởng = người con trai lớn nhứt trong nhà.

 

- Con thứ = người con kế, sau người con trưởng.

 

- Hất-hủi = tỏ ra lạnh-nhạt, chẳng đối-xử tốt nữa.

 

- Bất-hiếu: Bất = chẳng; Hiếu = lòng thương cha-mẹ, biết lo săn-sóc, phụng-dưỡng cha mẹ.

 

- Cúng-dường = đọc trại hai chữ Hán-Việt cung-dưỡng; cung = cung-cấp;dưỡng =nuôi-dưỡng. Tiếng nhà chùa chỉ sự dưng-cúng lễ vật

 

- Tài-Hộ: tên con voi nầy, dịch nghĩa chữ Pali là Dhanapàla. (Dhana = tài sản; pàla = bảo-hộ, giữ-gìn)

 

- Phát-dục: Phát = khởi lên; Dục = dục-tình, ý-muốn giao-hợp với kẻ khác phái. Đây nói về con voi đang khởi dục-tình, muốn giao-hợp, phát ra mùi hôi-thối.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một cụ-già, vì chia hết tài-sản cho các con đến sống ở nhà các con. Vì nghe lời vợ cứ nói ra nói vào, các con cụ hất-hủi cha, nên cụ buồn lòng cầm bát, chống gậy đi xin ăn. Cụ gặp Đức Phật, được dạy cho một bài thơ về con bất-hiếu, để đến chỗ đông người hát lên. Bị dân-chúng chê-bai, các người con hổ-thẹn mới rước cha về nuôi-dưỡng. Khi gặp các người con, Đức Phật kể lại chuyện con voi Tài-Hộ, mặc dầu hung-hăng, nhưng khi bị bắt, nó bỏ cả ăn-uống, lòng chỉ nhớ nghĩ đến voi cha, voi mẹ trong rừng.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là làm con phải hiếu-thảo với cha mẹ, kẻo lại thua con voi Tài-Hộ, dầu là thú-vật, còn biết thương cha mẹ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 324:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ là nêu lên lòng hiếu-thảo của một con voi, để làm gương cho những kẻ hất-hủi mẹ cha lúc tuổi già.

The Story of an Old Brahmin

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (324) of this book, with reference to an old brahmin.

Once, there lived in Savatthi an old brahmin who had eight lakhs in cash. He had four sons; when each one of the sons got married, he gave one lakh to him. Thus, he gave away four lakhs. Later, his wife died. His sons came to him and looked after him very well; in fact, they were very loving and affectionate to him. In course of time, somehow they coaxed him to give them the remaining four lakhs. Thus, he was left practically penniless.

First, he went to stay with his eldest son. After a few days, the daughter-in-law said to him, "Did you give any extra hundred or thousand to your eldest son? Don't you know the way to the houses of your other sons?" Hearing this, the old brahmin got very angry and he left the eldest son's house for the house of his second son. The same remarks were made by the wife of his second son and the old man went to the house of his third son and finally to the house of his fourth and youngest son. The same thing happened in the houses of all his sons. Thus, the old man became helpless; then, taking a staff and a bowl he went to the Buddha for protection and advice.

At the monastery, the brahmin told the Buddha how his sons had treated him and asked for his help. Then the Buddha gave him some verses to memorize and instructed him to recite them wherever there was a large gathering of people. The gist of the verses is this: "My four foolish sons are like ogres. They call me 'father, father', but the words come only out of their mouths and not from their hearts. They are deceitful and scheming. Taking the advice of their wives they have driven me out of their houses. So, now I have got to be begging. Those sons of mine are of less service to me than this staff of mine." When the old brahmin recited these verses, many people in the crowd, hearing him, went wild with rage at his sons and some even threatened to kill them.

At this, the sons became frightened and knelt down at the feet of their father and asked for pardon. They also promised that starting from that day they would look after their father properly and would respect, love and honour him. Then, they took their father to their houses; they also warned their wives to look after their father well or else they would be beaten to death. Each of the sons gave a length of cloth and sent every day a food-tray. The brahmin became healthier than before and soon put on some weight. He realized that he had been showered with these benefits on account of the Buddha. So, he went to the Buddha and humbly requested him to accept two food-trays out of the four he was receiving every day from his sons. Then he instructed his sons to send two food-trays to the Buddha.

One day, the eldest son invited the Buddha to his house for alms-food. After the meal, the Buddha gave a discourse on the benefits to be gained by looking after one's parents. Then he related to them the story of the elephant called Dhanapala, who looked after his parents. Dhanapala when captured pined for the parents who were left in the forest.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 324: The elephant called Dhanapala, in severe must and uncontrollable, being in captivity, eats not a morsel, yearning for his native forest (i. e., longing to look after his parents).


At the end of the discourse, the old brahmin as well as his four sons and their wives attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 324
Parijinna Brahmanaputta Vatthu

Dhanapalo nama kunjaro
katukabhedano dunnivarayo
baddho kabalam na bhunjati
sumarati nagavanassa kunjaro.

Verse 324: The elephant called Dhanapala, in severe must and uncontrollable, being in captivity, eats not a morsel, yearning for his native forest (i.e., longing to look after his parents).


dhp325_B
Verse-Kệ 325

(235).- Tích chuyện vua Ba-tư-nặc ăn quá no. - Kệ số 325.

 

Tích chuyện nầy giống với Tích chuyện số (162).

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc vua Ba-tư-nặc ăn quá no.

 

Thuở ấy, vua Ba-tư-nặc, xứ Câu-tát-la, sau một bữa ăn rất thịnh-soạn, đến chùa Kỳ-viên đảnh-lễ Đức Phật. Nhà vua ăn mỗi bữa cả mấy tô cơm, nhai cả đùi dê nấu cà-ri. Khi ngồi nghe Phật giảng, nhà Vua buồn ngủ, đầu cứ gật lên gật xuống, hai mắt muốn sụp lại. Sau thời pháp, Vua thưa: "Bạch Thế-tôn, hôm nay vì ăn no quá, buồn ngủ, con cảm thấy nhọc-mệt, chẳng chú tâm nghe pháp được." Đức Phật bảo: "Nầy Đại-vương, những người tham ăn quá cũng đều cảm thấy nặng bụng và buồn ngủ như thế cả."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó vua Ba-tư-nặc biết bớt ăn, bụng thon lại, hăng-hái hoạt-động và vui-vẻ hơn xưa:

 

Người khờ lười-biếng, tham ăn

Vật-vờ, vất-vưởng, nằm lăn cả ngày.

Giống như con lợn mập thây,

Luân-hồi phải chịu, biết ngày nào ra.

(Kệ số 325.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Vua Ba-tư-nặc xứ Câu-tát-la: tên vị vua cai-trị xứ nầy, tiếng Pali là vua Pasenadi, nước Kosala, ờ miền Bắc Ấn-độ xưa.

 

- Thịnh-soạn = nói về bữa ăn có nhiều thức ăn ngon.

 

- Đảnh-lễ: cúi đầu làm lễ ra mắt bực trưởng-thượng.

 

- Thế-tôn: Thế = thế-gian; Tôn = tôn-trọng. Đức Phật được gọi là Thế-tôn, bực được cả thế-gian tôn-trọng.

 

- Vật-vờ, vất-vưởng = lừ-đừ, chẳng muốn làm gì cả, lười-biếng.

 

- Luân-hồi: Luân = bánh xe; Hồi = quay trở lại. Theo giáo-lý nhà Phật, chúng-sanh khi chết đi, lại sanh trở lại, để rồi lại chết nữa; cuộc sống lẩn-quẩn chịu khổ nhiều, sướng ít đó gọi là Luân-hồi, như bánh xe cứ quay một vòng rồi lăn trở lại mãi. Vì thế, người tu-hành phải lo diệt hết các phiền-não, dẹp mọi tham-muốn, để chứng được vô-sanh, dứt khoát ra khỏi cảnh tái-sanh lẩn-quẩn của Luân-hồi, đó là giải-thoát mọi khổ đau, được tự-tại mãi trong cảnh an-vui của Niết-Bàn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, thuật lại vì ăn quá no, nên vua Ba-tư-nặc mệt-mỏi và buồn ngủ, chẳng nghe được bài pháp của Đức Phật.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là lời dạy của Đức Phật, nên ăn-uống vừa phải, chớ tham ăn và chớ lười-biếng.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 325:

 

Bài Kệ so-sánh kẻ tham ăn, lười-biếng như con heo ăn mập thây. Kẻ chỉ biết ăn cho sướng miệng, mập thây, sẽ mắc vòng Luân-hồi, vì chẳng chọn con đường tu-hành giải-thoát: đó là ý-nghĩa của bài Kệ.

 

HỌC TẬP:

 

1) Ăn-uống là để bồi-bổ cơ-thể; ăn quá mức, số dư tích-trữ lại sẽ gây ra phì-béo, chậm-chạp và lười biếng. Tập cho trẻ con ăn-uống đúng giờ, bỏ thói ăn quà vặt.

 

2) Ngoài thức ăn vật-chất ra, con người còn cần thức-ăn về tinh-thần: mỗi tuần siêng đi chùa, lạy Phật, nghe giảng kinh, đó là nuôi-dưỡng, bồi-bổ tinh-thần. Nên dắt con cháu nhỏ theo khi đi chùa.

The Story of King Pasenadi of Kosala

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (325) of this book, with reference to King Pasenadi of Kosala.

One day, King Pasenadi of Kosala went to the monastery to pay homage to the Buddha soon after having a heavy meal. The king was in the habit of taking one quarter basketful (half a bushel of) cooked rice and meat curry. While he was in the presence of the Buddha, the king felt so drowsy that he kept on nodding and could hardly keep himself awake. Then he said to the Buddha, "Venerable Sir! I have been in great discomfort since I have taken my meal." To him the Buddha replied, "Yes, O king! Gluttons do suffer in this manner."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 325: The stupid one who is lazy, gluttonous, and drowsy, who just wallows like a well-fed pig, is subject to repeated rebirths.


After hearing the discourse the king, having understood the message, gradually lessened the amount of food he took. As a result, he became much more active and alert and therefore also happy.

Dhammapada Verse 325
Pasenadikosala Vatthu

Middhi yada hoti mahagghaso ca
niddayita samparivattasayi
mahavarahova nivapaputtho
punappunam gabbhamupeti mando.

Verse 325: The stupid one who is lazy, gluttonous, and drowsy, who just wallows like a well-fed pig, is subject to repeated rebirths.


dhp326_B
Verse-Kệ 326

(236).- Tích chuyện Sa-di Sà-nhu. - Kệ số 326.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị Sa-di tên là Sà-nhu.

 

Thuở ấy, Sa-di Sà-nhu tuy còn nhỏ tuổi nhưng cũng thông-thuộc nhiều kinh-kệ. Một hôm, các vị tỳ-kheo trộng tuổi bảo Sa-di Sà-nhu bước lên đài cao, ngồi tụng-đọc kinh-kệ cho đại-chúng nghe. Sa-di Sà-nhu vâng lời, sau khi tụng xong, chấp tay nói: "Nguyện đem công-đức nầy hướng về tất cả các cha mẹ đời nầy, đời trước của đệ-tử được hưởng nhiều phước-lạc." Vào lúc đó, có một vị nữ-phi-thiên, vốn là mẹ của Sa-nhu trong tiền-kiếp, nghe được lời hồi-hướng, mới thốt lên rằng: ‘Lành thay! Lành thay! Nay được chia-xẻ phước-báu với con ta là Sà-nhu." Nhờ công-đức hồi-hướng đó mà vị ấy được các hàng phi-thiên kính-trọng.

 

Mấy năm sau, Sà-nhu thọ giới tỳ-kheo một thời-gian, lại bỗng nẩy ra ý-định hoàn-tục. Sà-nhu trở về nhà cũ, xin mẹ trao lại cho mình y-phục của thường-nhơn. Người sanh-mẫu buồn lòng, thấy con có ý thoái-chuyển, mới khóc mà nói rằng: "Nay con đã xuất-gia, gia-nhập Tăng-đoàn, cầu đường giải-thoát, sao con lại thối-chí quay về cuộc sống khổ-lụy của thế-tục?" Cùng lúc ấy, vị phi-thiên, mẹ trong tiền-kiếp của Sa-nhu cũng nghe thấy, mới nghĩ, nếu con mình hoàn-tục, mình sẽ bị các phi-thiên khác chê-cười; bà mới nhập vào Sà-nhu, khiến Sà-nhu té ngửa xuống, sùi bọt mép. Cả nhà hoảng-hốt, cấp-cứu, đến khi tỉnh-dậy, Sà-nhu còn nghe tiếng mẹ cũ đang nói văng-vẳng: "Con đừng hoàn-tục, hãy mau trở lại chùa tu-hành để tìm đường giải-thoát, ra khỏi cảnh Luân-hồi lận-đận."

 

Sau đó, khi Sà-nhu trở về tịnh-xá, các vị tỳ-kheo khác trình sự-việc lên Đức Phật. Sà-nhu được gọi đến, nghe Đức Phật dạy rằng: "Nầy tỳ-kheo, chẳng nên trở lại cuộc sống buông-lung của người thế-tục. Con muốn được an-vui, thì phải biết điều-phục tâm-ý, theo con đường Chánh-đạo, như anh quản-tượng dùng móc sắt răn-dạy và kiểm-soát con voi hung-hăng."

 

Rồi Đức Phật mời nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó Sà-nhu sực-tỉnh, biết nỗ-lực tu-hành, chẳng bao lâu chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Ngày trướcc, tâm lang-thang, lêu-lổng,

Đuổi theo thú-vui cùng dục-vọng.

Ngày nay, bằng chánh-niệm, kềm tâm

Như quản-tượng tay cầm móc dạy voi.

(Kệ số 326.)

 

TÌM HIỂU:

 

chùa chỉ số đông người đang ngồi nghe giảng-pháp.

 

- Phi-thiên: Phi = chẳng phải; Thiên = Trời. Phi-thiên là hạng thần-linh.

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sa-di: tiếng Pali là Sàmanera, người mới vào chùa tập-sự tu-hành, chưa thọ giới tỳ-kheo. Trong chùa thường gọi là chú tiểu.

 

- Sà-nhu: tên vị sa-di nầy, tiếng Pali là Sànu.

 

- Đại-chúng: Đại = lớn; Chúng = số đông. Đại-chúng là tiếng nhà chưa phải là Trời, còn gọi là A-tu-la (Asura), có thần-thông, tánh hay nóng-giận, thường gây tranh-chiến với chư Thiên.

 

- Tiền-kiếp: Tiền = trước; Kiếp = đời sống trước. Tiền-kiếp là những đời sống trước, trước đời hiện nay.

 

- Hồi-hướng: Hồi = trở về; Hướng = hướng về, quay về phiá. Hồi-hướng là xin hướng công-đức đến người mình đang cầu-nguyện cho.

 

- Lành thay: lời khen đã làm việc thiện; dịch tiếng Pali là Sàdhu.

 

- Hoàn-tục = Hoàn =trở lại; Tục = đời sống thế-tục. Hoàn-tục là thôi chẳng đi tu nữa, quay về sống lại trong gia-đình như trước.

 

- Sanh-mẫu: Sanh = đẻ ra; Mẫu = mẹ; Sanh-mẫu là người nẹ sanh mình ra trong cõi đời hiện nay.

 

- Thoái-chuyển: Thoái = lùi lại; Chuyển = động chuyển; Thoái-chuyển là đi thụt lùi; trở lại chỗ thấp-kém. Đối-nghĩa với chữ Tinh-tấn.

 

- Tăng-đoàn: Tăng = tu-sĩ Phật-giáo; Đoàn = đoàn-thể. Một tăng-đoàn gồm có ít nhứt bốn vị tăng-sĩ tu chung. Tiếng Pali là Sangha.

 

- Khổ-lụy = Khổ = đau-khổ; Lụy = phiền-lụy. Khổ-luỵ = phiền-khổ.

 

- Thế-tục = Thế = đời; Tục = thường; Thế-tục là đời sống thường, có gia-đình, chẳng tu-hành.

 

- Cấp-cứu: Cấp = gấp, mau; Cứu = cứu-giúp. Cấp-cứu là cứu ngay.

 

- Lận-đận = đau buồn, gặp nhiều khó khăn, khổ-sở.

 

- Buông-lung: thiếu kềm-chế, lười-biếng; đồng-nghĩa = phóng-dật

 

- Tịnh-xá = Tînh = yên-tịnh; Xá = nhà. Tịnh-xá là ngôi chùa nhỏ.

 

- Đìều-phục tâm-ý: giữ-gìn tâm chẳng cho khởi bụng quấy.

 

- Chánh-đạo = Chánh = chơn-chánh; Đạo = đường; tức là Bát-chánh-đạo, con đường Thánh tám ngành đưa ta ra khỏi cảnh Luân-hồi.

 

- Quản-tượng: Quản = cai-quản; Tượng = voi lớn; Quản-tượng là người chăn voi, huấn-luyện voi, điều-khiển voi.

 

- A-la-hán: quả-vị Thánh, chẳng còn tái-sanh nữa; tiếng Pali là Arahant. A-la-hán có ba nghĩa: (1) ứng-cúng = xứng đáng được Trời, Người cúng-dường; (2) sát-tặc = giết giặc, giặc phiền-não; (3) vô-sanh = chẳng còn tái-sanh nữa, ra khỏi Luân-hồi, vào cảnh Niết-bàn.

 

- Dục-vọng = Dục = muốn; Vọng = mong; Dục-vọng là các ham-muốn thấp-hèn về vật-chất.

 

- Chánh-niệm: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Niệm = ý-nghĩ. Người có chánh-niệm đang làm, nói hay nghĩ việc gì, thì biết rõ và chú-tâm vào việc đang làm, nói, nghĩ đó và chỉ việc đó mà thôi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc vị Sa-di Sà-nu thông-thuộc nhiều kinh-kệ, sau khi thọ-giới tỳ-kheo một thời-gian, lại muốn hoàn-tục. Được cả hai bà mẹ, mẹ đương-thời và mẹ kiếp trước, cản-ngăn, Sà-nu trở lại chùa. Nghe Đức Phật dạy, phải kềm-chế tâm-ý mình như người quản-tượng điều-khiển voi, Sà-nu nỗ-lực tu-hành, chứng được quả-vị Thánh.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là đang tu mà có ý-định hoàn-tục, thì đó cũng như đang từ chỗ sáng mà quay về trong bóng tối, bỏ mất con đường giác-ngộ và giải-thoát để ra khỏi cảnh khổ của Luân-hồi.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 326:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ so-sánh việc kềm-chế tâm-ý cũng như việc điều-khiển voi bằng móc sắt; lòng phải cương-quyết chẳng thối-chí. Kềm-tâm bằng cách nào? Luôn luôn giữ chánh-niệm trong tâm.

 

1) Hai câu đầu: Ngày trước, tâm còn vọng-động, chạy theo các thú-vui cùng dục-vọng( =ham-muốn), để tâm thả lỏng;

 

2) Hai câu chót: Ngày nay, biết dùng chánh-niệm kềm tâm lại, như người quản-tượng dùng móc sắt điều khiển con voi hung-hăng.

The Story of Samanera Sanu

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (326) of this book, with reference to a young samanera named Sanu.

One day, Samanera Sanu was urged by older bhikkhus to go up on the dais and recite parts of the Pali texts. When he had finished his recitation he solemnly called out, "May the merits gained by me today for reciting these sacred texts be shared by my mother and my father". At that time, the devas and the ogress who had been the mother of the young samanera in a previous existence were listening to his recitation. When they heard his words, the ogress was elated and promptly cried out, "My dear son, how happy I am to share your merit; you have done well, my son. Well done! Well done! (Sadhu! Sadhu!)." On account of Samanera Sanu, the mother ogress came to be very much respected and was given precedence in their assemblies by the devas and other ogres.

As the samanera grew older, he wanted to return to the life of a lay man; he went home and asked for his clothes from his mother. His mother did not want him to leave the Order and tried to dissuade him from leaving it, but he was quite firm in his decision. So, his mother promised to give him the clothes after his meal. As his mother was busy cooking his meal, the ogress, who was his mother of a past existence, thought, "If my son Sanu leaves the Order, I shall be put to shame and become a laughing stock among other ogres and devas; I must try and stop him leaving the Order." So, the young samanera was possessed by her; the boy rolled on the floor, muttering in coherently with saliva streaming out of his mouth. The mother got alarmed; neighbours came and tried to appease the spirits. Then, the ogress spoke out "This samanera wants to leave the religious Order and return to the life of a lay man; if he does so he will not be able to escape from dukkha." After saying those words, the ogress left the body of the boy and the boy became normal again.

Finding his mother in tears and the neighbours crowding around him, he asked what had happened. His mother told him everything that had happened to him and also explained to him that to return to lay life after leaving it was very foolish; in fact, even though living he would be like a dead person. The samanera then came to realize his mistake. Taking the three robes from his mother, he went back to the monastery and was soon admitted as a bhikkhu.

When told about Samanera Sanu, the Buddha wishing to teach him about the restraint of mind said, "My son, one who does not restrain the mind which wanders about cannot find happiness. So, control your mind as a mahout controls an elephant."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 326: In the past, this mind has wandered as it liked, wherever it liked, at its own pleasure. Now I will control my mind wisely, as a mahout with his goad controls an elephant in must.


At the end of the discourse Thera Sanu comprehended the Four Noble Truths and later attained arahatship.

Dhammapada Verse 326
Sanusamanera Vatthu

Idam pure cittamacari carikam
yenicchakam yatthakamam yathasukham
tadajjaham niggahessami yoniso
hatthippabhinnam viya ankusaggaho.

Verse 326: In the past, this mind has wandered as it liked, wherever it liked, at its own pleasure. Now I will control my mind wisely, as a mahout with his goad controls an elephant in must.


dhp327_B
Verse-Kệ 327

(237).- Tích chuyện con voi già. - Kệ số 327.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề cập đến con già tên là Ba-vi-gia.

 

Voi Ba-vi-gia khi còn trẻ là một con voi chiến rất mạnh-mẽ, nay đã già-yếu. Một hôm, voi Ba-vi-gia ra bờ ao định xuống uống nước, rủi thay, chân bị sa lầy, chẳng rút ra khỏi bùn được. Vua Ba-tư-nặc xứ Câu-tát-la hay tin, liền sai một người quản-tượng đến giúp. Người quản-tượng đến nơi, nhận ra voi chiến Ba-vi-gia, mới cho gọi đoàn quân-nhạc tới. Rồi tiếng trống, tiếng kèn, tiếng chiêng khua vang lên thành một nhạc bản quân-hành hùng-dũng. Voi Ba-vi-gia cảm thấy như đang lâm trận, tinh-thần hăng lên, nhẹ-nhàng rút chơn ra khỏi vũng bùn, giữa tiếng hoan-hô vang-dậy.

 

Khi các tỳ-kheo thuật lại sự-việc trên, Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, cũng như con voi rút chơn ra khỏi vũng bùn, các ông nên sớm thoát ra khỏi vũng sình kết-sử."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó nhiều vị tỳ-kheo nỗ-lực tu-tập, chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Trong chánh-niệm, hãy tìm thích-thú,

Tâm-ý nên hết lòng phòng-thủ.

Như voi sa lầy cố rút chơn ra,

Hãy tự kéo khỏi vũng sình kết-sử.

(Kệ số 327.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Voi chiến Ba-vi-gia: tên con voi đánh giặc nầy, tiếng Pali là Pàveyyaka.

 

- Sa lầy: bị lún bùn, kẹt chơn dưới bùn chẳng rút ra được.

 

- Vua Ba-tư-nặc, xứ Câu-tát-la: tên vị vua nầy, tiếng Pali là Pasenadi, cai-trị xứ Kosala, ở miền Bắc Ấn-độ xưa.

 

- Quản-tượng: Quản = cai-quản, điều-khiển; Tượng = voi lớn. Quản-tượng là người chăn voi, huấn-luyện và điều-khiển voi.

 

- Quân-nhạc = ban nhạc nhà-binh.

 

- Chiêng = một loại nhạc-khí bằng đồng, hình giống cái mâm lớn

 

- Bản quân-hành: bản nhạc hành-quân, tấu lên trong khi quân lính đi ra trận, để làm tinh-thần chiến-sĩ phấn-khởi lên.

 

- Lâm trận = sắp giao-chiến, sắp đánh giặc.

 

- Chánh-niệm: ý-nghĩ chơn-chánh. Người giữ chánh-niệm là người đang làm, nói, nghĩ gì, thì trong tâm chú-ý, biết đến việc đang làm, nói, nghĩ đó và chỉ việc ấy mà thôi, chẳng lo ra đến chuyện khác.

 

- Kết-sử: Kết = ràng-buộc lại; Sử = sai-sử, sai khiến. Kết-sử còn được gọi là thúc-thằng (thúc = trói-buộc; thằng = sợi dây), tiếng Pali là Sanyojana, là những tình-cảm, tư-tưởng có tánh-cách ràng-buộc, gây ra phiền-não, và thúc-dục ta làm đìều quấy.

 

Theo giáo-lý Bắc-tông, có mười kết-sử, phân ra:

 

a) Ngũ độn-sử, năm mối kết-sử thấp: (1) thân-kiến ( = chấp thân nầy làm Ta, Pali: Sakkàyaditthi); (2) nghi ( = nghi ngờ Chánh-pháp, Pali: Vicikiccha); (3) giới-cấm-thủ ( = tin vào các nghi-thức cúng-tế tà-đạo, Pali: Silabhataparàmàsa); (4) tham (Kàmaràga); (5) sân ( = giận-hờn, Pali: Patigha). Diệt xong ngũ độn-sử, chứng quả A-na-hàm

 

b) Ngũ lợi-sử, năm mối kết-sử cao: (6) sắc-ái ( = mê-luyến cõi sắc-giới; Pali: Rùparàga); (7) vô-sắc-ái ( = mê-luyến cõi vô-sắc-giới; Pali: Arùparàga); (8) mạn ( =kiêu-căng, Phạn: mano); (9) trạo ( = giao-động, bối-rối; Pali: Uddaccha); (10) vô-minh ( = si-mê; Pali: Avijja). Diệt xong nốt ngũ lợi-sử, chứng quả A-la-hán.

 

Giáo-lý Nam-tông chia 10 thúc-thằng ( =kết-sử,Pali: Sanyojana) ra:

 

- ba thúc-thằng đầu-tiên, diệt xong, chứng quả-vị thứ nhứt là Tu-đà-huờn (Pali: Sotàpatti);

 

- hai thúc-thằng kế-tiếp, diệt xong, chứng quả-vị thứ hai là Tư-đà-hàm (Pali: Sakàdagàmi);

 

- cả năm thúc-thằng đầu-tiên ( = ngũ độn-sử), diệt xong, chứng quả-vị thứ ba là A-na-hàm (Pali: Anàgàmi);

 

- cả năm thúc-thằng chót ( = năm lợi-sử), diệt nốt, chứng quả thứ tư, cao nhứt là A-la-hán (Pali: Arahant).

 

Nhớ đủ cả mười kết-sử thì khó, chỉ cần nhớ ba mối chánh, gọi là tam độc ( = ba món thuốc độc): tham, sân, si.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc con voi Ba-vi-gia bị sa lầy, nhờ nghe tiếng quân-nhạc, hăng-hái tinh-thần lên mà rút chơn ra khỏi vũng bùn. Nhơn chuyện nầy, Đức Phật dạy các tỳ-kheo cũng nên rút chơn mình ra khỏi vũng sình kết-sử.

 

"Rút chơn ra khỏi vũng sình kết-sử", có nghĩa là, đã diệt xong năm độn-sử và năm lợi-sử, tức là tất cả mọi phiền-não đã tận-diệt, như thế là đang chứng-đắc được quả-vị A-la-hán, thoát khỏi vòng tái-sanh lẩn-quẩn của Luân-hồi, hoàn-toàn được giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 327:

 

Ý-nghĩa bài Kệ nhắc nhở đến công-việc tu-tập của vị tỳ-kheo, diệt hết mười kết-sử để chứng quả-vị A-la-hán, thoát được vòng sanh-tử lận-đận của Luân-hồi.

 

Xin phân-tách từng câu bài Kệ:

 

1) Trong chánh-niệm, hãy tìm thích-thú: lời khuyên nầy khó thực-hiện được, nếu chẳng nỗ-lực bền-bỉ. Tại sao? Vì giữ chánh-niệm thì phải luôn luôn chú-ý đến bên trong tâm, mau mệt trí, dễ chán. Nhưng người hay xao-lãng, lơ-là, sống cũng như cái máy; chánh-niệm khiến ta sống trọn-vẹn với ta.

 

2) Tâm-ý nên hết lòng phòng-thủ: Phòng-thủ chống lại việc gì? Chống lại ác-ý, vì ác-ý xúi ta phải sa vào tội-lỗi, tạo nghiệp dữ. Chống lại vọng-tưởng, các ý vẩn-vơ, dắt tâm đi lang-thang, chạy theo ngoại-cảnh, đuổi theo các thú-vui thấp kém. Vậy phòng-thủ tâm-ý ở đây có nghĩa là thanh-lọc tâm-ý để sớm đạt được tâm thanh-tịnh.

 

3) Như voi sa lầy cố rút chơn ra: Voi phải tự mình nỗ-lực rút lấy chơn ra; đây là ý Phật dạy ta phải tự mình nỗ-lực, chớ chẳng phải chờ người khác đến ... cứu-độ mình, cỏng giùm mình sang bờ giác.

 

4) Hãy tự kéo khỏi vũng sình kết-sử: Trong số mười món kết-sử, quan-trọng là ba món độc tham, sân, si vì chúng chi-phối các món kia. Có hai món dễ trừ là: (1)nghi, hễ tin vào Chánh-pháp thì hết nghi; (2)giới-cấm-thủ, bỏ được mê-tín dị-đoan, đừng xin xâm, chẳng cúng ông Địa nữa, đâu có khó!

The Story of the Elephant Called Paveyyaka

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (327) of this book, with reference to the elephant, called Paveyyaka.

Paveyyaka when young was very strong; in due course, he became old and decrepit. One day, as old Paveyyaka went into a pond he was stuck in the mire and could not get on to the shore. When King Pasenadi of Kosala was told about it, he sent an elephant trainer to help the elephant get out of the mire. The elephant trainer went to the site where the elephant was. There, he made the musicians strike up a martial tune. Hearing the military airs, the elephant felt as if he were in a battlefield; his spirits rose, he pulled himself with all his might, and was soon out of the mire.

When the bhikkhus told the Buddha about this he said, "Bhikkhus! Just as that elephant pulled itself out of the mire, so also, must you all pull yourselves out of the mire of moral defilements."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 327: Take delight in mindfulness, guard your mind well. As an elephant stuck in mire pulls itself out, so also, pull yourself out of the mire of moral defilements.


At the end of the discourse the bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verse 327
Paveyyakahatthi Vatthu

Appamadarata hotha
sacittamanurakkhatha
dugga uddharath' attanam
panke sannova kunjaro.

Verse 327: Take delight in mindfulness, guard your mind well. As an elephant stuck in mire pulls itself out, so also, pull yourself out of the mire of moral defilements.


dhp328_B
dhp329_B
dhp330_B
Verse-Kệ 328-330

(238).- Tích chuyện con voi hầu-hạ Phật. - Kệ số 328, 329 và 330.

 

Tích chuyện nầy giống với Tích chuyện số (5).

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại rừng Bà-li-lai, trong xứ Cô-sâm-bi, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến con voi Bà-li-gia.

 

Thuở ấy, chư Tăng ở Cô-sâm-bi chia rẻ thành hai nhóm, tranh-cãi nhau: một nhóm cho rằng Giới-luật là hơn, còn một nhóm bảo Kinh-tạng mới quí. Họ cãi nhau sôi-nổi, náo động cả nơi tu-hành. Đức Phật đã nhiều lần ngăn-cản chẳng được, Ngài bỏ đi, sống qua mùa hè một mình trong rừng, có con voi tên là Bà-li-gia phục-vụ.

 

Mãn mùa an-cư, Tôn-giả A-nan cùng chư tỳ-kheo đi vào rừng, thỉnh Phật trở về tịnh-xá. Tôn-giả A-nan thưa: "Bạch Thế-tôn, ba tháng mùa mưa, Thế-tôn ở một mình trong rừng, chắc thiếu-thốn nhiều." Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, đừng nói thế! Trong ba tháng qua, voi Bà-li-gia đã tận-tụy phục-vụ Như-Lai, như một người bạn tốt. Được một người bạn tốt như thế, ta nên chung sống với nhau; còn nếu gặp bạn chẳng hiền, thà cứ sống lẻ-loi một mình nơi rừng vắng còn hơn."

 

Rồi Đức Phật nói lên ba bài Kệ sau đây:

 

Nếu gặp người hiền-trí hạnh lành,

Thích-hợp nhau làm bạn đồng-hành,

Hãy sống chung vui và giác-tỉnh,

Mọi hiểm-nguy sẽ vượt an-lành.

(Kệ số 328.)

 

Nếu chẳng gặp người đạo-đức cao,

Trí-huệ nhiều đáng kết thâm-giao,

Thà như Vua bỏ nước vừa chinh-phục,

Như voi giữa rừng, hãy sống lẻ-loi.

(Kệ số 329.)

 

Chẳng thà phải sống cô-đơn

Còn hơn kết bạn với phường người ngu.

Chẳng lo-âu, khước-từ ác-hạnh,

Sống thong-dong như cảnh voi rừng.

(Kệ số 330.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Rừng Bà-li-lai, xứ Cô-sâm-bi: tên khu rừng nầy, tiếng Pali là Pàlileyya, ở xứ Kosambi, miền Bắc Ấn-độ xưa.

 

- Voi Bà-li-gia: tên con voi nầy, tiếng Pali là Pàlileyyaka.

 

- Giới-luật, Kinh-tạng: Tất cả kinh-điển Phật-giáo gọi là Tam tạng, gồm có: (1)Luật-tạng ( =các giới-luật,Vinaya); (2)Kinh-tạng( =các Kinh Kệ,Suttanta); (3)Luận-tạng ( = luận về Chánh-pháp, Abhidhamma.) (Tam = ba; Tạng = cái giỏ đựng sách; tiếng Pali Tam-Tạng = Tipitaka.)

 

- Muà an-cư: Trong ba tháng mùa mưa, chư Tăng chẳng đi ra ngoài, sợ đạp chết con trùng sinh-sản nhiều, ở yên tu trong tịnh-xá.

 

- Thế-tôn, Như-Lai: Các đệ-tử Phật gọi Đức Phật là Thế-tôn ( = bực được cả thế-gian tôn-trọng), và Đức Phật tự xưng là Như-Lai ( = người đến đây như thế đó) khi nói chuyện với đệ-tử.

 

- Hạnh lành = đức-hạnh hiền-lành.

 

- Đồng-hành = cùng đi với nhau, bạn đường.

 

- Giác-tỉnh, Tỉnh-giác = trong tâm luôn giữ chánh-niệm, chẳng phút nào lơ-là, hằng chú-tâm.

 

- Kết thâm-giao: Thâm = sâu-đậm; Kết thâm-giao là kết tình bạn thân-mật, thấm-thiết.

 

- Chinh-phục = đánh thắng, thâu-phục được.

 

- Khước-từ ác-hạnh: Khước-từ = rời bỏ; Ác-hạnh = tánh dữ.

 

- Thong-dong = được tự-do, chẳng bị ràng-buộc.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Đức Phật rời tịnh-xá vào rừng sống một mình, vì chư Tăng chẳng biết nghe lời Ngài để chấm dứt sự cãi-vã quá ồn-ào về Luật-tạng và Kinh-tạng. Mãn mùa an-cư, Tôn-giả A-nan khi thỉnh Phật trở về, có hỏi Đức Phật ba tháng qua có bị thiếu thốn nhiều chăng. Đức Phật đáp, không, vì Ngài được Voi Bà-li-gia hết lòng hầu-hạ. Nhơn đó Đức Phật bảo, gặp bạn hiền nên vui chung sống; còn gặp kẻ dữ, thà sống lẻ loi một mình chốn rừng hoang.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: gặp bạn-đạo tốt, nên chung sống; chớ kết thâm-giao với kẻ kém đức-hạnh.

 

(2) Ý-nghĩa của ba bài Kệ số 328, 329 và 330:

 

Cả ba bài Kệ đều nói về sự lựa chọn bạn hiền để sống chung với nhau và tránh xa những người thiếu trí-huệ và đức-hạnh.

 

Xin phân-tách từng câu trong mỗi bài Kệ.

 

Bài Kệ số 328:

 

1) Nếu gặp người hiền-trí hạnh lành: Người hiền-trí hạnh lành, ở đây, chính là bực thiện-tri-thức, đã thông-hiểu Chánh-pháp, đức-hạnh cao-dày; nếu gặp được, đó là cơ-duyên may-mắn lớn, nên theo học;

 

2) Thích-hợp nhau làm bạn đồng-hành: Đồng-hành, hiểu theo nghĩa rộng là chẳng những cùng đi chung một đường mà còn theo chung một lối tu-hành, vì thế thích-hợp với nhau, nên kết bạn ngay;

 

3) Hãy sống chung vui và giác-tỉnh: Nhờ hợp nhau nên cuộc sống chung vui-vẻ; nhưng mỗi người phải tỉnh-giác, luôn luôn chú-ý, quán-sát bên trong tâm mình, để giúp nhau tự kềm-chế;

 

4) Mọi hiểm-nguy sẽ vượt an-lành: Nhờ chung-sức nhau nên khi gặp trở-ngại, sẽ vượt qua an-toàn. Trong việc tu-hành, hiểm-nguy to lớn nhứt là sự thoái-tâm, chán-nản; có bạn lành an-ủi, sẽ nung-chí lên.

 

Bài Kệ số 329:

 

1) Nếu chẳng gặp người đạo-đức cao, Trí-huệ nhiều, đáng kết thâm-giao: đây là thiếu thuận-duyên, chẳng có người xứng-đáng, đầy-đủ đức-hạnh, để kết thân-tình

 

2) Thà như Vua bỏ nước vừa chinh-phục: đây là thái-độ chẳng luyến-tiếc những gì mình vừa có được thêm, dứt khoát bỏ ra đi.

 

3) Như voi giữa rừng, sống lẻ-loi: Tuy lẻ-loi, nhưng được tự-do, chẳng bị phiền-lụy ràng-buộc, đó là "người biết sống một mình".

 

Bài Kệ số 330:

 

1) Chẳng thà phải sống cô-đơn, Còn hơn kết bạn với phường người ngu: Tuy sống đơn-độc một mình, nhưng khỏi phải bị bọn người ngu theo phiền-nhiễu, thì còn chi tốt hơn nữa.

 

2) Chẳng lo-âu, khước-từ ác-hạnh: đây là hai đức-tánh quí trên đường tu: một là chẳng lo-âu, vì tâm đã an-định; hai là khước-từ điều ác, khiến thân-tâm thanh-tịnh, sớm dứt được nghiệp dữ.

 

3) Sống thong-dong như cảnh voi rừng: Cảnh thong-dong của voi rừng, đây chính là cảnh an-nhiên, tự-tại của bực đã chứng Niết-Bàn.

The Story of a Number of Bhikkhus

While residing in the Palileyya forest where the elephant Palileyyaka waited on him, the Buddha uttered Verses (328), (329) and (330) of this book, with reference to the bhikkhus from Kosambi.

Once, the bhikkhus of Kosambi split into two groups; one group followed the master of Vinaya and the other followed the teacher of the Dhamma. They did not listen even to the Buddha who exhorted them to make peace. So, the Buddha left them and spent the vassa all alone in the forest, where the elephant Palileyyaka waited on him.

At the end of the vassa, the Venerable Ananda went into the forest, accompanied by five hundred bhikkhus. Leaving the bhikkhus at some distance, the Venerable Ananda approached the Buddha alone. Then the Buddha told Ananda to call the other bhikkhus. All of them came, paid obeisance to the Buddha and said, "Venerable Sir! You must have had a hard time spending the vassa all alone in this forest."

To this, the Buddha replied,"Bhikkhus, do not say so; the elephant Palileyyaka had been looking after me all this time. He was, indeed, a very good friend, a true friend. If one has such a good friend one should stick to him; but if one cannot find a good friend it is better to stay alone."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 328: If one finds a sagacious friend, who is a virtuous and steadfast companion, one should live with him joyfully and mindfully, overcoming all dangers.
 
Verse 329: If one cannot find a sagacious friend, who is a virtuous and steadfast companion, one should live alone like the king who gave up and left the country he had won, and like the elephant Matanga roaming alone in the forest.
 
Verse 330: It is better to live alone; there is no fellowship with a fool. So one should live alone, do no evil, and be carefree like the elephant Matanga roaming alone in the forest.

Dhammapada Verses 328, 329 and 330
Sambahulabhikkhu Vatthu

Sace labhetha nipakam sahayam
saddhim caram sadhu vihari dhiram
abhibhuyya sabbani parissayani
careyya tena' ttamano satima.

No ce labhetha nipakam sahayam
saddhim caram sadhu vihari dhiram
rajava rattham vijitam pahaya
eko care matanga' ranneva nago.

Ekassa caritam seyyo
natthi bale sahayata
eko care na ca papani kayira
appossukko matanga' ranneva nago.

Verse 328: If one finds a sagacious friend, who is a virtuous and steadfast companion, one should live with him joyfully and mindfully, overcoming all dangers.

Verse 329: If one cannot find a sagacious friend, who is a virtuous and steadfast companion, one should live alone like the king who gave up and left the country he had won, and like the elephant Matanga roaming alone in the forest.

Verse 330: It is better to live alone; there is no fellowship with a fool. So one should live alone, do no evil, and be carefree like the elephant Matanga roaming alone in the forest.


dhp331_B
dhp332_B
dhp333_B
Verse-Kệ 331-333

(239).- Tích chuyện Ma-vương cám-dỗ Phật. - Kệ số 331, 332 và 333.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại một tịnh-xá gần núi Tuyết-sơn, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc Ma-vương tới cám-dỗ Đức Phật.

 

Thuở ấy, Đức Phật cư-trú gần dãy núi Hi-mã-lạp-sơn. Ngài nhận thấy dân-chúng trong vùng bị ngược-đãi, các vị lãnh-chúa thì tàn-ác, bất-công. Đức Phật nghĩ cách giúp-đỡ dân-chúng thoát khỏi cảnh bị đàn-áp và khiến cho các vị lãnh-chúa phải cai-trị trong công-bằng luật-pháp. Bấy giờ, Ma-vương đoán biết ý-định của Đức Phật, mới hiện lên thưa với Phật: "Bạch Thế-tôn, sao Ngài lại chẳng lên làm Vua, cai-trị toàn-dân trong thanh-bình, an-lạc!" Đức Phật nhìn biết Ma-vương đến cám-dỗ, mới đáp: "Nầy Ma-vương hiểm-độc, chớ có cám-dỗ Như-Lai. Giáo-pháp của Như-Lai chẳng giống với lời dạy của ông chút nào cả. Đây hãy lắng nghe Chánh-pháp của Ta."

 

Rồi đó, Đức Phật mới nói lên ba bài Kệ sau đây, Ma-vương nghe xong, bẽn-lẽn bỏ đi, biết chẳng khuấy-rối nổi Đức Phật:

 

Vui thay, gặp bạn khi cần!

Vui thay, biết đủ với ngần nầy đây!

Vui thay, thiện-nghiệp dầy khi chết!

Vui thay đau khổ diệt-trừ xong!

(Kệ số 331.)

 

Vui thay, phụng-dưỡng mẹ già!

Vui thay, hiếu-kính với cha trên đời!

Vui thay, phục-vụ Sa-môn!

Vui thay, thừa sự Thánh-nhơn ra đời!

(Kệ số 332.)

 

Vui thay, giữ giới tới già!

Vui thay, tín-niệm rất là bền lâu!

Vui thay thành-đạt trí mầu!

Vui thay ác-hạnh từ lâu khước-từ!

(Kệ số 333.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ma-vương = Vua Ma; theo kinh-sách, đây là vị Thiên-vương ở cõi Trời Tha-hoá tự-tại, thường thích đi cám-dỗ kẻ khác làm điều quấy. Tiếng Pali là Màra.

 

- Hi-mã-lạp-sơn = Tuyết-sơn = dãy núi cao nhứt thế-giới (hơn tám ngàn mét), tuyết đóng quanh-năm, dọc theo biên-giới Ấn-độ và Trung-hoa. Tiếng Pali là Himalaya.

 

- Ngược-đãi: Ngược = bạo-ngược, ác; Đãi = đối xử.

 

- Lãnh-chúa: vị vua chúa cai-trị một vùng đất.

 

- Hiểm-độc: Hiểm = ác ngầm; Độc = dữ ác. Kẻ hiểm-độc hại ngầm người khác, mà làm bộ như thương-yêu, giúp-đỡ bề ngoài.

 

- Giáo-pháp: Giáo = dạy; Pháp = phép. Giáo-pháp, giáo-lý, là lời dạy trong Đạo khuyên người tu-hành.

 

- Chánh-pháp: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Pháp = phép tu. Trong Phật-học, chữ Chánh-pháp chỉ lời dạy của Đức Phật.

 

- Biết đủ với ngần nầy đây: biết đủ với những gì mình có, chỉ cần đến ngần ấy, chẳng tham đòi thêm. Biết đủ, tiếng Hán-Việt là tri-túc.

 

- Thiện-nghiệp: Thiện = lành; Nghiệp = tất cả hành-động, lời nói và ý-nghĩ của một người, có ảnh-hưởng đến vận-mạng người ấy.

 

- Phụng-dưỡng = nuôi-nấng, săn-sóc.

 

- Hiếu-kính: tỏ lòng kính-trọng và thương-yêu, giúp đỡ.

 

- Sa-môn: phiên-âm chữ Pali là Samana, nghĩa là tu-sĩ Phật-giáo. Có ba nghĩa: (1) cần-giả, siêng làm lành; (2)tức-giả, ngưng làm ác; (3) bần-giả, nguyện chịu nghèo-khó để tu-hành.

 

- Thánh-nhơn: bực Thánh, từ quả-vị A-la-hán trở lên (thoát khỏi tái-sanh của Luân-hồi.) Tiếng Pali là Ariya. Đối-nghĩa với phàm-phu.

 

- Giới: điều răn-cấm trong Đạo. Tiếng Pali là Sila.

 

- Tín-niệm: Tín = tin-tưởng; Niệm = ý-tưởng. Tín-niệm là niềm tin; ở đây là niềm tin vững chắc vào Tam-Bảo: Phật, Pháp và Tăng.

 

- Trí mầu = Trí-huệ nhiệm-mầu. Đây là Trí-huệ Bát-nhã Ba-la-mật, Prajna pàramità, thường dịch là Trí-Độ, cái Trí đưa ta đến bờ giác-ngộ.

 

- Ác-hạnh = hạnh-kiểm xấu-ác; cùng nghĩa với ác-nghiệp.

 

- Khước-từ: từ bỏ hẳn.

 

- Phục-vụ = hầu-hạ; giúp-đỡ.

 

- Thừa-sự = nhận làm việc giúp cho ai.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Ma-vương đến cám-dỗ Đức Phật, thỉnh Ngài ra làm Vua. Đức Phật từ-chối mối danh-lợi nầy và giảng Chánh-pháp cho Ma-vương nghe.

 

(2) Ý-nghĩa của ba bài Kệ số 331, 332 và 333:

 

Cả ba bài Kệ đều nói đến niềm vui của bực tu-hành theo con đường giác-ngộ và giải-thoát. Xin vạch các niềm vui đó ở mỗi bài Kệ:

 

Bài Kệ số 331: niềm vui sống yên, chết lành.

 

1) Vui thay, gặp bạn khi cần!: đây là niềm vui có được bạn hiền giúp-đỡ mỗi khi cần đến;

 

2) Vui thay, biết đủ với ngần nầy đây!: niềm vui tri-túc, lòng thoả-mãn với những gì mình đang có, chẳng tham-cầu đòi hỏi thêm.

 

3) Vui thay, thiện-nghiệp dầy khi chết!: lià đời mà vui vì biết thiện-nghiệp sâu dầy của mình sẽ đưa mình đến cõi an-lành.

 

4) Vui thay đau khổ diệt-trừ đã xong!: đây là niềm vui thoát khổ Luân-hồi, vì đã diệt-trừ mọi phiền-não, chứng được vô-sanh.

 

Bài Kệ số 332: niềm vui báo bốn trọng-ân.

 

1. Vui thay, phụng-dưỡng mẹ già; Vui thay hiếu-kính với cha trên đời!: đây là niềm vui báo trọng-ân của cha-mẹ ngay khi còn sống.

 

2) Vui thay phục-vụ Sa-môn; Vui thay, thừa-sự Thánh-nhơn ra đời!: đây là niềm vui báo trọng-ân của Thầy, Tổ, được cúng-dường các bực Hiền-Thánh.

 

Bài Kệ số 333: niềm vui chuyên tu đến ngày viên-mãn.

 

1) Vui thay, giữ giới tới già!: đây là niềm vui trọn được giới-đức thanh-tịnh suốt đời.

 

2) Vui thay, tín-niệm rất là bền lâu!: niềm vui có đức tin kiên-cố

 

3) Vui thay thành đạt trí mầu!: niềm vui chứng Trí-huệ Bát-nhã Ba-la-mật đưa đến bờ giác-ngộ và giải-thoát.

 

4) Vui thay, ác-hạnh từ lâu khước-từ!: niềm vui đã từ lâu hoàn-toàn xa lánh con đường ác.

The Story of Mara

While residing in a monastery near the Himalayas. the Buddha uttered Verses (331), (332) and (333) of this book, with reference to Mara, who tried to entice him to rule as a king.

Once, while the Buddha was residing near the Himalayas, he found that many people were being ill-treated by some wicked kings. It then occurred to him whether it would be possible to prevent them from ill-treating those who should not be ill-treated and make the kings rule justly and wisely. Mara knew what the Buddha was thinking and planned to entice the Buddha to rule as a king. To him the Buddha replied, "O wicked Mara! Your teaching and my teaching are quite different. You and I cannot have any discussion. This is my teaching".

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 331: It is good to have friends when the need arises; it is good to be content with anything that is available; it is good to have merit when life is about to end; it is good to be rid of all dukkha.

 

Verse 332: In this world it is good to be dutiful to one's mother; also it is good to be dutiful to one's father. In this world it is good to minister unto samanas; also it is good to minister unto brahmanas.

 

Verse 333: It is good to have virtue till old age, it is good to have unshakable faith, it is good to gain wisdom, it is good to do no evil.


Dhammapada Verses 331, 332 and 333
Mara Vatthu

Atthamhi jatamhi sukha sahaya
tutthi sukha ya itaritarena
punnam sukham jivitasankhayamhi
sabbassa dukkhassa sukham pahanam.

Sukha matteyya loke
atho petteyyata sukha
sukha samannata loke
atho brahmannata sukha.

Sukham yava jara silam
sukha saddha patitthita
sukho pannaya patilabho
papanam akaranam sukham.

Verse 331: It is good to have friends when the need arises; it is good to be content with anything that is available; it is good to have merit when life is about to end; it is good to be rid of all dukkha.

Verse 332: In this world it is good to be dutiful to one's mother; also it is good to be dutiful to one's father. In this world it is good to minister unto samanas1; also it is good to minister unto brahmanas2.

Verse 333: It is good to have virtue till old age, it is good to have unshakable faith, it is good to gain wisdom, it is good to do no evil.


1. Samana: Recluses.

2. Brahmanas: here means Buddhas, paccekabuddhas or arahats. (The Commentary)

End of Chapter Twenty-Three: The Elephant

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 77)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 154)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 688)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 463)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 457)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 354)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 393)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 447)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1208)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 669)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 489)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1415)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 900)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4189)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8409)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1424)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 593105)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1770)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 778)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 1007)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
03 Tháng Giêng 20199:26 SA(Xem: 124)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1148)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1964)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 657)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 748)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2725)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
16 Tháng Giêng 20195:32 CH(Xem: 124)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama, là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
12 Tháng Giêng 20194:48 CH(Xem: 105)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 105)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 657)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 748)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 379)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript