Nghiệp, Xá Lợi, Cốt Lõi Của Thiền, Chánh Pháp, Đừng Hiểu Lầm "Giới Định Tuệ", Nôn Nóng Muốn Giải Thoát, Tha LựcTự Lực, Việc Gì Là Giúp Ích Được Lớn Nhất, Căn Cơ Và Hệ Số Thông Minh IQ, Luân Hồi Sanh Tử

12 Tháng Tư 201910:02 SA(Xem: 1737)
Nghiệp, Xá Lợi, Cốt Lõi Của Thiền, Chánh Pháp, Đừng Hiểu Lầm "Giới Định Tuệ", Nôn Nóng Muốn Giải Thoát, Tha Lực Và Tự Lực, Việc Gì Là Giúp Ích Được Lớn Nhất, Căn Cơ Và Hệ Số Thông Minh IQ, Luân Hồi Sanh Tử

MapleLeave4_B

Nghiệp, Xá Lợi, Cốt Lõi Của Thiền, Chánh Pháp, Đừng Hiểu Lầm "Giới Định Tuệ",
Nôn Nóng Muốn Giải Thoát, Tha LựcTự Lực, Việc Gì Là Giúp Ích Được Lớn Nhất,
Căn Cơ Và Hệ Số Thông Minh IQ, Luân Hồi Sanh Tử
Những Bài Pháp Ngắn 09
HT. Viên Minh
Nguồn: coinguonhanhphuc.blogspot.com, trungtamhotong.org
 
____________________
 

 

NGHIỆP

 

Nghiệp là một đạo lý không đơn giản như chúng ta tưởng, nên được xem là một trong những pháp không thể nghĩ bàn (acinteyya dhamma), nghĩa là không nên suy luận hay tưởng tượng quá xa, nếu suy luận nhiều quá có thể bị điên loạn. Chủ yếu khi dạy đạo lý này đức Phật chỉ muốn giúp chúng ta quan sát, chiêm nghiệm sự vận hành của nghiệp nơi chính mình hay ở tha nhân để một mặt tránh hành động, nói năng, suy nghĩ sai trái, bất thiện gây tổn hại hoặc thực hiện những điều tốt lành, hiền thiện cho mình và người, mặt khác giúp chúng ta thoát khỏi lưới nghiệp của chính mình chứ không đổ thừa cho định mệnh và nhất là biết chịu trách nhiệm hành vi của mình chứ không tin vào bất cứ hình thức thưởng phạt nào từ bên ngoài.

 

Theo đạo lý về nghiệp, khi một người bị hại chính là anh ta đang thọ nghiệp quả do một nghiệp nhân mà anh ta đã tạo trong quá khứ, còn người gây hại chỉ là duyên để cho nghiệp quả ấy có cơ hội trổ sinh mà thôi. Duyên giúp cho một nghiệp quả nào đó trổ sinh không nhất thiết phải liên hệ nhân quả với nghiệp ấy, nghĩa là duyên ấy có thể độc lập với nghiệp kia. Ví dụ, một người bị vấp sợi dây ngả gảy xương. Sợi dây là duyên còn việc gảy xương thỉ do nhiều nguyên nhân khác trong quá khứ.

 

Duyên có thể vô tri, vô tình hay hữu ý. Trường hợp sợi dây là vô tri như đã nói trên, dĩ nhiên nó không tạo nghiệp gì cả. Trường hợp một cậu bé liệng đá hái xoài lại gây thương tích cho một ông lão, nó vô tình gây hại chứ không cố ý. Trường hợp một người cố ý hãm hại người khác thì dĩ nhiên cố ý là đã tạo nghiệp rồi. Tuy nhiên nhân hãm hại này có thể có liên quan trực tiếp với quả bị hãm hại nếu hai người này có oan trái vay trả với nhau. Cũng có thể không liên quan nhân quả từ trước, mà nhân của người này chỉ là duyên cho quả của người kia mà thôi.

 

***

 

Giải nghiệp có ba cách:

 

1) Chấp nhận trả quả để học ra bài học nhân quả nghiệp báo

2) Sám hối nghiệp đã gây ra trong quá khứ

3) Tránh làm việc hại mình hại người, thường làm những việc tốt lành lợi mình lợi người.

 

Ai làm được ba điều trên đều có thể giải nghiệp bất luận là người xuất gia hay tại gia. Trả quả có thể do báo oán, nhưng dù không ai báo oán thì cũng có thể gặt quả theo duyên khác. Ví dụ giết một vị Alahán thì vị ấy đâu có báo oán mà vẫn chịu quả khổ trong địa ngục.

 

***

 

1) Nếu con tin vào nghiệp thì cái gì con đang gánh chịu chính là nghiệp quả phát xuất từ một nghiệp nhân nào đó trong quá khứ. Tuy nhiên, nghiệp không phải chỉ đơn thuần là gieo nhân gặt quả một cách máy móc, nghiệp còn mang tính giáo dục và tôi luyện rất cao. Một người đã từng tạo nghiệp sai lầm nay gặt hái quả khổ, đó là luật nhân quả thuần túy. Nhưng thái độ phản ứng đối với quả khổ ấy thì còn tùy trình độ nhận thức của mỗi người. Có câu danh ngôn nói rằng: "Cảnh khổ là nấc thang cho bậc anh tài, là kho tàng cho người khôn khéo và là vực thẳm cho những kẻ yếu đuối". Đó chính là ý nghĩa giáo dục và tôi luyện của nghiệp đặc biệtphương diện quả khổ. Có thể nhờ khổ như vậy mà con có duyên với thiền. Con thấy đó, mục đích của thiền tuệ chính là nhận ra bản chất thật của đời sống (pháp): Vô thường, khổ, vô ngã. Những người có điều kiện sống tốt, như ở Tây phương chẳng hạn, họ rất ít tu, và nếu có tu thì cũng là tu với tham vọng hoặc chỉ là xa xỉ mà thôi.

 

2) Nếu con tu thiền định để vững tâm đối diện với những thử thách của cuộc đời hay để trợ duyên cho thiền tuệ thì thầy hoan nghinh, nhưng nếu để có ít thần thông đủ xài thì e rằng không ổn, vì điều này chứng tỏ con không sẵn sàng học bài học tôi luyện trong cảnh khổ rồi, đúng không? Hãy can đảmtrầm tĩnh sáng suốt lên để đối diện với bản chất thật của cuộc sống. Tu không hẳn phải lánh đời bằng cách trốn vào rừng. Rừng có thể cho con yên tĩnh, nhưng ngược lại cũng có thể cướp đi nơi con lòng can đảm đối diện với những thử thách cam go, những sự thật phủ phàng để học ra bài học giác ngộ.

 

3) Nếu con thật sự nhận chân được xuất giacon đường duy nhất phù hợp với mình, con không thể đi con đường nào khác, thì có lẽ không có bất kỳ lý do gì để con phải phân vân lựa chọn. Khi một người do dự thì sẽ có vô số lý do để mà... bỏ qua cơ hội! Không có sự tiến tới nảo không có lực cản, điều quan trọng là đã lượng định được hướng đi có tốt chưa và khi đã định hướng rồi thì liệu có khả năng để vượt qua lực cản hay không mà thôi.

 

____________________

                                    

 

XÁ LỢI

 

Nhiều người Nepal và Ấn-độ tin rằng vẫn còn Xá-lợi của những vị Phật quá khứ, nhưng khó mà kiểm chứng được. Xá-lợi đức Phật Thích-ca thì có thật, một số đã được các nhà khảo cổ xác định niên đại. Phần lớn Xá-lợi của Phật và chư vị Thánh Tăng tương truyền từ đời này qua đời khác và được tôn trí trong các Bảo Tháp nhiều nước trên thế giới, tuy chưa ai đem đi xác định bằng những phương pháp khoa học, nhưng rất đông tín đồ Phật tử vẫn tìm đến hành hương chiêm bái với lòng kính thành và xúc động.

 

Bản thân tôi cũng phân vân, không dám xác tín cũng không dám nghi ngờ. Có điều là tôi đã được chứng kiến một số hiện tượng lạ, cũng như nghe nhiều người kể những điều mầu nhiệm về Xá-lợi:

 

- Người bị tâm thần ngoại nhập đã khỏi bệnh khi được tụng kinh rải nước tắm Xá-lợi.

- Một người bệnh nhà thương trả về, đang hấp hối, cho uống nước tắm Xá-lợi đã phục hồi một cách nhanh chóng không ngờ.

- Xá-lợi biến mất ở một vài nơi, nhưng lại hóa sinh thêm nhiều ở một số nơi khác.

- Xá-lợi lớn lên dần và có khi chia thành nhiều viên.

- Xá-lợi phát hào quang nhiều màu…

 

Tôi có đọc vài cuốn sách (chẳng hạn như cuốn Tìm Hiểu Pháp Hành Thiền Tuệ, xuất bản năm 2002, trang 71) cũng như nghe tương truyền rằng sau 5 ngàn năm Xá-lợi của đức Phật Thích-ca sẽ tụ hội lại thành một kim thân Phật ở tại Bồ-đề Đạo Tràng, thuyết pháp độ sanh, rồi tự thiêu hủy, hiện tượng này gọi là Xá-lợi Niết-bàn (Dhātuparinibbāna).

 

Có ba loại Niết-bàn, là Phiền Não Niết-bàn, Ngũ Uẩn Niết-bàn và Xá-lợi Niết-bàn. Trong đó, Phiền Não Niết-bàn đã xảy ra tại bồ đoàn dưới gốc cây Bồ-đề, Ngũ Uẩn Niết-bàn đã xảy ra ở Kusinàra, và Xá-lợi Niết-bàn sẽ xảy ra trong tương lai. Đến thời giáo pháp sắp bị hoại diệt, tất cả Xá-lợi ở trên đảo quốc Tích lan (Tambapaṇṇidīpa) sẽ tập hợp lại và quy về Đại Tháp (Mahācetiya). Từ Đại Tháp Xá-lợi sẽ đến tháp Vương Xứ (Rājāyatanacetiya) trên đảo quốc của Long vương (Nāgadīpa). Từ đó Xá-lợi sẽ quy tụ về bồ đoàndưới gốc cây Bồ-đề. Xá-lợi từ xứ sở của Long vương, từ cõi trời Dục giớicõi trời Phạm thiên cũng đều quy tụ về Bồ-đề đạo tràng. Không có một viên Xá-lợi nào bị mất, dù có nhỏ bằng hạt cải. Tất cả Xá-lợi kết tụ lại thành một hình dung vàng óng và toả hào quang sáu màu. Hào quang đó chiếu sáng đến mười ngàn thế giới, cho nên chư thiên trong mười ngàn thế giới vân tập và bảo nhau: “Hôm nay Đức Đạo sư nhập diệt, hôm nay giáo pháp hoại diệt, giờ đây là lần cuối chúng ta thấy được dung sắc của ngài”. Nghĩ như vậy họ càng thấy thương tâm hơn, nên ngoại trừ những vị đã chứng đắc A-na-hàm và A-la-hán, tất cả đều không kìm được cảm xúc của mình. Yếu tố lửa trong Xá-lợi bốc lên, đến tận cõi trời Phạm thiên, tất cả các Xá-lợi khác, dù nhỏ như hạt cát đều bốc thành một ngọn lửa. Tất cả Xá-lợi đều cháy rụi. Sau khi đại thần thông đó được hiển bày, Xá-lợi hoàn toàn biến mất và giáo pháp cũng biến mất. (dịch từ Chú giải Kinh Tự Hoan Hỷ, Kinh số 28 Trường Bộ Kinh)

 

____________________

                           

 

CỐT LÕI CỦA THIỀN

 

Thấy, nghe, xúc, biết tức kiến, văn, giác, tri nên gọi chung là tri kiến. Như vậy bài kệ này nói đến tri kiến như thực (yathàbhuta ñàna-dassana). Thấy là nhãn thức, nghe là nhĩ thức, xúc dùng trong bài kệ này ứng dụng chung cho tỷ thức, thiệt thức, thân thức, và biết là ý thức. Nếu tâm rỗng lặng, trong sáng không bị lý trí vọng thức hay tình cảm tham sân xen vào thì khi thấy, nghe, xúc, biết pháp đều như thị như thực, gọi là thấy biết thực tánh (paramattha). Nếu tâm bị che lấp bởi lý trí, tình cảm thì chỉ thấy biết qua ý niệm, quan niệm, thành kiến, hay cảm tình ưa ghét v.v... nên sẽ là cái thấy chủ quan, không như thực, hay nếu có đúng thì chỉ đúng theo khái niệm chế định (paññatti). Cái biết này gọi là kiến thức. Tóm lại, tri kiến là thấy biết trực tiếp, thực tếvô ngôn, còn kiến thức là một số thông tin vay mượn đã được mã hoá qua ngôn ngữ. Vậy không nên tin vào kiến thứccần phải thấy biết như thực theo bài kệ Phật dạy. Đó là cốt lõi của thiền Vipassanà Nguyên Thuỷ và thiền Kiến Tánh của Thiền Tông.

 

***

 

Người hành thiền mới sơ cơ thường tuân theo một thời khoá do một thiền viện, một thiền sư hay tự mình quy định để tự sách tấn, không giải đãi, dễ duôi. Điều này cũng tốt, nhất là với các loại thiền có sở đắc. Nhưng nếu hành giả là người đã thấy ra rằng thiền thật sự chỉ có thể thực hiện trọn vẹn tại đây và bây giờ thì người ấy có thể hành thiền ở khắp mọi nơi, mọi lúc, không cần quy định giờ giấc nào cả. Vì một khi đã quy định thì tất nhiên phải gặp trở ngại. Ví dụ đến giờ ngồi thiền thì có công việc, có khách khứa hay bệnh duyên v.v... lúc đó dễ sinh bất an, thậm chí có người còn sợ tội nữa. Vậy đơn giản là nếu chưa có thể hành thiền mọi lúc mọi nơi thì cứ theo quy định nhưng nên uyển chuyển một tí đừng quá cứng nhắc, đồng thời nên tập thận trọng, chú tâm, quan sát chính mình trong đời sống hàng ngày thì sẽ không còn bất an trong quy định giờ giấc nữa.

 

____________________

 

 

CHÁNH PHÁP

 

1) Pháp mà đức Phật dạy được gọi là chánh Pháp vì Pháp ấy chỉ bày cho chúng ta thấy sự thật. Nương nơi những lời dạy chân chánh ấy chúng ta thấy ra sự thật đã sẵn có nơi chính mình và cuộc sống, nhờ vậy chúng ta biết sống thuận Pháp, thấy rõ đâu là đúng đâu là sai, đâu là chân đâu là giả, không bị đánh lừa bởi ảo tưởng do bản ngã vô minh ái dục tạo ra. Tuy nhiên cần lưu ý: lời dạy của đức Phật ví như ngón tay chỉ mặt trăng, nương theo ngón tay để thấy trăng chứ đừng tưởng lầm ngón tay là mặt trăng. Quá chú ý vào ngón tay, quan trọng hóa ngón tay, diễn dịch quá nhiều về ngón tay có thể đánh lạc hướng ngón tay muốn chỉ, do đó không thấy được mặt trăng mà chỉ thấy cái mình diễn dịch. Pháp do tư kiến diễn dịch không đúng sự thật, dù là diễn dịch lời Phật dạy, hay tà kiến đều không thể giúp thấy được sự thật, mà chỉ tăng trưởng vô minh ái dục mà thôi nên gọi là tà Pháp, không phải chánh Pháp.

 

2) Do không thấy sự thật (vô minh) nên các phiền não tham, sân, si, ngã mạn, trạo cử v.v... mới sinh khởi. Không thể loại trừ chúng bằng cái ta ý chí, vì như vậy chỉ dồn chúng vào vô thức. Ở đó chúng vẫn âm thầm lớn mạnh và chờ cơ hội sinh khởi trở lại. Đồng thời cái ta cũng sâu dày thêm. Chỉ có thận trọng, chú tâm, quan sát chúng một cách vô tư trong sáng để thấy biết sự sinh diệt trong điều kiện tự nhiên thì mới thấy được bản chất thật của chúng. Thấy như vậy thiền Nguyên Thủy gọi là vipassana, Thiền Tông gọi là kiến tánh. Cái thấy đó cũng chính là minh. Trong minh tất cà phiền não đều tự diệt.

 

____________________

                              

 

ĐỪNG HIỂU LẦM "GIỚI ĐỊNH TUỆ"

 

Hỏi:

Thưa thầy, có điểm con chưa rõ lắm, mong thầy hoan hỷ giúp con ạ. 1. Trong Tam vô lậu học: Giới-Định-Tuệ thì hành giả chỉ tu tập trên Giới, còn phần Định và Tuệ thì không cần điều chỉnh hay tác động phải không ạ? 2. Có tu sĩ cho rằng, do có Định mới sinh Tuệ, vậy nhất thiết phải tu định trước rồi mới tu Thiền tuệ sau. Vậy đúng hay sai thưa thầy? Mong thầy bớt chút thời gian chỉ giúp con ạ. Con thành kính lạy thầy ạ!

 

Trả lời:

* Giới- Định -Tuệ là ba yếu tố không thể tách rời nhau. Không thể chỉ tu giới mà không đi kèm định, tuệ. Phật dạy: Người có giới ắt có trí tuệ, người có trí tuệ ắt có giới (Trường Bộ Kinh 1, 222). Có 3 loại giới định tụê:

 

1) Tự tánh giới định tuệ: đó là ba yếu tính sáng suốt (tuệ), định tĩnh (định) và trong lành (giới).

 

2) Tùy dụng giới định tuệ: đó là ba yếu tố thận trọng (giới), chú tâm (định), quan sát (tuệ) khi tùy tình huống mà ứng dụng.

 

3) Chế định giới định tuệ: Đó là giới định tuệ được đức Phật chế định tùy hoàn cảnhcăn cơ trình độ cho hàng tứ chúng.

 

* Chữ sinh trong giới sinh định, định sinh tuệ có nghĩa là tương trợ lẫn nhau, bổ túc cho nhau, chứ không phải yếu tố này sinh ra yếu tố kia. Ba yếu tố này có chức năng, nhiệm vụ, tánh tướng thể dụng đều khác nhau làm sao mà sinh nhau được! Nói là sinh nhưng thực ra ba yếu tố này vừa tương sinh vừa tương khắc chứ không phải hỗ trợ không thôi. Ví dụ người quá chú trọng giới không thể định được, người quá chú trọng định không phát tuệ được v.v... Giới định tụê trong tự tánh và tùy dụng phải ứng cùng lúc không thể trước sau. Chế định giới định tuệ thì có thể tu trước sau, nhưng chỉ cần giới và tuệ, còn định thì chỉ cần sát-na định cũng đủ đắc đạo quả, không cần tu định an chỉ. Phật dạy: "Trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh... Giới hạnhtrí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời" (TBK 1, 222). Một vị A-la-hán phải diệt được sự dính mắc trong định sắc giới (sắc ái) và định vô sắc giới (vô sắc ái). Vị A-la-hán nào không có định an chỉ thì khỏi mất công tu tập và hóa giải thiền định. Tuy nhiên tùy thời định của vị A-la-hán này được gọi là "Bất động tâm giải thoát". Ngược lại dù đạt được định an chỉ Phật vẫn dạy: "Này Ananda, Đối với những ai sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần... chứng được hiện tại lạc trú... Ta nói rằng lợi đắc, cung kính, danh vọng sẽ là chướng ngại pháp đối với vị ấy" (TBK 1, 614). Tóm lại, không phải tu thiền định trước mới tu thiền tuệ đâu, mà thậm chí định an chỉ không cần thiết cho sự giác ngộ.

 

____________________

                       

 

NÔN NÓNG MUỐN GIẢI THOÁT

 

Chính tâm trạng nôn nóng muốn giải thoát đã làm con không chịu nổi khổ đau.

Khi con thấy khổ đau là bài học để con thấy ra chính mình và bản chất cuộc sống thì con sẽ biết trân quý nó và con sẽ vô cùng cám ơn những nỗi khổ đau đã giúp con giác ngộ sự thât. Chỉ có giải thoát khi nào con giác ngộ ra sự thật. Tuyệt đối không có cách nào để giải thoát được khi con vẫn chưa thấy ra sự thật về chính mình và cuộc sống. Ví như khi con lạc vào rừng, không phải chỉ nôn nóng muốn thoát ra là thoát ra được, mà con phải sáng suốt biết rõ khả năng của minh và nhẫn nại khám phá những nguy hiểm của khu rừng ấy thì mới tìm thấy đường ra. Hãy học từ đau khổ bài học giác ngộ giải thoát.

 

***

 

Nếu một người biết chánh niệm tỉnh giác, tức luôn thận trọng, chú tâm, quan sát chính mình thì có thể tự biết trình độ tu tập của mình. Trong tu tập, khám phá chính mình để thấy ra đâu đúng đâu sai, đâu chân đâu giả, v.v... thì người đó đồng thời cũng khám phá ra căn cơ trình độ của mình. Những phương pháp tu hướng ngoại, hoặc chỉ mong cầu ở sở đắc trong tương lai hay ở một nơi nào khác thì khó biết được trình độ của minh. Còn người thấy ra đâu là pháp, đâu là ngã, đâu là tập khí sinh tử thì họ có thể thấy ra căn cơ trình độ tu tập của mình một cách dễ dàng.

 

____________________

 

THA LỰCTỰ LỰC

 

1) Khi còn bản ngã thì còn tự lựctha lực. Một em bé tất nhiên cần tha lực của mẹ cha v.v... Nhưng khi lớn lên em phải phát huy tự lựctự lực là nhân, tha lực chỉ là duyên. Khi không còn bản ngã nữa thì hoặc tự lựctha lực là một hoặc không cần tự lực tha lực gì cả.

2) Cầu và nguyện là hai việc khác nhau. Cầu là xin hay mong được một điều gì đó cho mình hoặc người khác, vì vậy thường dựa vào tha lực. Nguyện là quyết tâm làm một việc gì đó cho mình hoặc người khác, vì vậy cần tự lực nhiều hơn. Ví dụ nguyện giữ giới, nguyện hồi hướng, nguyện sống vô ngã vị tha v.v.

3) Người tu tập cần dựa vào tự lực thì mới nhận được tối đa sự trợ giúp của tha lực. Ví dụ một em học sinh phải siêng năng học tập thì mới học được nhiều bài học từ thầy cô. Nếu em không chịu học tập thì thầy cô giảng chỉ làm em nhức đầu thêm mà thôi. Tự mình phải biết tiếp thu những nguồn trợ lực để phát huy tự lực cho đến khi có thể tự lập thì không nên dựa vào tha lực nữa. Ví dụ như một người bị thương phải nhờ vào xe lăn mà đi, nhưng khi đã khỏi thì phải tự tập đi chứ không nên ngồi xe lăn mãi.

Cha mẹ nuôi dạy con chỉ muốn con khôn lớn để có thể tự lập chứ không ai mong con cái ỷ lại vào mình. Chư Phật cũng vậy, chỉ khai thị cho chúng sanh biết tự giác ngộ giải thoát. Nếu ai không tự nỗ lực thì dù cho cầu Phật gia hộ cũng không thoát khỏi phiền não khổ đau trong luân hồi sinh tử. Đức Phật dạy: "Mỗi người là nơi nương nhờ của chính mình, không ai khác là nơi nương nhờ cho mình được. Khi đã trở nên thuần tịnh thì chính mình là nơi nương nhờ tối thượng". Vì vậy "Mỗi người hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi".

 

____________________

                            

 

VIỆC GÌ LÀ GIÚP ÍCH ĐƯỢC LỚN NHẤT

 

Việc tốt lớn nhất và cho nhiều người nhất là tự giác giác tha, nghĩa là tự mình giác ngộ giải thoát và giúp người khác hiểu đúng, sống đúng Chánh Pháp để họ khỏi sa đọa vào đường ác. Nhưng sao con lại thích làm việc gì lớn nhất? Theo thầy thì nên tùy duyên mà làm việc thiện để giúp ích người khác, nghĩa là ai cần giúp thì mình giúp dù giúp cho ít hay nhiều người cũng nên làm. Làm đúng khả năng và vị trí của mình chứ không nên tham vọng làm quá sức mình. Ví dụ một em học sinh siêng năng học tập đúng cấp đúng lớp đúng bài vở của mình là việc làm lợi ích nhất và cho nhiều người nhất trong vị trí hiện nay của em ấy.

 

____________________

                               

 

CĂN CƠ VÀ HỆ SỐ THÔNG MINH (IQ)

 

1) Trình độ giác ngộ không liên hệ đến IQ. Một người giác ngộ có thể có chỉ số thông minh cao, nhưng một người có IQ cao thì không chắc gì giác ngộ được. Người có IQ cao có thể rất khôn ngoan tinh xảo, hoạt động lý tính tuyệt vời nhưng đồng thời bản ngã tham sân si cũng có thể cao theo, như vậy làm sao có trí tuệ giải thoát được. Trí tuệ đối nghịch với lý trí, nên nếu lý trí không có trí tuệ soi sáng sẽ chính là gốc của vô minh. Trí tuệ được định nghĩa như Lão Tử là: “Trí giả nhược ngu” vì nó phải hồn nhiên, chất phác, không so lường, không dục vọng (kiến tố, bảo phác, thiểu tư, quả dục). Giác ngộ giải thoát trong đạo Phật là không còn bản ngã vô minh ái dục, chứ không phải là sở học cao. Một vi Tăng 4 tháng không học thuộc một câu kệ mà vẫn đắc quả A-la-hán. Tổ Huệ Năng mù chữ vẫn ngộ. Nên Lão Tử nói “Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn”. Học lý trí thì ngày càng tăng, học đạo thì ngày càng giảm. Đó là hai thái độ đối nghịch đối với cái ta ảo tưởng vậy.

2) Hướng nội không hẳn là tốt hơn hướng ngoại. Quan trọng vẫn là thái độ tâm. Khi cần hướng nội thì hướng nội, khi cần hướng ngoại thì hướng ngoại, đôi lúc phải hướng cả hai hoặc chẳng cần hướng vào đâu cả. Người hướng nội dễ sinh thụ động, trầm trệ, nếu nặng sẽ trở thành trầm cảm, thu rút, cô lập. Người hướng ngoại dễ sinh dao động, trạo cử, nếu nặng thì bị rơi vào phấn khích, căng thẳng, bất an. Người chánh niệm tỉnh giác hay định tĩnh sáng suốt sẽ tự biết điều hòa không để thiên lệch trong ngoài.

 

____________________

       

 

LUÂN HỒI SANH TỬ

 

1) Luân hồi sinh tửhai nghĩa: Một là sự tái sinh từ kiếp này qua kiếp khác theo định luật nhân quả của nghiệp. Hai là sự sinh diệt của những tiến trình tâm-sinh-vật lý kế tục không dứt trong sự tương giao căn - cảnh - thức diễn ra trong đời sống hàng ngày đối với những người chưa giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Tiến trình này trong một giây có thể diễn đi diễn lại hàng triệu lần nên gọi là luân hồi sinh tử. Nếu đó là tiến trình tạo nghiệp thì đúng là nhân tái sinh trong những kiếp sau.

 

2) Một người hành đúng thiền Vipassanà thì nếu chưa hoàn toàn thoát ly sinh tử, trong kiếp sau họ đương nhiên sẽ có cơ hội hành thiền Vipassanà trở lại. Nhưng nếu hành không đúng thì kiếp sau họ sẽ hành một pháp thiền mà nội dung giống như họ đã hành sai trong kiếp này. Ví dụ, mặc dù họ nói là hành thiền tuệ, nhưng thực chất lại đang hành thiền định thì kiếp sau họ sẽ có duyên với một pháp thiền định nào đó tương ứng với trình độ tâm của họ, vì trong kiếp sau những gì còn lại chính là trình độ tâm mà họ tạo được trong kiếp này cộng với những kiếp quá khứ của họ.

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Bảy 2020(Xem: 282)
26 Tháng Bảy 2020(Xem: 329)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 420)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 375)
24 Tháng Sáu 2020(Xem: 567)
22 Tháng Sáu 2020(Xem: 600)
20 Tháng Sáu 2020(Xem: 611)
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 372)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 356)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 347)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 356)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
06 Tháng Bảy 20209:00 SA(Xem: 907860)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
24 Tháng Sáu 20209:00 SA(Xem: 839)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 516)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 688)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 616)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 666)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 648)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 912)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 638)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 718)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 717)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 643)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 1131)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 877)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
09 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 850)
“Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ ở rất xa nhau. Trong thâm tâm họ cảm thấy có một khoảng cách rất lớn giữa họ. Vì thế muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sanh để nói thật to. Sự giận dữ càng mãnh liệt thì khoảng cách càng lớn, nên họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ có thể khỏa lấp
07 Tháng Giêng 202012:43 CH(Xem: 1289)
"Một lời dối trá nếu được lặp đi lặp lại đủ mức thì nó sẽ trở thành sự thật" là nguyên tắc tuyên truyền của Joseph Goebbels, một bộ trưởng tuyên truyền của Phát xít Đức. Các nhà tâm lý học gọi đây là 'ảo tưởng về sự thật' và dưới đây là cách phổ biến mà người ta thường thử nghiệm điều này: Những người tham gia được yêu cầu đánh giá
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1478)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3120)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4637)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
03 Tháng Tám 202010:33 SA(Xem: 365)
“Muôn kiếp nhân sinh” là tác phẩm do Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong viết từ năm 2017 và hoàn tất đầu năm 2020 ghi lại những câu chuyện, trải nghiệm tiền kiếp kỳ lạ từ nhiều kiếp sống của người bạn tâm giao lâu năm, ông Thomas – một nhà kinh doanh tài chính nổi tiếng ở New York. Những câu chuyện chưa từng tiết lộ này
22 Tháng Bảy 202010:47 SA(Xem: 420)
Để có được tâm-từ không phải là việc dễ dàng, mà đòi hỏi hành-giả cần phải có nền tảng vững chắc để tâm-từ phát sinh, có tâm tinh-tấn không ngừng, có đức nhẫn-nại, kiên trì thực hành pháp-hành niệm rải tâm-từ đúng theo phương pháp, thì tâm-từ mới có thể phát sinh và tăng trưởng, chắc chắn đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa,
21 Tháng Bảy 202011:31 CH(Xem: 378)
Sống trong cuộc đời, chúng ta bao giờ cũng mong có một ngày sẽ biết thương mình sâu sắc hơn và gần gũi với người chung quanh hơn. Nhưng chúng ta hành động hoàn toàn ngược lại. Ta tự đóng kín mình, rất sợ sự thân mật, và mang mặc cảm ngăn cách, xa lìa với sự sống chung quanh. Chúng ta thèm khát tình thương nhưng
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 952)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 914)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 1064)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1333)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1551)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1415)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.