Chánh Niệm Tỉnh Giác - Awake And Aware

15 Tháng Năm 201910:12 CH(Xem: 309)
Chánh Niệm Tỉnh Giác - Awake And Aware

KazuyukiOhtsu_Hydrangea_A


Chánh Niệm Tỉnh Giác - Awake And Aware
Ni Sư Ayya Khema - Diệu Liên Lý Thu Linh chuyển ngữ
Source-Nguồn: vipassana.com, thuvienhoasen.org


__________________

Chánh Niệm Tỉnh Giác 

 

Vấn đề quan trọng là ta phải trải nghiệm chứ không tin suông. Để làm được thế, chúng ta phải chú tâm. Trong bài kinh Kalama nổi tiếng, thường được nhắc đến, đức Phật đã đề ra mười điều mà ta không nên dựa vào để chọn người thầy hay để đi theo con đường tâm linh nào đó. Tất cả đều có liên quan đến một hệ thống niềm tin dựa vào truyền thống hay vào các cổ thư. Không tin dựa vào những điều đó, nhưng ta phải tự tìm ra sự thật là điều đức Phật thường nhấn mạnh. Nếu không làm thế, ta sẽ khó có được cái thấy nội tại, là bước đầu tiên đưa ta đến con đường đạo.

 

Cái thấy nội tại là một kinh nghiệm được thực chứng. Không có nó, tuệ giác không thể phát sinh. Điều đó đúng đối với những vấn đề bình thường trong cuộc sống, cũng như sự hiểu biết sâu sắc về giáo lý của đức Phật. Thí dụ, có ai đó không vừa lòng với ta, nếu ta không tìm hiểu tại sao, thì sự hiểu lầm giữa ta và người đó sẽ không bao giờ chấm dứt. Ta cần phải nhận thức rằng hẳn mình đã nói hay làm gì đó khiến người kia phật lòng. Đây chỉ là vấn đề nhỏ nhưng nó cũng cho thấy ta cần có sự hiểu biết về kinh nghiệm của mình.

 

Nếu ta nghĩ rằng những điều đó xảy ra ở bên ngoài, không dính dáng tới ta, thì ta không thể thay đổi cách hành xử của mình. Pháp hành có nghĩa là không ngừng chuyển hóa bản thân để đạt đến chỗ hoàn hảo. Nếu ta không thể chuyển đổi thì hóa ra công lao hoằng pháp của đức Phật là vô ích sao?

 

Nếu ta không hoàn toàn chú tâm đến từng chi tiết, ta sẽ chẳng bao giờ chuyển hóa đến chỗ tuyệt đối. Chú tâm đến chi tiết là cốt lõi của chánh niệm. Tuy nhiên, phần đông không được hướng dẫn hoặc không thực sự thực hành chánh niệm. Hiểu biết qua sách vở là một chuyện, thực hành lại là chuyện khác. Chánh niệm là cốt lõi của trí tuệ, vì không có chánh niệm ta sẽ không thể nhìn thấu suốt vấn đề gì.

 

Theo dõi hơi thở có nghĩa là “biết chính xác”. Chánh niệm không phán đoán, phân biệt, vẽ vời. Chánh niệm biết khi nào tâm định, khi nào tâm phóng dật và khi nào nó trở nên bình an. Sự chánh niệm hoàn hảo biết điều gì đang xảy ra trong từng giây phút.

 

Khi ta chú tâm đến các cảm xúc, chỉ quan sát chứ không phản ứng lại với chúng, là ta đang hành niệm thứ hai của tứ niệm xứ, vedananupassana (niệm thọ). Khi ta biết mình đang suy tưởng, cittanupassana (niệm tâm) và khi ta biết nội dung suy tưởng, đó là dhammanupassana (niệm pháp). Nếu không chú tâm, ta không thực sự tỉnh thức. Ta cần luôn thực tập sự chú tâm rõ ràng vào các đối tượng này.

 

Khi hành thiền tâm có thể trở nên an định. Nếu có cảm giác an bình, ta phải biết điều đó rõ ràng. Nếu không thể nhận thức điều gì đang xảy ra, ta không thể tiến xa hơn, vì ta không biết mình đang ở đâu. Một chi tiết quan trọng của việc hành thiền là biết chính xác điều gì đang xảy ra, và có thể mô tả lại điều đó sau khi nó xảy ra. Điều mô tả là kinh nghiệm đã được nếm trải.  Nó tự động xảy theo sau sự việc. Điều này đúng đối với bất cứ trạng thái tâm nào hay bất cứ cảm xúc nào. Pháp là các trải nghiệm của đức Phật được mô tả lại. Nếu ta không thể làm thế đối với chính những trải nghiệm của bản thân, là ta sống trong một hệ thống tín ngưỡng có thể khiến tâm ta mờ mịt. Trong khi thiền là để làm cho tâm sắc bén. Tâm chánh niệm là chiếc búa đã được mài, với lưỡi bén, mỏng, nhọn, có thể cắt xuyên qua tất cả mọi vọng tưởng của ta.  Khi ngồi thiền, ta có thể biết các chướng ngại trong tâm: như là tâm ù lì không biết việc gì đang xảy ra, hay tâm mê, tâm phóng dật, tâm sân không muốn vâng lời. Đó là chánh niệm về tâm pháp.

 

Như mọi chúng sanh khác, tâm ta thường phóng dật, luôn tìm cách tránh khổ và mong cầu hạnh phúc. Điều này thật khó thay đổi. Nếu ta quán sát thấy mình đang chống lại cái khổ, tìm kiếm điều dễ chịu, ta phải biết đó chỉ là cách hành xử theo thói quen bình thường. Đó là cách vận hành của thế giới này, là cách nền kinh tế này hoạt động. Nhưng bạn có thấy ai thực sự hạnh phúc trong đó không? Đó là một cuộc phiêu lưu vô vọng, chắc chắn thất bại, vậy mà tất cả mọi người vẫn còn cố gắng chạy theo. Tất cả đều đã cố gắng đủ lâu rồi, giờ ta có thể buông bỏ, ít nhất là trong thời gian ngồi thiền. Ta có thể thoát khổ (dukkha), nhưng không phải bằng cách loại bỏ các cảm thọ khó chịu, mà chỉ bằng cách loại bỏ các phản ứng đối với chúng. Đây là cửa chính để bước vào con đường tâm linh. Nếu ta không hiểu rõ điều này, thì mọi thứ đều thất bại.  Chúng ta sẽ không thoát khỏi sự khó chịu của việc ngồi lâu, của muỗi mòng, hay của bất cứ khổ thọ nào mà ta gặp phải. Tất cả đều do tâm tạo, do tâm phản ứng lại. Dukkha (Khổ) sẽ biến mất khi các phản ứng của ta biến mất.

 

Trừ khi ta biết chính mình là người tạo ra cái khổ cho mình, thì khó thể nào ta thấy Pháp. Chúng ta bắt đầu biết tu khi không còn đổ lỗi cho hoàn cảnh, tha nhân, thể chế chính trị, kinh tế hay thời tiết. Chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy các phản ứng của bản thân. Dĩ nhiên các phản ứng này không phải tất cả đều khả ái, thiện lành ngay. Phải cần có thời gian. Nhưng ít nhất ta có thể bắt đầu làm gì đó cho bản thân.

 

Chánh niệm không chỉ cần có mặt trong khi ta hành thiền, mà cả lúc ta hoạt động, cảm nhận hay nghĩ suy trong đời sống hằng ngày. Khi thức, chánh niệm phải là đối tượng chính yếu của ta. Ta phải tự biết mình. Chỉ khi đó ta mới mong có một ngày hiểu được thế giới. Vũ trụ chính là thân và tâm này. Khi ta biết được thân và tâm này là gì, ta sẽ biết về vũ trụ và những chân lý tiềm ẩn trong đó. Tất cả rõ ràng đều giống nhau, nhưng ta phải biết nó là gì.

 

Khi rời khỏi chiếu thiền, ta phải tỉnh thức nơi mắt nhìn, thân chuyển động, nơi tất cả những gì ta đang làm. Tại sao?  Trước hết, điều đó giúp ta không nghĩ ác, không tưởng điều bất thiện. Nó giúp cho việc hành thiền của ta dễ dàng hơn.  Tâm cần được kiểm soát, không được để nó chạy loanh quanh. Tâm bình thường, không rèn luyện giống như một con bò hoang dại thả rông trong vườn nhà. Chỉ trong chớp mắt là nó sẽ phá tan hoang khu vườn. Tâm của ta cũng thế. Nó cũng làm cho thế giới ta sống trở nên một bãi chiến trường. Không cần phải đọc báo ta mới biết những điều đó. Chúng có mặt ở khắp nơi, ngay từ tâm ta mà ra. Tất cả chúng ta đều ở trong đó, trừ các bậc giác ngộ. Tâm hoang dại không thể thiền. Ta phải bắt nó đứng lại, kiểm soát, ngăn chặn nó. Mỗi khi nó phóng chạy, ta dùng chánh niệm để bắt nó quay về, giống như huấn luyện con ngựa hoang, nếu không, nó không làm lợi ích gì cho ai cả. Nhưng khi đã được thuần hóa, huấn luyện, ngựa sẽ rất hữu ích.  Điều này cũng đúng với tâm biết bao!

 

Chánh niệm về thân có nghĩa là ta biết tất cả mọi chuyển động nơi thân. Khi quán sát bản thân, ta sẽ thấy có tâm và thân. Tâm ra lệnh, và thân tuân hành. Ta cũng nhận thấy rằng đôi khi thân không thể vâng lời tâm vì nó yếu đuối. Đây là cửa đầu tiên để vào thiền tuệ, khi biết rằng có thân, tâm và tâm thì quan trọng hơn. Cái khác biệt giữa người có tu tập và người không là sự thực chứng.

 

Chánh niệm về các chuyển động của thân cũng liên quan tới các đối tưọng chánh niệm khác. Thí dụ, nếu ta đang lo nghĩ đến tương lai thì ta không còn để ý đến thân nữa; thay vào đó ta có thể chú tâm đến quá trình tư duy. Ta biết mình đang nghĩ suy, đang tạo nghiệp. Các tư tưởng là tâm hành, cũng như nghiệp hành. Chúng ta là chủ nhân của nghiệp của mình. Chúng ta suy nghĩ như thế nào thì chúng ta sẽ là thế ấy. Đó là một quá trình tự nhiên, không liên quan đến một chủ thể đặc biệt nào.

 

Sau đó chúng ta có thể bắt đầu ý thức đến nội dung tư tưởng của mình, có nghĩa là ta biết chúng thiện hay ác. Ta có thể tập buông bỏ bất cứ suy nghĩ tiêu cực nào và thay thế nó bằng cái khác. Ngay đó ta có thể khởi tâm thiền, mà không tách rời khỏi các hoạt động bên ngoài. Khi đang chú tâm đến hơi thở trong thiền, một ý nghĩ xen ngang, ta tập buông suy nghĩ, trở về với hơi thở. Ta có thể sử dụng quy cách đó trong đời sống hằng ngày để buông những suy nghĩ bất thiện. Lúc đó ta thay thế bằng ý nghĩ thiện, giống như khi đang hành thiền ta thay thế bằng hơi thở.

 

Chánh niệm về quá trình tư duy được đức Phật gọi là “bốn nỗ lực cao thượng” (hay bốn tinh tấn ba-la-mật)[1]. Chúng là cốt lõi trong quá trình thanh tịnh. Con đường tâm linh là con đường thanh tịnh, xoay quanh chánh niệm. Phật dạy rằng, “Chỉ có một cách để thanh tịnh hóa chúng sanh, chế ngự khổ, giải thoát khỏi đau buồn, ưu não, than van, để bước vào con đường cao thượng, để đạt được Niết bàn, đó là chánh niệm”. Sự thanh tịnh hóa không chỉ mang lại tâm an bình cho cá nhân, góp phần vào hòa bình thế giới, mà còn giúp ta hành thiền.

 

Niềm hy vọng rằng ta chỉ cần ngồi xuống gối thiền, theo dõi hơi thở, rồi tâm trở nên định, là huyễn hoặc. Ta phải trang bị tâm để hành thiền. Do đó, ta phải thực hành bốn tinh tấn ba-la-mật này, không chỉ trong lúc hành thiền, mà cả trong cuộc sống hằng ngày. Nhờ đó ta sẽ đạt được an tịnh nội tâm là điều mà ai cũng hoài vọng, nhưng có mấy ai tìm được.

 

Tinh tấn đầu tiên là không để cho tư tưởng bất thiện chưa phát khởi, phát khởi. Muốn làm được điều này chánh niệm phải thật sắc bén. Một tư tưởng chưa phát khởi, nhưng có thể tạo nên những làn sóng đi phía trước. Để biết được rằng chúng không mang đến lợi ích gì, ta cần nhiều chú tâm và công phu tu tập. Tinh tấn thứ hai, không để một tư tưởng bất thiện đã phát khởi, được duy trì, có thể được thực hiện bởi bất cứ ai có thiện chí, nếu người đó biết là không có ai khác để đổ lỗi ngoài mình. Ý nghĩ bất thiện không phải do ngoại vật kích động, mà hoàn toàn do các uế nhiễm từ bản thân.

 

Tinh tấn thứ ba là khiến cho tư tưởng thiện, chưa phát khởi, được phát khởi. Có nghĩa là chúng ta phải liên tục quán sát tâm, khuyến khích những ý nghĩ tích cực, thiện lành khi chúng chưa có mặt, ngay cả trong những hoàn cảnh khó xử nhất.

 

Cuối cùng, tinh tấn thứ tư là làm cho tư tưởng thiện, đã phát khởi, được duy trì. Trong khi hành thiền, điều đó liên quan đến đề mục thiền quán của ta.  Nhưng trong cuộc sống hằng ngày, đó là phản ứng của tâm. Nếu ta có chút cảm nhận đối với bản thân, ta có thể cảm thấy bấn loạn bên trong khi tư tưởng bất thiện phát khởi, cảm giác của sự chống đối. Tư tưởng bất thiện luôn ở trong tâm ta trong quá nhiều năm tháng, đến nỗi chúng đã trở thành những phần không thể thiếu trong quá trình tư duy của ta. Cần phải có chánh niệm và quyết tâm ta mới buông bỏ được chúng.

 

Khi hành thiền, ta trở nên ý thức rằng các tư tưởng bất thiện của mình không do ai hay hoàn cảnh bên ngoài tạo ra. Do đó tâm ta thêm vững mạnh để có thể buông những gì ta không cần, hoặc thay thế bằng những điều hữu ích. Bốn tinh tấn ba-la-mật này là bốn căn bản của chánh niệm liên quan đến nội dung tư tưởng của ta (niệm Pháp). Nếu tất cả mọi người trên thế giới này đều thực hành điều này thì thế giới này đáng sống hơn nhiều.

 

Trạng thái nội tâm của ta được biểu hiện qua cảm xúc, phát khởi khi có sự xúc chạm của các giác quan. Suy tư cũng là một sự xúc chạm giác quan. Ý nghĩ bất thiện sinh ra các cảm thọ bất thiện, như là khó chịu, bực bội. Thấy, nghe, nếm, ngửi, xúc chạm là năm ngoại giác quan. Tư duy là giác quan bên trong. Tất cả khi xúc chạm, đều tạo ra cảm giác. Kia là mắt và đối tượng của mắt.  Khi cả hai đều tốt đẹp, nhãn thức phát sinh và kết quả là cái thấy: Nhãn căn, nhãn trần và nhãn thức tụ hội. Khi ta biết đó là cách bản thể này, mà ta gọi là “tôi”, hoạt động, chúng ta có thể dừng lại những chương trình đã được cài đặt sẵn trong tâm, luôn luôn phản ứng cùng một cung cách. Bởi thế không khó đoán người ta sẽ phản ứng như thế nào đối với một sự kích động quen thuộc nào đó, vì chương trình cài sẵn của họ chưa được thay đổi. Để dừng chương trình đó lại, trước hết ta phải biết có một chương trình, và nó bao gồm những gì.

 

Thí dụ, với nhĩ căn, là ống tai; rồi có âm thanh. Khi nhĩ thức phát khởi, vì cả căn và trần đều có mặt, ta có cái nghe, và từ cái nghe, cảm xúc phát khởi. Tai chỉ có thể nghe âm thanh, mắt chỉ có thể thấy màu sắc, hình thể.  Còn tâm làm tất cả những thêm thắt, giải thích. Mỗi người lại có sự giải thích khác nhau, nên không ai thấy hay nghe bất cứ điều gì giống nhau. Thí dụ, khi một người nam thấy một phụ nữ, có sắc vóc, tâm anh ta nghĩ, “Cô ta đẹp quá, mình phải lấy cô ta mới được”. Khi tôi nhìn, cũng người phụ nữ đó, tôi hoàn toàn không có bất cứ ý nghĩ gì giống như thế. Vậy mà mọi người đều cố gắng để thuyết phục người khác rằng cái họ thấy, họ nghe là đúng nhất. Nhưng vì thường họ không thể thuyết phục người khác, nên họ bắt đầu bắn, giết người khác.

 

Suy nghĩ cũng là một xúc chạm của giác quan. Ta có ý căn và tưởng. Tâm thức phát sinh, tiếp xúc với ý nghĩ và tư duy bắt đầu. Từ đó cảm xúc phát khởi.  Nếu ta nghĩ mình thương yêu mọi chúng sanh, thì dầu ta có thực sự làm được hay không, chắc chắn ta cũng có một cảm giác ấm áp, dễ chịu phát sinh từ ý nghĩ đó. Tương tự, nếu ta thấy ghét ai đó, thì ta có cảm giác lạnh lùng, xa cách. Sau đó là phản ứng đối với cảm giác, hoặc là muốn/ước ao hay không muốn/xua đẩy. Khi chú tâm quán sát bản thân, chúng ta có thể trải nghiệm điều đó thật rõ ràng. Chính phản ứng đối với cảm xúc là cửa ngỏ để vào tính nhị nguyên và khổ lần nữa. Nhưng đồng thời nó cũng chỉ cho ta cửa ra khỏi mọi phiền não. Nếu một lần nào đó ta không phản ứng, nhưng biết rõ cảm giác chỉ là cảm giác, nếu ta có thể làm được như thế, thì chánh niệm đã được thiết lập. Ta cũng khởi lòng tin là ta có thể làm được như thế lần nữa, và đang thực sự thực hành thanh tịnh hóa tâm linh. Đó là một sự thuyết phục nội tại quan trọng. Đức Phật dạy rằng, chúng ta cần cả hai, học và hành.  Văn (học) giúp ta biết Phật dạy những gì. Nhưng nếu ta không thực hành thì ta giống như con vẹt hay giả đạo đức, nói những điều mình không có chút kinh nghiệm tự chứng nào.

 

Qua sự thực hành chánh niệm, ta trở nên ý thức đến các cảm xúc phát khởi khi có sự xúc chạm của các giác quan. Cảm xúc lúc nào cũng có mặt, ta cần nhận diện chúng để có thể chuyển hóa cách sống theo bản năng thành cách sống có chủ đích của một con người. Theo bản năng, ta luôn là người phản ứng, thụ động. Có chủ đích, ta trở thành người chủ động.

 

Có lẽ bài học quan trọng nhất ta cần học là duy trì chánh niệm trong tất cả mọi hoạt động hằng ngày. Ta có thể thực hành điều đó dầu ở bất cứ đâu: tại nhà, ở chợ, nơi làm việc, lúc viết thư, điện thoại, bất cứ làm gì, bất cứ lúc nào. Thiền cho ta động lực, giúp ta tỉnh thức để tháo gỡ mọi chướng ngại ẩn tiềm trong các quan điểm của mình. Ta không thể thấy cái tổng thể, chỉ thấy từng bộ phận. Ta thấy những gì quanh ta, nhưng không thể thấy xa hơn nữa.  Với chánh niệm, dường như có cánh cửa mở, khi mọi thứ đều có chỗ nhất định và đều liên kết với nhau. Ta buông bỏ được cảm giác về sự quan trọng của một cái ngã được thổi phồng, và có thể liên kết nhiều hơn với tất cả mọi hiện tướng. Tất cả những thứ này vẫn còn là thứ phẩm, là vấn đề bên lề. Chánh niệm thực sự nghĩa là biết. Khi ta biết và thực sự trải nghiệm cái biết đó, dần dần bản thân ta có thể chứng nghiệm được Tứ Diệu Đế. Lúc đó công việc của ta hoàn mãn.

 

Một trong những yếu tố của chánh niệm là khả năng đạt được nhất tâm. Ta không phóng dật hay mù mờ, mà có thể giữ tâm ở vị trí của nó. Chúng ta phải ý thức rằng các chướng ngại của tâm là bi kịch của con người, không phải bi kịch của cá nhân nào. Sự hiểu biết này giúp ta chịu đựng một cách nhẫn nại và chuyển hóa dần dần.

 

[1] Bốn Tinh Tấn Ba-la-mật (padhana) hay Tứ Chánh Cần là:

 

1. Tránh các trạng thái tâm bất thiện

2. Chế ngự các trạng thái tâm bất thiện

3. Phát triển các trạng thái tâm thiện

4. Duy trì các trạng thái tâm thiện

Awake And Aware 

 

It is important to experience and not to believe. In order to do that, we have to pay attention. In the famous and often quoted Kalama Sutta, the Buddha gives ten points which are not suitable as criteria to follow a teacher or a spiritual path. All of them have to do with a belief system because of traditional lineage or because of sacred books. Not to believe but to find out for ourselves is the often repeated injunction of the Buddha. Unless we do that, we cannot have an inner vision, which is the first step that takes us on to the noble path.

 

An inner vision is an understood experience. Without that, insight cannot arise. That holds true for small matters in daily life, just as it holds true for the deepest and most profound understanding of the Buddha's teaching. If for instance somebody is not pleased with us and we don't understand why, we shall have that same disharmony happen to us over and over again. We need to realize that we may have said or done something to cause that displeasure. This is a small matter showing the need for understanding an experience.

 

If we think these happenings are something outside of ourselves, we can't change our attitudes. Practicing Dhamma means constantly changing ourselves to reach out towards the sublime. If change were not possible, the Buddha would have given a lifetime of teaching in vain.

 

Unless we pay total attention to every detail we'll never change towards the sublime. Attention to detail is the core of mindfulness. Most people lack the practice and also the instructions to be truly mindful. It's one thing to read about it, but an entirely different matter to do it. Mindfulness is the essence of understanding, because without it there is no seeing into the heart of any phenomena.

 

Watching the breath means "knowing exactly". Mindfulness is not judgmental, nor discriminating, nor telling stories. Mindfulness knows when there is concentration and when there isn't when the mind wanders off and when the mind becomes peaceful. Perfect mindfulness knows every moment that is occurring.

 

When we pay attention to our feelings and do not react to them but only observe, then we're using the second foundation of mindfulness, vedananupassana (mindfulness of feeling). When we know we're thinking, it's cittanupassana (mindfulness of thought) and when we know what the content of the thought is, it's dhammanupassana (mindfulness of mind objects). If we're not paying attention, we're not really awake. We need to practice clear attention to any one of these at all times.

 

It is possible that in meditation the mind becomes concentrated. If there is a feeling of peacefulness, one has to know that quite clearly. Without realizing what is happening, one cannot go further, because one doesn't know where one is at. This is an important detail of meditation, knowing exactly what's happening and being able to verbalize it after the occurrence. The verbalization is the understood experience, and occurs naturally after the experience. This holds true for any mind-state and for any feeling. The Dhamma is the Buddha's verbalized experience. Unless we can do that with our own experiences, we are left with a belief system, which can dull the mind. But meditation is to sharpen the mind. The mindful mind is a sharpened axe, with a sharp and finely honed blade which can cut through all our illusions. When we sit in meditation, we can get to know the disturbances of our own mind: such as the dull mind that doesn't know what's going on, or the sleepy mind, the distracted or the resisting mind, that doesn't want to obey. That is mindfulness of mind objects.

 

Like most human beings, we have a distracted mind, geared so much towards trying to resist the unpleasant and crave the pleasant, that this pattern is very difficult to change. If we find ourselves resisting the unpleasant, seeking the pleasant, we just know that this is a normal habit pattern. This is how this little spaceship earth operates, and how our economy works. Do you know anybody who's blissfully happy because of it? It is an impossible venture, it is a guaranteed failure, yet everybody is still trying. We have all been trying long enough, we can give it up, at least for the time we're meditation. However it is possible to get rid of dukkha, but not by eliminating the unpleasant sensations, only by getting rid of our reaction to them. This is the most important primary entrance into the spiritual path. Unless this is perfectly understood, the rest will not fall into place. We won't get rid of the unpleasantness of sitting, or of mosquitoes, or of anything unpleasant we may encounter. All is mind-made and therefore mind-reacted. Dukkha disappears when our reactions disappear.

 

Unless we know that we are the creators of our own dukkha, Dhamma remains a mystery. We start practicing when we no longer blame our surroundings, other people, the political situation, the economy or the weather. We see only our own reactions. Naturally our reactions aren't immediately going to be all favorable and wholesome. That will take a while. But at least we can start doing something about ourselves.

 

Mindfulness needs to be used not only in our meditation practice, but also every time we move, feel or think in our daily life. While awake, mindfulness has to be our primary objective. One has to come to terms with oneself. Only then will the world make sense one day. The universe is this mind and body. We find out what this mind and body are all about, and we will know the universe and its underlying truth. All is distinctively the same, but we have to know what it is.

 

When we come out of meditation, we should be aware of opening our eyes, moving our body, of everything we are doing. Why? First of all, it will keep us from thinking unwholesome, negative thoughts. It facilitates meditation. The mind needs to be kept in check and not allowed to run wild. The ordinary, unpracticed mind is like a wild bull running around in a garden. It can make a mess of the garden in no time. That's what our minds are doing. They're making an awful mess of this world we live in. We don't even have to read the newspapers to know about it. It's to be seen everywhere, and comes from our own minds. All of us are included, except the enlightened ones. A wild mind can't meditate. It has to be caught, kept in check, and a halter put on. Every time it runs away, we bring it back with mindfulness, like training a wild horse which in its wild state cannot benefit anyone. If the horse is tamed and trained it can be extremely useful. How much more this is true of the mind!

 

Mindfulness of the body means that we know the movements of all parts. As we watch ourselves, we will see that there is mind and body. The mind giving the orders, the body following suit. We can recognize too that sometimes the body can't obey because it is weak. This is our first entrance into insight, realizing there are mind and body and the mind being the more important one. The difference between a trained and an untrained person is the understood experience.

 

Mindfulness which extends to the body movements extends to the other aspects of mindfulness as well. If, for instance, we are thinking about the future we are no longer paying attention to the body; instead we can pay attention to the thought process. We know that we are thinking, and are making kamma. The thoughts are the mental formations, as well as the kamma formations. We are the owners of our kamma. Whatever we think, that we will be. It's an impersonal process which has nothing to do with any particular entity.

 

Then we can become aware of the content of our thoughts, which means knowing whether it is wholesome or not. We can learn to drop any negative thinking and replace it. This is where our meditation training comes in, which is not divorced from outer activities. When we pay attention to the breath in meditation and a thought intervenes, we learn to let go of the thought and come back to the breath. The same procedure is used in daily life to let go of unwholesome thoughts. We substitute at that time with a wholesome thought, just as we substitute with the breath in meditation.

 

Mindfulness of the thinking process is what the Buddha Named the "four supreme efforts."[1] They constitute the heart of the purification process. The spiritual path is the path of purification and hinges on mindfulness. "There's only one way for the purification of beings, for the overcoming of dukkha, for the final elimination of pain, grief and lamentation, for entering the noble path, for realizing Nibbana, that's mindfulness." (Words of the Buddha). To practice the purification process is necessary not only for one's own peace of mind, for adding to the peace in the world, but also in order to be able to meditate.

 

The hope that one might sit down on a pillow, watch the breath and become concentrated, is a myth. One has to have the mind in proper shape for it. Therefore, we must practice these four supreme efforts not only while we are meditating, but in every-day life. We will gain inner peace which everybody is looking for and very few people ever find.

 

The first effort is not to let an unwholesome thought arise which has not yet arisen. The requires sharp mindfulness. A thought which has not yet arisen creates waves ahead of it. To realize that these waves are boding no good, needs much attention and practice. The second effort, not to continue an unwholesome thought which has already arisen, can be done by anyone of good will, if it is understood that there is nobody else to blame. Unwholesome thinking is not due to outer triggers, but results strictly from our own defilements.

 

The third step is to make a wholesome thought arise which has not yet arisen. This means that we continually watch over our mind and encourage positive, wholesome thoughts where none are present even under the most trying circumstances.

 

Finally, to make a wholesome thought, which has already arisen, continue. In the meditation practice, this concerns our meditation subject. But in daily life it means our mind's reaction. If we have some sensitivity towards ourselves, we can feel that there is a disturbance within when unwholesome thinking arises, a feeling of resistance. Unwholesome thoughts have been thought of so often for so many years, that they have become part and parcel of our thinking process. It takes mindfulness and determination to let go.

 

In meditation we become aware that our unwholesome thoughts are not caused by someone or something external. Then we gain the power of mind to drop what we don't want, to keep and substitute with what is useful for us. These four supreme efforts are the fourth foundation of mindfulness concerned with the contents of our thoughts. If everybody in the world were practicing this, it would be a better world to live in.

 

Our inner being manifests in feeling, which arises through our sense contacts. Thinking is also a sense contact. Unwholesome thinking produces unpleasant feelings, such as being ill at ease, or unhappy. Seeing, hearing, tasting, touching, smelling are the five outer senses. Thinking is the inner one. All of them make contact and produce a feeling. There is the eye and the eye object. When both are in good condition, the eye consciousness arises and seeing results. The sense base, the sense object and the sense consciousness meet. When we know how this being, which we call "me", operates, we can stop the pre-programmed print-out, that's always answering the same way. It is quite possible to predict how a person will react to any given stimulus, because we have a program which has never been interrupted yet. To discontinue it, we first have to know that there is a program and what it consists of.

 

For instance, we have the hearing base, which is the ear drum; then there is sound. When the hearing consciousness arises, because both base and object are present, hearing results and from that a feeling arises. The ear can only hear sound, the eye can only see form and color. The mind does all the explaining. Everybody has a slightly different explanation, so that nobody sees or hears anything alike. When one man sees a woman, and sees her form and color, the mind says "isn't she beautiful, I must marry her." When I see that same woman, I don't think anything like that. Yet everyone tries to convince the people around them that what they themselves are seeing and hearing is correct. Because they often can't convince others, they start shooting or persecuting them.

 

Thinking is also a sense contact. There is the brain base and there are ideas. The mind consciousness arises, contacting the idea and thinking starts. From that a feeling results. If we think we love every being, whether we actually can do it or not, we certainly get a warm pleasant feeling from the thought. By the same token, if we think we hate a person, we get a cold and distant feeling. Now comes the reaction to the feeling, which is either wanting/craving or not wanting/rejecting. By being attentive to ourselves, we can experience that quite clearly. The reaction to the feeling is our renewed entry into duality and dukkha. At the same time it provides us with the doorway out of all difficulties. If for once we don't react, but know a feeling just as a feeling, if we can do that, mindfulness has been established. We also gain the confidence that we can do it again, and are actually practicing spiritual purification. That is an important inner conviction. The Buddha said we need both, study and practice. It helps us to know something of what the Buddha taught. But if we don't practice, then we are only parrots or hypocrites, proclaiming something we have no personal experience with.

 

Through our practice of mindfulness we become aware of the feelings which arise when we make sense contacts. Feelings happen all the time and need to be recognized so that we can change our instinctive way of living to a deliberate way of being alive. Instinctively we are a constant reactor. Deliberately we become an actor.

 

Probably the most important lesson we can learn is to keep our mindfulness going in our every-day activities. We can practice wherever we are, at home, marketing, in the office, writing letters, telephoning, any time at all. The meditation itself gives us the impetus, showing how awareness removes the obstacles inherent in our viewpoints. We cannot see the whole, only parts. We see what is around us, but we never see beyond that. With mindfulness comes an opening, where everything seems to fall into place and has an interconnection. We lose our exaggerated sense of self-importance, and can unite more with all manifestations. All these are still side issues. Mindfulness means knowing. As we know and really experience, we can prove, eventually, the four noble truths to ourselves. Then our work is completed.

 

Mindfulness has, as one of its factors, the ability to be one pointed. We do not become foggy or distracted, but can keep the mind in its place. We have to realize that mind obstructions are a human calamity and not a personal one. This understanding helps us to patiently endure and gradually change.

 

 

[1] The four supreme efforts (padhana) are:

 

1. To avoid unwholesome states of mind

2. To overcome unwholesome states of mind

3. To develop wholesome states of mind

4. To maintain wholesome states of mind.



__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Bảy 201910:19 CH(Xem: 247)
8h sáng một buổi sáng mùa hè nắng gắt tháng 6 tại Hà Nội, một chuyến xe hàng nhét chật những thuốc men và thiết bị y tế đậu lại trước văn phòng của một tổ chức thiện nguyện ở Hà Nội. Rồi từ đây, các thiết bị y tế và thuốc men sẽ đi cùng bác sỹ Tadashi Hattori đến nhiều miền quê rất nghèo của Việt Nam.
18 Tháng Bảy 201911:07 CH(Xem: 227)
Đài truyền hình CNN trong Tháng Sáu loan tin, năm 2017, tỉ lệ tự tử ở lứa tuổi giữa 15 và 19 là 11.8/100,000 trong năm. Với lứa tuổi từ 20 đến 24, tỉ lệ là 17/100,000. Trong khoảng bốn tháng từ Tháng Mười Hai, 2018, tới Tháng Ba, 2019, theo ghi nhận của cơ quan cảnh sát miền Nam California, có 17 trường hợp thanh thiếu niên đã chết
17 Tháng Bảy 20198:41 CH(Xem: 322)
Kyle Huỳnh, 15 tuổi, học lớp 10 tại trung học Bolsa Grande, treo cổ tự tử tại nhà ngày 29 Tháng Mười Một gây xúc động mạnh nơi bạn học, đau buồn nơi gia đình, hoang mang nơi cộng đồng; và trên hết, để lại quá nhiều câu hỏi cho bất cứ bậc phụ huynh nào có con đang bước vào tuổi trưởng thành. Nguyên nhân cái chết thương tâm của Kyle
30 Tháng Sáu 20194:12 CH(Xem: 461)
Rừng Thu (Autumn Forest) - 50 bài thơ chuyển ngữ Anh Việt. Xuất bản June 2019 - Tác phẩm mới của nhà thơ: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
11 Tháng Sáu 20199:53 CH(Xem: 321)
Trời mang sức mạnh núi này, Mang hùng vĩ của thân cây trên đồi, Hè mang hơi ấm mặt trời, Và bình lặng của biển khơi khắp miền, Mang hồn quảng đại thiên nhiên, Vòng tay an lạc của đêm lặng lờ, Mang thông thái của tuổi già, Tiềm năng chim phượng bay xa vô ngần,
04 Tháng Sáu 201911:04 SA(Xem: 447)
1. Quy tắc đầu tiên: "Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp cả." Điều này có nghĩa rằng không ai xuất hiện trong cuộc đời chúng ta một cách tình cờ cả. Mỗi người xung quanh chúng ta, bất cứ ai chúng ta giao lưu, đều đại diện cho một điều gì đó, có thể là để dạy chúng ta điều gì đó hoặc giúp chúng ta cải thiện tình hình hiện tại.
03 Tháng Sáu 201911:47 SA(Xem: 573)
Trong một lần bình luận của mình, Glenn Beck đã từng nói rằng: Một người bình thường muốn chứng minh bản thân bình thường là điều hết sức khó khăn. Có lẽ chỉ có người không muốn chứng minh điều gì hết, mới có thể được gọi là một người bình thường. Về sau, rất nhiều người đã để lại lời bình luận của riêng họ
02 Tháng Sáu 20199:08 CH(Xem: 482)
Phóng viên nổi tiếng Sydney Harries và một người bạn dừng chân mua báo ở một quầy bán báo, người bạn mua xong rất lịch sự nói lời "Cám ơn!" nhưng người chủ quầy báo thì ngược lại, mặt lạnh như tiền, một tiếng cũng không thèm mở miệng. Hai người rời quầy báo tiếp tục đi về phía trước, Sydney Harries hỏi:
23 Tháng Năm 20199:43 SA(Xem: 549)
Tiền kiếp – có hay không? Miêu tả 2500 trường hợp trẻ em thuộc dữ liệu của trường Đại học Virginia (Hoa Kỳ) được các nhà nghiên cứu tìm hiểu cẩn thận kể từ khi bác sĩ Ian Stevenson nghiên cứu trường hợp đầu tiên cách đây 40 năm. Những đứa trẻ này thường bắt đầu kể về kiếp trước ở độ tuổi hai hoặc ba và có thể nói về gia đình lúc trước
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 605)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 525)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩ và tìm hiểu xem có tiền kiếp và luân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 537)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 603)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 494)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 520)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 614)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 807)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 744)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 943)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 1052)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1198)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 2471)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 1357)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
14 Tháng Chín 201910:25 SA(Xem: 395)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
22 Tháng Tám 20194:36 CH(Xem: 205)
Thiền tông truyền sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI, do Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma). Đến thế kỷ thứ VII, Thiền tông truyền sang Việt Nam, do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci). Thế là, Thiền tông có mặt ở Việt Nam sau Trung Hoa một thế kỷ. Đến thế kỷ thứ XII,
22 Tháng Tám 20197:00 SA(Xem: 1078)
Tủ Sách Và Các Bài Viết Của HT. Thích Thanh Từ
14 Tháng Chín 201910:25 SA(Xem: 395)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 244)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 209)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 1046)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 859)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 2958)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái