Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 26, Phẩm Bà-la-môn - The Dhammapada, Chapter 26, The Holy Man

24 Tháng Mười Hai 20188:29 SA(Xem: 108)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 26, Phẩm Bà-la-môn - The Dhammapada, Chapter 26, The Holy Man

Chapter26-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 26, Phẩm Bà-la-môn
The Dhammapada, Chapter 26, Brahmanavagga: The Holy Man

(Kệ 383-423 - Verses 383-423)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp383_B
Verse-Kệ 383

(264).- Tích chuyện vị Bà-la-môn tâng bốc các vị Tỳ-kheo - Kệ số 383

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị Bà-la-môn vì quá trọng-vọng tỳ-kheo, nên gọi tâng họ là bực A-la-hán.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có một người Bà-la-môn, được nghe Đức Phật thuyết-pháp, rất ngưỡng-mộ giáo-lý của Đức Phật, nên thường thỉnh các vị tỳ-kheo đến nhà để cúng-dường. Khi các vị tỳ-kheo đến khất-thực, vị Bà-la-môn ấy cung-kính gọi họ là các bực A-la-hán. Vì chưa chứng-đắc được Thánh-quả, nên các vị tỳ-kheo cảm thấy bối-rối, và sau cùng quyết-định chẳng đến nhà vị Bà-la-môn ấy nữa. Vị Bà-la-môn rất thất-vọng, chẳng hiểu vì lẽ gì mà chư Tăng chẳng đến nhà mình nữa, mới đến thưa trình cùng Đức Phật.

 

Đức Phật cho gọi các vị tỳ-kheo đã đến nhà người Bà-la-môn ra hỏi. Nghe họ trình-bày sự thật, Đức Phật hỏi: "Nầy các vị Tỳ-kheo, trong số các vị có ai đã chứng được Thánh-quả?" Chẳng ai trả lời có, Đức Phật hỏi tiếp: "Khi nghe gọi mình là bực A-la-hán, trong tâm quí-vị có khởi lên sự tự-cao không?" Các vị tỳ-kheo thưa, chẳng có. Đức Phật liền dạy: "Chẳng sanh tự-cao khi được gọi tâng như thế là chẳng hề vi-phạm giới-luật. Sự-thật là vì quá trọng-vọng người tu-hành, nên vị Bà-la-môn nầy mới gọi quí-vị là bực A-la-hán. Các vị nên nỗ-lực dẹp bỏ cho sạch lòng ham-muốn được đề-cao đi, và cố-gắng tu-tập, rồi sẽ chứng được quả-vị A-la-hán."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Nầy Bà-la-môn,

Hãy tinh-tấn đoạn dòng áí-dục,

Thú vui vật-chất nên lià bỏ,

Các hành hoại-diệt đà thấu rõ,

Hãy làm người chứng-đắc vô-vi.

(Kệ số 383.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ ở Ấn-độ xưa. Xin lưu-ý, nơi Phẩm Bà-LA-MÔN nầy, chữ Bà-la-môn trong các bài Kệ lại có nghĩa là A-la-hán

 

- Tâng = nói nâng cao lên. Vị Bà-la-môn gọi các tỳ-kheo chưa chứng-đắc là các bực A-la-hán, gọi tâng họ lên hàng Thánh.

 

- Trọng-vọng = tỏ lòng quá kính-mến.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt, vào hàng Thánh. Bực A-la-hán (Arahant) dẹp xong phiền-não, lìa mọi tham-muốn, chứng được vô-sanh, nghĩa là chẳng còn bị tái-sanh trong vòng Luân-hồi nữa.

 

- Tự-cao: tự xem mình là hơn, còn gọi là ngã-mạn. Tỳ-kheo chưa chứng-đắc, tự nhận mình đã chứng-đắc, phạm tội tăng-thượng-mạn.

 

- Đoạn dòng ái-dục: Đoạn là cắt bỏ đi, cắt đứt đoạn; Dòng ái-dục là những sự say-đắm, mê-luyến, khởi từ các giác-quan, như mắt muốn nhìn sắc-đẹp, lưỡi muốn nếm vị ngon-ngọt, tay muốn sờ vật láng,v.v.

 

- Các hành: hiểu cho gọn, các hành ở đây trỏ thân-tâm năm uẩn.

 

- Vô-vi: Vô = chẳng; Vi = làm. Sự-vật ở thế-gian chia ra hai loại: (1) hữu-vi, do tạo-tác mà có, bị thay-đổi, rồi hoại-diệt, như thân-tâm, như ngôi nhà, tức là những gì bị điều-kiện-hoá; (2) vô-vi, chẳng do tạo nên mới có, chẳng biến-đổi, như hư-không, chơn-lý, tức là chẳng bị điều-kiện-hoá. Ở đây, chữ vô-vi trỏ vào cảnh Niết-Bàn vắng-lặng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc các vị tỳ-kheo được tâng-bốc, tỏ ra bối-rối. Đức Phật dạy, khi được đề-cao mà chẳng sanh lòng ngã-mạn thì chẳng vi-phạm giới-luật.

 

Ý-nghĩa Tích chuyện khuyên ta chớ nên sanh kiêu-căng khi được ai nói ... nịnh!

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 383:

 

1) Hai câu đầu: đoạn dòng ái-dục tức là lià bỏ mọi thú-vui vật-chất.

 

2) "Các hành hoại-diệt đà thấu rõ" = đã hiểu thấu thân-tâm năm uẩn nầy, hiện có đây, rồi sẽ bị tan-rả, đừng quá chấp chặt vào thân.

 

3) Câu chót: khuyên nên cố-gắng tu-hành để chứng được cảnh vô-vi, tức là chứng được cảnh an-vui, vắng-lặng của Niết-Bàn.

The Story of a Brahmin Who Had Great Faith

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (383) of this book, with reference to a brahmin, who showed extreme devotion to some bhikkhus.

Once, in Savatthi, there lived a brahmin who became extremely devoted to the Buddha and his Teaching, after hearing a discourse given by the Buddha. Every day, he invited the bhikkhus to his house for alms-food. When the bhikkhus arrived at his house, he addressed them as "arahats" and respectfully requested them to enter his house. When thus addressed, the puthujjana bhikkhus and the arahats felt embarrassed and they decided not to go to the brahmin's house the next day.

When the brahmin found that the bhikkhus did not come to his house again he felt unhappy. He went to the Buddha and told him about the bhikkhus not coming to his house. The Buddha sent for those bhikkhus and asked for explanation. The bhikkhus told the Buddha about the brahmin addressing all of them as arahats. The Buddha then asked them whether they felt any false pride and undue elation when they were thus addressed. The bhikkhus answered in the negative. To them the Buddha said, "Bhikkhus, if you don't feel any false pride and undue elation when addressed as arahats, you are not guilty of breaking any of the rules of discipline of the bhikkhus. The fact is that the brahmin addressed you so because he was extremely devoted to the arahats. So. my sons, you should strive hard to get rid of craving and attain arahatship."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 383: O Brahmana, cut off the stream of craving with diligence, and abandon sense desires. O Brahmana, perceiving the cessation of the conditioned, be an arahat who realizes Nibbana, the Unconditioned.

Dhammapada Verse 383
Pasadabahulabrahmana Vatthu

Chinda sotam parakkamma
kame panuda brahmana
sankharanam khayam natva
akatannusi brahmana.

Verse 383: O Brahmana, cut off the stream of craving with diligence, and abandon sense desires. O Brahmana, perceiving the cessation of the conditioned, be an arahat who realizes Nibbana, the Unconditioned.


dhp384_B
Verse-Kệ 384

(265).- Tích chuyện về hai pháp: Chỉ và Quán - Kệ số 384

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc ba mươi tỳ-kheo nhờ nghe hai pháp mà chứng được quả Thánh.

 

Thuở ấy, có một nhóm ba mươi vị tỳ-kheo từ xa đến đảnh-lễ Đức Phật. Duyên may, Tôn-giả Xá-lợi-phất cũng có mặt tại đó, quán thấy đã đến lúc cho ba mươi vị tỳ-kheo chứng-đắc được quả-vị Thánh, A-la-hán. Tôn-giả liền bạch Phật: "Bạch Thế-tôn, thế nào là hai pháp?" Đức Phật đáp: ‘Nầy Xá-lợi-phất, hai pháp đó là Chỉ và Quán."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà các vị tỳ-kheo chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Khi an-trú hai pháp: Chỉ, Quán,

Bà-la-môn đạt tới bỉ-ngạn.

Đối với "người thông-suốt" nầy,

Mọi kết-sử đều đoạn-tận.

(Kệ số 384.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Quả Thánh: Quả = kết-quả việc tu-tập thành-công; Thánh = bực đã dứt được sanh-tử trong Luân-hồi. Có bốn quả-vị: (1) Tu-đà-huờn, còn sanh lại bảy lần;(2)Tư-đà-hàm, còn sanh lại một lần; (3) A-na-hàm, chỉ sanh lên cõi Trời, chẳng trở lại cõi trần; ba quả-vị nầy thuộc bực Hiền, còn bị tái-sanh; (4) A-la-hán, chứng vô-sanh, dứt cảnh tái-sanh, được gọi là bực Thánh. Trái với Thánh-hiền là phàm-phu, chưa tu

 

- Tôn-giả Xá-lợi-phất: tên tiếng Pali là Sàriputta, vị đại-đệ-tử của Đức Phật Thích-ca, nổi tiếng là thông-minh đệ nhứt.

 

- Chỉ, Quán: Chỉ = ngưng lại; Quán = xem xét kỹ-lưỡng, suy-nghĩ sâu-xa. Đây là hai Pháp-tu về Thiền-định. Theo giáo-lý Bắc-tông, Thiền-quán phân ra làm sáu phép-tu, gọi là Lục diệu-pháp-môn: (1) Sổ-tức, đếm hơi thở, (2)Tùy-tức, theo dõi hơi thở; (3) Chỉ, ngưng tất cả ý-nghĩ, tư-tưởng lại; (4) Quán, dùng tâm quán-xét tâm, suy-nghĩ sâu-xa; (5) Hoàn, quay trở lại; (6) Tịnh, làm cho tâm trở nên trong-sạch và yên-tĩnh. Ngồi Thiền là lần-lượt thực-hành sáu phép-tu đó.

 

- Bỉ ngạn: Bỉ = kia;Ngạn = bờ. Bỉ-ngạn là bờ bên kia, tức là bờ giác-ngộ. Đáo bỉ ngạn là đến bờ giác-ngộ bên kia; bờ bên nầy là bờ mê-lầm.

 

- Người thông-suốt: người hiểu rõ mọi việc, tức là đã đạt được Trí-huệ Bát-nhã Ba-la-mật, cái Trí đưa ta đến bờ giác.

 

- Kết-sử: Kết = ràng-buộc; Sử = sai-khiến. Có mười Kết-sử ràng-buộc tâm-trí ta, xúi-dục làm quấy, xin kể mấy kết-sử chánh: tham, sân, si, mạn, nghi, khát-ái,v.v... Dẹp xong các kết-sử, chứng A-la-hán.

 

- Đoạn-tận: Đoạn = cắt đứt; Tận = dứt hết xong.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc ba mươi tỳ-kheo nghe được hai pháp Chỉ và Quán trong phép tu Thiền-định mà chứng được quả A-la-hán. Chẳng phải chỉ đến nghe mà đắc quả ngay, vì còn phải tu-tập nữa, tuy Tích chuyện chỉ kể ra vắn-tắt như thế.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là nêu lên hai điểm quan-trọng trong khi ngồi Thiền: (1) dừng lại tất cả ý-tưởng, (2) quán-sát thâm-sâu tâm mình, theo dõi mọi biến-chuyển bên trong, để chấm-dứt vọng-tưởng.

 

(2) Ý-nghĩa của Bài Kệ số 384:

 

Bài Kệ nêu rõ công-năng của hai pháp Chỉ và Quán, là dẹp tan mọi kết-sử, chứng đắc Trí-huệ Bát-nhã, và được giác-ngộ và giải-thoát

 

Xin phân-tách từng câu:

 

1) Khi an-trú (trong)hai pháp:Chỉ, Quán: khi đã tu-tập thật thuần-thục cả hai pháp Chỉ ( =ngưng được tất cả tư-tưởng) và Quán ( =theo dõi thật sát mọi biến-chuyển trong tâm, suy-nghĩ sâu-xa), thì...

 

2) Bà-la-môn đạt tới bỉ-ngạn: chữ Bà-la-môn, ở đây, có nghĩa là bực A-la-hán, bực ấy đã đến bờ giác bên kia, tức là đã hoàn-toàn giác-ngộ và giải-thoát (nhờ an-trú trong hai pháp Chỉ và Quán).

 

3) Đối với "người thông-suốt" nầy, Mọi kết-sử đều đoạn-tận: Người thông-suốt, ở đây, là người đã đạt được Trí-huệ Bát-nhã Ba-la-mật, cái trí đưa ta đến bờ giác-ngộ và giải-thoát, người ấy chẳng còn bị các kết-sử ràng-buộc được nữa. Đó là nhờ công-năng của hai pháp-tu Chỉ và Quán, khiến tâm trở nên hoàn-toàn thanh-tịnh.

The Story of Thirty Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (384) of this book, with reference to thirty bhikkhus.

On one occasion, thirty bhikkhus came to pay homage to the Buddha. The Venerable Sariputta, seeing that time was ripe and proper for those bhikkhus to attain arahatship, approached the Buddha and asked a question, solely for the benefit of those bhikkhus. The question was this: "What are the two dhammas?" To this the Buddha replied, "Sariputta! Tranquillity and Insight Meditation are the two dhammas."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 384: When the brahmana is well-established in the two dhammas (i.e., the practice of Tranquillity and Insight Meditation), then, in that knowing one, all fetters are destroyed.


At the end of the discourse all the thirty bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verse 384
Sambahulabhikkhu Vatthu

Yada dvayesu dhammesu
paragu hoti brahmano
athassa sabbe samyoga
attham gacchanti janato.

Verse 384: When the brahmana is well-established in the two dhammas (i.e., the practice of Tranquillity and Insight Meditation), then, in that knowing one, all fetters are destroyed.


dhp385_B
Verse-Kệ 385

(266).- Tích chuyện Ma-vương thưa hỏi Phật - Kệ số 385

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Ma-vương tới hỏi Phật.

 

Có một hôm, Ma-vương hoá hình thành một người thường, đến thưa hỏi Đức Phật: "Bạch Thế-tôn, Ngài thường nói đến bỉ-ngạn, chẳng hay nghĩa đó ra làm sao?" Đức Phật quán thấy Ma-vương giả-dạng, mới đáp: ‘Nầy Ma-vương, ông đừng hòng qua mặt được Như-Lai. Đối với ông, thử-ngạn hay bỉ-ngạn nào có quan-hệ chút gì đâu! Bỉ-ngạn là bờ bên kia, chỉ có bực A-la-hán đã tận-diệt mọi phiền-não, hoàn-toàn giải-thoát, mới đạt tới bờ giác-ngộ bên kia."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người chẳng chấp bờ nầy, bờ nọ,

Cả hai bờ chẳng chấp có, không.

Thoát-ly phiền-não, hết trói buộc,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 385.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ma-vương = Vua Ma trên cõi Trời, thường đi cám-dỗ làm quấy.

 

- Như-Lai: Như = như thế; Lai = đến; Đức Phật tự-xưng là Như-Lai khi nói với kẻ khác. Pali là Tathàgata. Các đệ-tử gọi Phật là Thế-tôn.

 

- Chấp = ôm chặt trong ý-nghĩ, chẳng chịu buông-bỏ.

 

- Bà-la-môn = Brahmana, ở đây, nghĩa là bực chứng quả A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị: Ma-vương giả dạng đến hỏi Đức Phật nghĩa chữ bỉ-ngạn. Đức Phật đáp, bực A-la-hán đã dứt hết phiền-não, mới đáo bỉ ngạn, tức là đến bờ giác-ngộ bên kia.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 385:

 

Bài Kệ cũng rất giản-dị, đặt nặng ở chữ chấp. Chấp là cứ ôm khư khư trong lòng, chẳng chịu buông-bỏ để khỏi bị ràng-buộc. Bực A-la-hán (bài Kệ gọi là Bà-la-môn) chẳng chấp bờ nầy, bờ nọ; ...chẳng chấp có, không; ...thoát-ly phiền-não, hết trói buộc, là bực đã đến bỉ-ngạn.

The Story of Mara

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (385) of this book, with reference to Mara.

On one occasion, Mara came to the Buddha disguised as a man and asked him, "Venerable Sir, You often say the word 'param'. What is the meaning of that word?" The Buddha, knowing that it was Mara who was asking that question, chided him, "O wicked Mara! The words 'param' and 'aparam' have nothing to do with you. 'Param' which means 'the other shore' can be reached only by the arahats who are free from moral defilements."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 385: Him I call a brahmana who has for him neither this shore (i.e., the sense-bases) nor the other shore (i.e., the sense objects ), and who is undistressed and free from moral defilements.

Dhammapada Verse 385
Mara Vatthu

Yassa param aparam va
paraparam na vijjati
Vitaddaram visamyuttam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 385: Him I call a brahmana who has for him neither this shore (i.e., the sense-bases) nor the other shore (i.e., the sense objects), and who is undistressed and free from moral defilements1.


1. 'This shore' and 'the other shore' are used in the sense of the internal and the external ayatanas. The internal ayatanas are the sense bases, viz, the eye, the ear, the nose, the tongue, the body and the mind; the external ayatanas are the sense objects, viz., visible object, sound, odour, taste, touch and mind-object.

For a true Brahmana (i.e., arahat) there is neither 'this shore' nor 'the other shore' which means that the senses of the arahat are calmed, and his passions extinguished.


dhp386_B
Verse-Kệ 386

(267).- Tích chuyện một vị Bà-la-môn hỏi Phật - Kệ số 386

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị Bà-la-môn đến thưa hỏi Đức Phật, thế nào là Bà-la-môn.

 

Thuở ấy có một người Bà-la-môn nghĩ rằng: "Phật Cồ-đàm gọi các đệ-tử là Bà-la-môn; ta đây thuộc giai-cấp Bà-la-môn, vậy ta phải được gọi là Bà-la-môn như họ." Nghĩ xong, người ấy đến chùa, thưa hỏi Đức Phật về vấn-đề đó. Đức Phật đáp: "Ta chẳng gọi là Bà-la-môn những người sanh trong giai-cấp nầy. Ta chỉ gọi là Bà-la-môn những ai đã chứng được quả-vị A-la-hán."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó vị Bà-la-môn chứng được sơ-quả Tu-đà-huờn:

 

Người hành Thiền, ẩn-cư, vô-nhiễm,

Thoát-ly lậu-hoặc, nhiệm-vụ xong,

Thành-đạt được mục-đích tối-tôn,

Như -Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 386.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Cồ-đàm: Gotama, họ của Đức Phật Thích-ca.

 

- Giai-cấp = tầng-lớp trong xã-hội. Ở Ấn-độ xưa, có bốn giai-cấp: (1) Bà-la-môn, Brahmana, tu-sĩ; (2)Sát-đế-lợi, Khattiya, vua quan; (3) Phệ-xá, Vessa, buôn-bán; (4)Thủ-đà-la, Sudda, thợ, làm ruộng.

 

- Sơ-quả = quả-vị đầu-tiên, tức là quả Tu-đà-huờn (Sotàpatti.). Còn gọi là Nhập-Lưu, được vào dòng nước Thánh; hay Thất-Lai, chỉ còn tái-sanh lại bảy lần nữa ở cõi người, rồi sẽ chứng quả Thánh.

 

- A-la-hán: Arahant, quả-vị thứ tư, cao nhứt, dứt sạch phiền-não, chứng-đắc Niết-Bàn (chẳng còn tái-sanh trong cõi Luân-hồi nữa.)

 

- Ẩn-cư = ở ẩn, dấu mình ở nơi vắng người.

 

- Vô-nhiễm = chẳng bị nhuốm dơ, tức dẹp phiền-não, trừ lậu-hoặc

 

- Lậu-hoặc: Lậu = rỉ chảy ra; Hoặc = chỗ dơ-xấu, các lỗi-lầm. Lậu-hoặc là những phiền-não như tham, sân, si khởi lên trong tâm, lộ ra bằng cử-chỉ hay lời nói chẳng lành, chẳng sạch.

 

- Tối-tôn: Tối = hết sức, Tôn = đáng kính. Mục-đích tối-tôn là mục-đích cao-cả nhứt, tức là chứng đắc Niết-bàn, hết bị tái-sanh nữa.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất đơn-sơ, một người sanh trong giai-cấp Bà-la-môn đến hỏi Đức Phật, có được gọi là Bà-la-môn như các đệ-tử Phật hay không? Đức Phật đáp, Bà-la-môn, ở đây, có nghĩa là bực A-la-hán.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 386:

 

Bài Kệ định-nghĩa thế nào là bực A-la-hán, được Phật gọi là Bà-la-môn: hành Thiền, ẩn-cư, vô-nhiễm, hết lậu-hoặc, xong nhiệm-vụ, chứng được Niết-bàn là mục-đích cao-thượng, đáng tôn-quí nhứt.

 

Xin phân-tách từng điểm:

 

1) Người hành Thiền: tu-tập Thiền tức là tu Tâm, làm sao cho tâm được hoàn-toàn thanh-tịnh, để trí-huệ phát sáng. Người hành Thiền quán-sát mọi biến-chuyển trong tâm, chận được các vọng-tưởng, khiến tâm trở nên vắng-lặng, an-nhiên, do đó vui trong tự-tại.

 

2) Ẩn-cư: biết sống một mình, nghĩa là vứt bỏ các thú-vui vật-chất thấp-hèn trong xã-hội, gạt bỏ các phiền-não để giữ tâm được vắng-vẻ; chớ chẳng phải chỉ tìm nơi rừng sâu, non cao mà ẩn thân.

 

3) Vô-nhiễm: chẳng bị nhuốm dơ, tức là thân-tâm thanh-tịnh, giới-đức vẹn-toàn, do đó, các sự cám-dỗ của các dục-lạc, các tội-lỗi chẳng thể nào làm lung-lay được ý-chí quyết theo con đường lành.

 

4) Thoát-ly lậu-hoặc: chẳng còn bị các lậu-hoặc, tức là các phiền-não như tham, sân, si, mạn, nghi, tà-kiến theo khuấy rối nữa. Nói cách khác, đã dẹp xong hết mười kết-sử, hết bị sai-khiến, được thoát-ly, nên hoàn-toàn tự-do, tự-tại.

 

5) Nhiệm-vu xong: Nhiệm-vụ nào? Làm xong nhiệm-vụ thanh-lọc thân-tâm, khiến việc tu-tâm cho thanh-tịnh đã hoàn-tất.

 

6) Đạt mục-đích tối-tôn: Thường, ta ăn chay, đi chùa, lạy Phật, tụng kinh là để cầu phước, được may-mắn, sung-sướng cả đời. Đó là mục-đích tốt, nhưng còn thấp, so với mục-đích tối-tôn, cao hơn, là thoát Khổ vĩnh-viễn, khi chứng được vô-sanh, (nghĩa là chẳng phải tái-sanh mãi trong cõi Luân-hồi lận-đận), được vào cảnh-giới an-vui, thường-hằng, tự-tại của Niết-bàn, đó mới là mục-đích cao-quí nhứt.

The Story of a Certain Brahmin

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (386) of this book, with reference to a brahmin.

One day, a brahmin thought to himself, "Gotama Buddha calls his disciples 'brahmana'. I also am a brahmin by caste. Shouldn't I also be called a brahmana?" So thinking, he went to the Buddha and posed this question. To him the Buddha replied, "I do not call one a brahmana simply because of his caste; I only call him a brahmana, who has attained arahatship."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 386: Him I call a brahmana, who dwells in seclusion practising Tranquility and Insight Meditation and is free from taints (of moral defilements); who has performed his duties, and is free from moral intoxicants (asavas) and has reached the highest goal (arahatship).


At the end of the discourse the brahmin attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 386
Annatarabrahmana Vatthu

Jhayim viraja' masinam
katakicca' manasavam
uttamattha' manuppattam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 386: Him I call a brahmana, who dwells in seclusion practising Tranquility and Insight Meditation and is free from taints (of moral defilements); who has performed his duties, and is free from moral intoxicants (asavas) and has reached the highest goal (arahatship).


dhp387_B
Verse-Kệ 387

(268).- Tích chuyện Tôn-giả A-nan nhìn hào-quang Phật - Kệ số 387

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tu-viện Đông-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc Tôn-giả A-nan khen ngợi hào-quang toả ra từ Đức Phật.

 

Hôm ấy vào ngày rằm tháng Bảy, bầu trời trong xanh chẳng gợn chút mây. Tôn-giả A-nan đứng nhìn mặt trời sắp lặn, tia nắng hồng chiếu cả phương Tây. Sau rặng cây, nơi phương Đông, trăng rằm rạng-rỡ đang toả ánh-sáng vàng dịu mát qua khe lá. Vừa lúc ấy, vua Ba-tư-nặc, xứ Câu-tát-la, trong y-phục lộng-lẫy nạm vàng và kim-cương chói lọi, bước vào. Đưa vua vào trong, Tôn-giả A-nan nhìn thấy Trưởng-lão Ca-lưu-đà-di đang ngồi thiền, trong cơn đại-định, gương mặt rạng-rỡ cả góc phòng. Bấy giờ Đức Phật đang ngồi trên bồ-đoàn, thân-tướng trang-nghiêm, ánh hào-quang toả ra vô cùng rực-rỡ. Tôn-giả A-nan buột miệng, thưa: "Bạch Thế-tôn, ánh tà-dương, vầng trăng rằm, trang-phục hoàng-gia lộng-lẫy, gương mặt rạng-rỡ trong thiền-định, chẳng rực-rỡ bằng ánh hào-quang toả ra từ thân-tướng của Thế-tôn." Đức Phật đáp lời bằng bài Kệ sau đây:

 

Ban ngày mặt trời chiếu sáng,

Ban đêm ánh trăng tỏ rạng.

Khí-giới chói loà Sát-đế-lỵ,

Đắc thiền-định sáng nơi Phạm-chí.

Chỉ riêng đức Phật chiếu hào-quang

Rạng-rỡ đêm ngày khắp thế-gian.

(Kệ số 387.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- A-nan: tên vị thị-giả ( = hầu bên cạnh) của Đức Phật Thích-ca, tiếng Pali là Ànanda.

 

- Hào-quang: ánh-sáng toả ra từ bực tu-hành cao, nhờ định-lực.

 

- Ba-tư-nặc, Câu-tát-la: tên vua Pasenadi, xứ Kosala.

 

- Ca-lưu-đà-di: đại-đệ-tử của Phật Thích-ca, tên Pali: Kàludàyi.

 

- Đại-định: tâm trạng lắng-yên, thâm-sâu của thiền-giả.

 

- Bồ-đoàn = nệm lót bên dưới để ngồi Thiền.

 

- Thân-tướng: hình-dáng của thân-thể.

 

- Tà-dương: mặt trời xế chiều sắp lặn.

 

- Trang-phục hoàng-gia: y-phục của nhà vua.

 

- Sát-đế-lỵ = phiên-âm chữ Khattiya, giai-cấp vua chúa ở Ấn-độ.

 

- Phạm-chí: đồng một nghĩa với chữ Bà-la-môn, Brahmana.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị: Tôn-giả A-nan khen ngợi hào-quang toả từ thân-tướng của Đức Phật. Hào-quang đó rực-rỡ hơn cả y-phục của vua, hơn cả gương mắt rạng-rỡ của người ngồi Thiền nhập-định, hơn cả ánh sáng mặt trời và mặt trăng.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là đức-hạnh từ-bi của Đức Phật chói sáng ngày đêm khắp cả thế-gian.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 387:

 

Bài Kệ cho rằng hào-quang của Đức Phật hơn cả mọi ánh-sáng, vì chiếu cả ngày đêm, khắp thế-gian. Hào-quang ấy tượng-trưng cho đức-hạnh cao-quí của Đức Phật, chẳng chi sánh bằng.

The Story of Thera Ananda

While residing at the Pubbarama monastery, the Buddha uttered Verse (387) of this book, with reference to the Venerable Ananda.

It was the full moon day of the seventh month (Assayuja) when King Pasenadi of Kosala came to visit the Buddha. The king was then resplendent in his full royal regalia. At that time, Thera Kaludayi was also present in the same room sitting at the edge of the congregation. He was in deep mental absorption (jhana), his body bright and golden. In the sky, the Venerable Ananda noticed that the sun was setting and the moon was just coming out, both the sun and the moon radiating rays of light.

The Venerable Ananda looked at the shining splendour of the king, of the thera, and of the sun and the moon. Finally, the Venerable Ananda looked at the Buddha and he suddenly perceived that the light that was then radiating from the Buddha far surpassed the light shining from the others. Seeing the Buddha in his glory and splendour, the Venerable Ananda immediately approached the Buddha and burst forth, "O Venerable Sir! The light that shines forth from your noble body far surpasses the light from the king, the light from the thera, the light from the sun and the light from the moon."

To him the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 387: By day shines the sun; by night shines the moon; in regalia shines the king; in meditation shines the arahat; but the Buddha in his glory shines at all times, by day and by night.

Dhammapada Verse 387
Anandatthera Vatthu

Diva tapati adicco
ratti mabhati candima
sannaddho khattiyo tapati
jhayi tapati brahmano
atha sabbamahorattim
buddho tapati tejasa.

Verse 387: By day shines the sun; by night shines the moon; in regalia shines the king; in meditation shines the arahat; but the Buddha in his glory shines at all times, by day and by night.


dhp388_B
Verse-Kệ 388

(269).- Tích chuyện một vị Bà-la-môn ẩn-sĩ - Kệ số 388

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị Bà-la-môn ẩn-cư tu khổ-hạnh.

 

Thuở ấy, có một vị Bà-la-môn ở Xá-vệ, sống cuộc đời ẩn-dật, tu theo lối khổ-hạnh. Một hôm, ông ta nghĩ, Đức Phật gọi các đệ-tử của Ngài là bực xuất-gia; ta sống ẩn-cư, tu khổ-hạnh, thì cũng đáng gọi là người xuất-gia. Ông ta đến gặp Phật và nói lên ý-nghĩ ấy. Đức Phật đáp: "Nầy ẩn-sĩ, chẳng phải chỉ sống độc-cư mà đủ để được gọi là bực xuất-gia. Hãy nghe bài Kệ nầy kể rõ những đức-tánh của người xuất-gia."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà vị Bà-la-môn chứng được quả-vị thứ nhứt là Tu-đà-huờn:

 

Lià ác-nghiệp là Bà-la-môn.

Sống trong an-tịnh là Sa-môn.

Tự mình dứt bỏ mọi ô-nhiễm

Nên được gọi là bực xuất-gia.

(Kệ số 388.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ẩn-sĩ: người sống nơi xa-vắng, ít tiếp-xúc với kẻ khác.

 

- Khổ-hạnh = lối tu ép-xác, sống quá kham-khổ.

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà. Người xuất-gia là kẻ bỏ đời sống thế-tục, rời gia-đình, đi tu. Ở đây, xuất-gia = ra khỏi nơi ô-uế.

 

- Tu-đà-huờn: quả-vị thứ nhứt, dịch là Nhập-Lưu, nghĩa là được gia-nhập vào dòng nước Thánh, còn được gọi là Thất-Lai, nghĩa là còn tái-sanh lại bảy lần nữa, sẽ chứng quả Thánh. Tiếng Pali: Sotàpatti. Chứng quả Tu-đà-huờn, khi: (1) bỏ được thân-kiến, tức là chẳng chấp thân-tâm nầy làm Ngã, Ta; (2) hết Nghi, tức là hết nghi-ngờ về Chánh-Pháp; (3) bỏ giới-cấm-thủ, tức là chẳng theo các lối cúng-tế tà-đạo.

 

- Ác-nghiệp: Nghiệp ác gồm có: (1)thân làm ác; (2) miệng nói ác; (3) ý nghĩ ác.

 

- Sa-môn: tu-sĩ Phật-giáo; tiếng Pali: Samanera, có ba nghĩa: (1) cần-giả, siêng làm điều thiện; (2) tức-giả, ngưng làm điều ác; (3) bần-giả, cam chịu nghèo khó để tu-hành.

 

- Ô-nhiễm = dính dơ; ở đây, bị các phiền-não, tội-lỗi nhuốm dơ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị: một vị Bà-la-môn ẩn-cư tu khổ-hạnh, tự cho mình là bực xuất-gia như các tỳ-kheo. Đức Phật đọc bài Kệ nói rõ thế nào mới xứng-danh là bực xuất-gia.

 

(2) Ý-nghĩa bài Kệ số 388:

 

Bài Kệ nêu ra: (1) bỏ ác-nghiệp, thân, miệng, ý đều lành; (2) sống an-tịnh, trong-sạch và vắng-vẻ; (3) lià xa các cấu-nhiễm ( = tội-lỗi, phiền-não nhuốm dơ tâm), là những đặc-tánh căn-bản của một bực xuất-gia.

 

Ý-nghĩa của bài Kệ: xuất-gia là ra khỏi nơi ô-uế, phiền-não.

The Story of a Brahmin Recluse

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (388) of this book, with reference to a brahmin ascetic.

Once there was a brahmin ascetic in Savatthi. One day, it occurred to him that the Buddha called his disciples pabbajita bhikkhus and since he also was a recluse, he should also be called a pabbajita. So he went to the Buddha and posed the question why he should not be called a pabbajita. The Buddha's answer to him was this: "Just because one is a recluse one does not automatically become a pabbajita; a pabbajita must have other qualifications also."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 388: Because he has discarded evil he is called a 'brahmana'; because he lives calmly he is called a 'samana'; and because he gets rid of his impurities he is called a 'pabbajita'.


At the end of the discourse the brahmin attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 388
Annatarabrahmana Pabbajita Vatthu

Bahitapapoti brahmano
samacariya
1 "samano" ti vuccati
pabbajayamattano malam
tasma "pabbajito
2" ti vuccati.

Verse 388: Because he has discarded evil he is called a 'brahmana'; because he lives calmly he is called a 'samana'; and because he gets rid of his impurities he is called a 'pabbajita'.


1. samacariya: lit., living calmly, i.e., practising for eradication of moral defilements.

2. pabbajita: one who leaves the household life for the homeless life of a recluse; in Buddhism it means one who has given up the impurities of the household life to become a bhikkhu.


dhp389_B
dhp390_B
Verse-Kệ 389-390

(270).- Tích chuyện nhẫn-nhục của Tôn-giả Xá-lợi-phất - Kệ số 389 và 390

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ-giảng-pháp, có đề-cập đến đức nhẫn-nhục của Tôn-giả Xá-lợi-phất.

 

Tôn-giả Xá-lợi-phất là vị đại-đệ-tử nổi tiếng thông-minh bực nhứt, đứng đầu Tăng-đoàn. Tôn-giả thường được khen-ngợi là người nhẫn-nhục, chẳng hề tức-giận khi bị ai nói hỗn-hào, hay hành-hung. Tiếng đồn vang xa, có một người Bà-la-môn ganh-tị, chẳng phục, muốn tìm cách khởi-hấn để xem Tôn-giả quả có nhịn-nhục được chăng. Một hôm, Tôn-giả Xá-lợi-phất đi khất-thực. Vị Bà-la-môn bước theo sau, thình-lình vung tay đập mạnh vào lưng Tôn-giả Xá-lợi-phất. Tôn-giả vẫn bình-thản, bước đi, chẳng hề quay lại xem ai đã đánh mình. Lại một cú đấm mạnh nữa, Tôn-giả vẫn điềm-nhiên đi tới. Vị Bà-la-môn ngạc-nhiên trước thái-độ trầm-tĩnh của Tôn-giả, mới sanh ra hối-hận, liền đến trước Tôn-giả, qùi xuống tạ lỗi. Tôn-giả ôn-tồn chấp-nhận lời hối-tiếc. Vị ấy bước theo thưa tiếp: "Bạch Tôn-giả, Ngài có tha tội cho thì mai nầy xin Ngài đến nhà con, để con cúng-dường."

 

Hôm sau, Tôn-giả Xá-lợi-phất cầm bình bát đến nhà kẻ đã hành-hung mình để khất-thực. Các vị tỳ-kheo khác thấy thế mới nghĩ bụng, kẻ Bà-la-môn kia chẳng bị khiển-trách, lại được tha tội dễ-dàng như thế, biết đâu lại chẳng sanh tâm hiếp-đáp các vị Tăng khác. Họ liền thưa trình sự-việc lên Đức Phật. Đức Phật trả lời với hai bài Kệ sau đây:

 

Chớ nên đánh-đập vị Phạm-chí.

Bị đập, Phạm-chí chớ trả thù.

Xấu-hổ thay, ai đập Phạm-chí!

Xấu-hổ hơn, Phạm-chí trả thù!

(Kệ số 389.)

 

Đối với người được gọi là Phạm-chí,

Lợi chẳng nhỏ, nếu bỏ ý trả thù.

Đến mức nào, tâm tác-hại bị chận,

Đến chừng ấy, tiêu-trừ xong khổ-hận.

(Kệ số 390)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Xá-lợi-phất: còn được gọi là Xá-lợi-tử, tên tiếng Pali là Sàriputta là vị đại-đệ-tử đệ-nhứt trí-huệ của Phật Thích-ca.

 

- Nhẫn-nhục: nhịn-nhục, bền chí chịu đựng chẳng tức-giận.

 

-Hành-hung: Hành = làm;Hung = dữ.Hành-hung, làm dữ, đánh-đập

 

- Ganh-tị: cà-nanh, ghen-ghét, đòi bằng hay hơn kẻ khác.

 

- Khởi-hấn: gây chuyện để đánh nhau.

 

- Phạm-chí = đồng nghĩa với Bà-la-môn (Brahmana); ở trong Phẩm Bà-la-môn nầy, chữ Phạm-chí, Bà-la-môn lại có nghĩa là bực A-la-hán.

 

- Tâm tác-hại: Tác = làm; Hại = gây ra đau-khổ, hư-hại. Người có tâm tác-hại làm hại kẻ khác, gây ra đau-khổ cho họ. Trái ngược với tâm tác-hại là tâm từ-bi.

 

- Khổ-hận: đau-khổ và thù-oán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại đức nhẫn-nhục và tánh trầm-tĩnh của Tôn-giả Xá-lợi-phất: đang đi bị đập sau lưng, chẳng quay lại xem ai đánh mình, cứ thản-nhiên đi tới. Ý-nghĩa Tích chuyện lại nằm trong bài Kệ.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 389 và 390:

 

Ý-nghĩa của hai bài Kệ là đức nhẫn-nhục. Xin phân-tách hai bài Kệ:

 

1) "Xấu-hổ thay, ai đập Phạm-chí!": Tại sao xấu-hổ? Vì đã hành-hung một người tu-hành hiền-lành, chẳng hề làm hại gì đến ai.

 

2) "Xấu hổ hơn, Phạm-chí trả thù": Tại sao lại xấu-hổ hơn? Thông-thường, bị đập, đập lại trả-thù, đâu có chi quá xấu-hổ. Nhưng đã là Phạm-chí, nguyện tu-hành, bỏ cả sân-si, nay vì tức-giận mà trả thù, do đó, chẳng xứng với danh-nghĩa tu-hành, nên mới xấu-hổ hơn.

 

3) "Đối với người được gọi là Phạm-chí, Lợi chẳng nhỏ, nếu bỏ ý trả thù": Lợi chi mà chẳng nhỏ? Có ý trả thù là đang tạo ý-nghiệp ác, rồi sẽ bị tái-sanh vào cõi dữ. Đã là bực Phạm-chí, tu-tập để chứng được vô-sanh, thì lià hẳn được ác-ý trả-thù là lợi-lạc to-lớn khỏi còn bị ý-nghiệp dẫn đi tái-sanh trong các nẻo dữ của Luân-hồi.

 

4) Hai câu chót: tâm tác-hại được chận đứng chừng nào, thì sự khổ-hận được tiêu-trừ đến chứng ấy. Chận cách nào? Bằng tâm từ-bi.

The Story of Thera Sariputta

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (389) and (390) of this book, with reference to the Venerable Sariputta.

The Venerable Sariputta was often praised by many people for his patience and forbearance. His pupils usually said of him thus: "Our teacher is a man of great patience and extreme endurance. If he is abused or even beaten by others, he does not lose his temper but remains calm and composed." As this was often said of the Venerable Sariputta, a brahmin holding wrong views declared to the admirers of Sariputta that he would provoke the Venerable Sariputta into anger. At that moment, the Venerable Sariputta, who was on his alms-round, appeared on the scene; the brahmin went after him and hit him hard on his back with his hand. The thera did not even look round to see who was the person that attacked him, but proceeded on his way as if nothing had happened. Seeing the magnanimity and great fortitude of the noble thera, the brahmin was very much shaken. He got down on his knees at the feet of the Venerable Sariputta, admitted that he had wrongfully hit the thera, and asked for pardon. The brahmin then continued, "Venerable Sir, should you forgive me, kindly come to my house for alms-food."

In the evening, other bhikkhus reported to the Buddha that the Venerable Sariputta had gone for alms-food to the house of a brahmin who had beaten him. Further, they observed that the brahmin was sure to get bolder and he would soon be assaulting other bhikkhus also. To those bhikkhus, the Buddha replied, "Bhikkhus, a true brahmana does not beat another true brahmana; only an ordinary man or an ordinary brahmin would beat an arahat in anger and ill will. This ill will should be eradicated by Anagami Magga."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 389: One should not strike a brahmana; a brahmana should not get angry with his assailant; it is shameful to strike a brahmana; it is more shameful to get angry with one's assailant.

Verse 390: For a brahmana there is no benefit at all if he does not restrain from anger to which his mind is prone. Inasmuch as one desists from the intention to harm, to that extent dukkha ceases.


Dhammapada Verses 389 and 390
Sariputtatthera Vatthu

Na brahmanassa pahareyya
nassa muncetha brahmano
dhi brahmanassa hantaram
tato dhi yassa muncati.

Na brahmanasse' tadakinci seyyo
yada nisedho manaso piyehi
yato yato himsamano nivattati
tato tato sammatimeva dukkham.

Verse 389: One should not strike a brahmana; a brahmana should not get angry with his assailant; it is shameful to strike a brahmana; it is more shameful to get angry with one's assailant.

Verse 390: For a brahmana there is no benefit at all if he does not restrain from anger to which his mind is prone. Inasmuch as one desists from the intention to harm, to that extent dukkha ceases.


dhp391_B
Verse-Kệ 391

(271).- Tích chuyện Ni-bà Ba-xà-ba-đề - Kệ số 391

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Ni-bà Ba-xả-ba-đề, dì ruột của Đức Phật.

 

Khi Thái-tử Tất-đạt-ta sanh ra được bảy ngày, Hoàng-hậu Ma-gia từ-trần; dì của Thái-tử là bà Ba-xà-ba-đề lên làm Hoàng-hậu, nuôi-dưỡng Thái-tử như con đẻ. Bấy giờ, bà Ba-xà-ba-đề cũng vừa sanh hoàng-tử Nan-đà được năm ngày, giao cho người vú nuôi, còn bà thì cho Thái-tử bú. Đến khi Thái-tử xuất-gia đi tu, thành Đạo, trở về thành Ca-tỳ-la-vệ thuyết-pháp, bà Ba-xà-ba-đề thỉnh-cầu Đức Phật cho phụ-nữ được gia-nhập Giáo-hội với tư-cách tỳ-kheo-ni. Đức Phật chẳng hứa-khả, mà trở về rừng Đại-lâm ở Tỳ-da-ly. Khi đức Vua Tịnh-phạn đã qua đời, bà Ba-xà-ba-đề liền cùng với năm trăm cung-nữ, cạo đầu, mặc nâu-sồng, đi chơn không, đến gặp Phật và thỉnh-cầu lần nữa. Đức Phật vẫn chẳng khứng. Tôn-giả A-nan nhìn thấy cảnh-tượng thê-thảm các vị phu-nhơn, áo quần rách-rưới, chơn tay trầy-trụa, đứng khóc lóc ngoài sân, động lòng vào năn-nỉ Phật. Đức Phật bảo, nếu chịu tuân-theo tám điều giới-luật đặc-biệt, thì được chấp-nhận vào Giáo-hội. Bà Ba-xà-ba-đề ưng-thuận tuân theo, và sau đó bà lên cầm đầu Ni-đoàn.

 

Thời-gian sau, có một số tỳ-kheo-ni nghĩ lầm, cho rằng bà Ba-xà-ba-đề lúc trước chẳng có làm lễ chánh-thức xuất-gia, chẳng có vị giáo-thọ đỡ-đầu, nên họ chẳng chịu dự các lễ Bố-tát, lễ An-cư kiết-hạ, do bà Ba-xà-ba-đề tổ-chức. Họ đến trình lý-do lên Đức Phật. Đức Phật dạy: "Nầy chư tỳ-kheo-ni, sao lại nghĩ sai-lầm như thế. Chính ta đưa ra tám điều giới-luật đặc-biệt để thành-lập Ni-đoàn, lại chính Ta là giáo-thọ đỡ-đầu cho Ni-bà Ba-xà-ba-đề. Chư ni chẳng nên nghi-nan về một bực A-la-hán như thế."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Với người, ác-nghiệp chẳng tạo nhơn,

Bằng thân, bằng miệng hay bằng ý,

Tự điều-phục trong ba đường ấy,

Như-lại gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 391.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ni-bà: bên Tăng có Hoà-thượng, Thượng-toạ, Đại-đức thì bên Ni có các cấp tương-đương: Ni-bà, Ni-sư và Ni-cô.

 

- Ba-xà-ba-đề: tên người dì ruột của Đức Phật, Pali là Mahàpajàpati

 

- Tất-đạt-ta: tên của Đức Thích-ca, khi chưa đi tu, Pali: Siddhatta

 

- Ma-gia: tên Hoàng-hậu, mẹ của Đức Phật, Pali là Màyà.

 

- Ca-tỳ-la-vệ: thủ-đô nước Xá-vệ (Sàvatthi), Pali là Kapilavatthu.

 

- Tỳ-kheo-ni: nữ tu-sĩ Phật-giáo, tiếng Pali là Bhikkhuni.

 

- Hứa-khả = hứa cho, ưng-thuận.

 

- Tỳ-da-ly: tên xứ nầy, tiếng Pali là Vesàlì.

 

- Mặc nâu-sồng = mặc áo màu dà, như người tu-hành.

 

- Tám điều giới-luật đặc-biệt: gồm có các đìều bắt-buộc chư ni phải nhận sự ưu-tiên của chư tăng, như: một ni-cô dầu cao tuổi đạo cũng phải đứng sau một vị tỳ-kheo dầu chỉ mới thọ-giới có một ngày. Tám điều giới-luật đặc-biệt, tiếng Pali là Garudhamma.

 

- Ni-đoàn = đoàn-thể các nữ tu-sĩ Phật-giáo.

 

- Lễ Bố-tát = lễ tụng-đọc giới-luật vào đầu tháng và giữa tháng, tiếng Pali là Uposatha.

 

- Lễ an-cư kiết-hạ: vào ba tháng mùa mưa, tăng-ni chẳng đi ra ngoài khất-thực (sợ đạp côn-trùng), tu-tập nơi tịnh-xá (Pali: Pavàranà)

 

- Giáo-thọ: vị Tỳ-kheo dạy giáo-lý cho chư Tăng-ni.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại tiểu-sử của Ni-bà Ba-xa-ba-đề, dì ruột của Đức Phật. Bà đã đi bộ hơn trăm dặm đường để xin Phật chấp-nhận cho đi tu. Ý-nghĩa của Tích chuyện nêu lên quyết-tâm tu-hành của một vị Hoàng-hậu, để làm gương cho giới phụ-nữ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ:

 

Bài Kệ ít liên-quan đến Tích chuyện, dạy giữ ba nghiệp: thân, miệng, ý cho thanh-tịnh, bằng cách tự mình kềm-chế lấy chính mình.

 

Hai câu đầu của bài Kệ được dịch ra hơi khúc mắc, xin viết lại cho xuôi câu, như thế nầy: Đối với người tu-hành, chẳng nên tạo nguyên-nhơn gây ra ác-nghiệp, bằng thân, bằng miệng hay bằng ý.

The Story of Theri Mahapajapati Gotami

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (391) of this book, with reference to Theri Mahapajapati Gotami.

Mahapajapati Gotami was the stepmother of Gotama Buddha. On the death of Queen, seven days after the birth of Prince Siddhattha, Mahapajapati Gotami became the chief queen of King Suddhodana. At that time, her own son Nanda was only five days old. She let her own son be fed by a wet-nurse, and herself fed Prince Siddhattha, the future Buddha. Thus, Mahapajapati Gotami was a great benefactor to Prince Siddhattha.

When Prince Siddhattha returned to Kapilavatthu after the attainment of Buddhahood, Mahapajapati Gotami went to see the Buddha and requested that women should also be allowed to enter the Buddhist Order as bhikkhunis; but the Buddha refused permission. Later, King Suddhodana died after attaining arahatship. Then, while the Buddha was sojourning at the Mahavana forest near Vesali, Mahapajapati, accompanied by five hundred ladies, came on foot from Kapilavatthu to Vasali. They had already shaven their heads and had put on the dyed robes. There, for a second time, Mahapajapati requested the Buddha to accept women in the Buddhist Order. The Venerable Ananda also interceded on her behalf. So, the Buddha complied, with the proviso that Mahapajapati abides by eight special conditions (garudhammas). Mahapajapati undertook to observe the garudhammas as required, and the Buddha admitted her into the Order. Thus, Mahapajapati was the first to be admitted to the Order of the Bhikkhunis. The other women were admitted to the Order after her by the bhikkhus as instructed by the Buddha.

In course of time, it came to the minds of some bhikkhunis that Mahapajapati Gotami had not been properly admitted as a bhikkhuni because she did not have a preceptor; therefore, Mahapajapati Gotami was not a true bhikkhuni. With this thought in their mind, they stopped doing sabbath (uposatha) ceremonies and vassa (pavarana) ceremonies with her. They went to the Buddha and posed the problem of Mahapajapati Gotami not having been properly admitted to the Order of bhikkhunis as she had no preceptor. To them the Buddha replied, "Why do you say so? I myself gave the eight garudhammas to Mahapajapati and she had learnt and practised the garudhammas as required by me. I myself am her preceptor and it is quite wrong for you to say that she has no preceptor. You should harbour no doubt whatsoever about an arahat."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 391: Him I call a brahmana who does no evil in deed or word or thought, who is restrained in these three respects.

Dhammapada Verse 391
Mahapajapatigotami Vatthu

Yassa kayena vacaya
manasa natthi dukkatam
samvutam tihi thanehi
tamaham brumi brahmanam.

Verse 391: Him I call a brahmana who does no evil in deed or word or thought, who is restrained in these three respects.


dhp392_B
Verse-Kệ 392

(272).- Tích chuyện Tôn-giả Xá-lợi-phất lạy mỗi đêm - Kệ số 392

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc Tôn-giả Xá-lợi-phất, mỗi đêm hướng về Thầy dạy đạo của mình, lễ-lạy rồi mới đi nghỉ.

 

Thuở ấy, có một số tỳ-kheo thấy mỗi đêm, Tôn-giả Xá-lợi-phất thường hướng về một phương, thành-kính lễ-lạy, rồi mới đi ngủ. Họ cho rằng Tôn-giả còn chưa bỏ thói quen lễ-lạy sáu phương của các người Bà-la-môn ngoại-đạo, nên mới đến trình lên Đức Phật. Đức Phật cho gọi Tôn-giả Xá-lợi-phất đến hỏi. Tôn-giả thưa: "Bạch Thế-tôn, con nhớ đến công-ơn của Trưởng-lão Át-bệ chỉ dạy cho con bài Kệ về Lý Nhơn-duyên, nhờ đó mà con tìm đến quy-y Tam-bảo và tu-hành đến nay. Mỗi đêm, con hướng về Người để lễ-lạy, và nằm ngủ đầu con hướng về đấy." Đức Phật rất bằng lòng và nói lên bài Kệ sau đây:

 

Trước nhờ ai chỉ ta vào cửa

Hiểu sâu Chánh-pháp Như-Lai dạy.

Hãy trang-trọng kính-lễ người ấy,

Như Bà-la-môn thờ thần lửa.

(Kệ số 392.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Lễ-lạy sáu phương: sáu phương là: Đông, Tây, Nam, Bắc, trên và dưới. Đây là tục-lệ Bà-la-môn ngoại-đạo, mỗi sáng lễ-lạy như thế. Trong Kinh Thiện-sanh (Singàla), thuộc Trường-Bộ-Kinh (Digha Nikàya) Đức Phật có dạy: phải hiểu sáu phương tượng-trưng cho: (1) cha-mẹ, (phương Đông); (2) thầy học,(phương Nam); (3) vợ-con,(phương Tây); (4) bạn-bè,(phương Bắc); (5) tôi-tớ (phương dưới); (6) các bực sa-môn (phương trên). Lạy sáu phương là giữ đúng bổn-phận mình đối với sáu hạng vừa kể, chớ chẳng phải để cầu phước theo ngoại-đạo mê-tín.

 

-Trưởng-lão Át-bệ (Assaji) = một trong năm vị tỳ-kheo nhóm Kiều-trần-như, trước đồng-tu khổ-hạnh với tu-sĩ Cồ-đàm, sau được Đức Phật giảng cho nghe Kinh Chuyển Pháp-Luân ở vườn Lộc-Uyển.

 

- Bài Kệ về Lý Nhơn-Duyên: xem lại trang 32, Tập 1, có cắt nghĩa

 

Muôn pháp do nhơn-duyên sanh

Cũng do nhơn-duyên mà diệt.

Thầy ta, Phật Đại Sa-môn

Thường nói rõ đúng như thế.

 

- Quy-y Tam-Bảo: tìm về nương-tựa ba ngôi báu: Phật, Pháp, Tăng

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một số tỳ-kheo lầm tưởng Tôn-giả Xá-lợi-phất còn giữ thói quen lễ sáu phương của ngoại-đạo. Tôn-giả giải-thích, vì kính-trọng Trưởng-lão Át-bệ đã chỉ đường cho mình vào cửa Đạo, nên mới hướng về Ngài mà lạy mỗi đêm như thế.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 392:

 

Ý-nghĩa bài Kệ rất rõ-ràng, phải nhớ ơn và kính-lễ người đã đưa mình vào cửa Đạo.

 

Xin nói thêm: (1) "chỉ ta vào cửa" là chỉ cho ta vào cửa Đạo; (2)"Như Bà-la-môn thờ thần lửa": thờ lửa là mê-tín ngoại-đạo, phải bỏ; ở đây, bài Kệ chỉ muốn so-sánh hai sự thành-kính mà thôi, chớ chẳng khuyên ta thờ lửa. Vả lại, ở câu Kệ nầy, chữ Ba-la-môn chẳng hề có nghĩa là A-la-hán, như ở các bài Kệ khác trong Phẩm Bà-la-môn.

The Story of Thera Sariputta

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (392) of this book, with reference to the Venerable Sariputta.

The Venerable Sariputta was born of brahmin parents of Upatissa village; that was why he was named Upatissa. His mother was Sari. His very close friend was Kolita, another brahmin youth, son of Moggali. Both the youths were searching for the right doctrine, which would lead them to liberation from the round of rebirths, and both of them had a great desire to enter a religious Order. First, they went to Sancaya, but they were not satisfied with his teaching. Then they wandered all over Jambudipa looking for a teacher who would show them the way to the Deathless, but their search was fruitless. After some time, they parted company but with the understanding that the one who found the true dhamma first should inform the other.

About that time, the Buddha arrived at Rajagaha with a company of bhikkhus, including Thera Assaji, one of the group of the first Five Bhikkhus (Pancavaggis). While Thera Assaji was on an alms-round, Upatissa saw the thera and was very much impressed by his noble countenance. So Upatissa respectfully approached the thera and asked who his teacher was, what doctrine his teacher taught, and also briefly to explain the doctrine to him. Thera Assaji then told Upatissa about the arising of the Buddha and about his sojourn at the Veluvana monastery in Rajagaha. The thera also quoted a short stanza connected with the Four Noble Truths.

The verse runs thus:

Ye dhamma hetuppa bhava
tesam hetum tathagato aha
tesanca yo nirodho
evam vadi maha samano.


It means:

The Tathagata has declared the cause and also the cessation of all phenomena which arise from a cause. This is the doctrine held by the Great Samana.


When the verse was only half-way through, Upatissa attained Sotapatti Fruition.

As promised, Upatissa went to his friend Kolita to inform him that he had found the true dhamma. Then the two friends, accompanied by two hundred and fifty followers, went to the Buddha who was then at Rajagaha. When they arrived at the Veluvana monastery, they asked permission to enter the Buddhist Order, and both Upatissa and Kolita, together with their two hundred and fifty followers, were admitted as bhikkhus. Upatissa, son of Sari, and Kolita, son of Moggali, then came to be known as Sariputta and Moggallana. Soon after their admission to the Order, the Buddha expounded to them a dhamma and the two hundred and fifty bhikkhus attained arahatship; but Moggallana and Sariputta attained arahatship only at the end of seven days and fifteen days respectively. The reason for the delay in their attainment of arahatship was that they had made a wish for Chief Discipleship, which required much more striving to achieve perfection.

The Venerable Sariputta always remembered that he had been able to meet the Buddha and attain the Deathless through the Venerable Assaji. So, he always paid obeisance in the direction where his teacher was and he always went to bed with his head lying in the same direction. Other bhikkhus who were staying with him at the Jetavana monastery misinterpreted his actions and said to the Buddha, "Venerable Sir! The Venerable Sariputta still worships the various directions, viz., the East, the South, the West, the North, the Nadir and the Zenith, as he has done before as a brahmin youth; it seems as if he has not yet given up his old beliefs." The Buddha sent for the Venerable Sariputta and Sariputta explained to the Buddha that he was only paying obeisance to his teacher, the Venerable Assaji, and that he was not worshipping the various directions. The Buddha was satisfied with the explanation given by the Venerable Sariputta and said to the other bhikkhus, "Bhikkhus! The Venerable Sariputta was not worshipping the various directions; he was only paying obeisance to his teacher and benefactor, through whom he had attained the Deathless. It is quite right and proper for him to pay homage to such a teacher."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 392: If from somebody one should learn the Teaching of the Buddha, he should respectfully pay homage to that teacher, as a brahmin worships the sacrificial fire.

Dhammapada Verse 392
Sariputtatthera Vatthu

Yamha dhammam vijaneyya
sammasambuddhadesitam
sakkaccam tam namasseyya
aggihuttamva brahmano.

Verse 392: If from somebody one should learn the Teaching of the Buddha, he should respectfully pay homage to that teacher, as a brahmin worships the sacrificial fire.


dhp393_B
Verse-Kệ 393

(273).- Tích chuyện vị Bà-la-môn Gia-thi-la - Kệ số 393

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Bà-la-môn tên Gia-thi-la.

 

Thuở ấy, có một người Bà-la-môn tu khổ-hạnh, nghĩ rằng, ta sanh ra thuộc dòng-dõi Bà-la-môn, vậy phải được gọi là Bà-la-môn đúng theo nghĩa các tỳ-kheo của đạo Phật. Anh ta đến nói lên ý-nghĩ với Đức Phật. Đức Phật đáp: "Nầy Phạm-chí, chẳng phải vì dòng-dõi, giai-cấp, hay vì tóc bện, mà ta gọi là Bà-la-môn. Người nào thông-hiểu thấu-đáo Bốn Chơn-lý Nhiệm-mầu mới thật là bực Bà-la-môn."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Đâu vì giai-cấp, họ-hàng, tóc bện,

Mà được trở thành bực Bà-la-môn.

Chỉ ai CHÂN, CHÁNH, TINH đủ trọn-vẹn

Người ấy quả thật là Bà-la-môn.

(Kệ số 393.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Gia-thi-la: tên người Bà-la-môn nầy, tiếng Pali là Jatila.

 

- Tu khổ-hạnh = tu ép-xác, chịu kham-khổ quá mức.

 

- Bốn Chơn-Lý Nhiệm-Mầu: là Tứ Diệu-Đế, gồm có: (1) Khổ-đế, chơn-lý về đời là khổ; (2) Tập-đế, chơn-lý về nguồn-gốc gây ra sự Khổ; (3) Diệt-đế, chơn-lý về sự tận-diệt nổi Khổ; (4) Đạo-đế, chơn-lý về Bát-Chánh-Đạo, con đường thánh-lộ đưa đến sự chấm-dứt Khổ.

 

- Chân = chơn-lý, Sự-thật; Chánh = đúng-đắn, thẳng ngay; Tịnh = trong-sạch và vắng-lặng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là chẳng phải vì dòng-dõi, giai-cấp mà được gọi là Bà-la-môn, theo nghĩa A-la-hán; mà phải thông-hiểu, tu-tập viên-mãn Tứ-Diệu-Đế mới xứng danh là vị Bà-la-môn.

 

(2) Ý-nghĩa của Bài Kệ số 393:

 

Bài Kệ nêu lên ba đức-tánh cần tu-tập mới xứng-danh Bà-la-môn:

 

1) Chân: hiểu rõ chơn-lý của Tứ-Diệu-đế;

 

2) Chánh: theo đúng con đường Bát-Chánh-Đạo;

 

3) Tịnh: sống cuộc đời tu-hành thanh-tịnh.

The Story of Jatila, the Brahmin

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (393) of this book, with reference to Jatila, a brahmin ascetic who wore matted hair.

Once, a brahmin ascetic thought to himself that the Buddha called his disciples 'brahmanas' and that he being a brahmin by birth should also be called a 'brahmana'. Thinking thus, he went to see the Buddha and put forward his view. But the Buddha rejected his view and said, "O brahmin, I do not call one a brahmana because he keeps his hair matted or simply because of his birth; I call one a brahmana only if he fully comprehends the Four Noble Truths."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 393: Not by wearing matted hair, nor by lineage, nor by caste, does one become a brahmana; only he who realizes the Truth and the Dhamma is pure; he is a brahmana.

Dhammapada Verse 393
Jatilabrahmana Vatthu

Na jatahi na gottena
na jacca hoti brahmano
yamhi saccanca
1 dhammo2 ca
so suci so ca brahmano.

Verse 393: Not by wearing matted hair, nor by lineage, nor by caste, does one become a brahmana; only he who realizes the Truth and the Dhamma is pure; he is a brahmana.


1. sacca: the Four Noble Truths.

2. dhamma : the nine Transcendentals, viz., the four Maggas, the four Phalas and Nibbana.


 dhp394_B
Verse-Kệ 394

(274).- Tích chuyện vị Bà-la-môn lừa gạt - Kệ số 394

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tu-viện Cưu-ta-ga, xứ Tỳ-da-ly, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một người Bà-la-môn lừa-gạt.

 

Thuở ấy, trong thành Tỳ-da-ly, có một người Bà-la-môn nghĩ ra một cách để lừa-gạt dân-chúng. Anh ta leo lên cửa thành, lộn đầu xuống treo tòn-ten như con dơi, và nói rằng: "Mau đem đến cho ta đủ một trăm con trừu, một trăm tiền vàng và một chục người nô-lệ, bằng không ta buông mình xuống thì cả thành Tỳ-da-ly nầy sẽ bị tiêu-diệt." Dân-chúng nghe nói hoảng-sợ, xúm nhau đem đủ số tiền, thú và nô-lệ cho y và mời y trở xuống đất. Bấy giờ, các vị tỳ-kheo nghe được tin-tức đó mới thưa trình cùng Đức Phật. Đức Phật bảo, kẻ lừa-dối kia chỉ phỉnh-gạt được người ngu, còn bực có trí ai lại tin hắn."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Ngu ơi! Bện tóc có ích gì?

Mặc áo da dê được lợi chi?

Nội-tâm phiền-não còn rối-rắm,

Sao cố điểm tô ở ngoại-vi?

(Kệ số 394.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Cưu-ta-ga: tên tu-viện nầy, tiếng Pali là Kùtàgàra.

 

- Tỳ-da-ly: tên xứ nầy, tiếng Pali là Vesàli.

 

- Phỉnh-gạt = lừa dối, gạt-gẫm.

 

- Nội-tâm: Nội = bên trong; Tâm = lòng. Nội-tâm là trong lòng.

 

- Điểm tô = trang-điểm, chưng-diện cho đẹp.

 

- Ngoại-vi: Ngoại = bên ngoài; Vi = chung-quanh. Ngoại-vi là bên ngoài; ở đây, muốn nói cứ lo chưng-diện bề ngoài, chẳng lo tu tâm bên trong để cho dứt được các phiền-não còn rối-rắm.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc buồn-cười của dân-chúng thành Tỳ-da-ly bị người Bà-la-môn lừa-gạt. Đức Phật bảo người ngu dễ bị gạt, còn người có trí thì không.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 394:

 

Nhơn vệc người Bà-la-môn lừa gạt dân ngu, Đức Phật dạy, mấy kẻ Bà-la-môn lo chưng-diện bên ngoài, bện tóc, mặc áo da dê nào có ích-lợi chi cho việc tu-tập, chẳng biết lo dứt trừ phiền-não rối-rắm ở bên trong tâm là những kẻ ... ngu ơi là ngu!

The Story of a Deceitful Brahmin

While residing at the Kutagara monastery in Vesali, the Buddha uttered Verse (394) of this book, with reference to a deceitful brahmin.

Once, a deceitful brahmin climbed up a tree near the city-gate of Vesali and kept himself hanging upside down like a bat from one of the branches of the tree. From this very awkward position, he kept on muttering, "O people! Bring me a hundred heads of cattle, many pieces of silver and a number of slaves. If you do not bring these to me, and if I were to fall down from this tree and die, this city of yours will surely come to ruin." The people of the town, fearing that their city night be destroyed if the brahmin were to fall down and die, brought all the things he demanded and pleaded with him to come down.

The bhikkhus hearing about this incident reported to the Buddha and the Buddha replied that the deceitful one could only cheat the ignorant people but not the wise ones.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 394: O foolish one! What is the use of wearing matted hair? What is the use of your wearing a garment made of antelope skin? In you, there is a forest (of moral defilements); you clean yourself only externally.

Dhammapada Verse 394
Kuhakabrahmana Vatthu

Kim te jatahi dummedha
kim te ajinasatiya
abbhantaram te gahanam
bahiram parimajjasi.

Verse 394: O foolish one! What is the use of wearing matted hair? What is the use of your wearing a garment made of antelope skin? In you, there is a forest (of moral defilements); you clean yourself only externally.


dhp395_B
Verse-Kệ 395

(275).- Tích chuyện Ni-bà Kỷ-sa-cơ tu khổ-hạnh - Kệ số 395

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ trên đỉnh núi Linh-thứu, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Nữ trưởng-lão Kỷ-sa-cơ, vị Ni-bà tu khổ-hạnh vào bực nhứt.

 

Một hôm, vua Trời Đế-Thích cùng với chư Thiên đến đảnh-lễ Đức Phật tại núi Linh-sơn. Bấy giờ, Nữ Trưởng-lão đang thi-triển thần-thông, vừa bay đáp xuống, định vào lạy Đức Phật. Thấy chư Thiên đang đứng trước hương-phòng, Ni-bà bước lui ra. Vua Trời Đế-Thích trông thấy, mới thưa hỏi Phật đó là ai vậy. Đức Phật đáp: "Nầy Thiên-đế, đó là tỳ-kheo-ni Kỷ-sa-cơ. Trước đây, khi đứa con trai yêu-quí vừa mất, Kỷ-sa-cơ đau-buồn đến gặp Như-Lai. Sau khi nghe giảng về lý vô-thường, bất-toại-nguyện và vô-ngã của muôn pháp hữu-vi, Kỷ-sa-cơ chứng được sơ-quả, gia-nhập Ni-đoàn, tu khổ-hạnh, mặc áo phấn-tảo, sống cô-độc nơi rừng vắng, chẳng bao lâu đắc quả A-la-hán."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người mặc áo phấn-tảo,

Da lộ gân, thân gầy,

Cô-độc hành-thiền giữa rừng cây,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 395.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ni-bà, Nữ Trưởng-lão: nữ tu-sĩ Phật-giáo có nhiều tuổi đạo, ngang hàng với Hoà-thượng bên nam-giới.

 

- Kỷ-sa-cơ = tên vị Ni-bà nầy, tiếng Pali là Kisàgotamì; tiểu-sử được kể lại nơi Tích chuyện số (93), trang 299, Tập 2, Kinh nầy.

 

- Tu khổ-hạnh = tu theo kỷ-luật khắt-khe, ăn-mặc rất kham-khổ.

 

- Vua Trời Đế-Thích: vua cõi trời Đao-lợi, tên tiếng Pali là Sakka.

 

- Linh-thứu, Linh-sơn = tên đỉnh núi Gijjhakùta giống hình chim thứu ( =kên-kên), xoè cánh ra; gần thành Vương-xá (Ràjagaha), xứ Ma-kiệt-đà (Magadha). Nơi đây, Đức Phật từng giảng Kinh Pháp-Hoa.

 

- Thi-triển thần-thông = dùng các sức đặc-biệt khác thường như bay bổng trên không, đi trên mặt nước, nhờ ở định-lực tu-hành cao.

 

- Hương-phòng = căn phòng có hương thơm, dành riêng cho Đức Phật, tiếng Pali là Gandhakutì.

 

- Vô-thường = chẳng thường còn, thay đổi luôn và sẽ bị hoại-diệt.

 

- Bất-toại-nguyện = chẳng làm vừa-ý, thường gây ra đau-khổ.

 

- Vô-ngã = chẳng có linh-hồn, chẳng có tự-ngã, bổn-thể rỗng.

 

- Muôn pháp hữu-vi: tất cả sự-vật có hình-tướng, bị thay đổi, sẽ tiêu-hoại; thường được dịch là sự-vật bị điều-kiện-hoá, nghĩa là tuỳ theo điều-kiện chung quanh mà biến-đổi để đi đến hoại-diệt.

 

- Sơ-quả: quả-vị đầu-tiên: Tu-đà-huờn, hay Nhập-Lưu, Thất-Lai.

 

- Áo phấn-tảo: còn gọi là nạp-y, lượm các giẻ rách bỏ nơi đống rác, đem về giặt, may làm áo.(Phấn = bụi dơ, phẩn; tảo = quét, rác.)

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt. Bực A-la-hán diệt xong phiền-não, dứt mọi ham-muốn, chứng vô-sanh ( =chẳng còn bị tái-sanh trong cõi Luân-hồi), sống an-nhiên, tự-tại trong cảnh Niết-bàn.

 

- Hành-thiền: tu-tập Thiền-định, giữ thân-tâm an-tịnh.

 

- Bà-la-môn: nghĩa đặc-biệt ở đây là A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Đức Phật giới-thiệu bà Kỷ-sa-cơ tu khổ-hạnh với vua Trời Đế-Thích.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là dẫn đến bài Kệ về lối tu khổ-hạnh, tự đặt mình trong kỷ-luật khắt-khe, chịu kham-khổ để sớm đạt được mục-tiêu chứng đắc vô-sanh, sống an-nhiên trong cảnh Niết-bàn.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 395:

 

Bài Kệ mô-tả người tu khổ-hạnh để sớm chứng-đắc được quả-vị A-la-hán. Xin phân-tách từng câu:

 

1) "Người mặc áo phấn-tảo": Áo phấn-tảo bằng giẻ vụn, dơ, lượm ở đống rác, tượng-trưng cho sự từ-khước các tiện-nghi vật-chất, như ăn mặc đẹp.

 

2) "Da lộ gân, thân gầy": vì ăn-uống kham-khổ, thân-thể gầy, lộ gân; mục-đích là kềm-chế thân để thanh-lọc tâm.

 

3) "Cô-độc hành-thiền giữa rừng cây": biết "sống một mình" chuyên-tâm tu tập Thiền-định, dẹp mọi phiền-não, tham-muốn.

 

4) "Như-lai gọi là Bà-la-môn": xứng-danh là bực A-la-hán.

The Story of Kisagotami

While residing at the Gijjhakuta hill, the Buddha uttered Verse (395) of this book, with reference to Kisagotami.

On one occasion, Sakka, king of the devas, came with his followers to pay homage to the Buddha. At the same lime, Theri Kisagotami, by her supernormal power came through the sky to pay homage to the Buddha. But when she saw Sakka and his entourage paying homage to the Buddha, she retreated. Sakka seeing her, asked the Buddha who the lady was, and the Buddha replied, "O Sakka! She is my daughter Kisagotami. Once, she came to me in sorrow and distress through the loss of her son and I made her see the impermanent, the unsatisfactory and the non-self nature of all conditioned things. As a consequence of that she attained Sotapatti Fruition, joined the Order, and became an arahat. She is one of my eminent female disciples and is matchless in the ascetic practice of wearing robes made from rags collected from a dust heap."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 395: Him I call a brahmana who wears robes made from rags (picked up from a dust heap), who is lean with veins standing out, who meditates alone in the forest.

Dhammapada Verse 395
Kisagotami Vatthu

Pamsukuladharam jantum
kisam dhamanisanthatam
ekam vanasmim jhayantam
tamaham brumi brahamanam.

Verse 395: Him I call a brahmana who wears robes made from rags (picked up from a dust heap), who is lean with veins standing out, who meditates alone in the forest.


dhp396_B
Verse-Kệ 396

(276).- Tích chuyện vị Bà-la-môn ở Xá-vệ đến hỏi Phật - Kệ số 396

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị Bà-la-môn đến thưa hỏi Đức Phật.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có một người Bà-la-môn, cha-mẹ thuộc giai-cấp Bà-la-môn, đến hỏi Đức Phật, sanh ra từ bụng mẹ Bà-la-môn có đáng được gọi là Bà-la-môn như các vị tỳ-kheo chứng-quả A-la-hán chăng? Đức Phật đáp: "Nầy Phạm-chí, ta chẳng gọi là Bà-la-môn, kẻ nào chỉ vì sanh ra từ cha-mẹ thuộc dòng Bà-la-môn. Bực Bà-la-môn phải là người đã dẹp xong các lậu-hoặc, cắt đứt sự luyến-ái vào cuộc đời ở cõi Luân-hồi."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Như-Lai chẳng gọi là Bà-la-môn

Kẻ từ bụng mẹ Phạm-chí sanh ra,

Nếu tâm còn phiền-não

Chỉ đáng gọi "mầy tao".

Người thoát-ly luyến-ái và phiền-não,

Như-Lai mới bảo là Bà-la-môn.

(Kệ số 396.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Xá-vệ: tên nước nầy, nơi Đức Phật sanh ra, tiếng Pali: Sàvatthi.

 

- Bà-la-môn = Phạm-chí = giai-cấp tu-sĩ xưa ở Ấn-độ, tiếng Pali là Brahmana. Trong Phẩm Bà-la-môn của Kinh Pháp-Cú, chữ Bà-la-môn được Phật dùng để chỉ các bực tu-hành đã chứng quả A-la-hán.

 

- Lậu-hoặc = Lậu = rỉ chảy ra; Hoặc = chổ dơ-bẩn; điều sái-quấy. Chữ Lậu-hoặc, dịch chữ Àsava, nghĩa đen là mủ chảy ra từ mụt nhọt, nghĩa bóng chỉ các phiền-não (như tham, sân, si) khởi lên trong tâm, bộc lộ ra ngoài bằng cử-chỉ xấu, lời nói ác.

 

- Luyến-ái: Luyến = mê-luyến, tríu-mến; Át =thương, thích. Chữ Ái-luyến hay Khát-ái, hay Tham-ái, dùng để dịch chữ Tanhà, sự thèm-khát, cố đòi cho được, như kẻ uống nước mặn bị khát. Chính sự luyến-ái, bám vào đời sống vui ít khổ nhiều nầy là nguyên-nhơn tạo nên Khổ

 

- Luân-hồi: Luân = bánh xe; Hồi = trở lại; Luân-hồi, dịch chữ Pali Samsàra, chỉ vòng lẩn-quẩn sanh ra chết đi, sanh lại để chết nữa, cứ như bánh xe lăn tròn vòng quay mãi.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư cao nhứt trong hàng Thanh-văn (Thanh-văn, Pali là Savaka, các đệ-tử sống gần bên Phật, nghe kinh mà tu-tập; Thanh = âm-thanh, Văn = nghe.) Bực A-la-hán (Arahant) đã dứt hết các phiền-não trong tâm (chẳng còn tham, sân, si, mạn, nghi, tà-kiến) bỏ hết mọi ham-muốn (tận-diệt tham-ái, Tanhà), chứng được vô-sanh (chẳng còn bị tái-sanh nữa, nên khỏi phải chịu Khổ trong Luân-hồi), sống tự-tại, an-nhiên trong cảnh Niết-Bàn( = tâm trạng người dứt mọi khổ-đau, sống trong cảnh hằng vắng-lặng, an-vui.)

 

- Như-Lai: Như = như thế; Lai = đến. Chữ Như-Lai dịch chữ Pali là Tathàgata, (Tathà = như thế; gata = đi qua); Đức Phật thường tự-xưng là Như-Lai khi nói chuyện với kẻ khác; các đệ-tử gọi Ngài là Thế-tôn. Tronh Kinh Kim-Cang, chữ Như-Lai được định-nghĩa: chẳng từ đâu tới, cũng chẳng đi về đâu, để chỉ đến pháp-thân của Phật.

 

- "Mầy-tao": tạm dùng tiếng sỗ-sàng bình-dân mày, tao, mi, tớ của Việt-Nam để dịch chữ Bho trong nguyên-văn Pali: Bhoyadi. Chữ Bho dùng để nói, một cách thiếu lễ-độ, với kẻ dưới hay ngang hàng. Thiện-Nhựt xin chấp tay sám-hối sự vụng-về trong lời dịch nầy.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất đơn-sơ nhưng ý-nghĩa rất thâm-trầm: một người mà cha-mẹ là dòng Bà-la-môn đến hỏi Phật, anh ta có được gọi là Bà-la-môn chăng? Theo nghĩa thông-thường, hắn quả là người Bà-la-môn, nhưng hắn chẳng có được các đức-tánh của bực Bà-la-môn mà Đức Phật dành cho các bực đã chứng quả Thánh A-la-hán.

 

Nghĩa sâu của Tích chuyện là chớ quá tự-hào vì được sanh vào nơi dòng-họ sang.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 396:

 

Chỗ đáng ghi nhớ trong bài Kệ là: Người.. nếu tâm còn phiền-não, chỉ đáng gọi là "mầy tao", chẳng cần phải tôn-trọng, vì người ấy còn kém đức-hạnh. Với người đã thoát-ly luyến-ái và phiền-não, ta mới tôn-kính mà gọi là bực Bà-la-môn.

The Story of a Brahmin

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (396) of this book, with reference to a brahmin.

Once, a brahmin from Savatthi thought that since the Buddha called his disciples 'brahmanas', he should also be called a 'brahmana' because he was born of brahmin parents. When he told the Buddha about this, the Buddha replied to him, "O brahmin! I do not call him a brahmana just because he is born of brahmin parents. I call him a brahmana only if he is free from moral defilements and cut off all clinging to existence."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 396: I do not call him a brahmana just because he is born from the womb of a brahmana mother. He is just a bhovadi brahmin if he is not free from moral defilements. Him I call a brahmana, who is free from moral defilements and from attachment.


At the end of the discourse that brahmin attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 396
Eka Brahmana Vatthu

Na caham brahmanam brumi
yonijam mattisambhavam,
bhovadi
1 nama so hoti
sace hoti sakincano
akincanam anadanam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 396: I do not call him a brahmana just because he is born from the womb of a brahmana mother. He is just a bhovadi brahmin if he is not free from moral defilements. Him I call a brahmana, who is free from moral defilements and from attachment.


1. bhovadi: 'Bho' is a familiar term of address used to inferiors and equals. The epithet 'bhovadi', therefore, implies arrogance. Brahmins usually addressed the Buddha as 'Bho Gotama!' The term 'bhovadi' is applied reproachfully by the Buddhists to the brahmins.


dhp397_B
Verse-Kệ 397

(277).- Tích chuyện Tỳ-kheo Úc-ga - Kệ số 397

 

Tích chuyện nầy tiếp theo Tích chuyện số (245) về người diễn trò nhào lộn.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến tài nhào-lộn của tỳ-kheo Úc-ga.

 

Thuở ấy, thanh-niên Úc-ga là con nhà giàu, vì mê nhan-sắc cô đào trong gánh xiệc, xin cưới cô, rồi bỏ nhà, theo gánh hát. Được cha vợ dạy cho nghề nhào-lộn, Úc-ga trình-diễn cũng được nhiều người hoan-nghinh. Một hôm, Úc-ga đang trỗ tài nhào lộn, thì đoàn khất-thực của Đức Phật đi đến. Dân-chúng quay lại nghe Đức Phật thuyết-pháp. Đứng trên cây sào cao hơn mười thước, Úc-ga lắng nghe lời Phật dạy, mới tỉnh-ngộ, xin xuất-gia. Từ đó, Úc-ga tinh-tấn tu-hành, chứng được quả-vị A-la-hán. Các vị đồng-tu thường hỏi Úc-ga, khi leo lên cây sào cao như thế, trong lòng có sợ-hãi không. Úc-ga trả lời, không. Các vị tỳ-kheo chẳng tin, mới bạch lại với Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, một vị A-la-hán đã tháo bỏ xong mọi xiềng-xích kết-sử, chẳng bao giờ sợ-hãi cả."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người đã cắt đứt mọi kết-sử,

Chẳng còn sợ-hãi, chẳng đắm-trước,

Thoát khỏi tất cả mọi ràng-buộc,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 397.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Úc-ga: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Uggasena.

 

- Gánh xiệc: Xiệc, (chữ Pháp: cirque), gánh hát diễn trò nhào lộn.

 

- Tỉnh-ngộ: Tỉnh = thức-tỉnh, hết mê; Ngộ = hiểu rõ. Tỉnh-ngộ là nay hiểu rõ biết trước mình đã lầm.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt; tiếng Pali là Arahant. Theo giáo-lý Bắc-tông, chữ A-la-hán có ba nghĩa: (1) Ứng-cúng, xứng-đáng được Trời, Người cúng-dường; (2) Sát-tặc, giết hết giặc, giặc phiền-não; (3) Vô-sanh, chẳng còn bị tái-sanh trong Luân-hồi nữa.

 

- Xiềng-xích: dây sắt để trói tay, còng chơn.

 

- Kết-sử: Kết = buộc chặt; Sử = sai-khiến. Có mười kết-sử là những mối ràng-buộc, thúc-đẩy, sai-sử con người làm điều quấy. Tiếng Pali là Sanyojana, dịch là thúc-thằng (thúc = trói buộc; thằng = sợi dây). Các kết-sử quan-trọng là tham, sân, si, mạn, nghi, giới-cấm-thủ, thân-kiến.

 

- Đắm-trước: Đắm = say-đắm; Trước = dính vào, gắn vào. Đắm-trước là vì mê-say, ham-muốn quá nên mắc kẹt vào đó.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện nhắc lại cuộc đời phiêu-lưu của Úc-ga, có tài nhào-lộn, sau xin xuất-gia, tu-tập chuyên-cần, chứng được quả A-la-hán. Được hỏi khi leo cao trên cây sào, có sợ-hãi không, Úc-ga đáp là không. Ý-nghĩa của Tích chuyện là với người đã bỏ mọi ràng-buộc, hết tham-đắm nữa, thì chẳng còn sợ-hãi gì nữa.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 397:

 

Bài Kệ rất rõ nghĩa, cùng có một ý-nghĩa như Tích chuyện: đối với người đã lià khỏi mọi ràng-buộc, thì chẳng còn sợ-hãi chi nữa.

The Story of Uggasena, the Son of a Rich Man*

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (397) of this book, with reference to Uggasena, son of a rich man.

After marrying a dancer from a theatrical troupe, Uggasena was trained by his father-in-law who was an acrobat, and became very skilful in acrobatics. One day while he was demonstrating his skill, the Buddha came on the scene. After hearing the Buddha's teaching, Uggasena attained arahatship while he was still performing his feats on top of a long bamboo pole. After that, he climbed down from the pole and pleaded with the Buddha to accept him as a bhikkhu and was accordingly admitted into the Order.


One day, when other bhikkhus asked him whether he did not have any feeling of fear while climbing down from such a great height (i.e., about ninety feet), he answered in the negative. The bhikkhus took that to mean that Uggasena was claiming to have attained arahatship even then. So, they went to the Buddha and said, "Venerable Sir! Uggasena claims himself to be an arahat; he must be telling lies." To them the Buddha replied, "Bhikkhus, one who has cut off all fetters, like my son Uggasena, has no fear."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 397: Him I call a brahmana, who has cut off all fetters and is fearless, who is beyond attachment and is free from moral defilements.


* Cross Reference: Verse 348: The Story of Uggasena, Chapter XXIV.

Dhammapada Verse 397
Uggasenasetthiputta Vatthu

Sabbasamyojanam chetva
yo ve na paritassati
sangatigam visamyuttam
tamaham brumi brahamanam.

Verse 397: Him I call a brahmana, who has cut off all fetters and is fearless, who is beyond attachment and is free from moral defilements.


dhp398_B
Verse-Kệ 398

(278).- Tích chuyện đấu trâu - Kệ số 398

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến hai người Bà-la-môn đấu trâu.

 

Thuở ấy, ở thành Xá-vệ, có hai người Bà-la-môn, mỗi người có một con trâu cui; người nào cũng cho rằng trâu mình mạnh và giỏi nhứt, chẳng ai chịu thua ai. Sau cùng, họ đem trâu ra đấu với nhau. Họ dẫn trâu ra bờ sông, lấy dây buộc trâu vào một chiếc xe đổ đầy đất cát, rồi cho trâu kéo lên bờ, con nào lên được trước thì thắng. Đôi trâu hùng-hục kéo, chẳng xe nào chuyển bánh cả, lát sau, dây đứt hết. Có một nhóm tỳ-kheo đi tắm, trông thấy, mới về trình sự-việc lên Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, các sợi dây buộc trâu mà ta nhìn thấy đó, cũng dễ tháo gỡ, cũng dễ bứt đứt. Nhưng các sợi đai sân-hận, với dây cương tham-ái ở bên trong tâm, rất khó tháo, tỳ-kheo các ông phải nên sớm cắt bỏ đi."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Bỏ đai da"sân", cắt cương "ái-mộ";

Chặt dây "tà-kiến", phụ-tùng "tùy-miên".

Phá chốt "vô-minh", đã giác-ngộ,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 398.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Trâu cui = trâu đực, to-lớn, mạnh-mẽ và hơi ... cứng đầu.

 

- Sợi đai = dây da buộc ở bụng ngựa.

 

- Dây cương = dây buộc vào mõm ngựa, để điều-khiển ngựa chạy theo ý mình.

 

- Sân-hận: Sân = giận; Hận = hờn, thù.

 

- Tham-ái: Tham = ham muốn quá; Ái = thương, thích.

 

- Ái-mộ: Ái = thương, thích; Mộ = mến, tríu-mến.

 

- Tà-kiến: Tà = xiêng-xéo, chẳng ngay thẳng; Kiến = ý-kiến. Trái với Tà-kiến là Chánh-kiến, ý-kiến ngay thẳng, đứng-đắn, chơn-chánh.

 

- Phụ-tùng: Phụ = phụ-thuộc; Tùng = theo. Đồ phụ-tùng là những vật phụ-giúp vào một vật khác, để cho tốt hơn.

 

- Tuỳ-miên: còn đang ngủ đó (miên = ngủ); ý nói chưa bị diệt hẳn, gốc còn đó, sẽ có hồi nổi trở dậy.

 

- Chốt = cái then để gài cửa; chặn, khóa, đóng lại.

 

- Vô-minh: Vô = chẳng; Minh = sáng. Vô-minh là si-mê, ngu-tối.

 

- Giác-ngộ: Giác = biết; Ngộ = hiểu rõ. Giác-ngộ là nay hoàn-toàn biết rõ, hiểu rõ, chẳng còn mê-tối như trước nữa.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Nhơn việc đấu trâu, dây buộc trâu bị đứt, Đức Phật dạy, còn có sự ràng-buộc quan-trọng hơn là các sợi dây trói thú-vật bên ngoài dễ thấy, dễ tháo đó: sự sân-hận, sự tham-ái bên trong tâm, cần phải mau mau cắt đứt để sớm được giác-ngộ và giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của Bài Kệ số 398:

 

Muốn hiểu bài Kệ số 398 cho dễ, cần phải tưởng-tượng một con ngựa, với tất cả những đồ bắt-kế ngựa, như dây đai, yên, cương v.v. để khớp ngựa lại.

 

Ý-nghĩa của bài Kệ: sự ràng-buộc của các phiền-não, kết-sử, còn chặt-chẽ, khó tháo-gỡ hơn các sợi dây trói buộc bên ngoài.

 

Xin phân-tách từng "món" ràng-buộc được kể trong bài Kệ:

 

1) Bỏ đai da "sân": Giận là một tình-cảm mạnh và dai-dẳng, tựa như sự bền-chặt của sợi đai bằng da trâu đang trói-buộc. Người giận dai thường nói trong bụng: mối hận nầy sống để bụng, chết mang theo! Giận như thế, chỉ có hại cho mình, tâm chẳng yên. Để dẹp mối giận, dùng sự nhẫn-nhục mà đối-trị. Tha-thứ cho kẻ làm mình giận, đó là mình tha cho tâm mình khỏi mang nặng tình-cảm xấu.

 

2) Cắt cương ‘ái-mộ’: sự luyến-ái là một tình-cảm êm-dịu nhưng sức mạnh thúc-dục, sai-khiến mình lại lớn, khó mà tránh chẳng tuân theo được; cũng tựa như sợi dây cương buộc ở miệng ngựa, hễ giựt mạnh bên nào là ngựa phải quay đầu về bên ấy. Vì êm-dịu chẳng muốn cởi-bỏ đi, nên sự luyến-ái mới ràng-buộc lâu, đeo-đẳng mãi. Để dẹp sự luyến-ái, phải bỏ tánh so-đo, quá thương vật nầy, quá ghét vật kia, giữ tâm cho bình-thản, đừng tríu-mến mà cũng đừng ghét-bỏ.

 

3) Chặt dây ‘tà-kiến’: Tà-kiến là các ý-nghĩ sai-lầm, vì ngu-tối mà nuôi-dưỡng trong tâm. Dùng trí-huệ sáng-suốt mà chặt đứt tà-kiến

 

4) Phụ-tùng ‘tùy-miên’: nói cho dễ hiểu, đó là các tình-cảm chẳng tốt, còn đang nằm yên ngủ trong tâm, gặp cơ-hội sẽ nổi dậy. Thường có bảy món phụ-tùng ‘tùy-miên’: dục ( =ham-muốn), tham, sân, si, mạn, nghi và tà-kiến. Bỏ các phụ-tùng nầy cách nào? Phải tỉnh-giác, hễ chúng chổi dậy, là biết ngay để dẹp chúng xuống.

 

5) Phá chốt ‘vô-minh’: đây là hình-ảnh rất linh-động, ví sự vô-minh, ngu-tối như cái then cài kín, chẳng cho tâm-trí mở rộng ra để vươn lên Chơn-lý. Phá cái chốt vô-minh bằng cách nào? Phải chăm-chỉ và chuyên-cần học-tập Chánh-pháp.

 

6) Đã giác-ngộ: Giác-ngộ là hiểu-hiết rõ. Có giác-ngộ nhỏ, khi nhờ tỉnh-giác mà nhận thấy lỗi mình; có giác-ngộ lớn, khi chứng được đạo và quả. Trở thành bực Đại-giác thì còn lâu, còn dài và chẳng dễ, nhưng hãy tỉnh-giác, một niệm quấy khởi lên, chánh-niệm biết ngay, đó là con đường đi từ tiểu-ngộ đến đại-giác, tuy chậm mà chắc.

The Story of Two Brahmins

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (398) of this book, with reference to two brahmins.

Once there lived in Savatthi two brahmins, each of whom owned a bullock. Each claimed that his bullock was better and stronger. At last, they agreed to put their animals to a test. So they went to the bank of the Aciravati River and there they filled up a cart with sand. One after the other, the bullocks pulled the cart, but they only pulled in vain, because the cart, did not move and only the ropes broke off. The bhikkhus seeing this reported to the Buddha and the Buddha said to them, "Bhikkhus! It is easy to break off the straps which you can see with your eyes; anyone can break them or cut them. But my sons, a bhikkhu should cut the strap of ill will and the thong of craving which are within you and which bind you."

Verse 398: Him I call a brahmana, who has cut the strap (of ill will), the thong (of craving) and the cord (of wrong views together with latent defilements), who has lifted the bar that fastens the door (of ignorance), and who knows the Truth.


At the end of the discourse five hundred bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verse 398
Dve Brahmana Vatthu

Chetva naddhim varattanca
sandanam sahanukkamam
ukkhittapaligham buddham
tamaham brumi brahamanam.

Verse 398: Him I call a brahmana, who has cut the strap (of ill will), the thong (of craving) and the cord (of wrong views together with latent defilements), who has lifted the bar that fastens the door (of ignorance), and who knows the Truth.


dhp399_B
Verse-Kệ 399

(279).- Tích chuyện bốn anh em lỗ-mãng - Kệ số 399

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bốn người anh em Bà-la-môn ăn nói lỗ-mãng.

 

Thuở ấy ở thành Vương-xá, có một người Bà-la-môn tên Bát-lạp-hoà, vợ lại tin theo đạo Phật, mỗi khi nhảy mũi hay giựt mình bị ai thình-lình đụng phải, thì miệng bà liền nói: "Nam-mô Phật!". Hôm ấy, Bát-lạp-hoà mời bạn-hữu đến ăn tiệc. Trong khi bưng món ăn lên, người vợ bỗng nhảy mũi, và nói to: "Nam-mô Phật!" Người chồng chẳng ưa gì đạo Phật, tức mình lên, mới đến gặp Phật, định nói hỗn với Phật và đặt câu hỏi thật khó cho Phật trả lời. Anh ta hỏi hai câu. Câu thứ nhứt: "Phải giết chết những gì để có thể được sống an-vui và có hạnh-phước?" Đức Phật đáp: "Phải giết sân-hận mới sống được hạnh-phước." Câu thứ hai: "Diệt pháp nào thì được chấp-nhận?" Đức Phật bảo: "Chư Phật trong ba đời đều khen ngợi sự tận-diệt sân-hận." Nghe Phật giải-đáp rõ-ràng, vị Bà-la-môn lấy làm thoả-mãn, liền xin Đức Phật cho quy-y, và xuất-gia ngay hôm ấy.

 

Bát-lạp-hoà còn có ba người em tánh hay lỗ-mãng cũng như anh ngày trứớc. Người em thứ nhì, tên Ác-câu, khi hay tin anh mình đã gia-nhập Tăng-đoàn, liền nổi-giận, chạy đến chùa, nói nhiều lời hỗn-láo với Đức Phật. Đức Phật điềm nhiên hỏi: "Nầy ông Ác-câu, thí-dụ như nhà ông mở tiệc mời khách đến ăn. Nếu khách chẳng nhận dự tiệc, thì các thức ăn lại thuộc về ai?" Ác-câu đáp, thì tôi sẽ ăn hết. Đức Phật nói tiếp: "Ông đã dùng lời thô-ác nói với Ta mà Ta chẳng nhận, vậy các lời lỗ-mãng đó lại quay về với ông." Ác-câu bừng tỉnh, hiểu được chỗ thâm-thúy trong lời Phật dạy, liền qùi xuống xin quy-y.

 

Hai người em của Ác-câu, hay tin hai anh mình nay đã làm tỳ-kheo, tức-giận lắm, đến nói lời thô-ác với Đức Phật và cũng được Đức Phật lấy sự nhẫn-nhục và trầm-tĩnh mà cải-hoá. Chư Tăng tán-thán công-đức Phật cải-hoá cả bốn anh em Bát-lạp-hoà. Đức Phật dạy: "Đừng bao giờ làm hại kẻ đã hại mình, hãy nhẫn-nhục chịu đựng mà làm nơi nương-tựa cho kẻ khác."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chẳng sân-hận, nhận lời trách-móc,

Cam chịu cực-hình và roi-vọt

Lấy nhẫn làm sức mạnh ba quân,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 399.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Lỗ-mãng: lời nói hung-dữ làm mất lòng người nghe.

 

- Bát-lạp-hoà: tên vị nầy, Pali là Bhàradvàja; Ác-câu = Akkosaka.

 

- Nam-mô Phật: Pali là Namo Buddha = Kính lạy Đức Phật.

 

- Sân-hận: Sân = giận; Hận = hờn, thù-oán.

 

- Quy-y: Quy = quay về; Y = nương-tựa. Quy-y = tìm về nương-tựa tinh-thần nơi Đức Phật, Chánh-Pháp và Tăng.

 

- Tăng-đoàn: đoàn thể các vị tu-sĩ Phật-giáo, từ bốn người trở lên

 

- Thâm-thúy = ý-nghĩa sâu-xa, đúng với Chơn-lý.

 

- Cực-hình: hình-phạt nặng-nề.

 

- Nhẫn-nhục = nhịn-nhục bền chí chịu đựng, chẳng oán hờn.

 

- Ba quân = quân-đội; lính bộ, lính thủy, lính cởi ngựa (ngày xưa.)

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Đức Phật cảm-hoá cả bốn người anh em lỗ-mãng bằng đức nhẫn-nhục và sự trầm-tĩnh.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: hoà-nhã trước lời hỗn-láo, sẽ khiến cho kẻ đối-thoại phải hổ-thẹn trong lòng.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 399:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ nằm gọn trong câu: "Lấy nhẫn làm sức mạnh ba quân", có nghĩa là dùng sự nhẫn-nhục để đối-phó với mọi sự khó-khăn, cũng như đó là sức mạnh của Quân-đội chống-đỡ kẻ thù.

 

Thông-thường, hễ nhịn ai thì người khác cho đó vì yếu-kém mà chịu thua, để bị hiếp-đáp. Nhưng biết nhịn khi mình yếu, chẳng gây thêm đổ-vỡ, đó là khôn-ngoan tránh trước cái hại to-lớn. Vả lại, biết mình đang nhịn, chẳng phải là mình đang thua đâu; trái lại, người biết nhịn là người đang thắng. Thắng ai đâu? Thắng chính mình, thắng được lòng oán-ghét đang nổi lên khỏi kéo dài để làm khổ lòng mình.

The Story of the Abusive Brahmin Brothers

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (399) of this book, with reference to the abusive Bharadvaja brothers.

Once there was a brahmin, whose wife was in the habit of blurting out a string of words whenever she sneezed or when something or someone touched her unawares. One day, the brahmin invited some of his friends to a meal and suddenly she blurted out some words. Since she was a Sotapanna, the words "Namo tassa bhagavato arahato sammsambhuddassa" automatically came out of her mouth. These words of veneration to the Buddha were very much disliked by her husband, the brahmin. So, in anger, he went to the Buddha hoping to put some challenging questions to the Buddha. His first question was, "What do we have to kill to be able to live happily and peacefully?" and his second question was, "Killing of what dhamma do you approve of?" To these questions, the Buddha replied, " O brahmin, to be able to live happily and peacefully, one will have to kill ill will (dosa). Killing one's ill will is liked and praised by the Buddhas and the arahats." After hearing the Buddha, the brahmin was so impressed and satisfied with the answer that he asked to be permitted to enter the Order. Accordingly, he entered the Order and later became an arahat.

This brahmin had a brother who was very notorious for his abusive words and was known as Akkosaka Bharadvaja, the abusive Bharadvaja. When Akkosaka Bharadvaja heard that his brother had joined the Order of the bhikkhus, he was furious. He went straight away to the monastery and abused the Buddha. The Buddha in his turn asked, "O brahmin, let us suppose you offered some food to some guests and they left the house without taking the food. Since the guests did not accept your food, to whom would that food belong?" To this question the brahmin answered that the food would be his. On receiving that answer, the Buddha said, "In the same way, O brahmin, since I do not accept your abuse, the abuse would only go back to you." Akkosaka Bharadvaja instantly realized the sagacity of those words and he felt a great respect for the Buddha. He also entered the Order and in due course became an arahat.

After Akkosaka Bharadvaja had entered the Order, his two younger brothers also came to see the Buddha with the same intention of abusing the Buddha. They too were made to see the light by the Buddha and they also, in their turn, entered the Order. Eventually, both of them became arahats.

One evening, at the congregation of the bhikkhus, the bhikkhus said to the Buddha, "O how wonderful and how great are the virtues of the Buddha! The four brahmin brothers came here to abuse the Buddha; instead of arguing with them, he made them see the light, and as a result, the Buddha has become a refuge to them." To them, the Buddha replied, "Bhikkhus! Because I am patient and forbearing, and do no wrong to those who do me wrong, I have become a refuge to many."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 399: Him I call a brahmana, who, without anger endures abuse, beating and being bound, and to whom the strength of patience is like the strength of an army.

Dhammapada Verse 399
Akkosakabharadvaja Vatthu

Akkosam vadhabandhanca
aduttho yo titikkhati
khantibalam balanikam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 399: Him I call a brahmana, who, without anger endures abuse, beating and being bound, and to whom the strength of patience is like the strength of an army.


dhp400_B
Verse-Kệ 400

(280).- Tích chuyện Tôn-giả Xá-lợi-phất bị mẹ nhiếc-móc - Kệ số 400

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến đức nhẫn-nhục của Tôn-giả Xá-lợi-phất khi bị mẹ nhiếc-móc.

 

Thuở ấy, Tôn-giả hướng-dẫn một số đông tỳ-kheo trở về quê cũ ở làng Na-la-ca, đến trước cửa nhà mình mà khất-thực. Mẹ của Tôn-giả, vốn là người ngoại-đạo, mời tất cả vào nhà, dọn thực-phẩm lên đãi. Khi sớt món ăn vào bát của Tôn-giả Xá-lợi-phất, bà mẹ nói: "Con lại đi ăn đồ thừa, bỏ cả gia-tài to-lớn để làm tỳ-kheo, hại cả nhà mẹ của con!" Tôn-giả lẵng-lặng ngồi nghe, mặt chẳng đổi sắc. Khi chia thức ăn cho các tỳ-kheo, bà mẹ lại nói: "Các ông bắt con tôi theo hầu-hạ, đây thức-ăn, dùng đi!" Tôn-giả im-lặng thọ-thực, rồi từ-tốn đứng dậy, ôm bình bát về chùa.

 

Các vị tỳ-kheo đi theo, khen ngợi đức nhẫn-nhục của Tôn-giả với Đức Phật. Đức Phật bảo: "Đối với bực A-la-hán, chẳng hề nổi nóng, chẳng hề để sân-hận khởi lên bao giờ."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chẳng sân-hận, làm tròn bổn-phận.

Giới-hạnh trang-nghiêm, tham-ái tận,

Căn nhiếp-phục, thân nầy là chót,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 400.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Xá-lợi-phất: tên Tôn-giả, tiếng Pali là Sàriputta, nghĩa là con của bà Sàri. Sàri là chim Thu, nên Tôn-giả còn được gọi là Xá-lợi-tử, hay là Thu-tử.

 

- Na-la-ca: tên làng nầy, tiếng Pali là Nàlaka.

 

- Trúc-lâm, Vương-xá: tịnh-xá cất trong vườn trúc của vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara), gần thủ-đô Vương-xá (Ràjagaha) nước Ma-kiệt-đà (Magadha).

 

- Nhiếc-móc = mắng-mỏ.

 

- Thọ-thực: đang ăn các đồ-ăn nhận được.(Thọ = nhận; Thực = ăn)

 

- Giới-hạnh trang-nghiêm: giữ tròn các điều răn-cấm cẩn-thận

 

- Tham-ái tận: Tham = ham muốn quá; Ái- = thương, thích; Tận = dứt hết sạch. Tham-ái tận là dứt hết mọi ham-muốn.

 

- Căn nhiếp-phục: Căn là các giác-quan như mắt, tai, mũi, lưỡi,.. Nhiếp-phục = khéo kềm-giữ, chẳng cho chạy theo cảnh-sắc bên ngoài.

 

- Bà-la-môn: ở đây có nghĩa là bực A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại gương nhẫn-nhục của Tôn-giả Xá-lợi-phất. Sự nhẫn-nhục nầy rất khó thực-hiện, vì Tôn-giả bị mẹ mắng-mỏ ngay trước mặt các vị tỳ-kheo học-trò của mình.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 400:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ đề-cao đức nhẫn-nhục, như nơi bài Kệ trước. Xin phân-tách từng câu, để ghi thêm vài điểm quan-trọng:

 

1) Chẳng sân-hận, làm tròn bổn-phận: Bổn-phận nào? Bổn-phận của tỳ-kheo: tu sao cho dứt phiền-não, để chứng quả-vị A-la-hán;

 

2) Giới-hạnh trang-nghiêm: Giới đứng đầu trong tam-học ( =giới, định, huệ), giữ giới hoàn-toàn mới có định-tâm, và trí-huệ phát-sáng.

 

3) Căn nhiếp-phục: làm chủ các giác-quan, chẳng cho dính-mắc theo cảnh-vật bên ngoài, để giữ tâm bên trong thanh-tịnh.

 

4) Thân nầy là chót: tức là chẳng còn bị tái-sanh để mang lại thân-tâm khác ở cõi Luân-hồi; nói cách khác, đã chứng được vô-sanh.

 

5) Như-Lai gọi là Bà-la-môn: đấy là bực A-la-hán (Arahant).

The Story of Thera Sariputta

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (400) of this book, with reference to the Venerable Sariputta.

While the Buddha was in residence at the Veluvana monastery, the Venerable Sariputta, accompanied by five hundred bhikkhus, entered Nalaka Village and stood at the door of the house of his own mother for alms-food. His mother invited them into the house. But while she was offering food to her son she said, "O you consumer of left-overs, you who have abandoned eighty crores to become a bhikkhu, you have ruined us." Then, she offered alms-food to the other bhikkhus and said to them rudely, "You all have used my son as your attendant; now eat your food." The Venerable Sariputta said nothing in reply but he just meekly took his bowl and came back to the monastery. Back at the monastery, the bhikkhus told the Buddha how the Venerable Sariputta had patiently borne the scolding and abuses of his mother. To them, the Buddha said that arahats never get angry, they never lose their temper.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 400: Him I call a brahmana, who is free from anger, who practises austerity, who is virtuous and free from craving, who is controlled in his senses and for whom this body (i.e., existence) is the very last.

Dhammapada Verse 400
Sariputtatthera Vatthu

Akkodhanam vatavantam
silavantam anussadam
dantam antimasariram
1
tamaham brumi brahmanam.

Verse 400: Him I call a brahmana, who is free from anger, who practises austerity, who is virtuous and free from craving, who is controlled in his senses and for whom this body (i.e., existence) is the very last.


1. antimasariram: lit., one who has the last body. This is his last body because he will not be reborn; he is an arahat.


dhp401_B
Verse-Kệ 401

(281).- Tích chuyện Ni-bà Bích-Liên - Kệ số 401

 

Tích chuyện nầy tiếp theo Tích chuyện số (54) về Nữ Trưởng-lão Bích-Liên.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến Ni-bà Bích-Liên.

 

Thuở ấy, tỳ-kheo-ni Bích-Liên sống một mình trong am vắng nơi rừng Hắc-lâm, bị kẻ bất-lương là Nan-đà hãm-hiếp.

 

Khi biết sự-việc đó, các tỳ-kheo mới hỏi Phật, chẳng biết bực A-la-hán có còn dục-tình, cảm thấy khoái-lạc về nhục-thể nữa không, vì dầu sao thân vật-chất của mọi người cũng giống nhau. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, bực A-la-hán chẳng đắm mình trong thú-vui thể-xác, chẳng vướng vào các trần, chẳng đeo theo sự thoả-mãn của các căn, khác nào như nước đổ trên lá sen, như hột cải để trên đầu mũi kim."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Như nước đổ trên lá sen,

Như hột cải trên đầu kim,

Người dục-lạc chẳng ố-hoen,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 401.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ni-bà: tỳ-kheo-ni ngang hàng với Hoà-thượng bên nam-giới.

 

- Bích-Liên: tên Ni-bà, tiếng Pali là Uppalavannà, bông sen xanh.

 

- Hắc-lâm = khu rừng u-tối, tiếng Pali là Andhavana. (Hắc = đen)

 

- Hãm-hiếp = cưỡng-bức ép việc gian-dâm.

 

- Dục-tình = sự ham-muốn giao-hợp giữa trai gái.

 

- Dục-lạc = Dục = muốn; Lạc = thú vui. Dục-lạc là thú vui vật-chất.

 

- Khoái-lạc = sự sung-sướng, nhứt là về thể-chất.

 

- Căn, trần: sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi và da; các trần là sắc (hình-sắc), thanh (âm-thanh), hương, vị, xúc (cảm-xúc), pháp (sự-vật).

 

- ố-hoen: nhiễm dơ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện nhắc lại câu hỏi của các vị tỳ-kheo, A-la-hán còn hưởng dục-lạc về thân-xác không? Đức Phật đáp, A-la-hán đã dẹp bỏ mọi dục-lạc; các thú-vui vật-chất chẳng cám-dỗ được, như nước đổ trên lá sen chẳng dính, như hột cải để trên mũi kim chẳng đứng vững.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 401:

 

Ý-nghĩa bài Kệ rất rõ-ràng: có dẹp bỏ mọi dục-lạc, lià xa mọi thú-vui vật-chất và thể-xác, thì mới chứng được quả-vị A-la-hán.

The Story of Theri Uppalavanna*

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (401) of this book, with reference to Theri Uppalavanna.

Once, some bhikkhus were talking about the arahat Theri Uppalavanna being molested by the young Nanda who was then swallowed up by the earth. In this connection, they asked the Buddha whether arahats do not enjoy sensual pleasures as they have the same physical make-up like any other people. To them the Buddha replied, "Bhikkhus! Arahats do not enjoy sensual pleasures; they do not indulge in sensual pleasures, for they do not cling to objects of sense and to sensual pleasures, just as water does not cling to the lotus leaf or the mustard seed to the tip of an awl."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 401: Him I call a brahmana, who does not cling to sensual pleasures, just as water does not cling to a lotus leaf, or the mustard seed to the tip of an awl.


* This story is the continuation of the story given in Verse 69: The Story of Theri Uppalavanna, Chapter V.

Dhammapada Verse 401
Uppalavanna Theri Vatthu

Vari pokkharapatteva
araggeriva sasapo
yo na limpati kamesu
tamaham brumi brahmanam.

Verse 401: Him I call a brahmana, who does not cling to sensual pleasures, just as water does not cling to a lotus leaf, or the mustard seed to the tip of an awl.


dhp402_B
Verse-Kệ 402

(282).- Tích chuyện người nô-lệ đắc quả A-la-hán - Kệ số 402

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị A-la-hán, trước làm nô-lệ cho một người Bà-la-môn.

 

Thuở ấy, có một người nô-lệ trẻ tuổi, được chấp-nhận vào Tăng-đoàn, tu-hành thật tinh-tấn nên sớm chứng quả A-la-hán. Một hôm, vị ấy cùng với Đức Phật, đi khất-thực trong thành Xá-vệ. Bỗng người chủ cũ trông thấy, mới chạy lại nắm chặt lấy áo cà-sa. Đức Phật hỏi nguyên-do, người chủ bảo, đấy là kẻ nô-lệ của ông ta. Đức Phật bảo: "Vị tỳ-kheo nầy đã đặt gánh-nặng xuống đất rồi!" Người chủ chẳng hiểu, hỏi lại, Đức Phật mới cho biết vị tỳ-kheo nay được giải-thoát hoàn-toàn, vì đã chứng xong quả-vị A-la-hán.

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó người chủ chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Ai ngay tại cõi đời nầy,

Chứng-tri đau-khổ mảy-may chẳng còn,

Siêu-thoát, bên đường buông gánh nặng,

Như-lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 402.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Nô-lệ: đầy-tớ ở suốt đời với chủ, chẳng có tự-do cá-nhơn.

 

- Cà-sa: tiếng Pali: kàsàya, áo màu vàng của tu-sĩ Phật-giáo.

 

- A-la-hán:Arahant, quả-vị thứ tư, diệt hết mọi ham-muốn, chứng được vô-sanh, hoàn-toàn giải-thoát khỏi mọi đau-khổ của Luân-hồi.

 

- Tu-đà-huờn: Sotàpatti, quả-vị thứ nhứt, còn gọi là Nhập-Lưu, được dự vào dòng Thánh, hay Thất-Lai, chỉ còn tái-sanh bảy lần nữa.

 

- Chứng-tri: chính mình biết rõ nơi mình (Tri = biết)

 

- Siêu-thoát: Siêu = vượt lên trên; Thoát = thoát khỏi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là mặc dầu là kẻ nô-lệ, nếu biết tu-hành tinh-tấn, sẽ chứng được quả-vị cao-quí là A-la-hán.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 402:

 

Ý-nghĩa bài Kệ nói về người đã giải-thoát hoàn-toàn ( = chứng quả A-la-hán). Khi nào được giải-thoát? Khi tự-mình chứng-tri ( = biết rõ) nơi mình chẳng còn mảy-may đau-khổ, buông bỏ gánh nặng của thân-tâm, sống an-nhiên, tự-tại. Thế nào là bỏ gánh nặng? Đó là xem thân-tâm năm uẩn nầy vô-thường, chẳng tríu-mến đến nó nữa.

The Story of a Certain Brahmin

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (402) of this book, with reference to a certain brahmin, whose slave became an arahat.

Once, there was a young slave of a brahmin. One day, fleeing from the house of his master he joined the Order of the bhikkhus, and in due course, he attained arahatship. On one occasion, while he went on an alms-round with the Buddha, his former master, the brahmin, saw him and grabbed him firmly by the robe. When the Buddha asked what the matter was, the brahmin explained that the young bhikkhu was his slave at one time. To him the Buddha said, "This bhikkhu has laid down the burden (of the khandhas)." The brahmin took that to mean that his slave had become an arahat. So to make sure, he asked the Buddha whether it was true that the young bhikkhu had become an arahat, and the Buddha confirmed his statement.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 402: Him I call a brahmana, who even in this existence realizes the end of dukkha (i.e., Nibbana), who has laid down the burden (of the khandhas) and who is free from moral defilements.


At the end of the discourse the brahmin attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 402
Annatarabrahmana Vatthu

Yo dukkhassa pajanati
idheva khayamattano
pannabharam visamyuttam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 402: Him I call a brahmana, who even in this existence realizes the end of dukkha (i.e., Nibbana), who has laid down the burden (of the khandhas) and who is free from moral defilements.


dhp403_B
Verse-Kệ 403

(283).- Tích chuyện Ni-bà Khê-ma - Kệ số 403

 

Tích chuyện nầy tiếp theo Tích chuyện số (244) về Hoàng-hậu Khê-ma.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ trên núi Linh-sơn, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Ni-bà Khê-ma.

 

Một hôm, vào lúc sắp rạng đông, vua Trời Đế-Thích và chư Thiên đến núi Linh-sơn chiêm-bái Đức Phật. Bấy giờ, ni-bà Khê-ma thi-triển thần-thông cũng bay đến núi để đảnh-lễ Đức Phật. Thấy có chư Thiên đang quay-quần trước hương-phòng, ni-bà cúi xuống lễ Phật, rồi bước ra. Vua Trời Đế-Thích trông thấy mới thưa hỏi Đức Phật đó là ai vậy. Đức Phật đáp: "Nầy Thiên-đế, đó là tỳ-kheo-ni Khê-ma, người nữ đệ-tử có trí-huệ xuất-sắc nhứt trong Ni-đoàn, kiến-thức thật sâu-xa, biết phân-biệt rõ-ràng đường chánh với nẻo tà."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người có trí, kiến-thức sâu xa,

Phân-biệt rành đường chánh nẻo tà,

Thành-đạt được mục-tiêu tối-thượng,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 403.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ni-bà: hay Nữ-Trưởng-lão, là bực cao-cấp trong hàng ni-chúng.

 

- Khê-ma: tên vị Ni-bà, tiếng Pali là Khemà.

 

- Núi Linh-sơn: tên núi nầy, tiếng Pali là Gijjhakuta, ngọn giống hình chim thứu( =kên-kên); Đức Phật nói Kinh Pháp-Hoa tại núi nầy.

 

- Trời Đế-Thích: Sakka, vua cõi Trời Đao-lợi.

 

- Chiêm-bái: Chiêm =nhìn; Bái = lạy. Chiêm-bái là kính nhìn và lạy

 

- Thi-triển thần-thông: xử-dụng các khả-năng khác thường như bay bổng trên không, đi trên mặt nước, nhờ định-lực tu-tập cao.

 

- Thiên-đế = vua Trời.

 

- Hương-phòng: căn phòng có hương thơm dành riêng cho Phật.

 

- Kiến-thức: Kiến = thấy; Thức = biết. Kiến-thức là sự hiểu-biết.

 

- Tối-thượng: Tối = hết-sức; Thượng = cao; Tối-thượng là cao nhứt.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện chẳng có ý-nghĩa chi đặc-biệt, ngoài việc dùng để giới-thiệu tài-đức của Ni-bà Khê-ma với vua Trời Đế-Thích, và dẫn đến bài Kệ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 403:

 

Bài Kệ nêu lên Trí-huệ Bát-nhã Ba-la-mật của bực A-la-hán. Trí-huệ đó là gì? Bát-nhã (chữ Phạn: Prajna) là Trí-huệ; Ba-la-mật (Phạn: Paramitra) là đưa qua bờ bên kia, bờ giác-ngộ. Nhờ Trí-huệ nầy mà vị tu-hành được giác-ngộ và giải-thoát, chứng quả A-la-hán Bất-tử, đó là mục-tiêu tối-thượng được nói trong câu thứ ba của Bài Kệ.

The Story of Theri Khema*

While residing at the Gijjhakuta hill, the Buddha uttered Verse (403) of this book, with reference to Theri Khema.

One night, Sakka, king of the devas, came with his followers to pay homage to the Buddha. While they were with the Buddha, Theri Khema, by her supernormal power, also came through the sky to pay homage to the Buddha. But because Sakka and his company were there with the Buddha, she just paid obeisance to the Buddha, and soon left him. Sakka asked the Buddha who that bhikkhuni was and the Buddha replied, "She is one of my pre-eminent disciples; she is known as Theri Khema. She is matchless amongst the bhikkhunis in wisdom and she knows how to differentiate the right way from the wrong way."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 403: Him I call a brahmana, who is wise and is profound in his knowledge, who knows the right way from the wrong way, and who has attained the highest goal (i.e., arahatship).


* See also Verse 347: The Story of Theri Khema, Chapter XXIV.

Dhammapada Verse 403
Khemabhikkhuni Vatthu

Gambhirapannam medhavim
maggamaggassa kovidam
1
uttamattha manuppattam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 403: Him I call a brahmana, who is wise and is profound in his knowledge, who knows the right way from the wrong way, and who has attained the highest goal (i.e., arahatship).


1. maggamaggassa kovidam: skilful in differentiating the right way from the wrong way, i.e., knowledge of what does and what does not lead to the realization of Nibbana.


dhp404_B
Verse-Kệ 404

(284).- Tích chuyện Trưởng-lão Thi-sa và vị thần-linh - Kệ số 404

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Thi-sa và vị thần-linh trong động núi.

 

Thuở ấy, vào cuối mùa mưa, tỳ-kheo Thi-sa được Đức Phật chỉ-dạy một đề-tài thiền-quán, liền lên núi, tìm được một hang động vừa-ý, sống một mình ở đấy để tu-tập. Động ấy vốn là nơi nương-tựa một vị thần-linh. Khi Thi-sa đến ở, vị thần-linh phải lánh ra ngoài, vì chẳng dám cùng cư-trú với bực tu-hành giới-đức thật thanh-tịnh. Hằng ngày, Tỳ-kheo Thi-sa đi vào làng khất-thực tại nhà một nữ tín-chủ có một người con trai còn nhỏ tuổi. Vị thần-linh chẳng dám hiện lên để mời tỳ-kheo Thi-sa đi ở chỗ khác, mới nghĩ ra một kế giành lại động đá. Vị ấy liền nhập vào đứa bé, khiến nó trợn ngược mắt, ngoẹo đầu ra sau, trông rất dễ sợ. Bà mẹ hoảng-hốt, khóc lóc. Vị thần hiện lên mách kế, ngày mai có tỳ-kheo nào đến khất-thực, cứ năn-nỉ xin dội nước vào chơn đứa con, thì nó sẽ khỏi bịnh.

 

Sáng hôm sau, khi dưng thực-phẩm cúng-dường xong, người mẹ khóc, nhờ Tỳ-kheo Thi-sa dội nước rửa chơn cho con để cứu nó. Thi-sa vừa xối nước vào chơn đứa bé, thì nó trở lại bình-thường. Ông liền từ-giả, trở về động. Tới hang đá, vị thần-linh chận lại và bảo rằng: "Ông vừa phạm giới, sáng nay hành-nghề trị bịnh ở nhà thí-chủ, chẳng xứng-đáng làm tỳ-kheo." Thi-sa nhớ lại mình chỉ dội nước vào chơn đứa bé, theo lời yêu-cầu của mẹ nó, chớ nào có vi-phạm giới-luật hành nghề trị bịnh đâu. Quán thấy giới-đức mình hoàn-toàn thanh-tịnh, tâm Thi-sa tràn ngập một niềm phỉ-lạc lâng-lâng, rồi đi sâu vào đại-định, chứng được quả A-la-hán, ngay tại cửa động. Sau khi xuất-định, trưởng-lão Thi-sa bảo vị thần-linh biết và khuyên nên đi tìm nơi ẩn-trú ở chỗ khác.

 

Khi trở lại chùa, Trưởng-lão thuật lại việc bị thần-linh ngăn-trở ở cửa động, các vị tỳ-kheo khác hỏi, lúc ấy Trưởng-lão có khởi tâm tức-giận không. Trưởng-lão lắc đầu. Các vị tỳ-kheo còn chưa tin, mới trình lại với Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, tỳ-kheo Thi-sa nay đắc quả A-la-hán, chẳng còn tức-giận nữa." Nhơn sự-việc vừa qua của Trưởng-lão Thi-sa, Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây để nêu lên đức-độ của một bực A-la-hán:

 

Chẳng thân-thiết quá với cả hai:

Kẻ tại-gia, như hàng tăng-lữ;

Thiểu-dục, độc-thân, đi đó đây,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 404.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Thi-Sa: tên của Trưởng-lão, tiếng Pali là Tissa.

 

- Đề-tài thiền-quán: một đầu-đề để suy-nghĩ sâu-xa khi ngồi Thiền; ví-dụ như quán thân bất-tịnh, quán lý vô-thường, v.v.

 

- Nữ tín-chủ: người đàn-bà có lòng tin-tưởng nơi đạo Phật, thường hay cúng-dường các vị tu-hành.

 

- Hành nghề trị bịnh: Theo giới-luật Khất-sĩ, tỳ-kheo chẳng được có nghề riêng để sanh sống, mà phải đi khất-thực. Vì lẽ nầy mà cấm việc tỳ-kheo đi trị bịnh cho các tín-chủ, để được đền ơn.

 

- Phỉ-lạc: tiếng Pali là Piti, niềm vui nhẹ-nhàng trong lòng khi đắc được định-tâm.

 

- Đại-định: tâm an-định thâm-sâu, khi chứng cảnh thiền.

 

- Quá thân-thiết: quá thân-mật, đi xa quá sự xã-giao thường.

 

- Tại-gia = tu tại-gia, tu tại nhà, chẳng thọ giới tỳ-kheo ở chùa.

 

- Hàng Tăng-lữ = các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni nói chung.

 

- Thiểu-dục: Thiểu =ít; Dục = muốn; Thiểu-dục = bớt ham muốn

 

- Độc-thân: ở một mình.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc tranh-chấp động đá trên núi giữa vị tỳ-kheo và vị thần-linh. Vị thần-linh tìm kế vu-oan cho vị tỳ-kheo là phạm giới hành nghề trị bịnh, chận ngoài cửa hang chẳng cho vào. Tỳ-kheo Thi-sa chẳng hề tức-giận, quán thấy giới-đức mình thanh-tịnh, khởi tâm phỉ-lạc, nhập vào đại-định, chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Nhơn việc nầy, Đức Phật dạy, bực A-la-hán chẳng quá thân-thiết với kẻ tăng người tục, sống một mình, ít ham-muốn, rày đây mai đó.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 404:

 

Bài Kệ nêu lên đức-độ của vị A-la-hán trong cuộc sống ẩn-dật. Xin phân-tách các điểm chánh:

 

1) "Chẳng quá thân-thiết với cả hai: Kẻ tại-gia, như hàng tăng-lữ": Tại sao tỳ-kheo chẳng nên quá thân-thiết với kẻ tăng người tục? Vì quá thân-thiết sẽ sanh ra suồng-sã, rồi dễ đi đến tình-cảm lăng-nhăng, khiến giới-đức mất thanh-tịnh.

 

2) "Thiểu-dục": ít ham-muốn, biết tự-chế, dễ khép mình vào kỷ-luật tu-hành.

 

3) "Độc-thân": biết sống một mình chẳng cảm thấy cô-đơn, vui "làm bạn" với những tiến-bộ của mình trên đường tu-tập.

 

4) "Đi đó đây": chẳng quyến-luyến ở mãi một nơi, để khỏi bị ràng-buộc; ngay cả ngồi nghỉ cũng chẳng chọn mãi một gốc cây, nay gốc cây nầy, mai gốc cây nọ, để cắt đứt sự trìu-mến.

The Story of Thera Tissa

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (404) of this book with reference to Thera Tissa.

Thera Tissa, after taking a subject of meditation from the Buddha, went to a mountain side. There, he found a cave which suited him and he decided to spend the three months of the rainy season (vassa) in that cave. So he stayed in the cave and went to the village for alms-food every morning. In the village, there was a certain elderly woman who regularly offered him alms-food. In the cave, there also lived the guardian spirit of the cave. As the thera was one whose practice of morality was pure, the cave-spirit dared not live in the same cave with the noble thera; at the same time, he did not have the courage to ask the thera to leave the place. So he thought of a plan that would enable him to find fault with the thera and thus cause him to leave the cave.

The cave-spirit possessed the son of the elderly woman from the house where the thera usually went for his alms-food. He caused the boy to behave in a very peculiar way, turning his head backwards, and rolling his wide open eyes. His mother got alarmed and was in tears. The cave-spirit, who possessed the boy, then said "Let your teacher, the thera, wash his feet with water and pour that water on the head of your son." The next day when the thera came to her house for alms-food, she did as she was advised by the cave-spirit and the boy was left in peace. The cave-spirit went back to the cave and waited at the entrance for the return of the thera. When the thera returned from his alms-round, the cave-spirit revealed himself and said, "I am the spirit guarding this cave. O you physician, do not enter this cave." The thera knew that he had lived a clean life from the day he had become a thera, so he replied that he did not remember practising medicine. Then the cave-spirit accused him that in that very morning he had cured a young boy possessed by an ogre at the house of the elderly woman. But the thera reflected that it was not, in fact, practising medicine and he realized that even the cave spirit could find no other fault with him. That gave him a delightful satisfaction (piti) with himself, and abandoning piti and concentrating hard on Insight Meditation he attained arahatship then and there, while still standing at the entrance to the cave.

As the thera had now become an arahat, he advised the cave-spirit to leave the cave. The thera continued to stay there till the end of the vassa, and then he returned to the Buddha. When he told the other bhikkhus about his encounter with the cave-spirit, they asked him whether he did not get angry with the cave-spirit when he was forbidden to enter the cave. The thera answered in the negative but they did not believe him. So they went to the Buddha and said, "Thera Tissa claims himself to be an arahat ; he is not speaking the truth." To them the Buddha replied, "Bhikkhus, my son Tissa was speaking the truth when he said he did not get angry. He has indeed become an arahat he is no longer attached to anyone; he has no occasion to get angry with anyone nor any need to associate with others."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 404: Him I call a brahmana, who associates not with the householder or with the homeless one, or with both, who is free from sensual desire and has few wants.


Dhammapada Verse 404
Pabbharavasitissatthera Vatthu

Asamsattham gahatthehi
anagarehi cubhayam
anokasari mappiccham
tamaham brumi brahmanam.

Verse 404: Him I call a brahmana, who associates not with the householder or with the homeless one, or with both, who is free from sensual desire and has few wants.


dhp405_B
Verse-Kệ 405

(285).- Tích chuyện vị Tỳ-kheo bị đánh-đập - Kệ số 405

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị tỳ-kheo bị đánh đập.

 

Thuở ấy, có một vị tỳ-kheo được Đức Phật chỉ-dạy một đề-tài thiền-quán, đi vào rừng sâu, nỗ-lực tu-tập ngày đêm, đắc được định-tâm, chứng được quả-vị A-la-hán. Vị ấy liền quay về chùa Kỳ-viên để tạ ơn Phật. Dọc đường, đi ngang qua một căn nhà, nghe tiếng cãi-vã dữ-dội của hai vợ chồng giận nhau. Bỗng người vợ bỏ nhà, ra đi, bước theo sau vị tỳ-kheo. Người chồng rượt theo, trông thấy, nổi cơn ghen, hăm-doạ, chửi mắng vị tỳ-kheo là quyến-rũ vợ mình. Anh ta chạy đến đánh đập vị tỳ-kheo rất tàn-nhẫn. Người vợ càng can, người chồng càng mạnh tay đánh. Vị tỳ-kheo vẫn im-lìm chịu đựng, chẳng chút giận-hờn.

 

Về đến chùa, các vị tỳ-kheo khác trông thấy các vết thương, vừa băng-bó, vừa hỏi chuyện. Nghe kể lại trận đòn ghen oan-ức, các vị tỳ-kheo hỏi, có tức-giận không. Thấy nạn-nhơn lắc đầu, các vị tỳ-kheo chẳng tin, trình cớ-sự lên Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, một vị A-la-hán đã buông bỏ gậy-gộc và gươm-đao từ lâu, nên chẳng hề tức-giận khi bị hành-hung."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Kẻ nào đao trượng đã từ-khước,

Đối mọi chúng-sanh cường hay nhược,

Chẳng hề giết, chẳng hề bảo giết,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn

(Kệ số 405.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đề-tài thiền-quán: đầu-đề để chiêm-nghiệm khi ngồi Thiền.

 

- Định-tâm: tâm an-định, chẳng xao-động, trong khi ngồi Thiền.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt, tiếng Pali: Arahant. Có ba nghĩa: (1) ứng-cúng, xứng đáng được Trời, Người cúng-dường; (2)sát tặc, giết hết giặc, giặc phiền-não; (3) vô-sanh, chẳng còn bị tái-sanh trong cõi Luân-hồi nữa.

 

- Buông bỏ gậy-gộc và gươm-đao: ý nói đã từ-khước việc dùng võ-lực đánh đập lại kẻ khác.

 

- Hành-hung: Hành = làm; Hung = dữ. Hành hung là đánh đập dữ

 

- Đao trượng: Đao = gươm đao; Trượng = gậy gộc.

 

- Từ-khước: dứt bỏ, chẳng dùng, chẳng theo.

 

- Cường, nhược: Cường = mạnh-bạo; Nhược = yếu-ớt.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại vị tỳ-kheo bị trận đòn ghen oan-ức, thân-thể bị thương-tích, mà chẳng hề oán-giận, chẳng chống trả lại. Đức Phật, nhơn việc nầy, nêu lên đức-tánh quí của bực A-la-hán: tâm vô-tác-hại, chẳng hề muốn gây thương-tổn về vật-chất cũng như về tinh-thần, đối với mọi chúng-sanh.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 405:

 

Bài Kệ dạy ta về tâm vô-tác-hại của bực A-la-hán: từ bỏ hẳn việc dùng võ-lực gây đau-khổ cho mọi chúng-sanh. Chẳng những chẳng dùng sức mạnh để chống lại sức mạnh, mà cả việc chẳng sát-hại các sanh-vật nhỏ-nhít, yếu-ớt như côn-trùng. Chẳng những chẳng gây đau-khổ về vật-chất, mà còn tránh cả các hành-động, lời nói gây tổn-thương về tinh-thần. Chẳng những chính mình chẳng sát-hại, mà còn phải can-thiệp để ngăn kẻ khác sát-hại; tránh thái-độ dửng-dưng mà vô-tình làm đồng-loã với kẻ hung-bạo.

The Story of a Certain Bhikkhu

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (405) of this book, with reference to a certain bhikkhu.

Once, a bhikkhu after taking a subject of meditation from the Buddha went to a forest to practise meditation. After he had attained arahatship he came back to the Buddha to offer his deep and profound gratitude to the Buddha. On his way, he passed through a village. Just as he was going through the village, a woman having quarreled with her husband came out of her house and followed the bhikkhu. The husband coming after his wife, seeing her behind the bhikkhu, thought that the bhikkhu was taking his wife away. So he shouted at the bhikkhu and threatened to beat him. His wife entreated him not to beat the bhikkhu, but that made him more furious. As a result, the thera was beaten black and blue by the husband. After beating the bhikkhu to his heart's content, he took away his wife along with him and the bhikkhu continued on his way.

On arrival at the Jetavana monastery, other bhikkhus saw the bruises over the whole body of the bhikkhu and they attended to his bruises. When they asked him if he did not get angry with the man who had beaten him so sorely, he answered in the negative. So the other bhikkhus went to the Buddha and reported that the bhikkhu had falsely claimed to have attained arahatship. To them the Buddha replied, "Bhikkhus! Arahats have laid aside the stick and the sword. They do not get angry even if they are beaten." Thus, the Buddha confirmed that the bhikkhu had, indeed, become an arahat.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 405: Him I call a brahmana, who has laid aside the use of force towards all beings, the perturbed as well as the unperturbed (i.e., arahats), and who does not kill or cause others to kill.

Dhammapada Verse 405
Annatarabhikkhu Vatthu

Nidhaya dandati bhutesu1
tasesu thavaresu2 ca
yo na hanti na ghateti
tamaham brumi brahmanam.

Verse 405: Him I call a brahmana, who has laid aside the use of force towards all beings, the perturbed as well as the unperturbed (i.e., arahats), and who does not kill or cause others to kill.


1. Nidhaya dandati bhutesu: has laid aside the use of the stick towards all beings.

2. tasesu thavaresu: the perturbed and the unperturbed. The perturbed are those who still have craving and are therefore easily shaken. The unperturbed are those who have given up craving and are therefore firm and tranquil; they are the arahats.


dhp406_B
Verse-Kệ 406

(286).- Tích chuyện bốn vị Sa-di - Kệ số 406

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bốn vị Sa-di còn nhỏ tuổi mà đã chứng đắc quả A-la-hán.

 

Thuở ấy, có một người đàn-bà sửa-soạn thức ăn để cúng-dường. Bà nhờ chồng đến chùa Kỳ-viên thỉnh cho được bốn vị Trưởng-lão đã chứng-đắc quả-vị A-la-hán, đến để nhận lễ. Người chồng đến chùa thỉnh và có bốn vị sa-di tên là Sơn-khí-ca, Bàn-đi-ta, Sơ-phà-ca và Lê-va-ta, được chỉ-định đi đến nhà. Người đàn-bà thất-vọng, bảo chồng phải mời cho được bốn vị Trưởng-lão đến. Người chồng gặp được Tôn-giả Xá-lợi-phất, liền thỉnh đến nhà. Vào đến cửa, trông thấy bốn vị Sa-di đang ngồi chờ, Tôn-giả mới hỏi đã thọ-thực chưa, và thực-phẩm được chuẩn-bị cho mấy người. Khi được biết cả bốn vị Sa-di còn chưa thọ-thực, Tôn-giả liền bỏ ra về. Người đàn-bà lại giục chồng đi mời lần nữa. Chuyến nầy, Tôn-giả Mục-kiền-liên đến, khi biết thực-phẩm chỉ đủ cho bốn người, cũng lại ra về như Tôn-giả Xá-lợi-phất.

 

Trời đã trưa, các vị Sa-di đã bắt đầu cảm thấy đói. Vua Trời Đế-Thích nhìn thấy tình-cảnh của các vị Sa-di, liền hiện xuống làm một vị Bà-la-môn già-cả, đi vào nhà. Người đàn-bà mừng-rỡ lắm, mời lên ngồi trên. Nhưng vị ấy đến lạy chào bốn vị Sa-di, xong lại ngồi dưới đất, nói mình thật là Vua Trời Đế-Thích đang kính-lễ bốn vị A-la-hán. Vợ chồng người tín-chủ nghe nói, rất hân-hoan, mới dâng thực-phẩm lên. Sau khi thọ-thực, cả năm vị thi-triển thần-thông, bay bổng lên không-trung; vua Đế-Thích trở về cung Trời Đao-lợi, quí vị Sa-di quay lại chùa Kỳ-viên.

 

Chiều hôm ấy, các vị tỳ-kheo hỏi bốn vị sa-di trẻ tuổi, hồi trưa bị đói, vì gia-chủ chê họ còn nhỏ, chẳng chịu dưng thực-phẩm cho ăn, có tức-giận không. Các vị lắc đầu. Đức Phật bảo: " Bực A-la-hán chẳng hề tức-giận, ngay cả với kẻ chống-đối, hay khinh-khi mình."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Thân-thiện giữa những người thù-nghịch,

Ôn-hoà giữa bọn địch hung-hăng,

Vô-nhiễm giữa những ai hằng đắm-chấp,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 406.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sa-di: người mới vào tập-sự tu ở chùa, chưa thọ-giới tỳ-kheo. Tiếng Pali là Sàmanera. Ở đây, bốn vị Sa-di vì còn nhỏ, chưa đủ hai mươi tuổi để thọ-giới tỳ-kheo, nhưng tu-tập giỏi nên chứng A-la-hán.

 

- A-la-hán: Arahant, quả-vị thứ tư, cao nhứt. Bực A-la-hán dẹp bỏ xong mọi phiền-não, lìa mọi ham-muốn, chứng được vô-sanh ( =chẳng còn bị tái-sanh ở cõi Luân-hồi), tự-tại trong cảnh Niết-bàn.

 

- Tên tiếng Pali của các vị Sa-di: Sơn-khí-ca (Samkicca); Bàn-đi-ta (Pandita); Sơ-phà-ca (Sopàka) và Lê-va-ta (Revata).

 

- Trưởng-lão: Thera, vị tu-sĩ đạo-đức cao trong hàng tỳ-kheo.

 

- Tôn-giả Xá-lợi-phất: tên tiếng Pali là Sàriputta.

 

- Tôn-giả Mục-kiền-liên: tên tiếng Pali là Moggallàna.

 

- Vua Trời Đế-Thích: vi vua trên cung trời Đao-lợi (Tàvatimsa), có tên là Sakka.

 

- Bà-la-môn: Brahmana, giai-cấp tu-sĩ ở xã-hội Ấn xưa. Trong bài Kệ, chữ Bà-la-môn lại có nghĩa là bực A-la-hán.

 

- Thi-triển thần-thông = xử-dụng các khả-năng khác thường, như bay bổng, đi vào lửa, v.v. nhờ định-lực tu-tập cao.

 

- Thân-thiện: có nhiều tình-cảm tốt đối với ai.

 

- Ôn-hoà: Ôn = ấm-áp; Hoà = hoà-thuận. Người ôn-hoà là người hiền-lành, chẳng gây-gổ, chẳng hiếp-đáp ai.

 

- Đắm-chấp: Đắm = mê-đắm; Chấp = cố-chấp.Người đắm-chấp là người say-mê, bám chặt vào một điều gì thì chẳng hề lơi ra.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại bốn vị Sa-di bị đói, vì bà chủ nhà chờ mời được bốn vị Trưởng-lão lớn tuổi mới chịu dâng-cúng thực-phẩm. Được hỏi bị đói, bị đối-xử như thế, có tức-giận không, cả bốn vị đều trả lời không, vì họ đã chứng được quả-vị A-la-hán, trong tâm đã dẹp sạch phiền-não tham, sân, si.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 406:

 

Bài Kệ nêu lên đức-tánh cao-quí của vị A-la-hán vì tâm thanh-tịnh và bình-thản, nên chẳng hề bị hoàn-cảnh sai-sử, lôi-cuốn, do đó mà biết thân-thiện giữa những người thù-nghịch, biết ôn-hoà giữa những người hung-hăng: chẳng ô-nhiễm giữa những người mê-đắm.

 

Giữ được tâm bình-thản trong mọi hoàn-cảnh là khó, vì:

 

1) thân-thiện với người thân thì dễ, mà rất khó khi gặp người thù-nghịch cứ chống-đối luôn;

 

2) ôn-hoà với người hiền thì dễ, mà rất khó khi gặp kẻ hung-hăng thường gây-hấn với mình;

 

3) vô-nhiễm giữa người mê-đắm rất khó, vì bị cám-dỗ luôn.

The Story of Four Samaneras

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (406) of this book, with reference to four samaneras who were arahats.

Once, the wife of a brahmin sent her husband the brahmin to the Jetavana monastery to invite four bhikkhus to an alms-meal at their house. She told him to specifically request for senior bhikkhus who were also true brahmanas. But four seven year old arahat samaneras, viz., Samkicca, Pandita, Sopaka and Revata were sent along with him. When his wife saw the young samaneras she was very much dissatisfied and blamed the brahmin for bringing such young samaneras who were even younger than her grandson. She was, in fact, furious with her husband, and so she sent him back to the monastery to get older bhikkhus. In the meantime she refused to give the young samaneras the higher seats reserved for the bhikkhus; they were given lower seats and she did not offer them alms-food.

When the brahmin arrived at the monastery, he met the Venerable Sariputta and invited him to his house. When the Venerable Sariputta arrived at the house of the brahmin, he saw the four young arahat samaneras and asked them if they had been offered alms-food yet. On learning that the arahat samaneras had not been given alms-food yet and also that food had been prepared only for four persons the Venerable Sariputta returned to the monastery without accepting alms-food from the house of the brahmin. So his wife sent the brahmin back again to the monastery to get another senior bhikkhu. This time, the Venerable Maha Moggallana came along with the brahmin, but he also returned to the monastery without accepting alms-food when he learned that the young samaneras had not been offered alms-food and also that food had been prepared only for four persons.

By this time, the samaneras were feeling hungry. Sakka, king of the devas, seeing the state of things took the form of an old brahmin and came to the house. The brahmin and his wife paid respect to the old brahmin and offered him a seat of honour, but Sakka just sat on the ground and paid respect to the four samaneras. Then he revealed that he was Sakka. Seeing that Sakka himself was paying respect to the young samaneras, the brahmin couple offered alms-food to all the five. After the meal, Sakka and the samaneras manifested their supernormal power by going right up into the sky through the roof. Sakka went back to his celestial abode, the samaneras returned to the monastery.

When other bhikkhus asked the samaneras whether they did net get angry when the brahmin couple refused to offer alms-food to them, they answered in the negative. The bhikkhus not believing them reported to the Buddha that the four young samaneras were falsely claiming to be arahats. To them the Buddha said, "Bhikkhus, arahats bear no ill will towards those who are hostile to them."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 406: Him I call a brahmana, who is not hostile to those who are hostile, who is peaceful (i.e., has laid aside the use of force) to those with weapons, and who is without attachment to objects of attachment.

Dhammapada Verse 406
Samaneranam Vatthu

Aviruddham viruddhesu
attadandesu nibbutam
sadanesu anadanam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 406: Him I call a brahmana, who is not hostile to those who are hostile, who is peaceful (i.e., has laid aside the use of force) to those with weapons, and who is without attachment to objects of attachment.


dhp407_B
Verse-Kệ 407

(287).- Tích chuyện Trưởng-lão Đại-Phan - Kệ số 407

 

Tích chuyện nầy tiếp theo Tích chuyện số (17) về Tôn-giả Tiểu-Phan-tha-ca.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Đại-Phan.

 

Trưởng-lão Đại-Phan đã chứng-đắc quả-vị A-la-hán, khi em Ngài là Tiểu-Phan mới thọ-giới tỳ-kheo. Trí thông-minh của Tiểu-Phan rất chậm-lụt, vì trong tiền-kiếp, Tiểu-Phan cứ theo chọc-ghẹo một vị Tăng ngu-tối. Tiểu-Phan học một bài Kệ bốn câu mà cả bốn tháng chưa thuộc. Trưởng-lão Đại-Phan thấy thế bảo em, thà hoàn-tục còn hơn.

 

Các vị tỳ-kheo khác nghe nói, mới đến bạch Phật: "Bạch Thế-tôn, một vị A-la-hán như Trưởng-lão Đại-Phan, có còn nóng-giận không? Sao lại bảo người em học chậm phải hoàn-tục?" Đức Phật đáp: "Nầy chư tỳ-kheo, một vị A-la-hán chẳng còn phiền-não, làm sao nổi nóng được? Tỳ-kheo Đại-Phan chỉ vì muốn xây-dựng cho em nên nói thế."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người chẳng còn chi bám dính nổi,

Tham, sân, kiêu-mạn, tị, hiềm,

Cũng như hột cải rơi khỏi đầu kim,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 407.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đại-Phan: tên vị Trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Mahàpanthika.

 

- Tiểu-Phan: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Cùlapanthika, phiên-âm theo tiếng Hán-Việt là Châu-lợi-bàn-đà-già.

 

- Tiền-kiếp = kiếp trước, đời trước trước đời nầy.

 

- Hoàn-tục: Hoàn = trở về; Tục = đời sống thế-tục. Hoàn-tục là bỏ cuộc tu-hành trong chùa, trở lại đời sống có gia-đình ngoài xã-hội.

 

- Thế-tôn: Thế = đời, thế-gian; Tôn = tôn-trọng. Thế-tôn tức là Đức Phật, bực được cả thế-gian tôn-kính.

 

- Kiêu-mạn = phách-lối, quá tự-cao, xem mình là hơn tất cả.

 

- Tị, hiềm: Tị = ganh-tị, ghen-ghét; Hiềm = hiềm-nghi, nghi-ngờ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị: Trưởng-lão Đại-Phan thấy em mình kém thông-minh, học bài Kệ trong bốn tháng chẳng thuộc, bảo em nên hoàn-tục đi. Các vị tỳ-kheo khác cho là Trưởng lão nóng-giận em, mới đến thưa trình với Phật. Đức Phật bảo, đối với người đã chứng A-la-hán như Trưởng-lão Đại-Phan, chẳng hề nổi nóng, vì trong tâm đã dẹp xong mọi phiền-não rồi.

 

Ngoài ý-nghĩa chẳng nổi sân ra, còn một ý-nghĩa khác: Tiểu-Phan vì kiếp trước chọc ghẹo một vị tăng ngu-tối, nên kiếp nầy phải làm một tăng-nhơn bị kém trí thông-minh: đó là quả báo.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 407:

 

Cũng như các bài Kệ trước trong Phẩm Bà-la-môn, bài Kệ nầy nêu đức-tánh chẳng bị ô-nhiễm của một vị A-la-hán: Người, chẳng còn chi bám dính nổi, chẳng còn chi làm ô-uế được. Đức-tánh nầy được bài Kệ nêu lên với hình-ảnh hột cải nhỏ để trên đầu mũi kim, chẳng thể nào dính vào cây kim được.

 

Trong số các tâm-sở bất-thiện: tham, sân, kiêu-mạn, tị, hiềm, hai tâm-sở tham, sân và tâm-sở si là quan-trọng và khó đối-trị, thường được gọi là căn-bản phiền-não; còn các tâm-sở bất-thiện khác như kiêu-mạn, ganh-tị, hiềm-nghi, v.v. được gọi là tuỳ-phiền-não, hay là các phiền-não phụ-thuộc, vì chúng dựa theo các tâm-sở chánh tham, sân, si mà cùng phát-khởi lên trong tâm.

 

Muốn đối-trị các tâm-sở bất-thiện nói chung, cần phải tỉnh-giác luôn luôn, mỗi khi chúng khởi lên, ta liền biết mà chận chúng đi.

The Story of Thera Mahapanthaka

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (407) of this book, with reference to Thera Mahapanthaka, elder brother of Culapanthaka*.

Thera Mahapanthaka was already an arahat when his younger brother Culapanthaka joined the Order. Culapanthaka was born a dullard because he had made fun of a very dull bhikkhu in one of his past existences. Culapanthaka could not even memorize one verse in four months' time. Mahapanthaka was disappointed with his younger brother and asked him to leave the monastery as he was not worthy of the Order.

It was in this connection that, on one occasion, the bhikkhus asked the Buddha why Mahapanthaka, even though he was an arahat, turned his younger brother Culapanthaka out of the monastery. They also added "Do the arahats still lose their temper? Do they still have moral defilements like ill will in them?" To them the Buddha replied,"Bhikkhus! Arahats have no moral defilements like passion and ill will in them. My son Mahapanthaka acted as he did with a view to benefiting his brother and not out of ill will."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 407: Him I call a brahmana, from whom passion, ill will, pride and detraction have fallen off like a mustard seed from the tip of an awl.


* See also Verse 25: The Story of Culapanthaka, Chapter II.

Dhammapada Verse 407
Mahapanthakatthera Vatthu

Yassa rago ca doso ca
mano makkho ca patito
sasaporiva aragga
tamaham brumi brahmanam.

Verse 407: Him I call a brahmana, from whom passion, ill will, pride and detraction have fallen off like a mustard seed from the tip of an awl.


dhp408_B
Verse-Kệ 408

(288).- Tích chuyện Trưởng-lão Phí-linh-đa - Kệ số 408

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Phí-linh-đa

 

Thuở ấy, tỳ-kheo Phí-linh-đa tánh hay trịch thượng, thường xưng-hô với kẻ khác như là nói với cấp dưới của mình. Nhiều vị tỳ-kheo khác bất-mãn, mới thưa trình cùng Đức Phật. Đức Phật quán thấy, trải qua nhiều đời kiếp, Phí-linh-đa sanh trong gia-tộc Bà-la-môn, nên thường tự xem mình là người cao-quí, còn những kẻ khác thấp kém hơn mình. Mặc-cảm tự-tôn đó cho đến đời nầy vẫn còn dấu-vết. Đức Phật mới bảo các tỳ-kheo: "Nầy chư Tăng, Phí-linh-đa tuy ăn nói thiếu nhã-nhặn, vì thói quen nhiều đời trước, chớ trong tâm chẳng có ác-ý muốn làm mất lòng người khác. Người chứng được quả A-la-hán chẳng hề làm hại ai."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người nói lời hoà-nhã, êm tai,

Lời xây-dựng, cùng lời chơn-thật,

Chẳng bao giờ nói mích lòng ai,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 408.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Phí-linh-đa: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Pilindavaccha.

 

- Tịnh-xá Trúc-Lâm: Tịnh-xá = ngôi tu-viện yên-tịnh; Trúc-lâm = rừng trúc. Tịnh-xá Trúc-lâm được vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) xứ Ma-kiệt-đà (Magadha) xây trong vuờn trúc gần thành Vương-xá (Ràjagaha)

 

- Bất-mãn = chẳng vừa ý, hơi có ý giận.

 

- Quán thấy = dùng con mắt-tâm mà nhìn bên trong.

 

- Mặc-cảm tự-tôn = Mặc-cảm là tình-cảm chìm-lắng trong tiềm-thức lâu đời, thường khởi lên nơi tâm mà người chủ-động ít ngờ đến. Tự-tôn là xem mình cao hơn kẻ khác. Trái với mặc-cảm tự-tôn là mặc-cảm tự-ti.

 

- Nhã-nhặn, hoà-nhã = dịu-hiền, dễ nghe, dễ thương.

 

- Bà-la-môn: Brahmana, giai-cấp tu-sĩ ở xã-hội Ấn ngày xưa. Chữ Bà-la-môn trong bài Kệ lại được dùng với nghĩa là A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện chê kẻ ăn nói trịch-thượng.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 408:

 

Ý-nghĩa bài Kệ rất rõ ràng, khen ngợi người nói lời hoà-nhã.

The Story of Thera Pilindavaccha

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (408) of this book, with reference to Thera Vaccha, who was also known as Thera Pilindavaccha, due to his offensive ways.

Thera Pilindavaceha had a very offensive way of addressing people: he would often say, "Come here, you wretch", or "Go there, you wretch" and such other things. Other bhikkhus reported about him to the Buddha. The Buddha sent for him, and spoke to him on the matter. Then, on reflection the Buddha found that for the past five hundred existences, the thera had been born only in the families of the brahmins, who regarded themselves as being superior to other people. So the Buddha said to the bhikkhus, "Bhikkhus! Thera Vaccha addresses others as 'wretch' only by force of habit acquired in the course of his five hundred existences as a brahmin, and not out of malice. He has no intention of hurting others, for an arahat does not harm others."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 408: Him I call a brahmana, who speaks gentle, instructive and true words, and who does not offend anyone by speech.

Dhammapada Verse 408
Pilindavacchatthera Vatthu

Akakksam vinnapanim
giram sacca' mudiraye
yaya nahhisaje kanci
tamaham brumi brahmanam.

Verse 408: Him I call a brahmana, who speaks gentle, instructive and true words, and who does not offend anyone by speech.


dhp409_B
Verse-Kệ 409

(289).- Tích chuyện vị Tỳ-kheo lượm vải - Kệ số 409

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến một vị tỳ-kheo lượm vải ngoài đường.

 

Một hôm, có vị tỳ-kheo trên đường đi khất-thực về, trông thấy một miếng vải bị gió bay dưới đất, mới cúi xuống lượm lên. Nào ngờ, đó là miếng vải của một người Bà-la-môn đem phơi. Người nầy thấy vị ty-kheo nhặt lấy, mới chạy theo đòi lại, miệng nói hỗn: "Ê! Tên trọc kia, sao lấy trộm vải của ta?" Vị tỳ-kheo ngỏ lời xin lỗi.

 

Về đến chùa, vị ấy thuật lại cho các bạn nghe. Các vị đồng-tu khác hỏi trêu-chọc, vải dài ngắn, ngang được mấy tấc, màu vàng hay màu trắng, v.v. Vị tỳ-kheo đáp: "Dài, ngắn, trắng, vàng chi cũng mặc-kệ, ta đâu còn chút ham-muốn bám-víu vào vật chi." Các vị tỳ-kheo khác nghe nói, cho rằng vị ấy tự nhận mình đã chứng đạo-quả A-la-hán, mới trình cùng Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, một vật chẳng được cho, vị A-la-hán chẳng hề lấy."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người chẳng lấy của chửa được cho,

Dầu đó là vật nhỏ hay to,

Dài hay ngắn, hoặc thô, hoặc đẹp,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 409.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Như-Lai: tiếng Phật tự-xưng khi nói với ai. Như = như thế; Lai = đến. Ý muốn nói, ta là người đến đây như thế. Tiếng Pali là Tathàgata.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện nhắc lại giới thứ hai của người tu tại-gia: lấy vật chẳng được cho là phạm tội trộm cắp.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 409:

 

Bài Kệ rất rõ nghĩa, dạy ta tránh tội trộm-cắp.

The Story of a Certain Thera

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (409) of this book, with reference to a certain thera.

One day, a brahmin from Savatthi put his upper garment outside his house to air it. A thera found that garment as he was going back to the monastery. Thinking that it was a piece of cloth thrown away by someone and therefore ownerless, the thera picked it up. The brahmin looking out of his window saw the thera picking up the piece of clothing and came after the thera, abusing and accusing him. "You shaven head! You are stealing my clothing", he said; the thera promptly returned the piece of clothing to the brahmin.

Back at the monastery, the thera related the above Incident to other bhikkhus, and they made fun of him and jokingly asked him whether the cloth was long or short, coarse or fine. To this question the thera answered, "Whether the clothing is long or short, coarse or fine matters not to me; I am not at all attached to it." Other bhikkhus then reported to the Buddha that the thera was falsely claiming himself to be an arahat. To them the Buddha replied, "Bhikkhus! The thera speaks the truth; an arahat does not take anything that is not given him."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 409: Him I call a Brahmana, who, in this world takes nothing that is not given him, be it long or short, big or small, good or bad.

Dhammapada Verse 409
Annataratthera Vatthu

Yo'dha digham va rassam va
anum thulam subhasubham
Joke adinnam nadiyati
tamaham brumi brahmanam.

Verse 409: Him I call a Brahmana, who, in this world takes nothing that is not given him, be it long or short, big or small, good or bad.


dhp410_B
Verse-Kệ 410

(290).- Tích chuyện Tôn-giả Xá-lợi-phất và việc dâng y - Kệ số 410

 

Vào một thời kia, Đức Phật ở tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Tôn-giả Xá-lợi-phất và việc dâng y.

 

Vào mùa mưa năm ấy, Tôn-giả Xá-lợi-phất có hướng-dẫn một số đông tỳ-kheo đến trú tại một tu-viện trong ngôi làng nhỏ. Cuối mùa mưa, Tôn-giả dặn các tỳ-kheo, hễ có thiện-nam, tín-nữ nào làm lễ dâng-cúng y-phục cho chư Tăng, thì phải trình cho Tôn-giả biết trước. Sau đó, Tôn-giả trở về chùa Kỳ-viên để đảnh-lễ Đức Phật. Các vị tỳ-kheo nghe nói như thế, mới tưởng-lầm là Tôn-giả còn tham-luyến vào tứ sự cúng-dường, mới đến thưa trình cùng Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, Xá-lợi-phất chẳng hề còn chút tham-ái nào cả. Khi dặn bảo về việc dâng-y, Xá-lợi-phất muốn tạo cơ-hội cho các thiện-nam tín-nữ được thêm công-đức bố-thí, và các sa-di có đủ y-phục."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Bất cứ điều gì, người chẳng tham-cầu,

Trong đời nầy hay vào các đời sau,

Dứt tham-ái, nên được giải-thoát,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 410.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Dâng-y: buổi lễ vào cuối mùa An-cư kiết-hạ, dưng-cúng áo cà-sa

 

- Tứ-sự cúng-dường: bốn thứ lễ-vật để dưng-cúng chư Tăng, ni: thực-phẩm, quần-áo, giường chiếu, và thuốc-men.

 

- Thiện-nam, tín-nữ: tiếng để chỉ chung những người tin-tưởng vào đạo Phật, thường đến giúp chư Tăng, ni ở chùa.

 

- Bố-thí: Bố = rộng khắp; Thí = hiến-tặng. Bố-thí là hiến-dâng của-cải, công-sức hay lời an-ủi đến người cần đến.

 

- Sa-di: người mới tập-sự tu ở chùa, chưa thọ giới tỳ-kheo. Phái nữ gọi là Sa-di-ni. Tiếng Pali Sa-di là Samanera.

 

- Tham-cầu: tham-lam và mong-cầu.

 

-Tham-ái: Tham = ham quá chừng; Ái = thương, thích. Tham-ái, tiếng Pali là Tanhà. Đây là nguyên-nhơn tạo ra Khổ ở đời.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc hiểu-lầm của các tỳ-kheo về ý-định của Tôn-giả Xá-lợi-phất trong việc tổ-chức lễ dâng-y cho chư Tăng, Ni. Lễ dâng-y có hai ý-nghĩa: tạo phước cho thiện-nam tín-nữ, giúp cho các sa-di có đủ y-phục.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 410:

 

Ý-nghĩa quan-trọng của bài Kệ là nói về sự tham-ái. Tham-ái là nguyên-nhơn tạo ra Khổ ở đời, đó là Chơn-lý thứ hai, Tập-đế, trong Tứ-Diệu-đế. Vì mình thích, mình ham, nên mình mới bị ràng-buộc lâu mà chẳng chịu cởi bỏ ra. Dẹp được tham-ái là được giải-thoát ngay.

The Story of Thera Sariputta

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (410) of this book, with reference to Thera Sariputta.

On one occasion, Thera Sariputta accompanied by five hundred bhikkhus went to a monastery near a small village to spend the vassa. At the end of the vassa, Thera Sariputta wanted robes for young bhikkhus and samaneras. So he said to the bhikkhus, "If people come to offer robes, send them to me or inform me"; and then he left for the Jetavana monastery to pay homage to the Buddha. Other bhikkhus misunderstood Thera Sariputta's instructions, and said to the Buddha, "Venerable Sir! Thera Sariputta is still attached to material things like robes and other requisites of a bhikkhu." To them the Buddha replied, "Bhikkhus! My son Sariputta has no more craving in him. He told you to bring the robes to him, so that the chances to perform meritorious deeds may not decrease for lay-disciples, and the chances to accept whatever they may properly receive may not be reduced for young bhikkhus and samaneras."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 410: Him I call a brahmana, who has no desire either for this world or for the next, who is free from craving and from moral defilements.


Dhammapada Verse 410
Sariputtatthera Vatthu

Asa yassa na vijjanti
asmim loke paramhi ca
nirasasam visamyuttam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 410: Him I call a brahmana, who has no desire either for this world or for the next, who is free from craving and from moral defilements.




dhp411_B
Verse-Kệ 411

(291).- Tích chuyện Tôn-giả Mục-kiền-liên bị hiểu lầm - Kệ số 411

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc Tôn-giả Mục-kiền-liên bị hiểu lầm.

 

Tích chuyện nầy cũng giống với Tích chuyện số (290) về Tôn-giả Xá-lợi-phất. Tôn-giả Mục-kiền-liên cũng bị nghi-ngờ là còn luyến-ái vào các sự-vật ở ngoài đời thế-tục, nhơn lễ dâng-y. Nhơn việc hiểu lầm nầy, Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người lìa tham-ái, tri-kiến đủ,

Ngộ Chơn-lý, chẳng chút nghi-nan,

Chứng cảnh-giới Bất-tử Niết-Bàn,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 411.)

 

TÌM HIỂU:

 

Việc Tìm Hiểu ở đây, quan-trọng nơi bài Kệ số 411: bực A-la-hán đã lià tham-ái, đầy-đủ Trí-huệ để ngộ được Chơn-lý, dứt mọi sự nghi-ngờ, nên chứng được Niết-Bàn, là cảnh-giới Bất-tử, nghĩa là chẳng hề chết. Tại sao chẳng hề chết? Vì chẳng còn bị tái-sanh lại, thì làm sao có thêm một đời sống Khổ ở cõi Luân-hồi, mà phải bị chết nữa được. Bất-tử và Vô-sanh cả hai chữ đều đồng một nghĩa như nhau.

The Story of Thera Maha Moggallana

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (411) of this book, with reference to Thera Maha Moggallana.

On one occasion, the bhikkhus told the Buddha about Thera Maha Moggallana the same thing they had said of Thera Sariputta that he still had attachment to worldly things. To them the Buddha said that Thera Maha Moggallana had discarded all craving.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 411: Him I called a brahmana, who has no craving, who through knowledge of the Four Noble Truths is free from doubt, and has realized Nibbana the Deathless.

Dhammapada Verse 411
Mahamoggallanatthera Vatthu

Yassalaya na vijjanti
annaya akathamkathi
amatogadha' manuppattam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 411: Him I called a brahmana, who has no craving, who through knowledge of the Four Noble Truths is free from doubt, and has realized Nibbana the Deathless.


dhp412_B
Verse-Kệ 412

(292).- Tích chuyện Sa-di Lê-va-ta - Kệ số 412

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Đông-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Sa-di Lê-va-ta còn trẻ mà đã đắc quả A-la-hán.

 

Một hôm, các vị tỳ-kheo khen-ngợi đức-hạnh của Tôn-giả Lê-va-ta, còn trẻ tuổi mà được danh-tiếng cao, dân-chúng cúng-dường rất hậu-hĩ. Mặc dầu sống ẩn-cư nơi rừng vắng, Tôn-giả Lê-va-ta đã thi-triển thần-thông, xây dựng nhiều chùa tháp cho chư Tăng trú-ngụ. Đức Phật nghe lời tán-thán đó, mới bảo rằng: "Nầy chư tỳ-kheo, người đã dứt bỏ được tham-ái như Lê-va-ta, các mối ràng-buộc về điều thiện, điều ác đều được vuợt lên trên hết."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

Đời nầy, kẻ vượt thoát ràng-buộc,

Của cả hai điều thiện và ác,

Chẳng sầu, thanh-tịnh và giải-thoát,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 412.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sa-di Lê-va-ta: tiếng Pali là Samanera Revata. Vì còn nhỏ tuổi chưa thọ-giới tỳ-kheo, nên vẫn gọi là Sa-di, mặc dầu đã chứng quả A-la-hán. (Sa-di = người còn tập-sự tu, chưa chánh-thức là tỳ-kheo.)

 

- Chùa Đông-viên: do bà Vi-sa-kha xây cất ở phiá Đông chùa Kỳ-viên, tên tiếng Pali là Pubbàràma.

 

- Hậu-hĩ: rất nhiều và quí.

 

- Thi-triển thần-thông: xử-dụng các khả-năng khác thường như bay bổng trên không, biến-hoá, đi trên mặt nước, v.v.

 

- Tán-thán = khen ngợi và thán-phục.

 

- Tham-ái: Tham = ham quá; Ái =thương, thích. Tham-ái, dịch chữ Pali Tanhà, là nguồn-gốc gây ra Khổ, tức là Tập-Đế trong Tứ-Diệu-đế.

 

- Các mối ràng-buộc: ở đây trỏ vào các tâm-sở bất-thiện: tham, sân, si, mạn, nghi và tà-kiến.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: vượt khỏi mọi ràng-buộc của Thiện và Ác. Thế nghĩa là sao? Điều ác ràng-buộc đã đành, vì gây ra nghiệp dữ, lôi ta theo nẻo ác của Luân-hồi (điạ-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh). Còn điều lành lại cũng ràng-buộc hay sao? Cũng ràng-buộc như thường, vì tạo nên nghiệp lành, đưa ta đến các cõi lành của Luân-hồi (cõi Trời, thần và người).

 

Thế thì Tôn-giả Lê-va-ta đã thoát được cả hai mối ràng-buộc đó bằng cách nào? Tôn-giả làm lành, tránh được nghiệp dữ; Tôn-giả chẳng dừng lại đó như những người tu phước, mà Tôn-giả còn đi xa hơn, tu giới-định-huệ để chứng-đắc quả A-la-hán, thoát khỏi vòng sanh-tử của Luân-hồi, khiến cho cả hai nghiệp lành, nghiệp dữ đều chấm-dứt hết.

 

Đó là nghĩa sâu của Tích chuyện.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 412:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ cũng giống với ý-nghĩa của Tích chuyện, nhưng được Phật nói rõ thêm. Xin phân-tách từng điểm:

 

1) "Đời nầy, kẻ vượt thoát ràng-buộc, Của cả hai điều: thiện và ác": đây là nói đến ngay trong đời nầy, dứt được nghiêp lành và dữ, tức là đã chứng được vô-sanh, thoát vòng tái-sanh của Luân-hồi. Nói cách khác, đó là bực A-la-hán trong hiện đời.

 

2) "Chẳng sầu": "Sầu" là vì Khổ; nay dứt khổ, tức là "chẳng sầu" và vì chẳng khổ-sầu, cho nên được an-vui, đó là tánh-cách an-lạc của cảnh-giới Niết-bàn.

 

3) "Thanh-tịnh": trong-sạch và yên-tịnh, vắng-lặng; đó là tánh-cách tịch-diệt của cảnh-giới Niết-Bàn.

 

4) "Giải-thoát": hết bị trói-buộc trong vòng lẩn-quẩn khổ-đau của cảnh sanh-tử nữa, mà hằng được tự-tại: đó là tánh-cách an-nhiên, tự-tại của cảnh-giới Niết-bàn.

 

Tóm lại, ý-nghĩa sâu của bài Kệ nói lên các tánh-cách an-lạc, tịch-diệt và giải-thoát của cảnh-giới Niết-bàn mà bực A-la-hán đang hưởng ngay trong hiện-đời.

The Story of Samanera Revata

While residing at the Pubbarama monastery, the Buddha uttered Verse (412) of this book, with reference to Samanera Revata.

One day, the bhikkhus said to the Buddha, "Revata is getting many offerings from people, he is gaining fame and fortune. Even though he lives alone in the forest, through supernormal power he has now built five hundred pinnacled monasteries for five hundred bhikkhus." To them the Buddha said, "Bhikkhus, my son Revata has discarded all craving; he has transcended both good and evil."

Verse 412: Him I call a brahmana, who, in this world, has transcended both ties good and evil; who is sorrowless and, being free from the taints of moral defilements, is pure.

Dhammapada Verse 412
Revatatthera Vatthu

Yo'dha punnanca pipanca
ubho sanga'mupaccaga
asokam virajam suddham
tamaham brumi brahmanam.

Verse 412: Him I call a brahmana, who, in this world, has transcended both ties good and evil; who is sorrowless and, being free from the taints of moral defilements, is pure.


dhp413_B
Verse-Kệ 413

(293).- Tích chuyện Trưởng-lão Can-đà - Kệ số 413

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Can-đà.

 

Can-đà, tiếng Pali có nghĩa là mặt trăng, là biệt-hiệu mà người đương-thời gán cho một người, khi sanh ra có một vầng sáng chói ở rún. Nguyên người ấy, vào thời Đức Phật Ca-diếp có dưng-cúng một khúc gỗ chiên-đàn để tạc tượng thờ Phật trong ngôi tháp, nên khi tái-sanh, có điểm lạ nơi rún chói sáng lên. Bọn ngoại-đạo lợi-dụng lòng mê-tín của dân chúng, chở Can-đà lên xe đi rong, ai muốn rờ vào rún chói sáng đó thì phải trả một đồng tiền.

 

Khi đến gần chùa Kỳ-viên thấy các thiện-nam, tín-nữ vào nghe Đức Phật giảng-pháp, bọn ngoại-đạo bảo rằng, Can-đà có thần-thông còn hơn Đức Phật. Người ta chẳng tin, họ mới dẫn Can-đà vào chùa, để khoe ... cái rún chói sáng. Nhưng vào đến bên trong chùa, rún Can-đà chẳng chiếu lên, đến khi trở ra mới chiếu trở lại. Chính Can-đà cũng lấy làm lạ, mới quay trở vào, hỏi Đức Phật đã dùng thần-chú nào mà làm tắt ngúm ánh-sáng nơi rún của anh ta, xin chỉ-dạy cho anh thần-chú đó. Đức Phật bảo, muốn học, phải thọ-giới tỳ-kheo trước đã. Can-đà liền bảo bọn ngoại-đạo ra ngoài chờ, bao giờ học xong thần-chú, sẽ gặp nhau lại.

 

Tỳ-kheo Can-đà được chỉ các phép quán thân bất-tịnh, tâm vô-thường, nỗ-lực tu-tập, chẳng bao lâu chứng được quả-vị A-la-hán. Đến khi các bọn ngoại-đạo đến thăm hỏi đã học xong thần-chú chưa, thì Trưởng-lão Can-đà bảo họ: "Các ông nên trở về đi, ta nay đã chứng-đắc được Đạo và Quả rồi, chẳng theo các ông nữa đâu." Các vị tỳ-kheo khác nghe vậy, mới đến thưa trình với Đức Phật, có phải Can-đà nay đã chứng được quả-vị A-la-hán rồi chăng? Đức Phật đáp: "Nầy chư Tăng, Can-đà dẹp xong mọi lậu-hoặc, chứng quả A-la-hán."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người nào như vầng trăng thanh-tịnh,

Rạng-rỡ, trắng trong và trầm-tĩnh,

Luyến-ái vào hiện-hữu dứt xong,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 413.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Can-đà: biệt-hiệu nầy tiếng Pali là Candàbha. (Candà =mặt trăng).

 

- Đức Phật Ca-diếp: Kassapa, đản-sanh trước Đức Phật Thích-ca.

 

- Gỗ chiên-đàn: một loại gỗ màu sậm, có mùi thơm như trầm.

 

- Thần-chú: chơn-ngôn, lời nói bí-mật có hiệu-lực lạ thường.

 

-Quán thân bất-tịnh: quán-sát tấm thân bên trong chứa 32 chỗ dơ-dáy như mủ, nước tiểu, v.v. sanh ra nhàm chán thú-vui nhục-dục.

 

- Quán Tâm vô-thường: quán-sát tâm bên trong cứ thay-đổi luôn, để kềm-giữ lại mà được định-tâm khi tu Thiền.

 

- Đạo và Quả: Đạo = đường-lối tu-tập (Magga); Quả = quả-vị chứng được (Phala) khi tu-tập thành-công.

 

- Lậu-hoặc: Lậu: rỉ chảy ra; Hoặc = chỗ dơ. Lậu-hoặc là phiền-não như tham, sân, khởi lên trong tâm, lộ ra bằng cử-chỉ và lời nói xấu-ác.

 

- Luyến-ái vào hiện-hữu: mê-đắm vào hiện-hữu ( = đời sống hiện nay). Có ba thứ luyến-ái vào ba cõi ở thế-gian: (1)dục-ái, mê cõi dục (đang sống đây); (2) sắc-ái, mê cõi sắc; (3) vô-sắc-ái, mê cõi vô-sắc.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một người có điểm lạ trên thân-thể, rún chói sáng, theo bọn ngoại-đạo làm tiền những kẻ mê-tín dị-đoan. Đến khi vào gặp Phật, rún chẳng chói nữa, tưởng Phật có thần-chú chi bí-hiểm mới xin theo học. Nhưng được Phật chỉ dạy phép quán Tứ-niệm xứ, người ấy theo tu-tập tinh-tấn mà chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Tích chuyện chẳng kể thêm, nhưng nếu ta chiêm-nghiệm kỹ, thì thấy; ngay khi được Phật chỉ dạy phép quán thân bất-tịnh, tâm vô-thường, người ấy đã chứng được quả-vị thứ nhứt là Tu-đà-huờn, vì: (1) dẹp bỏ thân-kiến, chẳng xem thân nầy là Ta nữa (nói chi là cái rún chói sáng!); (2) dứt được nghi-ngờ nơi Chánh-pháp mà nỗ lực tu; (3) bỏ luôn bọn ngoại-đạo tà-kiến, dứt được giới cấm-thủ ngay. Sau đó, lần-lượt chứng các quả-vị kế-tiếp, cho đến cõi vô-sanh của Niết-bàn.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 413:

 

Ý-nghĩa Tích chuyện nêu trên, đã được Đức Phật diễn rõ bằng thơ, trong bài Kệ đầy ý-nhị nầy.

The Story of Thera Candabha

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (413) of this book, with reference to Thera Candabha.

Candabha had, in a previous existence, made offerings of sandalwood to a stupa where the relics of Kassapa Buddha were enshrined. For this good deed, he was reborn in a brahmin family in Savatthi. He was born with a distinguishing mark, viz., a circle of light radiating from around his navel. As this circle of light resembled the moon he came to be known as Candabha. Some brahmins, taking advantage of this unusual feature, put him on a cart and took him round the town for exhibition and only those who paid a hundred or a thousand were allowed to touch him. On one occasion, they stopped at a place between the town and the Jetavana monastery. To ariyas going to the Jetavana monastery, they said, 'What is the use of your going to the Buddha and listening to his discourses? There is no one who is as powerful as Candabha. One who touches him will get rich; why don't you come and see ?" The ariyas then said to them, "Only our teacher is powerful; he is unrivalled and matchless."

Then the brahmins took Candabha to the Jetavana monastery to compete with the Buddha. But when Candabha was in the presence of the Buddha, the ring of light went out by itself. When Candabha was taken out of sight of the Buddha, the ring of light returned automatically; it again disappeared when taken back to the presence of the Buddha. Candabha then asked the Buddha to give him the mantra (words of incantation) that would make the ring of light disappear from around his navel. The Buddha told him that the mantra could be given only to a member of his Order. Candabha told the brahmins that he was getting a mantra from the Buddha and that after mastering the mantra he would be the greatest person in the whole of Jambudipa. So the brahmins waited outside the monastery.

Meanwhile, Candabha became a bhikkhu. He was instructed to contemplate the body, i.e., to reflect on the repulsiveness and impurity of the thirty-two constituents of the body. Within a few days, Candabha attained arahatship. When the brahmins who were waiting outside the monastery came to enquire whether he had acquired the mantra, Candabha replied. "You people had better go back now; as for me I am no longer in a position to go along with you." Other bhikkhus, hearing him, went to the Buddha and said, "Candabha is falsely claiming that he has become an arahat." To them the Buddha replied, "Candabha speaks the truth; he has eradicated all moral intoxicants."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 413: Him I call a brahmana, who, like the moon (in a cloudless sky), is pure, clear and serene, and in whom craving for existence is extinct.

Dhammapada Verse 413
Candabhatthera Vatthu

Candamva vimalam suddham
vippasannamanavilam
nandibhavaparikkhinam
1
tamaham brumi brahmanam.

Verse 413: Him I call a brahmana, who, like the moon (in a cloudless sky), is pure, clear and serene, and in whom craving for existence is extinct.


1. nandibhavaparikkhinam: one in whom craving far continued existence either in the current sensual existence or in a better and higher plane of existence in the rupa (fine material) or arupa (non-material) brahma realms, is extinct.


dhp414_B
Verse-Kệ 414

(294).- Tích chuyện Trưởng-lão Sĩ-hoa-ly - Kệ số 414

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ trong rừng Cung-đà-na, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc Trưởng-lão Sĩ-hoa-ly.

 

Thuở ấy, ở thành Cung-đà-cô-ly-gia, gần bộ-tộc Thích-ca, có nàng công-chúa mang thai đến bảy năm mà chưa sanh-nở. Công-chúa rất tin-tưởng nơi ngôi Tam-Bảo, nên nhờ chồng đến đảnh-lễ Đức Phật và trình-bày về hoàn-cảnh của mình. Khi nghe hoàng-tử thuật lại việc vợ mang thai nặng-nề quá lâu như thế, Đức Phật bảo: "Nầy vương-tử, nguyện-cầu cho công-chúa sớm sanh được con trai kháu-khỉnh!"Hôm ấy, công-chúa sanh được hoàng-nam. Cả triều vui mừng, nhà vua mới thiết lễ trai-tăng, thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến dự. Đức Phật và chúng tăng lưu lại thành Cung-đà trong bảy ngày, để thuyết-pháp.

 

Về sau, hoàng-nam lớn lên đi tu, gia-nhập Tăng-đoàn mang tên là Tỳ-kheo Sĩ-hoa-ly. Tu-hành rất tinh-tấn, Sĩ-hoa-ly sớm chứng được đạo-quả A-la-hán. Dân chúng rất ngưỡng-mộ và lễ-vật dâng-cúng cho Trưởng-lão Sĩ-hoa-ly nhiều hơn tất cả mọi người.

 

Vào một buổi chiều, có vị tỳ-kheo muốn biết vì sao Trưởng-lão Sĩ-hoa-ly tài-đức như thế mà lại phải nằm lâu trong bụng mẹ đến bảy năm. Đức Phật đáp: "Nầy chư Tăng, trong một tiền-kiếp, Sĩ-hoa-ly là vị hoàng-tử tài-giỏi, nhưng chẳng may, nước bị giặc xâm-lăng. Để giải-phóng nước nhà, hoàng-tử đã bao-vây một kinh thành chặt-chẽ. Trong bảy năm trời, dân-chúng trong thành đói khát, nhiều kẻ bị chết. Vì hành-động độc-ác đó, nên kiếp nầy, Sĩ-hoa-ly phải chịu bảy năm ở cảnh u-tối trong bụng mẹ. Nhưng ngày nay, Sĩ-hoa-ly đã chứng quả A-la-hán, đang cất bước thênh-thang trong cảnh-giới Niết-Bàn."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người thoát khỏi vũng lầy ‘tham-ái’,

Trải qua đường ‘phiền-não’ hiểm-nguy,

Vượt trùng-dương ‘Luân-hồi’ mê tối,

Sang đến bờ ‘thiền-định’, dứt nghi,

Tịch-tĩnh, chẳng bấu-víu điều chi,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 414.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sĩ-hoa-ly: tên vị Trưởng-lão, tiếng Pali là Sìvali.

 

- Rừng Cung-đà-na: tên khu rừng nầy tiếng Pali là Kundadhàna.

 

- Thành Cung-đà-cô-ly-gia: tên thành nầy, Pali là Kundakoliya.

 

- Tam-Bảo: ba ngôi báu: Phật, Pháp và Tăng.

 

- Lễ trai-tăng: lễ dưng-cúng thực-phẩm lên các vị tỳ-kheo.

 

- A-la-hán: Arahant, quả-vị thứ tư, cao nhứt. Bực A-la-hán dứt hết phiền-não, lìa mọi ham-muốn, chứng vô-sanh (hết bị tái-sanh)

 

- Xâm-lăng: đánh chiếm đất nước.

 

- Giải-phóng: đuổi giặc ra khỏi nước, giành lại nền độc-lập, tự-chủ.

 

- Vũng lầy: vũng bùn-lầy. Tham-ái = quá ham sống theo thú-vui

 

- Trùng-dương: biển cả sóng to. Luân-hồi: tái-sanh trở lại.

 

- Tịch-tĩnh: Tịch = vắng-vẻ; Tĩnh = yên-lặng.

 

- Bà-la-môn: Brahmana, giai-cấp tu-sĩ xưa ở Ấn-độ. Ở trong bài Kệ, chữ Bà-la-môn lại có nghĩa là bực A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại vì sao Sĩ-hoa-ly phải nằm trong bụng mẹ bảy năm mới được sanh ra: đó là quả-báo của việc vây thành trong bảy năm, ở kiếp trước.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện ngoài việc quả-báo ra, còn nói đến con đường tu-tập để chứng đắc quả-vị A-la-hán. Vượt qua con đường đó như thế nào, bài Kệ sẽ nói rõ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 414:

 

Bài Kệ số 414 ghi lại các đoạn đường tu-tập để chứng quả A-la-hán, bằng các danh-từ cụ-thể, tượng-trưng. Xin phân-tách các điểm quan-trọng trên đoạn đường đó:

 

1. Vũng lầy ‘Tham-ái’: Tham-ái, bám vào đời sống, là vũng sình níu chặt con người vào cõi tử-sanh của Luân-hồi. Bắt đầu tu là bỏ ngay sự tham-ái, để rút chơn ra khỏi vũng lầy, mà cất bước lên đường.

 

2) Đường hiểm-nguy ‘Phiền-não’: đường hiểm-nguy là đoạn đường chông-gai, gây trở-ngại khiến ta bỏ dở nửa chừng. Hiểm-nguy do đâu gây ra? Ba mối độc chánh: tham, sân, si, có nghi đi kèm.

 

3) Trùng-dương ‘Luân-hồi’: sự sống đi chết lại triền-miên ví như các ngọn sóng lặn hụp nơi biển cả, biển Luân-hồi. Vượt được trùng-dương Luân-hồi là chứng được vô-sanh, chẳng bị tái-sanh nữa, chẳng bị sóng dập gió dồn nữa giữa biển cả minh-mông.

 

4) Sang bờ ‘thiền-định’ dứt nghi: lên đến được bờ giác-ngộ, chẳng còn nghi-ngờ gì, bằng phương-cách tu Thiền-định.

 

5) Tịch-tĩnh, chẳng bấu-viú điều chi: từ nay sống trong sự vắng-lặng an-nhiên của cảnh Niết-bàn tịch-tĩnh, hoàn-toàn giải-thoát, vì buông-bỏ tất cả, chẳng còn bấu-víu vào bất-cứ điều chi nữa.

The Story of Thera Sivali

While residing in the Kundadhana forest near the city of Kundakoliya, the Buddha uttered Verse (414) of this book, with reference to Thera Sivali.

Princess Suppavasa of Kundakoliya was in pregnancy for seven years and then for seven days she was in labour pains. She kept contemplating the unique qualities of the Buddha, the Dhamma and the Samgha and in the end she sent her husband to the Buddha to pay obeisance to him on her behalf and to inform him of her condition. When informed of the condition of the princess, the Buddha said, "May Suppavasa be free from danger and from sorrow; may she give birth to a healthy noble son in safety." As these words were being spoken, Suppavasa gave birth to her son at her house. On that very day, soon after the birth of the child, the Buddha and some bhikkhus were invited to the house. Alms-food was offered there and the newly born child offered filtered water to the Buddha and the bhikkhus. To celebrate the birth of the child, the parents invited the Buddha and the bhikkhus to their house to offer food for seven days.

When the child grew up he was admitted to the Order and as a bhikkhu he was known as Sivali. He attained arahatship as soon as his head was shaved off. Later, he became famous as the bhikkhu who received the largest amount of offerings. As a recipient of offerings he was unsurpassed.

On one occasion, the bhikkhus asked the Buddha why Sivali, with the qualifications to become an arahat, was confined in his mother's womb for seven years. To them the Buddha replied, "Bhikkhus! In a previous existence, Sivali was the son of a king who lost his kingdom to another king. In trying to regain their kingdom he had besieged the city on the advice of his mother. As a result, the people in the city were without food or water for seven days. It was for this evil deed that Sivali was imprisoned in his mother's womb for seven years. But now, Sivali has come to the end of all dukkha; he has realized Nibbana."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 414: Him I call a brahmana, who, having traversed this dangerous swamp (of passion), this difficult road (of moral defilements), the ocean of life (samsara) and the darkness of ignorance (moha), and having crossed the fourfold Flood, has reached the other shore (Nibbana); who practises Tranquility and Insight Meditation, who is free from craving and from doubt, who clings to nothing and remains in perfect peace.

Dhammapada Verse 414
Sivalitthera Vatthu

Yo'mam palipatham duggam
samsaram mohamaccaga
tinno parangato jhayi
anejo akathamkathi
anupadaya nibbuto
tamaham brumi brahmanam.

Verse 414: Him I call a brahmana, who, having traversed this dangerous swamp (of passion), this difficult road (of moral defilements), the ocean of life (samsara) and the darkness of ignorance (moha), and having crossed the fourfold Flood, has reached the other shore (Nibbana); who practises Tranquility and Insight Meditation, who is free from craving and from doubt, who clings to nothing and remains in perfect peace.



dhp415_B
Verse-Kệ 415

(295).- Tích chưyện Trưởng-lão Sơn-đà - Kệ số 415

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Sơn-đà.

 

Tỳ-kheo Sơn-đà vốn con nhà giàu-có ở Xá-vệ, sau khi gia-nhập Tăng-đoàn, liền rời chuà Kỳ-viên đi đến thành Vương-xá, vào khu rừng vắng để tu-tập thiền-định. Bấy giờ ở thành Xá-vệ có hội hoa-đăng, đèn đuốc rực-rỡ, thiên-hạ vui-vầy. Cha mẹ của Sơn-đà, nhớ đến con nay chịu cực-khổ, chẳng được hưởng các thú-vui tưng-bừng đang diễn ra tại đây. Ông bà ngồi khóc. Có một nàng dâm-nữ đi ngang, nghe thấy, mới hỏi duyên-cớ. Nghe xong nổi-niềm thương nhớ con, nàng ấy liền đề-nghị: "Con có cách làm cho chàng Sơn-đà hoàn-tục, trở lại xum-họp với gia-đình, nhưng chẳng biết ông bà thưởng cho con bao nhiêu tiền?"Hai ông bà hứa cho nhiều tiền-bạc. Cô dâm-nữ mượn trước một số tiền to, rồi đi đến thành Vương-xá.

 

Cô mướn một ngôi nhà lầu xinh-đẹp, nằm trên đường đi khất-thực hằng ngày của tỳ-kheo Sơn-đà. Cô chuẩn-bị thức-ăn thật ngon, để cúng-dường ngoài cổng. Tuần sau, cô mời vị tỳ-kheo vào sân. Rồi cô mua kẹo cho trẻ nhỏ, bảo chúng chạy giỡn ở sân; khi tỳ-kheo Sơn-đà đến khất-thực, cô viện cớ trẻ ồn-ào, mời vị tu-hành vào nhà, để thọ-thực. Hôm sau nữa, cô cũng mời vào, lấy cớ từng dưới nhà chưa kịp dọn-dẹp sạch-sẽ, mời tỳ-kheo Sơn-đà lên lầu. Cả hai vừa bước vào phòng, cô khoá chặt cửa lại, rồi giở giọng quyến-rũ. Lời cô dịu-dàng, thân cô ưỡn-ẹo. Tỳ-kheo Sơn-đà giựt mình, biết mình đang sa vào cạm-bẫy. Tự-trách mình chẳng tỉnh-giác, lơ-là để mắc phải tội-lỗi, vị tỳ-kheo liền chấp tay, khẩn-thiết hướng về chùa Kỳ-viên, cầu Đức Phật cứu-giúp. Bấy giờ, Đức Phật quán thấy cảnh lâm-nguy của tỳ-kheo Sơn-đà, Ngài phóng đạo hào-quang đến căn lầu, hiện thân lên nói: "Nầy tỳ-kheo, hãy quyết-tâm dẹp bỏ mọi dục-vọng, mọi tham-ái, chớ chạy theo các thú-vui nhục-dục thấp-hèn và tạm-bợ." Tâm Sơn-đà phấn-khởi lên, liền nhập-định. Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó tỳ-kheo Sơn-đà chứng ngay được quả-vị A-la-hán, thi-triển thần-thông, bay theo sau Phật về chùa Kỳ-viên:

 

Ai đời nầy dục-lạc lià bỏ,

Rời gia-đình theo ngõ xuất-gia,

Dục-ái, hữu-ái đà đoạn-tận,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 415.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sơn-đà: tên vị Trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Sundarasamudda.

 

- Hoa-đăng: Hoa = bông hoa; Đăng = đèn. Hội hoa-đăng là buổi lễ về đêm, có đèn hoa rực-rỡ.

 

- Dâm-nữ: cô gái bán dâm, mua vui cho đàn-ông.

 

- Hoàn-tục: Hoàn = trở về; Tục = đời sống thế-tục. Hoàn-tục là bỏ cuộc đời tu-hành, trở về sống lại với gia-đình trong xã-hôi.

 

- Vương-xá: Ràjagaha, thủ-đô nước Ma-kiệt-đà (Magadha).

 

- Tho-thực: Thọ = nhận; Thực = ăn. Thọ-thực là ăn, tiếng nhà chùa.

 

- Uỡn-ẹo = uốn-éo để khêu gợi.

 

- Tỉnh-giác: Tỉnh = chẳng mê; Giác = biết. Người tỉnh-giác luôn luôn chú-ý, đang làm, nói, nghĩ điều gì thì tâm bên trong biết mình đang làm, nói, nghĩ về điều đó, và chỉ điều đó mà thôi, chẳng lo ra.

 

- Khẩn-thiết: Khẩn = gấp, mau; Thiết = thành-tâm, tha-thiết.

 

- Quán thấy = trong cơn thiền-định, nhìn thấy rõ bằng mắt-tâm

 

- Hào-quang = ánh-sáng rực-rỡ toả ra từ bực tu-hành định-lưc cao

 

- Nhục-dục: Nhục = thịt; Dục = ham-muốn. Nhục-dục là ham muốn thú-vui về thể-xác, giữa dàn-ông, đàn-bà.

 

- Thi-triển thần-thông: xử-dụng các khả-năng khác thường như bay bổng trên không, đi vào lửa đỏ, v.v. nhờ ở định-lực tu-hành cao.

 

- Dục-lạc: Dục = ham muốn; Lạc = thú-vui. Chữ dục-lạc ở đây, chỉ các thú-vui vật-chất thấp và tạm.

 

- Dục-ái: Dục = cõi dục-giới, nơi con người đang sanh-sống; Ái = thương; Dục-ái ở đây là quá mến-thích cảnh sống ở cõi dục-giới. (Có ba cõi trong thế-gian: (1) cõi dục-giới; (2) cõi sắc-giới; và (3) cõi vô-sắc-giới.)

 

- Hữu-ái: Hữu = hiện-hữu, đời sống hiện-tại; Ái = thương. Hữu-ái ở đây có nghĩa là tham sống hoài, muốn được tái-sanh lại mãi trong cõi Luân-hồi.

 

- Đoạn-tận: Đoạn = cắt đứt đoạn; Tận = dứt hết cả. Đoạn-tận là tiêu-diệt hết tận, chẳng còn gì.

 

- Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ xưa ở Ấn-độ. Trong bài Kệ, chữ Bà-la-môn lại có nghĩa là bực A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc cám-dỗ của một dâm-nữ, nhưng chẳng thành-công để quyến-rũ tỳ-kheo Sơn-đà vào tội-dâm, để hoàn-tục. Nhờ trong phút lâm-nguy, khẩn-thiết tưởng-niệm đến Phật, Sơn-đà thoát nguy.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là lời tự-trách mình thiếu tỉnh-giác của tỳ-kheo Sơn-đà. Nếu tâm luôn luôn tỉnh-giác, chắc-chắn sẽ đoán ngay được sự nguy-hiểm khi bước chơn vào nhà người dâm-nữ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 415:

 

Bài Kệ nêu ra ba điểm: (1) lià bỏ dục-lạc; (2) rời gia-đình để xuất-gia; (3) đoạn-tận dục-ái và hữu-ái. Xin lần-lượt xét qua các đìểm

 

1)Ai đời nầy dục-lạc lià-bỏ: bỏ các thú-vui vật-chất, để tìm thú-vui tinh-thần, tu-hành chứng quả để thoát Khổ vĩnh-viễn.

 

2)Rời gia-đình theo ngõ xuất-gia: đó là con đường giải-thoát, nhưng người thường lại cho là cực-khổ.

 

3) Dục-ái, hữu-ái đà đoạn-tận: cắt đứt hẳn sự tríu-mến vào đời sống Luân-hồi, tức là dục-ái, hữu-ái, để tìm về cuộc sống giải-thoát, an-nhiên, tự-tại trong cảnh Niết-bàn, bằng cách chứng quả A-la-hán.

The Story of Thera Sundarasamudda

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (415) of this book, with reference to Thera Sundarasamudda.

Sundarasamudda was the son of a rich man from Savatthi. After he had entered the Order, he left for Rajagaha, which was forty-five yojanas away from Savatthi, to practise meditation. One day, while some festivities were going on in Savatthi, the parents of Sundarasamudda missed him very much; they also felt sorry for their son who was missing all the enjoyment and they wept. As they were weeping, a courtesan came to them and asked what the matter was. On hearing about their son, the courtesan said, "If I could make your son leave the Order and return to the life of a lay man how would you reward me?" The parents answered that they would make her rich. The courtesan then asked for a large sum of money and left for Rajagaha with a number of followers.

At Rajagaha, she rented a house with seven-tiered pinnacles on the route where Thera Sundarasamudda would come on his alms-round. She prepared good food and waited for him. On the first few days, she offered alms-food to the thera at the door of her house. Later, she invited him to come inside. Meanwhile, she paid money to some children to come and play just outside the house about the time the thera usually came on his alms-round. This gave her the excuse that it was very dusty and noisy on the ground floor; with this excuse she invited the thera to the top floor to have his alms-food. The thera consented and went up and as soon as he had entered the room, the courtesan closed the door. Then she started seducing the thera. She said to the thera, "Venerable Sir! Please be my youthful and energetic husband, and I will be your dearly beloved wife. After our long and happy wedded life we can both leave it to enter the Order and strive our very best to attain Nibbana." When he heard these words the thera suddenly realized his mistake and got alarmed. Then he said to himself, "Indeed, by being negligent and unmindful I have made a great mistake."

At that instant, the Buddha saw from his Perfumed Chamber what was happening to Thera Sundarasamudda at Rajagaha. He called the Venerable Ananda and said to him, "Ananda! On an upper storey of a pinnacled building in Rajagaha, there now goes on a struggle between Sundarasamudda and a courtesan; but in the end the thera will be the winner." After saying this to Ananda, the Buddha sent forth his radiance to the thera, made him feel his presence, and said, "My son! Be resolute and get rid of love of wealth and sensual pleasures."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 415: Him I call a brahmana, who, in this world, has given up sensual pleasures, and leaving the home-life has become a bhikkhu; who has eradicated sensual desires and has come to the end of existence.


At the end of the discourse the thera attained arahatship, and by supernormal power passed through the roof into the sky and went to the Buddha.

Dhammapada Verse 415
Sundarasamuddatthera Vatthu

Yo'dha kime pahantvana
anagaro paribbaje
kamabhavaparikkhinam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 415: Him I call a brahmana, who, in this world, has given up sensual pleasures, and leaving the home-life has become a bhikkhu; who has eradicated sensual desires and has come to the end of existence.


dhp416_B
Verse-Kệ 416*  (Story-Tích Chuyện 1)

(296).- Tích chuyện Trưởng-lão Gia-tị-la - Kệ số 416*

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong kỳ giảng-pháp có đề-cập đến Trưởng-lão Gia-tị-la.

 

Sau khi Đức Phật Ca-diếp nhập Niết-Bàn, có một vị Trưởng-lão đi quyên tiền xây tháp để thờ xá-lợi Phật. Đến nhà người thợ-bạc, hai vợ chồng đang cãi-vã, vị Trưởng-lão bị xô-đuổi. Người chồng quát với vị tu-hành: "Đem tượng Phật quăng xuống sông cho rảnh, quyên với góp gì, mau đi ra!" Người vợ nói: "Sao lại hỗn-láo với bực tu-hành? Giận em, cứ mắng em, đánh em cũng được, cớ sao lại mạ-lỵ Đức Phật và vị Trưởng-lão. Tội nầy to lắm!" Người chồng sực-tỉnh, vội tạ lỗi và dâng ba bình hoa bằng vàng để thờ trong tháp của Đức Phật Ca-diếp.

 

Đến kiếp nầy, người thợ bạc sanh ra làm con ngoại-hôn của một thiếu-nữ nhà giàu. Khi sanh con, sợ mang tiếng, người mẹ để con vào một cái nồi, thả trôi sông. Bấy giờ, có người đàn-bà đi tắm, vớt nồi lên, nuôi đứa bé, đặt tên là Gia-tị-la. Lớn lên được mẹ nuôi gởi đến ở trọ nhà người phú-thương trong thành Ta-xi-la để ăn học, Gia-tị-la được chủ nhà mến, mới gả con gái cho. Hai vợ chồng trẻ được cha tặng một ngôi nhà đẹp-đẽ trong thành. Lại may mắn đào được trong vườn một hủ vàng to. Sau sanh được ba người con trai, thì Gia-tị-la xuất-gia, tu-hành rất tinh-tấn, chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Một hôm, Gia-tị-la và các tỳ-kheo khác cùng theo chơn Đức Phật đến nhận lễ cúng-dường tại nhà cũ của mình. Các người con trai của Gia-tị-la dâng-cúng thực-phẩm trong mười lăm ngày liên-tiếp. Trở về tịnh-xá, các tỳ-kheo hỏi Gia-tị-la, về nhà thấy vợ con và tiền-bạc, có nhớ tiếc chăng. Gia-tị-la bảo, chẳng còn quyến-luyến vào điều chi cả. Các tỳ-kheo chẳng tin, trình với Đức Phật. Đức Phật bảo: "Gia-tị-la đã chứng-đắc quả A-la-hán, đâu còn khát-ái và kiêu-mạn nữa."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Ai đời nầy, khát-ái lià bỏ

Rời gia-đình, theo ngõ xuất-gia,

Dục-ái, hữu-ái đà đoạn-tận

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 416.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Gia-tị-la: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Jatila.

 

- Phật Ca-diếp: Đức Phật giáng-sanh trước Đức Phật Thích-ca; tiếng Pali là Kassapa Buddha.

 

- Nhập Niết-bàn = lià bỏ xác thân, vào cõi Niết-Bàn yên-vắng.

 

- Quyên = đi xin tiền, góp lại để làm việc ích-lợi chung.

 

- Xá-lợi =Sarìra, ngọc xá-lợi, tro cốt bực Thánh sau khi hoả-táng.

 

- Mạ-lỵ = nói lời thô-cộc, hỗn-láo với ai.

 

- Tháp = ngôi nhà mồ xây nóc nhọn nhô cao lên, để thờ-phượng.

 

- Con ngoại-hôn = Ngoại = ở ngoài; Hôn = đám cưới. Con ngoại-hôn sanh ra do vợ-chồng chẳng chánh-thức cưới nhau.

 

- Phú-thương: Phú = giàu; Thương = buôn-bán.

 

- Ta-xi-la: thành nầy tên tiếng Pali là Taxila.

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà; Xuất-gia là lìa bỏ nhà đi tu.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt, chẳng còn bị tái-sanh nữa.

 

- Cúng-dường: đọc trại chữ Hán-Việt cung-dưỡng = cung-cấp để nuôi-dưỡng.Tứ sự cúng-dường: thức-ăn, quần-áo, giường, thuốc-men.

 

- Khát-ái = tham-ái = dục-ái = hữu-ái, đồng một nghĩa.

 

- Kiêu-mạn: Kiêu = kiêu-căng, phách-lối; Mạn = chữ Phạn là mano, tự-cao, coi mình là hơn kẻ khác.

 

- Đoạn-tận = Đoạn = cắt; Tận = hết; Đoạn-tận là cắt đứt hết tiệt.

 

- Bà-la-môn: Brahmana, giai-cấp tu-sĩ; ở đây có nghĩa là A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại tiểu-sử của Tỳ-kheo Gia-tị-la: vì kiếp trước có lời hỗn-láo với một vị Trưởng-lão, nhưng biết hối lỗi và dưng-cúng bình vàng để thờ Phật, nên kiếp nầy Gia-tị-la sanh ra bị thả trôi sông, nhưng về sau lại được giàu-có. Nhưng ý-nghĩa của Tích chuyện, ngoài vấn-đề quả-báo ra, còn là lời dạy của Đức Phật: tu đến bực A-la-hán thì dẹp xong khát-ái, kiêu-mạn, lìa bỏ hết ham-muốn, sống an-nhiên.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 416:

 

Hai bài Kệ số 415 và 416 giống nhau in hệt (có hai chữ tuy khác: dục-lạc và khát-ái, nhưng nghĩa rất gần nhau), xin xem lại ở bài trước.

The Story of Thera Jatila

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (416*) of this book, with reference to Thera Jatila.

Soon after the passing away (Parinibbana) of Kassapa Buddha, an arahat thera went round for donations to build a gold stupa where the relics of Kassapa Buddha were to be enshrined. The thera came to the house of a goldsmith while he and his wife were engaged in a heated quarrel. The goldsmith shouted at the thera and said, "You had better thrown your stupa into the water and go away." His wife then said to the goldsmith, "If you are angry with me you should abuse me only; you can even beat me if you like; but why do you have to abuse the Buddha and the thera? Surely, you have done a grievous wrong!" Hearing her words, the goldsmith realized the enormity of the wrong he had done and wanted to make atonement for it. So, he made some gold flowers, put them into three gold pots and offered them to be put into the relic chamber of the stupa of Kassapa Buddha.

In his present existence he was conceived in the womb of a rich man's daughter who had had an illicit love affair. When the child was born, she put it into a pot and floated it down the stream. A young woman who was bathing in the stream saw the child in the pot and took it with her. She adopted him and named him Jatila. Later, on the advice of a thera the woman sent Jatila to Taxila where he had his education. While at Taxila the thera arranged for him to stay at the house of a merchant who was a disciple of his. In due course, Jatila married the daughter of the merchant. Soon after the marriage, a large mound of gold appeared in the backyard of the house which was newly built for the couple. Three sons were born out of this marriage. After that, Jatila joined the Order and attained arahatship within a few days.

On one occasion, as the Buddha went on an alms-round with five hundred bhikkhus including Jatila, they came to the house of the sons of Jatila. His sons offered alms-food to the Buddha and his disciples for fifteen days. Some time afterwards, the bhikkhus asked Jatila whether he was still attached to his mound of gold and his sons, and he answered that he had no more attachment to them. The bhikkhus then said to the Buddha that Jatila was falsely claiming to have attained arahatship. To them the Buddha said, "Bhikkhus! Jatila has got rid of craving and pride; he has indeed attained arahatship."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 416: Him I call a brahmana, who, in this world, has given up craving, and leaving the home-life has become a bhikkhu; who has eradicated craving and has come to the end of existence.


* Verse 416 have two stories. Read the Story of Thera Jotika.

Dhammapada Verse 416*
Jatilatthera Vatthu

Yo'dha tanham pahantvana
anagaro paribbaje
tanhabhavaparikkhinam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 416: Him I call a brahmana, who, in this world, has given up craving, and leaving the home-life has become a bhikkhu; who has eradicated craving and has come to the end of existence.


dhp416_B
Verse-Kệ 416* (Story-Tích Chuyện 2)

(297).- Tích chuyện Trưởng-lão Giô-thi-ca. (Kệ số 416*)

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Giô-thi-ca.

 

Thuở ấy, ở thành Vương-xá có chàng thanh-niên tên Giô-thi-ca, nhà cửa thật sang-trọng, lộng-lẫy, lại được thần-linh giữ cửa. Vua Tần-bà-sa-la dẫn Thái-tử A-xà-thế đến viếng nhà, hết lời khen-ngợi. Giô-thi-ca đem viên hồng-ngọc ra tặng Vua. Thái-tử trông-thấy cảnh huy-hoàng đó, nguyện rằng khi lên làm vua, sẽ xung-công cơ-nghiệp đó.

 

Về sau, Thái-tử A-xà-thế, nghe lời xúi-dục của tỳ-kheo Đề-bà-đạt-đa, nổi lên cướp ngôi vua, giam cha trong ngục, bỏ đói cho chết. Vua A-xà-thế dẫn quân đến chiếm nhà của Giô-thi-ca, nhưng bị thần giữ cửa ngăn-cản. Bấy giờ, vua A-xà-thế mới dẫn quân đến tịnh-xá Trúc-lâm, thấy Giô-thi-ca đang ngồi nghe Phật giảng-pháp. Vua A-xà-thế nổi giận, sai quân lính bắt. Giô-thi-ca biết vua chiếm nhà mình chẳng được, mới đến đây tìm. Ông liền xoè bàn tay ra, có mấy chiếc nhẫn, bảo vua cứ cổi ra mà lấy. Vua cổi mãi chẳng được. Giô-thi-ca nói: "Tôi có lời nguyện, vật của tôi chẳng ai dành lấy được, trái với ý muốn của tôi." Nói xong, Giô-thi-ca lấy chiếc khăn tay trải ra, chống các ngón tay xuống khăn, các chiếc nhẫn tuột ra, lấy đem dưng cho vua A-xà-thế. Sau đó, Giô-thi-ca xin Đức Phật cho xuất-gia. Nhờ tinh-tấn tu-hành, chẳng bao lâu, Giô-thi-ca chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Một hôm, các vị tỳ-kheo hỏi Giô-trhi-ca có còn nhớ tiếc ngôi nhà đẹp-đẽ nữa không, Giô-thi-ca đáp, bây giờ chẳng còn tham-luyến gì nữa cả. Các tỳ-kheo chẳng tin, mới trình Phật. Đức Phật liền bảo: "Giô-thi-ca đã chứng quả A-la-hán rồi, mọi tham-dục đều dứt hẳn."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ số 416 (đã được ghi ở bài trước.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Giô-thi-ca: tên vị Trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Jotika.

 

- Trúc-lâm, Vương-xá: tịnh-xá Veluvana nầy cất trong vườn trúc, do vua Tần-bà-sa-la dưng cúng Phật, gần thành Vương-xá (Ràjagaha.)

 

- Tần-bà-sa-la: Bimbisara, vua nước Ma-kiệt-đà (Magadha), bị con mình là Thái-tử A-xà-thế (Ajàtasattu) cướp ngôi.

 

- Xung-công = lấy bỏ vào kho nhà-nước.

 

- Cơ-nghiệp = tài-sản, sự-nghiệp.

 

- Đề-bà-đạt-đa: tên vị tỳ-kheo, anh của Tôn-giả A-nan, tánh kiêu-mạn, đòi thay-thế Đức Phật cầm đầu Tăng-đoàn. Tên Pali: Devadatta.

 

- Chiếc nhẫn = chiếc cà-rá đeo ở ngón tay.

 

- A-la-hán: Arahant, quả-vị thứ tư, cao nhứt. Chữ A-la-hán có ba nghĩa: (1) ứng-cúng, xứng-đáng được Trời, Người cúng-dường; (2) sát-tặc, giết hết giặc, giặc phiền-não; (3) vô-sanh, chẳng còn bị tái-sanh trong cõi Luân-hồi, sống tự-tại, giải-thoát trong cảnh Niết-bàn.

 

- Tham-dục: Tham = ham quá chừng; Dục = muốn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Trưởng-lão Giô-thi-ca từ bỏ cả nhà cửa, của-cải để đi tu, chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện, cũng như ý-nghĩa của bài Kệ số 416 nơi Tích chuyện nầy, đều nói lên đức-tánh xả-bỏ của bực A-la-hán. Xả-bỏ là chẳng luyến-tiếc điều chi cả; nhờ chẳng luyến-tiếc, nên chẳng bị ràng-buộc, do đó mà được giải-thoát.

The Story of Thera Jotika

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (416*) of this book, with reference to Thera Jotika.

Jotika was a famous rich man from Rajagaha. He lived in a stately mansion with seven tiered pinnacles. There were seven walls around his mansion, each of which had an entrance guarded by celestial demons. The fame of his wealth spread far and wide, and many people came to see his mansion. On one occasion, King Bimbisara came to visit Jotika; he also brought his son Ajatasattu with him. Ajatasattu seeing the grandeur of Jotika's mansion vowed that he would not allow Jotika to live in such a magnificent mansion when he became king. On the king's departure from his house Jotika presented the king with a large priceless ruby. It was the custom of Jotika to give presents to all visitors who came to see him.

When Ajatasattu ascended the throne, after killing his father, he came with his soldiers to take the mansion of Jotika by force. But as all the gates were well guarded by celestial demons, Ajatasattu and his soldiers had to retreat. Ajatasattu fled to the Veluvana monastery and he found Jotika listening to a discourse given by the Buddha. Seeing Jotika at the feet of the Buddha, Ajatasattu exclaimed, "After making your guards fight me, you are now pretending to be listening to a discourse!" Jotika realized that the king had gone to take his place by force and that he had been compelled to retreat.

In a past existence, Jotika had made a solemn wish that his property might not be taken away from him against his wish, and this wish had been fulfilled. So Jotika said to King Ajatasattu, "O king! My property cannot be taken away against my wish." Saying this, he stretched out his ten fingers and asked the king to take off the twenty rings he was wearing on his fingers. The king tried hard to take them off but did not succeed. Jotika then asked the king to spread out a piece of cloth and as Jotika put his fingers on to the cloth, all his rings easily slipped off. After he had given all his rings to King Ajatasattu, Jotika asked the Buddha that he might be permitted into the Order. Soon after entering the Order, Jotika attained arahatship.

One day, when other bhikkhus asked him whether he had any more craving left in him for his mansion his wealth and his wife, he answered that he did not have any more craving for them. The bhikkhus then went to the Buddha and said, "Venerable Sir! Thera Jotika claims to have attained arahatship; he is telling lies." To them the Buddha said, "Bhikkhus! Jotika speaks the truth; he does not have any more craving in him. He is now an arahat."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 416: Him I call a brahmana, who, in this world, has given up craving, and leaving the home-life has become a bhikkhu; who has eradicated craving and has come to the end of existence.


* Verse 416 have two stories. Read the Story of Thera Jatila.

Dhammapada Verse 416*
Jotikatthera Vatthu

Yo'dha tanham pahantvana
anagaro paribbaje
tanhabhavaparikkhinam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 416: Him I call a brahmana, who, in this world, has given up craving, and leaving the home-life has become a bhikkhu; who has eradicated craving and has come to the end of existence.



dhp417_B
Verse-Kệ 417

(298).- Tích chuyện Trưởng-lão Na-ta-bút (1) - Kệ số 417

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Na-ta-bút.

 

Na-ta-bút là con một người vũ-nữ, thường đi ra đường ca hát, nhảy múa. Một hôm, Na-ta-bút theo chơn các vị tỳ-kheo đến chùa, nghe Phật giảng pháp. Na-ta-bút hiểu được mới xin xuất-gia, thọ-giới tỳ-kheo. Kể từ đó, Na tinh-tấn tu-hành, chẳng bao lâu chứng được quả-vị A-la-hán. Một hôm, đang đi khất-thực, thấy có đứa bé múa hát bên lề đường, các vị tỳ-kheo hỏi Na-ta-bút, có còn mê-thích ca múa nữa không. Na-ta-bút đáp, đã từ lâu, dứt bỏ mọi mê-luyến rồi. Các vị tỳ-kheo chưa tin, về tịnh-xá, thưa hỏi Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, Na-ta-bút đã vượt qua mọi ràng-buộc, chứng A-la-hán rồi."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người tách khỏi ràng-buộc cõi người,

Vượt lên trên câu-thúc cõi Trời,

Thoát-ly mọi hệ-lụy

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 417.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Na-ta-bút: tên vị Trưởng-lão, tiếng Pali là Nataputtaka.

 

- Vũ-nữ: phụ-nữ có tài nhảy múa.

 

- Thọ-giới tỳ-kheo = làm lễ nhận tuân 250 giới-cấm của tỳ-kheo.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt, chứng được vô-sanh, nghĩa là thóat khỏi sự tái-sanh trong vòng Luân-hồi.

 

- Câu-thúc: Câu = bắt giữ; Thúc = bó-buộc. Câu-thúc là trói buộc.

 

- Hệ-lụy: Hệ = sợi dây tơ; Lụy = buộc lại. Hệ-lụy là ràng buộc.

 

- Bà-la-môn: Brahmana, nghĩa gốc là giai-cấp tu-sĩ xưa ở Ấn-độ. Trong các bài Kệ thuộc phẩm Bà-la-môn, chữ Bà-la-môn lại được Đức Phật dùng theo nghĩa chữ A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Na-ta-bút, trước ham nhảy múa, ca hát, sau đi tu chứng được quả-vị A-la-hán. Khi gặp một đứa trẻ ca múa, các tỳ-kheo hỏi Trưởng-lão Na-ta-bút còn mê vũ nữa không, Trưởng-lão bảo, không. Đức Phật nói, đã chứng A-la-hán rồi thì mọi mê-luyến ràng-buộc đều dẹp tan.

 

Cũng như Tích chuyện trước, ý-nghĩa giải-thoát mọi ràng-buộc được nêu trong Tích chuyện nầy.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 417:

 

Bài Kệ nói lên sự hoàn-toàn giải-thoát mọi ràng-buộc của bực A-la-hán. Ràng-buộc ở cõi người, thì khi xuất-gia, ta đang cởi bớt đi, để qua một bên các lo-lắng về gia-đình. Còn ràng-buộc ở cõi Trời là gì? Đó là phải tái-sanh lại ở các cõi khác, khi đã hưởng hết phước nơi cõi Trời. Bực La-hán chẳng còn tái-sanh nữa, nên thoát được mọi hệ-lụy.

The Story of Thera Nataputtaka

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (417) of this book, with reference to Thera Nataputtaka, who was the son of a dancer.

Once, the son of a dancer was going round the streets singing and dancing when he had a chance to listen to a discourse given by the Buddha. After listening to the discourse, he entered the Order and attained arahatship soon afterwards. One day, while the Buddha and the bhikkhus including Nataputtaka were going on an alms-round, they came across the son of another dancer dancing in the street. Seeing the young man dancing, the other bhikkhus asked Nataputtaka whether he still liked dancing. And Nataputtaka answered, "No, I do not." The bhikkhus then went to the Buddha and told him that Thera Nataputtaka was falsely claiming to have attained arahatship. Thereby, the Buddha said, "Bhikkhus! Nataputtaka has gone beyond all bonds of attachment; he has become an arahat."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 417: Him I call a brahmana, who has given up attachment to (sensual pleasures of) human life, has transcended attachment to (sensual pleasures of) deva life and is completely free from all attachment.

Dhammapada Verse 417
Nataputtakatthera Vatthu

Hitva manusakam yogam
dibbam yogam upaccaga
sabbayogavisamyuttam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 417: Him I call a brahmana, who has given up attachment to (sensual pleasures of) human life, has transcended attachment to (sensual pleasures of) deva life and is completely free from all attachment.


dhp418_B
Verse-Kệ 418

(299).- Tích chuyện Trưởng-lão Na-ta-bút (2) - Kệ số 418

 

Tích chuyện nầy trùng với Tích chuyện số (298), tên và sự-việc giống nhau, nhưng lại xảy ra ở hai nơi khác.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Na-ta-bút.

 

Thuở ấy, ở thành Vương-xá có người tên Na-ta-bút rất ham múa hát. Một hôm, được nghe Đức Phật giảng-pháp, Na-ta-bút liền xin quy-y và thọ-giới tỳ-kheo. Do tu-tập tinh-tấn, chẳng bao lâu Na-ta-bút chứng được quả-vị A-la-hán. Các bạn đồng-tu hỏi, bây giờ còn ham-mê ca múa nữa không, Na-ta-bút lắc đầu. Đức Phật bảo: "Na-ta-bút chứng quả A-la-hán, đã buông-bỏ mọi ham-thích về muôn sự-vật."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người đã bỏ điều thích, điều phiền,

Kiên-trì, chẳng ô-nhiễm, thản-nhiên,

Khắc-phục xong thế-giới ‘năm uẩn’,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 418.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Na-ta-bút: tên vị Trưởng-lão, tiếng Pali là: Nataputtaka.

 

- Trúc-lâm: tịnh-xá Veluvana ở gần thủ-đô Vương-xá (Ràjagaha) thuộc nước Ma-kiệt-đà (Magadha).

 

- Kiên-trì: Kiên =kiên-nhẫn, bền chí; Trì = giữ. Kiên-trì = rất bền chí

 

- Khắc-phục: thắng được, bắt phải theo lịnh mình.

 

- Thế-giới ‘năm uẩn’ = là thân-tâm con người gồm có năm uẩn: (1)sắc-uẩn, thân vật-chất; (2) thọ-uẩn, các cảm-thọ; (3) tưởng-uẩn, các tư-tưởng; hành-uẩn, các hành-động; (5) thức-uẩn, các hiểu-biết. Sắc-uẩn thuộc về thân; và tâm thì gồm bốn uẩn còn lại.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện: giống Tích chuyện trước.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 418:

 

Bài Kệ nêu nhiều đức-tánh của bực A-la-hán, xin lần-lượt phân-tách:

 

1) ‘Người đã bỏ điều thích, điều phiền’: Thông thường, hễ gặp việc vừa ý, mình thích, muốn có hoài; gặp việc trái ý, mình ghét, muốn bỏ mau đi. Tánh phân-biệt so-đo đó gây thêm đau-khổ. Người thản-nhiên, điềm-tĩnh, chẳng quá vui, cũng chẳng quá buồn, tâm quân-bình, thanh-thản, là đang sống trong sự an-lạc; vui vì nhờ chẳng cảm thấy phiền, an-lạc vì vắng bóng phiền-não ở nơi tâm.

 

2) ‘Kiên-trì, chẳng ô-nhiễm, thản-nhiên’: Ba đức-tánh nầy giúp cho tâm an-tịnh. Kiên-trì là bền-chí, nhẫn-nại trước sự trái-ý. Chấp-nhận sự-việc trái-ý là tránh cho sự buồn-phiền nổi lên trong tâm: đang gặp chuyện khó, đó là một mối khổ, rồi lại nổi lên sự giận-ghét việc khó đó, là đang chồng thêm một nổi khổ nữa cho tâm. Vậy, sự kiên-trì tránh cho ta mối khổ thứ hai đó, do chính ta tạo nên.

 

Chẳng ô-nhiễm là chẳng để hoàn-cảnh lôi-cuốn tâm; đây là mình làm chủ tâm mình, mà đồng-thời cũng làm chủ luôn cả hoàn-cảnh. Muốn chẳng bị ô-nhiễm, phải tỉnh-giác đề-phòng, giữ tâm lắng-yên, mặc cho cảnh bên ngoài có cám-dỗ, có thúc-dục, mình cứ giữ vững.

 

Thản-nhiên là "như-như chẳng động", việc đâu còn có đó, vội gì mà phải sợ cuống lên. Nếu biết kiên-trì, nếu biết giữ chẳng ô-nhiễm, thì thái-độ thản-nhiên sẽ tự đến cho mình.

 

3) ‘Khắc-phục xong thế-giới năm uẩn’: Câu nầy có nghĩa là mình làm chủ cả thân-tâm của mình. Làm chủ bằng cách nào? Làm chủ thân-tâm bằng sự tỉnh-giác, làm gì, nói gì, nghĩ gì, cũng biết chính mình đang làm, đang nói, đang nghĩ; chớ chẳng phải cái máy đang làm, cái loa đang nói, hay con vẹt lia-lia cái mỏ mà chẳng hiểu nó đang nóí gì.

 

Tóm lại, bực A-la-hán chính là người tỉnh-giác, làm chủ được thân-tâm, nên lúc nào cũng thản-nhiên, chẳng mảy may xao-động trước hoàn-cảnh xung quanh. Tập đến được mức đó, cần phải kiên-trì.

 

Trên đây là ý-nghĩa của bài Kệ số 418, mà cũng là đường-lối tu-tập chung cho cả hai: xuất-gia và tại-gia. Bực xuất-gia sẽ chứng được A-la-hán, sống tự-tại trong cảnh-giới Niết-Bàn. Còn người tại-gia, tuy chưa chứng A-la-hán, nhưng tu-tập được tánh thản-nhiên, tâm thanh-tịnh, thì ngưỡng cửa an-lạc của Niết-Bàn tại thế-gian nầy cũng gần kề.

The Story of Thera Nataputtaka

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (418) of this book, with reference to another Thera Nataputtaka, son of another dancer.

As in the previous story, the son of a dancer had entered the Order and had attained arahatship. Other bhikkhus went to the Buddha and told him about Thera Nataputtaka claiming to have attained arahatship. To them the Buddha said, "Bhikkhus! Nataputtaka has given up taking delight in all things."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 418: Him I call a brahmana, who has given up taking delight (in sensual pleasures) and not taking delight (in solitude); who has attained perfect peace and is free from moral defilements; who has overcome all the five khandhas (lit., the world) and is diligent.

Dhammapada Verse 418
Nataputtakatthera Vatthu

Hitva ratim ca aratim ca
sitabultam nirupadhim
1
sabbalokabhihhum2 viram
tamaham brumi brahmanam.

Verse 418: Him I call a brahmana, who has given up taking delight (in sensual pleasures) and not taking delight (in solitude); who has attained perfect peace and is free from moral defilements; who has overcome all the five khandhas (lit., the world) and is diligent.


1. nirupadhim: according to the Commentary, "nirupadhim ti nirupakkilesam", i.e., free from substratum or free from moral defilements (kilesa).

2. sabbalokabhihhum: lit., one who has conquered all the world, i.e., one who has put an end to rebirths, or the arising of the khandhas.


dhp419_B
dhp420_B
Verse-Kệ 419-420

(300).- Tích chuyện Trưởng-lão Văn-di-sa - Kệ số 419 và 420

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Văn-di-sa.

 

Thuở ấy, ở thành Vươbg-xá có một người Bà-la-môn tên Văn-di-sa có được biệt-tài mỗi khi gõ vào đầu-lâu người chết thì biết kẻ ấy tái-sanh về đâu. Văn-di-sa cùng một nhóm Bà-la-môn, đi khắp xóm làng, rao lên ai chịu trả hai mươi đồng, thì nói cho biết thân-nhơn đã mất, nay sanh về đâu.

 

Họ đi dạo như thế, cho đến một hôm tới gần chùa Kỳ-viên, nơi đông-đảo dân chúng đang tu-tập nghe Đức Phật giảng-pháp. Họ bảo, ở đây, có Bà-la-môn Văn-di-sa tài-giỏi lắm, biết cả nơi thác-sanh của người chết. Dân-chúng chẳng tin, thách họ vào gặp Đức Phật. Bấy giờ Đức Phật mới sai các tỳ-kheo đem lại năm cái đầu-lâu của năm người, sắp thành một hàng: kẻ bị sa điạ-ngục, kẻ bị đoạ vào loài súc-sanh, kẻ được tái-sanh làm người, kẻ được sanh lên Trời và một chiếc của vị chứng A-la-hán. Văn-di-sa nói đúng bốn cái trước, còn đầu-lâu thứ năm hắn chẳng biết thác-sanh về đâu. Đức Phật bảo: "Nầy Văn-di-sa, ông chẳng biết được nơi thác-sanh của người chủ đầu-lâu chót nầy; nhưng ta biết được." Văn-di-sa mới hỏi Phật nhờ thần-chú nào mà biết được, hắn muốn học thần-chú đó được không. Đức Phật đáp, muốn học thì trước phải làm lễ thọ-giới tỳ-kheo. Văn-di-sa bảo mấy người Bà-la-môn ra về đi, còn mình ở lại chùa tu-tập. Được Đức Phật chỉ-dạy phép quán thân bất-tịnh với ba mươi hai chỗ ô-uế bên trong thân, Văn-di-sa nỗ-lực tu-tập quán-chiếu, chẳng bao lâu chứng-đắc được quả-vị A-la-hán.

 

Hai bài Kệ sau đây được Đức Phật nói lên khi nhắc đến việc Trưởng-lão Văn-di-sa đắc quả A-la-hán:

 

Người khéo vượt qua, hiểu triệt-để

Lẽ sống chết của mọi chúng-sanh,

Vô-nhiễm, giác-ngộ Tứ-diệu-đế,

Như-lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 419.)

 

Bực mà người, Trời, Càn-thát-bà,

Chỗ thọ-sanh, chẳng tìm ra được,

Lậu-hoặc-tận, chứng A-la-hán,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 420.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Văn-di-sa: tên vị Trưởng-lão, tiếng Pali là: Vangisa.

 

- Vương-xá: tên thủ-đô Ràjagaha của nước Ma-kiệt-đà (Magadha)

 

- Đầu-lâu: xương sọ người chết.

 

- Tái-sanh: Tái = một lần nữa; sanh = sanh ra. Theo thuyết Luân-hồi của nhà Phật, chúng-sanh khi chết đi, tùy theo nghiệp mà sanh trở lại.

 

- Thác-sanh, Thọ-sanh = đồng-nghĩa với tái-sanh.

 

- Súc-sanh = thú-vật.

 

- Thần-chú: còn gọi là chơn-ngôn, các lời nói bí-mật, tin rằng có hiệu-lực phi-thường.

 

- Lễ thọ-giới tỳ-kheo: lễ nhận tuân theo 250 giới-cấm của tỳ-kheo.

 

- Quán thân bất-tịnh = suy-xét sâu-xa về lẽ trong thân-thể con người có nhiều chỗ dơ-dáy, như mủ, đờm, nước tiểu, ghèn, v.v. Phép quán thân bất-tịnh nằm trong Pháp Tứ-niệm-Xứ ( = bốn đề-tài quán-chiếu: (1) thân bất-tịnh, (2) thọ là khổ; (3) tâm vô-thường; (5) pháp vô-ngã.

 

- Triệt-để: Triệt = thấu tận; Để = đáy. Hiểu triệt-để là hiểu cặn-kẽ.

 

- Vô-nhiễm = chẳng dính dơ, chẳng lây chỗ xấu.

 

- Giác-ngộ: Giác = biết; Ngộ = hiểu. Giác-ngộ là hiểu-biết suốt cả.

 

- Tứ-diệu-đế = bốn Chơn-lý nhiệm-mầu: (1) Khổ-đế, đời là khổ; (2) Tập-đế, nguyên-nhơn gây ra Khổ là tham-ái; (3) Diệt-đế, cảnh-giới đã diệt hết Khổ, tức là Niết-Bàn; (4) Đạo-đế, con đường Thánh-đạo đưa đến sự diệt Khổ vĩnh-viễn, tức là Bát-Chánh-đạo.

 

- Càn-thát-bà: Gandhabba, Hương-thần hay Nhạc-thần, một hạng chúng-sanh trên cõi Trời.

 

- Lậu-hoặc-tận = diệt hết các lậu-hoặc, tức là các phiền-não, như tham, sân, si, mạn, nghi, ác-kiến, v.v.(Lậu-hoặc = phiền-não; tận = dứt)

 

- A-la-hán: Arahant, quả-vị thứ tư cao nhứt, chứng được vô-sanh.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Văn-di-sa có tài đặc-biệt biết được nơi thác-sanh của ngưòi chết, bằng cách gõ vào đầu-lâu. Đến khi gặp Phật, Văn chẳng biết nơi thác-sanh của vị A-la-hán, mới xin quy-y, rồi nỗ-lực tu-tập, sau chứng được quả A-la-hán.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: biết được nơi thác-sanh của kẻ khác chưa đủ, phải tu-tập thêm để chứng được vô-sanh (chứng quả A-la-hán) mới hết bị vướng vào vòng lẩn-quẩn khổ-đau của Luân-hồi.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 418 và 419:

 

Bài Kệ trước nói về sự giác-ngộ của bực A-la-hán; bài Kệ sau nói về sự vô-sanh của bực A-la-hán. Xin phân-tách từng câu cả hai bài:

 

Bài Kệ số 418:

 

1) ‘Người khéo vượt qua, hiểu triệt-để, Lẽ sống chết của mọi chúng-sanh’: (a) "Khéo vượt qua" là được giải-thoát, dứt mọi ràng-buộc. (b)"Hiểu triệt-để lẽ sống-chết của mọi chúng-sanh" là giác-ngộ được lẽ sanh-tử, biết thấu-suốt chúng-sanh từ đâu tới, sống đau-khổ như thế nào, rồi sẽ đi về đâu, và làm sao thoát được khổ vĩnh-viễn.

 

2) ‘Vô-nhiễm, giác-ngộ Tứ-diệu-đế’: (a)Vô-nhiễm là bực Thánh chẳng bị nhuốm dơ, làm chủ được tâm bên trong và hoàn-cảnh bên ngoài. (b)"Giác-ngộ Tứ-diệu-đế" là thông-suốt Chánh-pháp, hiểu rõ bốn Chơn-lý Nhiệm-mầu, biết Khổ do đâu sanh, biết cách diệt-trừ Khổ

 

Bài Kệ số 419:

 

3) ‘Bực mà người, Trời, Càn-thát-bà, Chỗ thọ-sanh, chẳng tìm ra được’: xin viết lại cho xuôi câu: "Bực mà Trời, Người còn chẳng biết được nơi thọ-sanh". Tại sao chẳng biết được nơi thọ-sanh của bực ấy? Vì bực ấy đã chứng vô-sanh, đâu còn tái-sanh lại nữa mà có chỗ thọ-sanh để biết được. Đó là bực hoàn-toàn giải-thoát khỏi cảnh Luân-hồi.

 

4) ‘Lậu-hoặc-tận, chứng A-la-hán’: (a) Dứt được mọi lậu-hoặc là dẹp xong mọi phiền-não, thân-tâm hoàn-toàn thanh-tịnh. (b) Chứng A-la-hán là đắc được vô-sanh, chẳng còn sanh-tử, tử-sanh, trôi lăn trong cảnh Khổ của Luân-hồi. Chớ lầm Vô-sanh là diệt mất hết; phải hiểu: Vô-sanh = Vô tái-sanh, chẳng còn bị nghiệp lôi-kéo trôi lăn trong sáu nẻo của Luân-hồi, nay được tự-tại, an-nhiên mãi nơi cảnh Niết-Bàn.

The Story of Thera Vangisa

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (419) and (420) of this book, with reference to Thera Vangisa.

Once, in Rajagaha, there was a brahmin by the name of Vangisa who by simply tapping on the skull of a dead person could tell whether that person was reborn in the world of the devas, or of the human beings, or in one of the four lower worlds (apayas). The brahmins took Vangisa to many villages and people flocked to him and paid him ten, twenty or a hundred to find out from him where their various dead relatives were reborn.

On one occasion, Vangisa and his party came to a place not far from the Jetavana monastery. Seeing those people who were going to the Buddha, the brahmins invited them to come to Vangisa who could tell where their relatives had been reborn. But the Buddha's disciples said to them, "Our teacher is one without a rival, he only is the Enlightened One." The brahmins took that statement as a challenge and took Vangisa along with them to the Jetavana monastery to compete with the Buddha. The Buddha, knowing their intention, instructed the bhikkhus to bring the skulls of a person reborn in niraya, of a person reborn in the animal world, of a person reborn in the human world, of a person reborn in the deva world and also of an arahat. The five were then placed in a row. When Vangisa was shown those skulls he could tell where the owners of the first four skulls were reborn but when he came to the skull of the arahat he was at a loss. Then the Buddha said,"Vangisa, don't you know? I do know where the owner of that skull is."Vangisa then asked the Buddha to let him have the magical incantation (mantra) by which he could thus know; but the Buddha told him that the mantra could be given only to a bhikkhu. Vangisa then told the brahmins to wait outside the monastery while he was being taught the mantra. Thus, Vangisa became a bhikkhu and as a bhikkhu, he was instructed by the Buddha to contemplate the thirty-two constituents of the body. Vangisa diligently practised meditation as instructed by the Buddha and attained arahatship within a short time.

When the brahmins who were waiting outside the monastery came to ask Vangisa whether he had acquired the mantra, Vangisa said, "You all had better go now; as for me, I should no longer go along with you." Other bhikkhus hearing him thought he was telling lies, so they went to the Buddha and said, "Venerable Sir! Vangisa is falsely claiming to have attained arahatship." To them the Buddha said,"Bhikkhus! Vangisa really knows the death and rebirth of beings."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 419: Him I call a brahmana, who knows the death and rebirth of beings in every detail, who is detached, who follows the good practice and knows the Four Noble Truths.
Verse 420: Him I call a brahmana, whose destination the devas or gandhabbas or men do not know who has eradicated moral intoxicants and is an arahat.

Dhammapada Verses 419 and 420
Vangisatthera Vatthu

Cutim yo vedi sattanam
upapattinca sabbaso
asattam sugatam buddham
tamaham brumi brahmanam.

Yassa gatim na jananti
deva gandhabbamanusa
khinasavam arahantam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 419: Him I call a brahmana, who knows the death and rebirth of beings in every detail, who is detached, who follows the good practice and knows the Four Noble Truths.

Verse 420: Him I call a brahmana, whose destination the devas or gandhabbas or men do not know who has eradicated moral intoxicants and is an arahat.


dhp421_B
Verse-Kệ 421

(301).- Tích chuyện Ni-bà Đàm-ma - Kệ số 421

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Ni-bà Đàm-ma.

 

Thuở ấy, ở thành Vương-xá, có một vị ưu-bà-tắc tên là Vi-sa-kha, nhà giàu, nhờ nghe được Đức Phật giảng-pháp mà chứng được quả-vị A-na-hàm. Một hôm, vị ấy nói vợ rằng: "Kể từ nay, xin bà nhận lấy hết tài-sản sự-nghiệp nầy, tôi chẳng còn muốn dự vào việc nhà nữa." Người vợ là bà Đàm-ma liền đáp: "Ai lại dại gì nuốt vào đờm-dãi của kẻ khác đã phun nhổ ra? Tôi xin phép ông, kể từ nay, được xuất-gia làm tỳ-kheo-ni." Sau khi được chồng đồng-ý, bà xin thọ-giới tỳ-kheo-ni, rồi theo các vị ni-cô khác đến một tu-viện nhỏ trong làng vắng, nỗ-lực tu-tập, chẳng bao lâu, chứng được quả-vị A-la-hán và trở lại thành Vương-xá. Người chồng đến thăm, muốn thử xem sức học Đạo của bà Đàm-ma đến mức nào, mới hỏi thế nào là bốn Đạo, bốn Quả. Bà Đàm-ma trả lời rất rõ ràng thấu-đáo về ba Đạo-Quả đầu, đến Đạo-Quả thứ tư, ông Vi-sa-kha chẳng hiểu nổi, mới hỏi thêm. Bà Đàm-ma nói: "Ông còn chưa đủ sức để hiểu rõ Đạo và Quả của bực A-la-hán; nếu ông muốn biết, thì tới thưa với Đức Phật." Ông Vi-sa-kha mới đến trình Phật. Đức Phật nói: "Nầy Vi-sa-kha, tỳ-kheo-ni Đàm-ma đã trả lời câu hỏi của ông rồi; ông có hỏi thêm, ta cũng chỉ đáp như thế." Đức Phật nói như thế là có ý bảo Bà Đàm-ma nay đã chứng quả-vị A-la-hán, nhìn thấy rõ trình-độ tu-tập của chồng.

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người chẳng hề bám-víu vào chi

Trong quá-khứ, vị-lai, hiện-tại,

Chẳng nắm giữ, vì chẳng có gì,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 421.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ni-bà: hay Sư-bà, vị tỳ-kheo-ni cao-cấp, ngang hàng với bực Hoà-thượng bên Nam-giới.

 

- Đàm-ma: tên vị Ni-bà, tiếng Pali là Dhammadinnà.

 

- Ưu-bà-tắc: còn gọi là cận-sự-nam, tiếng Pali là Upàsaka, người thiện-nam tu tại-gia, đến chùa làm công-quả. Nữ-giới là Ưu-bà-di, hay cận-sự-nữ, tiếng Pali là Upàsika.

 

- Vi-sa-kha: tên vị Ưu-bà-tắc nầy, tiếng Pali là Visàkha.

 

- A-na-hàm: Anàgàmi, quả-vị thứ ba, còn gọi là Bất-Lai, nghĩa là chẳng sanh lại cõi Người nữa, sanh lên Trời, tu tiếp chứng A-la-hán.

 

- A-la-hán: Arahant, quả-vị cao nhứt, chứng được vô-sanh. Chữ A-la-hán có ba nghĩa: (1) ứng-cúng, xứng-đáng được sự cúng-dường của Trời, Người; (2) sát-tặc, giết hết giặc, giặc phiền-não như tham, sân, si; (3) vô-sanh, tức là vô-tái-sanh, chẳng còn sanh lại trong cõi Luân-hồi nữa, mà tự-tại trong cảnh-giới Niết-bàn an-lạc.

 

- Đờm-dãi = chất nhờn dơ trong miệng khạc phun ra.

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà; Xuất-gia là lìa nhà đi tu ở chùa

 

- Tỳ-kheo-ni: Bhikkhuni, nữ tu-sĩ Phật-giáo, tuân theo 350 giới-cấm

 

- Đạo, Quả: Đạo = con đường, đường-lối tu-tập, Pali là Magga; Quả = kết-quả của việc tu-tập thành-công, Pali là Phala. Trong hàng Thanh-văn (Savaka), các đệ-tử sống gần bên Phật, nghe kinh mà tu-tập, có bốn Đạo và bốn Quả: (1) Tu-đà-hườn-hướng và Tu-đà-huờn-quả; (2) Tư-đà-hàm-hướng và Tư-dà-hàm-quả; (3) A-na-hàm-hướng và A-na-hàm-quả; (4) A-la-hán-hướng và A-la-hán-quả.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất ý-nhị: chồng muốn giao sản-nghiệp cho vợ để lo đường tu-hành; vợ bảo, ai thèm nhận gánh-nặng đó và xin xuất-gia. Vợ tu ở chùa, mau chứng quả A-la-hán. Chồng tu tại-gia chỉ chứng quả thứ ba là A-na-hàm, muốn thử xem vợ tu đến bực nào. Đến chừng vợ nói đến đạo-quả A-la-hán, chồng chẳng hiểu nổi, đi hỏi Phật, mới vở lẽ vợ mình đã đắc quả Thánh, mình còn thua một bực.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 421:

 

Bài Kệ rất rõ nghĩa: bực A-la-hán xả-ly tất cả, nên được hoàn-toàn giải-thoát. Xả-ly ( =bỏ) những gì? Tất cả, từ quá-khứ, hiện-tại đến tương-lai. Ý-nghĩa thâm-trầm nhứt là ở câu thứ ba: "Chẳng nắm-giữ, vì chẳng có gì", còn gì đâu nữa mà nắm giữ, thân-tâm có cũng như không, sống chết xem ngang nhau, an-nhàn, tự-tại nơi cảnh Niêt-bàn.

The Story of Theri Dhammadinna

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (421) of this book, with reference to Theri Dhammadinna.

Once, there was a lay-disciple of the Buddha named Visakha in Rajagaha. After hearing the Buddha's discourses again and again Visakha attained Anagami Fruition and he said to his wife, "Please accept all my property; from today, I'm not going to take part in any of the affairs of the house." His wife Dhammadinna retorted, "Who would swallow the spittle you have thrown up?" Then she asked permission from him to enter the Order and became a bhikkhuni. After becoming a bhikkhuni she went to a monastery in a small village in the company of other bhikkhunis to practise meditation. Within a short time, she attained arahatship and returned to Rajagaha.

Visakha, hearing that Dhammadinna had returned, went to see her and asked her some questions. When he asked her about the first threemaggas she answered him; but when he asked her questions on thearahatta magga and phala she said, "O lay-disciple! This matter is out of your depth; if you want, you may go and ask the Buddha." When Visakha asked the Buddha, the Buddha said, "Dhammadinna has already answered your question. If you ask me I shall have to give the same answer." Saying this the Buddha confirmed the fact that Dhammadinna had attained arahatship.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 421: Him I call a brahmana, who does not cling to the past, future and present khandha aggregates and who is free from moral defilements and attachment.

Dhammapada Verse 421
Dhammadinna Theri Vatthu

Yassa pure ca paccha ca
majjhe ca natthi kincanam
akincanam anadnam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 421: Him I call a brahmana, who does not cling to the past, future and present khandha aggregates and who is free from moral defilements and attachment.


dhp422_B
Verse-Kệ 422

(302).- Tích chuyện Trưởng-lão Chi-man - Kệ số 422

 

Tích chuyện nầy tiếp theo Tích chuyện về Trưởng-lão Vô-não, số 142.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Chỉ-man.

 

Thuở ấy, vua Ba-tư-nặc và Hoàng-hậu Mạt-lợi, xứ Câu-tát-la, thiết-lập một trai-đàn Đại-bố-thí để dưng-cúng lễ-vật và thực-phẩm lên Đức Phật và năm trăm vị tỳ-kheo. Buổi lễ được tổ-chức vô cùng trọng-thể: mỗi vị tỳ-kheo được che mát trên đầu, bằng một chiếc lọng gấm trắng, do một con voi được luyện tập thuần-thục cầm giữ. Tuy nhiên, số voi được huấn-luyện còn thiếu một, phải đem một con đại-tượng chưa được tập-luyện cầm lọng che cho Trưởng-lão Chỉ-man. Con đại-tượng ngày thường rất hung-hăng, nhưng khi Trưởng-lão đến gần nó, nó lại tỏ ra ngoan-ngoãn, đứng yên chẳng gây chút trở-ngại.

 

Sau buổi lễ, các vị tỳ-kheo hỏi Trưởng-lão Chỉ-man có sợ-hãi chăng, khi đứng gần con đại-tượng hung-hăng. Trưởng-lão đáp, không. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, người đã chứng được quả-vị A-la-hán như tỳ-kheo Vô-não đâu còn sợ-hãi điều gì nữa, nói chi là con đại-tượng."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Bực ngưu-vương chẳng hề úy-kỵ,

Bực đại-sĩ anh-hùng cao-quí,

Bực chiến-thắng, chẳng hề nhiễm-ô,

Bực tẩy-tịnh, bực đại-giác-ngộ,

Như-lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 422.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Chỉ-man: Chỉ = ngón tay; Man = chùm. Tên thật của Trưởng-lão là Ahimsaka, dịch là Vô-não ( = chẳng gây phiền-não cho ai), nhưng vì theo ngoại-đạo, giết người lấy ngón tay kết thành chùm, đeo ở ngực, nên người đời gán cho tên là Angulimàla, phiên-âm là Ương-quật ma-la, dịch là Chỉ-man. Xem tiểu-sử ở Tích chuyện số 142.

 

- Ba-tư-nặc, Mạt-lợi: tên tiếng Pali là Pasenadi và Mallikà.

 

- Câu-tát-la: tên xứ nầy tiếng Pali là Kosala.

 

- Trai-đàn: thiết-lập một đài cao để cúng-dường và nghe pháp

 

- Chiếc lọng = một cây dù lớn, đẹp, mặt trên tròn, bằng-phẳng.

 

- Đại-tượng = con voi lớn.

 

- Ngưu-vương: Ngưu = trâu; vương = vua. Ngưu-vương là trâu chúa

 

- Úy-kỵ = Úy =sợ; Kỵ = chống-đối. Úy-kỵ = sợ-hãi và lo ngại.

 

- Đại-sĩ: Đại = lớn; Sĩ = bực tôn-quí. Kinh sách Bắc-tông gọi cấp Bồ-tát là Đại-sĩ, như Bồ-tát Quán-âm gọi là Quán-âm đại-sĩ .

 

- Tẩy-tịnh: Tẩy = rửa;Tịnh = sạch. Bực tẩy-tịnh là bực rất trong-sạch

 

- Đại-giác-ngộ: Đại = lớn; Giác = biết; Ngộ = hiểu. Bực đại-giác-ngộ là bực đã thông hiểu hoàn-toàn về lẽ sống-chết của chúng-sanh.

 

- Bà-la-môn: Brahmana, giai-cấp tu-sĩ xưa ở Ấn-độ. Trong các bài Kệ của Phẩm Bà-la-môn nầy, chữ Bà-la-môn lại có nghĩa là A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị: Trưởng-lão Chỉ-man chẳng hề sợ-hãi khi đứng gần bên một con đại-tượng hung-hăng.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện dẫn đến bài Kệ, nói lên đức vô-úy của bực A-la-hán.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 422:

 

Bài Kệ nêu lên các đức-tánh quí-báu của bực A-la-hán, trong đó sự vô-úy được đề-cao. Có nhiều danh-từ được dùng theo nghĩa tượng-trưng, xin phân-tách ra như sau:

 

1) Bực ngưu-vương, chẳng hề úy-kỵ: Tánh chẳng hề úy-kỵ, chẳng sợ-hãi gì cả, được ví với con trâu chúa có sức mạnh hung-hăng.

 

2) Bực đại-sĩ: bực Bồ-tát (Bodhisatta), bực đã tự-giác, quên nình đi lo chia-xẻ sự giác-ngộ với kẻ khác (gọi là giác-tha)

 

3) Anh-hùng cao-quí, bực chiến-thắng, chẳng hề nhiễm-ô:: Chiến-thắng ai? Chiến-thắng được sự cám-dỗ ( = Ma-vương), tội-lỗi.

 

4) Bực tẩy-tịnh: Tẩy-tịnh là rửa sạch. Rửa cái chi? Rửa sạch cõi lòng, cho tâm được thanh-tịnh, khiến cho tội-lỗi chẳng nhiễm được.

 

5) Bực Đại-giác-ngộ: Sao gọi là đại-giác? Vì đã tự-giác, đi giác-tha, và đã giác-hành viên-mãn (công-cuộc giáo-hoá chúng-sanh đã hoàn-tất). Bực Đại-giác chính là Đức Phật. Ngài đã tự-mình giác-ngộ lấy, đó là tự-giác. Đi giáo-hoá chúng-sanh trong bốn mươi năm cho họ được giác-ngộ theo, đó là giác-tha. Công-cuộc giáo-hoá của Ngài kéo dài đến phút chót của cuộc đời, để lại Chánh-pháp cho đời sau, đó là giác-hành viên-mãn.

The Story of Angulimala

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (422) of this book, with reference to Thera Angulimala.

On one occasion, King Pasenadi and Queen Mallika made an alms-offering to the Buddha and his bhikkhus numbering five hundred in all, on a scale which could not be surpassed by anyone else. At that ceremony, each bhikkhu was to have an elephant holding a white umbrella over his head as a sunshade. However, they could get only four hundred and ninety-nine trained elephants and so they had to put in an untrained elephant and it was allotted to hold the umbrella over Thera Angulimala. Every one was afraid that the untrained elephant might give trouble, but when brought near Thera Angulimala it was quite docile.

It was with reference to this incident that the bhikkhus later asked Angulimala whether he did not get frightened or not. To this question Angulimala answered that he was not frightened. The bhikkhus then went to the Buddha and said that Thera Angulimala claimed to have attained arahatship. To them the Buddha said, "Bhikkhus! It is quite true that Angulimala was not afraid; those who are like him are also not afraid."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 422: Him I call a brahmana, who is fearless like a bull, who is noble and diligent, who is a seeker of high moral virtues and a conqueror (of three Maras), who is free from craving, who has been cleansed of moral defilements and knows the Four Noble Truths.

Dhammapada Verse 422
Angulimatthera Vatthu

Usabham pavaram viram
mahesim vijitavinam
anejam nhatakam
1 buddham
tamaham brumi brahmanam.

Verse 422: Him I call a brahmana, who is fearless like a bull, who is noble and diligent, who is a seeker of high moral virtues and a conqueror (of three Maras), who is free from craving, who has been cleansed of moral defilements and knows the Four Noble Truths.


1. nhatakam: made clean (of moral defilements); an allusion to the ceremonial bathing of the brahmin after finishing his course of studies.


dhp423_B
Verse-Kệ 423

(303).- Tích chuyện ông Đề-va-hy - Kệ số 423

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề cập đến vị Bà-la-môn tên là Đề-va-hy

 

Thuở ấy, một hôm Đức Phật bị đau bụng. Ngài sai Trưởng-lão Ưu-bà-hoà đến nhà vị Bà-la-môn Đề-va-hy xin nước nóng. Ông Đề-va-hy rất hoan-hỉ được dịp dâng-hiến chút gì lên Đức Phật. Ngoài bình nước nóng, ông còn trao cho Trưởng-lão một chén mật-mía nữa, rồi theo chơn Trưởng-lão vào thăm-viếng Đức Phật. Trưởng-lão pha nước cho Đức Phật tắm-rửa, xong lấy mật-miá hoà với nước nóng đem dâng. Đức Phật uống xong, hết đau bụng. Bấy giờ, vị Bà-la-môn mới thưa: "Bạch Thế-tôn, hiến-tặng cho ai thì được phước lớn?" Đức Phật đáp: "Nầy Đề-va-hy, cúng-dường cho bực đã dẹp xong mọi tội-ác sẽ được lợi-lạc to lớn nhứt."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Bực Thánh biết cả quá-khứ mình,

Thấy cảnh Trời, cùng các đoạ-xứ,

Ngay đời nầy, chấm dứt sanh-tử,

Với thắng-trí tự mình cải-tiến,

Hoàn-tất đạo-quả được viên-thành,

Như-Lai gọi là Bà-la-môn.

(Kệ số 423.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đề-va-hy: tên vị Bà-la-môn nầy, tiếng Pali là Devahita.

 

- Ưu-bà-hoà: tên vị Trưởng-lão, tiếng Pali là Upavàna.

 

- Mật mía = ép mía nấu kẹo lại nước lỏng sền-sệt.

 

- Cúng-dường: đọc trại chữ Hán-Việt cung-dưỡng, cung-cấp và nuôi dưỡng. Tiếng nhà chùa, chỉ sự dâng-hiến phẩm-vật cho các tu-sĩ.

 

- Bực Thánh = bực đã dứt được nghiệp, chẳng còn bị tái-sanh trong vòng Luân-hồi (Samsàra) nữa. Trong bốn quả-vị, ba quả Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, vì còn tái-sanh, nên gọi là bực Hiền; đến quả A-la-hán, chứng được vô-sanh, nên gọi là bực Thánh.

 

- Các đoạ-xứ = ba nẻo dữ (Apàya)trong cõi Luân-hồi: (1) điạ-ngục; (2) ngạ-quỉ ( = quỉ đói), (3) súc-sanh ( = thú-vật).

 

-Thắng-trí: Thắng = hơn tất cả; Trí- = trí-huệ; Thắng-trí,ở đây, là Trí-huệ Bát-nhã ba-la-mật, trí-huệ đưa ta đến bờ bên kia, bờ giác-ngộ.

 

- Cải-tiến: Cải = sửa-đổi; Tiến = tiến-bộ. Cải-tiến là sửa đổi tốt hơn.

 

- Hoàn-tất: Hoàn = tròn; Tất = xong; Hoàn-tất là xong-xuôi hết cả, ở đây, là chứng được quả-vị A-la-hán, giải-thoát khỏi Luân-hồi.

 

- Viên-thành: Viên = tròn, trọn; Viên-thành là xong trọn-vẹn.

 

- Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ xưa ở Ấn-độ. Chữ Bà-la-môn trong Tích chuyện có nghĩa là giai-cấp. Nhưng trong bài Kệ, chữ Bà-la-môn lại có nghĩa là bực A-la-hán.

 

B.- Nghĩa Ý;

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại vị Bà-la-môn Đề-va-hy dâng nước nóng và mật mía lên Đức Phật, rồi hỏi Phật, hiến-tặng cho ai thì được phước lớn. Đức Phật đáp, cúng-dường cho bực Thánh, đã diệt hết tội-ác thì hưởng được lợi-lạc to-lớn nhứt.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: công-đức bố-thí đem lại phước lành to.

 

(2) Ý-nghĩa bài Kệ số 423:

 

Bài Kệ nói về bực Thánh: (1)biết đời quá-khứ, (2) thấy được sáu cõi trong Luân-hồi, (3)chấm-dứt sự sanh-tử lẩn-quẩn theo nghiệp-báo, (4)dùng thắng-trí tự cải-tiến và (5) hoàn-tất được các đạo-quả.

 

Xin lần-lượt phân-tách năm đìểm vừa nêu:

 

(1) ‘Biết cả quá-khứ mình’: đó là túc-mạng minh, nhớ lại được hết các kiếp trước của mình;

 

(2) ‘Thấy cảnh Trời và các đoạ-xứ’: đây là thấy rõ cả sáu cõi trong Luân-hồi, gọi là Thiên-nhãn-minh, thấy biết chúng-sanh luân-chuyển theo nghiệp-báo, trong vòng Luân-hồi. Sáu cõi gồm có: ba đường lành: cõi người, cõi thần và cõi Trời; ba đường dữ: cõi điạ-ngục, cõi ngạ-quỉ và cõi súc-sanh.

 

(3) ‘Ngay đời nầy, chấm-dứt tử-sanh’: ngay hiện-đời, chứng được vô-sanh, nghĩa là chẳng còn bị tái-sanh lại, để rồi chết nữa, hết quanh đi quẩn lại trong vòng đau-khổ của Luân-hồi, mà được tự-tại, an-vui trong cảnh vắng-lặng của Niết-bàn.

 

(4) ‘Với thắng-trí, tự mình cải-tiến’: nhờ tu-luyện theo giới, định, huệ, giữ giới cho ba nghiệp thân, miệng, ý được thanh-tịnh, tập định cho tâm được thanh-tịnh, mở-mang được trí-huệ chói-sáng, đó là tự mình cải-tiến lấy mình, từ phàm-phu trở nên bực hiền-thánh. Nói cách khác, sự tự-cải-tiến đưa đến sự chấm-dứt tất cả các phiền-não, các lậu-hoặc, khiến thân-tâm hoàn-toàn được giải-thoát. Đây là chứng được Lậu-tận-minh.

 

(5)’Hoàn-tất đạo-quả được viên-thành’: tu-tập tinh-tấn nên lần-lượt chứng được bốn đạo và bốn quả, từ cấp Tu-đà-hườn, qua Tư-đà-hàm, A-na-hàm, để rồi chứng nốt quả-vị vô-sanh của A-la-hán.

 

Nói tóm lại, bài Kệ nêu lên sự chứng-đắc Tam-minh của bực Thánh: (1) túc-mạng-minh, (2) thiên-nhãn-minh và (3) lậu-tận-minh.

The Story of Devahita the Brahmin

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (423) of this book, with reference to Devahita, a brahmin.

On one occasion, the Buddha suffered from a gastric ailment and he sent Thera Upavana to get some hot water from Devahita the brahmin. The brahmin was very pleased to have this rare opportunity to offer something to the Buddha. So, in addition to hot water he also gave the thera some molasses for the Buddha. At the monastery Thera Upavana gave a warm bath to the Buddha; after the bath he offered the Buddha a mixture of molasses and hot water. After drinking the mixture there was instant relief. The brahmin then came and asked the Buddha, "Venerable Sir! An offering made to whom gives one the greatest benefit?" To him the Buddha said, "Brahmin! An offering made to one who has given up all evil is the most beneficial."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 423: Him I call a brahmana, who knows past existences, who sees the celestial as well as the lower worlds, who has reached the end of rebirths, who, with Magga Insight, has become an arahat and has accomplished all that is to be accomplished for the eradication of moral defilements.


At the end of the discourse the brahmana became established in the faith in the Three Gems (the Buddha, the Dhamma and the Samgha) and became a lay-disciple of the Buddha.


Dhammapada Verse 423
Devahitabrahmana Vatthu

Pubbenivasam yo vedi
saggapayanca passati
atho jatikkhayam patto
abhinnavosito muni
sabbavositavosanam
tamaham brumi brahmanam.

Verse 423: Him I call a brahmana, who knows past existences, who sees the celestial as well as the lower worlds, who has reached the end of rebirths, who, with Magga Insight, has become an arahat and has accomplished all that is to be accomplished for the eradication of moral defilements.


End of Chapter Twenty-six: The Brahmana

— End of The Dhammapada: Verses and Stories —

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 78)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 155)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 688)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 463)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 457)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 354)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 393)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 447)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1208)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 669)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 489)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1415)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 900)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4189)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8409)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1424)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 593105)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1770)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 778)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 1007)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
03 Tháng Giêng 20199:26 SA(Xem: 125)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1148)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1964)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 657)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 748)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2725)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
16 Tháng Giêng 20195:32 CH(Xem: 124)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama, là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
12 Tháng Giêng 20194:48 CH(Xem: 105)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 105)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 657)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 748)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 379)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript