CHƯƠNG 2: Quá trình điều tra

23 Tháng Năm 20199:58 SA(Xem: 159)
CHƯƠNG 2: Quá trình điều tra
 TienKiepCoHayKhong1_B
Tiền Kiếp - Có Hay Không?
Tác giả: Jim B. Tucker
Hoàng Mai Hoa dịch, Đỗ Hoàng Tùng hiệu đính
Nhà xuất bản Phương Đông
Bản quyền thuộc công ty cổ phần Sách Thái Hà
Nguồn: thuvienhoasen.org
 
____________________
 

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA

 

Câu chuyện về công việc nghiên cứu ở Trường Đại học Virginia này bắt đầu vào năm 1958. Dù tính theo tiêu chuẩn nào đinữa thì lúc đó Tiến sĩ Ian Stevenson cũng đã có một sự nghiệp học thuật thành công. Sau khi tốt nghiệp lớp y khoa trường Đại học McGill với số điểm cao bậc nhất, lúc đầu ông đã định theo học nghành hóa sinh trước khi quan tâm đến nghành y học tâm thể – nghành nghiên cứu về mối liên quan giữa cảm xúc và sức khỏe. Ông đã viết rất nhiều, hầu hết là cho các tờ tập san y học, nhưng cũng có vài lần ông viết cho tạp chí Harpers Magazine và The New Republic và cho đến năm 1958, ông đã có bài trên 70 ấn bản. Một năm trước đó ông đã được chọn làm “trưởng khoa Tâm thần học” tại Trường Đại học Virginia ở một độ tuổi còn rất trẻ là 39.

 

Bên cạnh những thành tích này, Tiến sĩ Ian Stevenson còn quan tâm đến các hiện tượng siêu nhiên – những hiện tượng nằm ngoài phạm vi giải thích của nên khoa học hiện thời. Vào năm 1958, khi Hiệp hội nghiên cứu tâm thần học Hoa Kỳ tuyên bố tổ chức một cuộc thi viết luận về các hiện tượng tinh thần siêu nhiên và mối quan hệ giữa chúng với cuộc sống sau cái chết, ông đã nộp một bài dự thi với tựa đề: The evidence for survival from claimed memories of former incarnation (Các bằng chứng về những kí ức còn sót lại trong giai đoạn mới đầu thai trở lại). Trong bài viết này, ông đã trình bày tóm tắt 44 trường hợp đã công bố trước đó về những trường hợp từ khắp nới trên thế giới kể lại kí ức về kiếp trước của mình. Những câu chuyện này được lấy từ một số nguồn khác nhau – sách, tạp chí và báo. Hầu như tất cả những trường hợp ấn tượng nhất đều là những đứa trẻ dưới 10 tuổi khi các em bắt đầu thuật lại những kí ức đó và nhiều em trong số đó chỉ mới ba tuổi hoặc nhỏ hơn. Tiến sĩ Stevenson đặc biệt chú ý đến đặc điểm chung của những đứa trẻ ở nhiều vùng khác nhau nhưng có những câu nói tương tự nhau về kiếp trước. Như ông đã nói sau đó: “Khi đặt 44 trường hợp này cạnh nhau, tôi thấy rất rõ ràng là chắc chắn phải có một điều gì đó”. Ông kết thúc bài luận bằng cách nói rằng những bằng chứng ông đã đưa ra không cho phép rút ra bất cứ kết luận nào về hiện tượng tái sinh nhưng ông cảm thấy rằng cần phải nghiên cứu về nó một cách tỉ mỉ hơn.

 

Một người đã đọc bài viết của Tiến sĩ Stevenson là Chester Carlson – nhà phát minh ra máy photocopy tạo nền tảng cho tập đoàn Xerox, ông đã liên lạc với Tiến sĩ Stevenson để đề nghị tài trợ cho việc nghiên cứu. Lúc đầu Tiến sĩ Stevenson từ chối vì ông đang rất bận với những công việc khác của mình, nhưng sau khi thu thập được thêm nhiều trường hợp và ngày càng tò mò trước những gì mình phát hiện được, ông đã chấp nhận lời đề nghị tài trợ từ phía Carlson.

 

Vào năm 1966, ông xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình về vấn đề này: Twenty Cases Suggestive of Reincarnation (20 trường hợp gợi nhớ đến hiện tượng đầu thai). Tiến sĩ Stevenson đã bỏ ra nhiều công sức để thẩm định từng trường hợp một xem 20 đứa trẻ đó đã nói gì và những lời các em nói đúng đến mức nào với cuộc đời của những người mà các em nhớ được. Cuốn sách bao gồm những bài tường thuật rất chi tiết về các trường hợp ở Ấn Độ, Ceylon, Braxin và LiBăng, trong đó có danh sách của tất cả những người Tiến sĩ Stevenson đã phỏng vấn trong từng trường hợp. Ngoài ra, còn có các bảng rất dài liệt kê lại các câu nói của từng đứa trẻ về kiếp trước của mình, người cung cấp thông tin về các câu nói đó hoặc những người đã khẳng định rằng câu nói đó đúng với cuộc đời của người đã chết. Tiến sĩ Stevenson đã trình bày các trường hợp một cách khách quan và ông đã bàn đến cả điểm mạnh cũng như điểm yếu của chúng.

 

Với tiền tài trợ của Carlson, Tiến sĩ Stevenson đã có thể rút lui khỏi vị trí Trưởng Khoa Tâm thần học vào năm 1967 để hoàn toàn tập trung vào công việc nghiên cứu của mình. Hiệu trưởng của trường y – một người không tán thành việc nghiên cứu này – rất hài lòng khi thấy Tiến sĩ Stevenson từ chức và ông đã đồng ý cho thành lập một khoa nghiên cứu nhỏ, giờ được biết đến với cái tên Division of Personality Studies (Khoa nghiên cứu nhân cách), làm nơi thực hiện công việc nghiên cứu.

 

Năm sau đó, Chester Carlson đột ngột qua đời bởi một cơn đau tim. Do khoa nghiên cứu này phụ thuộc vào kinh phí tài trợ của Carlson mới hoạt động được nên Tiến sĩ Stevenson đã nghĩ rằng mình sẽ phải quay lại với công việc nghiên cứu bình thường. Nhưng sau đó người ta mở di chúc của Carlson ra và trong đó ông đã để lại một triệu đô la cho trường Đại Học Virginia để tài trợ cho công việc nghiên cứu của Tiến sĩ Stevenson.

 

Lúc đó đã xảy ra tranh cãi về việc trường đại học có nên chấp nhận số tiền này hay không vì nghiên cứu này có tính chất không bình thường. Các trường đại học không có thói quen từ chối những khoản đóng góp trị giá hàng triệu đôla nhưng tình thế này rõ ràng khiến nhiều người thấy không thoải mái. Cuối cùng, trường đại học cũng quyết định chấp nhận số tiền vì nó đã được cho đi nhằm mục đích hỗ trợ cho công việc nghiên cứu và thế là Tiến sĩ Stevenson được tiếp tục công việc của mình.

 

Dần dần, Tiến sĩ Stevenson đã lôi kéo được sự quan tâm của những người khác vào việc điều tra các trường hợp. Satwant Pasricha – một nhà tâm lý học Ấn Độ – bắt đầu trợ giúp tiến sĩ Stevenson trong các trường hợp ở đó và bà vẫn tiếp tục nghiên cứu về chúng cho đến tận ngày nay. Erlendur Haraldson – một nhà tâm lý học tại trường Đại Học Icelan có nhiều kinh nghiệm trong nghành tâm lý học thực nghiệm – quan tâm đến các trường hợp vào những năm 1970 và ông đã tìm hiểu về chúng từ đó đến giờ. Antonia Mills – một nhà nhân chủng học đã nhận bằng Tiến sĩ từ trường Đại học Havard – bắt đầu trợ giúp Tiến sĩ Stevenson trong các trường hợp ở Tây Bắc Bắc Mỹ và từ đó đến nay bà đã độc lập nghiên cứu các trường hợp ở đó và Ấn Độ. Jurgen Keil – người điều tra trường hợp của Kemal trong phần Lời nói đầu – một nhà tâm lý học tại trường Đại học Tasmania và đã tìm được các đầu mối mới ở Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan và Myanmar nhằm nghiên cứu các trường hợp ở những nơi đó. Tiến sĩ Stevenson là người nghiên cứu hầu hết các trường hợp ở Châu Á mà tôi sẽ bàn đến trong các chương sau. Ông đặc biệt quan tâm đến những trường hợp trong đó một đứa trẻ được sinh ra với một vết bớt giống một vết thương trên cơ thể người đã chết. Ông tin vào sức mạnh của các con số, vì thế ông đã trì hoãn việc đăng tải bất cứ trường hợp nào như thế cho đến khi có thể công bố một loạt các trường hợp trong một cuốn sách. Sau một vài lần trì hoãn, ông đã cho xuất bản cuốnReincarnation and Biology: A Contribution to the Etiology of Birthmarks and Birth Defects (Đầu thai và sinh học: Một đóng góp cho vào việc đi tìm nguyên nhân cho các vết bớt và di tật) vào năm 1997. Cuốn sách rất đồ sộ – 2200 trang được chia thành hai tập – nó bao gồm các bài tường thuật chi tiết về 225 trường hợp cùng với hình của nhiều vết bớt. Tiến sĩ Stevenson đã xuất bản nó trước ngày sinh nhật lần thứ 80 của mình. Dù theo một cách nào, Reincarnation and Biology chính là đỉnh cao của công trình nghiên cứu trong nhiều thập kỷ của mình, ông vẫn chưa chịu dừng lại, vẫn tiếp tục viết và nghiên cứu.

 

Tôi đã từ bỏ công việc bác sĩ tâm thần của mình để tham gia vào lĩnh vực này vào năm 1996. Gần đây tôi đã tập trung vào các trường hợp ở Mỹ mặc dù việc tìm được các trường hợp ở đây khó hơn nhiều. Tôi sẽ sử dụng một số các trường hợp ở Mỹ để minh họa cho các khía cạnh khác nhau của hiện tượng này. Khi đó tôi sẽ thay đổi tên của các đứa trẻ và các đặc điểm nhận dạng khác. Tôi cũng sẽ làm thế với các trường hợp ở nước ngoài trừ khi đã có bài viết được đăng tải trong đó có sử dụng tên thật của các em.

 

Về phần Tiến sĩ Stevenson, ông đã dừng nghiên cứu vào năm 2002, có lẽ là với một sự miễn cưỡng hiếm thấy ở những người trong độ tuổi 80 một phần là để tập trung vào công việc viết lách, nhưng cũng là để dành nhiều thời gian hơn cho vợ của ông – Margaret. Ông đã nhiều lần nói đến ý định giảm bớt các chuyến nghiên cứu trong nhiều năm nhưng chưa lần nào thực hiện được. Thậm chí sau khi nghỉ ông vẫn thực hiện một “chuyến đi cuối cùng” đến Ấn Độ. Bà Margaret đã từng nói rằng bà không phiền khi thấy ông phải đi nhiều nhưng bà mong ông đừng nói chuyến đi nào cũng là cuối cùng. Tuy vậy ông vẫn viết một cuốn sách khác vào năm 2003 – European Cases of the Reincarnation Type (Các trường hợp có các đặc điểm của hiện tượng đầu thai ở Châu Âu) – và tiếp tục với các công trình và dự án sách khác. Các ấn bản của ông giờ đã lên đến con số hơn 200.

 

Tiến trình điều tra

 

Trước khi điều tra các trường hợp, chúng tôi phải tìm được đối tượng. Khi đến bất cứ nơi nào để tìm, chúng tôi cũng đều làm theo trình tự như thế, nhưng tìm các trường hợp ở những vùng có đông đảo người dân tin vào sự đầu thai thì dễ dàng hơn. Trong đó có Ấn Độ và Sri Lanka – đích đến của Tiến sĩ Stevenson trong những chuyến đi đầu tiên – cùng với các đất nước khác có tín ngưỡng tương tự bao gồm Thái Lan, Myanmar (Miến Điện), Thổ Nhĩ Kỳ và một số nhóm tôn giáo Druse ở LiBăng. Địa điểm xảy ra các trường hợp này cũng phụ thuộc một phần vào các đầu mối tìm kiếm của chúng tôi. Chúng tôi đã rất may mắn khi có trợ lý ở từng đất nước giúp chúng tôi tìm kiếm các trường hợp.

 

Sự thật là chúng tôi đã tìm được các trường hợp trên tất cả các lục địa trừ Nam Cực, và đến giờ vẫn chưa có ai đi tìm ở đó. Về một số khía cạnh nào đó, việc đi tìm các trường hợp ở Mỹ khó hơn so với các nước khác. Ở Thái Lan, có đôi lúc chúng tôi đến những vùng mà hầu như lần nào dừng lại hỏi đường chúng tôi cũng nghe thêm được một trường hợp khác. Trái lại, ở Mỹ chúng tôi không thể cứ bước vào một cửa hiệu tạp hóa bất kỳ và hỏi xem có ai từng nghe một đứa trẻ nói chuyện về kiếp trước hay không. Điều đó không có nghĩa là các trường hợp đó không xảy ra ở đây. Sau mỗi buổi nói chuyện của tôi, thường hay có người kể cho tôi rằng một người thân của họ đã từng nói chuyện về cuộc sống kiếp trước của mình. Từ khi lập ra trang web riêng vào năm 1998 –http://www.healthsystem.com.virginia.edu/personalitystudies – chúng tôi đã nhận được thư điện tử từ nhiều gia đình người Mỹ trong đó có nhắc đến một đứa trẻ có kí ức về kiếp trước.

 

Chúng tôi có xu hướng sử dụng cùng một phương pháp khi điều tra một trường hợp. Chúng tôi thường thực hiện các cuộc phỏng vấn thông qua một phiên dịch viên vì có ít gia đình ở nước ngoài nói được tiếng Anh. Mặc dù điều này có thể gây ra một số hiểu lầm thông tin. Chúng tôi thường kiểm tra lại những chỗ nghi ngờ có sự hiểu lầm với phiên dịch viên cho đến khi chắc chắn rằng đã hiểu được điều người cung cấp thông tin nói. Sauk hi làm việc với chúng tôi một thời gian, các phiên dịch viên đều hiểu được chúng tôi muốn biết những gì trong các cuộc phỏng vấn và họ đã rất cẩn thận hỏi những điều cần thiết để thu thập được những chi tiết rõ rang về sự kiện đã xảy ra. Tất cả những điều này có nghĩa là có đôi khi tiến trình phỏng vấn diễn ra rất chậm vì chúng tôi phải hỏi đi hỏi lại vì muốn hiểu chắc chắn chuyện gì đã xảy ra và thường các gia đình đều rất thông cảm với chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ trả công cho họ vì làm thế có thể sẽ khiến một số người bịa ra chuyện để nói nhưng hầu như tất cả bọn họ đều rất niềm nở đón tiếp chúng tôi.

 

Thông thường chúng tôi chỉ được biết đến một trường hợp nào đó sau khi nó đã được giải quyết. Điều này nghĩa là đứa trẻ đã cung cấp đủ thông tin về kiếp trước để người thân của mình có thể tìm và gặp gia đình của người tiền kiếp. Trong một số trường hợp, họ đã gặp nhau từ vài tuần hoặc vài năm trước khi chúng tôi đến. Đôi khi chúng tôi tìm đến khi một trường hợp vẫn chưa được giải quyết và hai gia đình vẫn chưa gặp được nhau. Rõ ràng chúng tôi muốn như thế hơn nhưng những trường hợp như vậy lại khá hiếm và chúng tôi đành phải chuyển sang cố gắng tái hiện lại chính xác hết mức có thể những gì đã được nói và làm trong khoảng thời gian trước khi chúng tôi đến.

 

Chúng tôi thường bắt đầu điều tra bằng cách phỏng vấn gia đình của các em. Chúng tôi mở đầu mọi cuộc phỏng vấn bằng cách giải thích quá trình nghiên cứu để có thể thuyết phục tất cả những người liên quan đồng ý tham gia. Sau đó chúng tôi bắt đầu bằng những câu hỏi mở về lịch sử của trường hợp. Chúng tôi thường thực hiện cuộc phỏng vấn này với bố mẹ, nhưng ông bà hoặc những người thân khác trong gia đình cũng có thể tham gia. Chúng tôi không bắt đầu ngay với các em. Thường các em còn khá nhỏ thì có thể do các em rụt rè không dám nói chuyện với chúng tôi, hoặc cũng có thể do lúc đó các em không ở trong trạng thái bình thường để nói về chuyện của mình. Chúng tôi đã thử nói chuyện với các em, nhưng chúng tôi chú trọng nhất đến những gì người lớn kể lại về lời nói và hành động của các em vào lúc bắt đầu. Trong trường hợp họ đã gặp gia đình của người tiền kiếp, chúng tôi quan tâm nhất đến những lời trẻ nói trước khi hai gia đình gặp nhau vì những lời của trẻ sau đó có thể bị ảnh hưởng bởi các thông tin biết được từ buổi gặp giữa hai gia đình.

 

Nếu trẻ có một vết bớt thì rõ ràng chúng tôi phải đề nghị được xem nó. Sau đó chúng tôi chụp ảnh và vẽ lại vị trí cũng như hình dạnh của nó trên một hình người vì đôi lúc ảnh chụp ra không được như mong muốn. Đôi lúc bố mẹ của trẻ nói vết bớt thay đổi vị trí khi các em lớn lên, nên chúng tôi cũng ghi lại lời miêu tả của họ về vị trí của nó khi trẻ mới được sinh ra.

 

Một số trẻ chỉ kể cho bố mẹ mình nghe về những kí ức kiếp trước nhưng các em khác lại kể cho nhiều người khác. Trong trường hợp thứ hai, chúng tôi tìm cách phỏng vấn nhiều nhân chứng hết mức có thể. Chúng tôi không chấp nhận các lời đồn thổi. Nếu một người trong làng nói mình đã nghe đồn rằng đứa trẻ đó nói một số câu nào đó, chúng tôi sẽ không chấp nhậ nó trừ khi có thể nói chuyện được với một người đã trực tiếp nghe trẻ kể chuyện.

 

Sau khi thu thập được nhiều thông tin hết mức có thể từ phía gia đình, chúng tôi chuyển sang tìm hiểu về người tiền kiếp. Chúng tôi nói chuyện với người thân trong nhà để kiểm tra xem lời của trẻ đúng đến mức độ nào với cuộc đời của người tiền kiếp. Chúng tôi cũng hỏi về ấn tượng của họ trong buổi đầu gặp đứa trẻ. Vì mọi người thường kể lại là trong buổi gặp đó trẻ nhận ra được những thành viên trong gia đình của người tiền kiếp hay đồ vật của người đó nên chúng tôi muốn lấy lời làm chứng của cả hai gia đình về vấn đề này.

 

Khi Tiến sĩ Stevenson cho đăng tải các bản báo cáo về các trường hợp trong các cuốn sách của mình, ông đã đưa vào một danh sách liệt kê tất cả những lời từng đứa trẻ đã nói về cuộc sống kiếp trước. Sau từng câu nói là các dòng ghi tên của người đã nghe trẻ nói câu đó, liệu câu đó có được khẳng định là đúng với cuộc đời người tiền kiếp hay không và nếu có thì người khẳng định là ai cũng như bất cứ lời bình luận nào khác. Bằng cách đọc tất cả những lời nói của trẻ, cả những lời chính xác và không chính xác, độc giả có thể đánh giá toàn cảnh các trường hợp mà không phải ngờ rằng đứa trẻ có thể đã may mắn đoán đúng được một hoặc hai lần nhưng các lần đoán sai thì vô số.

 

Bên cạnh các lời nói, những khía cạnh khác của các trường hợp cũng cần phải được điều tra. Khi đứa trẻ có một vết bớt được cho là giống với một vết thương trên cơ thể của người tiền kiếp, chúng tôi sẽ cố gắng để xác định xem nó giống đến mức nào. Trong trường hợp may mắn nhất, chúng tôi tìm được biên bản khám nghiệm tử thi trong đó có ghi các vết thương trên cơ thể người tiền kiếp. Nếu vết bớt giống với một vết thương không nguy hiểm, các hồ sơ khám bệnh có thể sẽ có ích trong việc đánh giá mức độ giống nhau. Trong trường hợp người tiền kiếp đã bị giết thì dù không có biên bản khám nghiệm tử thi nhưng có thể cảnh sát vẫn còn lưu giữ hồ sơ trong đó có ghi lại các vết thương.

 

Vì nhiều người trong làng không hề có bất cứ hồ sơ nào ghi lại các vết thương trên người nên lúc đó lời khai của các nhân chứng trở thành bằng chứng tốt nhất. Thường thì người thân trong gia đình đã được nhìn thấy cơ thể của người tiền kiếp lúc chết hoặc đã giúp khâm liệm thi thể để chuẩn bị cho tang lễ. Một số người có lẽ đã nhìn thấy các vết thương và chúng tôi tìm cách nói chuyện với họ để biết được chắc chắn hết mức có thể về các vết thương và vị trí của chúng.

 

Trong nhiều trường hợp, những người điều tra đã thực hiện thêm một số cuộc phỏng vấn trong các chuyến đi tiếp theo đến địa phương. Điều này nhằm phục vụ một số mục đích. Mục đích rõ ràng nhất là tìm hiểu xem có biến chuyển gì mới hay không. Ngoài ra chúng tôi cũng muốn kiểm tra xem lời của các nhân chứng có nhất quán hay không. Và mục đích cuối cùng là đánh giá cuộc sống và quá trình phát triển sau đó của trẻ. Tiến sĩ Stevenson đã theo dõi một số trường hợp trong nhiều thập kỷ liền, vậy nên ông đã được nhìn thấy các em trưởng thành.

 

Sau khi điều tra xong một trường hợp, chúng tôi sẽ lưu nó vào hồ sơ ở trường đại học nếu nó đáp ứng được hai trong những tiêu chuẩn, đặc điểm sau:

 

1. Những câu tiên đoán về tái sinh – không chỉ là một câu như “Tôi sẽ đầu thai trở lại” mà phải có thêm một số chi tiết cụ thể; ví dụ như bố mẹ trong kiếp sau là ai.

2. Một giấc mơ điềm báo

3. Những vết bớt hoặc dị tật có liên quan đến kiếp trước – không phải bất cứ thương tổn hay tì vết nào; ngoài ra các vết bớt hoặc dị tật này phải hiện rõ ngay sau khi sinh hoặc sau đó vài tuần.

4. Những câu nói của trẻ về cuộc sống kiếp trước – khi ghi lại những câu này không nên chỉ nghe lời một phía của trẻ: Ít nhất phải có một người lớn hơn (chẳng hạn như bố, mẹ, hoặc anh, chị) làm chứng rằng trẻ đúng là đã nói về cuộc sống kiếp trước.

5. Trẻ nhận ra được những người hoặc những đồ vật quen thuộc với người tiền kiếp.

6. Trẻ có hành vi khác thường – cụ thể là hành vi không bình thường so với mọi người trong nhà và dường như giống với hành vi của người được cho là người tiền kiếp hoặc có thể suy ra được từ người đó (chẳng hạn như trẻ sợ súng đạn nếu người tiền kiếp đã bị bắn đến chết).

 

Không có trường hợp nào đáp ứng được đầy đủ tất cả các tiêu chuẩn trên. Một mối lo của tôi là trong một trường hợp nào đó, các câu nói của trẻ ấn tượng đến nỗi chúng tôi sẽ muốn lưu nó vào dù nó không hề có những đặc điểm còn lại. Ngoài ra cũng rất có thể có trường hợp đáp ứng được những tiêu chuẩn này nhưng chúng tôi lại chọn không đưa vào hồ sơ của mình. Nhìn chung, những tiêu chuẩn này đã rất có ích cho chúng tôi và tôi hi vọng rằng chúng giúp làm rõ trường hợp nào có thể đưa vào dữ liệu của chúng tôi.

 

Những tiêu chuẩn này cho thấy mức độ đáng tin cậy của các trường hợp rất khác nhau. Một số trường hợp có những bằng chứng khiến nhiều người phải tin đã có điều gì đó không bình thường xảy ra, trong khi những bằng chứng trong các trường hợp khác kém thuyết phục hơn rất nhiều. Mức độ đáng tin cậy của những trường hợp này thường tùy thuộc vào sự đánh giá của độc giả nhưng chúng tôi nghĩ cần phải thu thập được nhiều trường hợp hết mức có thể nhằm giúp người đọc có những thông tin rõ ràng nhất để làm cơ sở đánh giá.

 

Với từng trường hợp, những người điều tra điền vào một mẫu hồ sơ dài tám trang yêu cầu người điền phải ghi rất nhiều chi tiết về từng trường hợp. Hồ sơ cũng bao gồm những dòng ghi chép về nhiều cuộc phỏng vấn khác nhau cùng với bất cứ tấm ảnh hay băng ghi âm nào đã chụp hoặc thu lại. Một lúc nào đó, tất cả những thông tin này sẽ được chuyển sang dạng mã để có thể đưa nó vào cơ sở dữ liệu máy tính. Bộ mã gồm 200 biến số đã được gán cho các giá trị khác nhau để nhập được vào máy tính. Những giá trị này bao gồm nước xuất thân của trẻ, phản ứng ban đầu của bố mẹ trẻ đối với những lời kể của các em, khoảng cách giữa gia đình trẻ và gia đình người tiền kiếp và rất nhiều chi tiết nhỏ khác. Bằng cách nhập những thông in đó vào cơ sở dữ liệu, chúng tôi có thể nhìn thấy được những đặc điểm chung của từng nhóm trường hợp mà trước đó không thể nhận ra được khi xem xét riêng lẻ. Chẳng hạn như tôi có thể nói được rằng trong 18% các trường hợp có bớt ở Ấn Độ, chúng tôi đã tìm được hồ sơ khám bệnh khẳng định vết bớt giống vết thương của người tiền kiếp vì chúng tôi đã nhập tất cả dữ liệu về 412 trường hợp ở Ấn Độ vào máy tính và tôi chỉ cần tìm tần suất của đặc điểm đó. Quá trình này đòi hỏi rất nhiều công sức và phải mất nhiều năm nữa chúng tôi mới nhập được hết các trường hợp vào cơ sở dữ liệu.

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Tám 20199:13 CH(Xem: 36)
Tôi còn nhớ vào buổi sáng ngày Rằm tháng Bảy, một số Phật tử ở Thị xã Vũng Tàu và các nơi về thăm Hòa thượng, đặt vấn đề sao Ngài không tổ chức lễ Vu Lan Báo Hiếu. Hòa thượng vẫn ngồi yên lắng nghe, sau đó Ngài dạy: - Lễ Vu Lan Báo Hiếu là ngày lễ do Phật tử tổ chức, chứ không phải do Tăng Ni. Vu Lan Báo Hiếu có từ tích truyện
18 Tháng Tám 20199:14 CH(Xem: 41)
Bây giờ gần tháng bảy, tháng của Mục Liên tìm mẹ. Bài kinh Vu Lan Thầy đã giảng cho chúng con nghe thật nhiều lần. Chuyện hai nghìn năm róc rách chảy về nhân gian đượm thắm tình thương. Nhưng có những chuyện thật gần, đến với con bất chợt như một cơn mưa phùn, mà thấm đượm vào đất tâm, để mãi mãi trở thành chuyện ngàn năm.
17 Tháng Tám 20199:24 CH(Xem: 52)
Thiền là gì? Từ tầm nhìn đúng, hành động đúng, sẽ đưa đến kết quả đúng như ý muốn. Khi làm một công việc gì, thông thường chúng ta phải biết trước rồi làm sau, như vậy sẽ có kết quả tốt. Như quý vị muốn đi từ đây ra đằng kia thì đầu tiên phải mở mắt trước, thấy đường rồi mới đi, còn nếu cứ nhắm mắt mà đi thì chắc chắn sẽ bị té.
17 Tháng Tám 20197:00 SA(Xem: 704)
Tủ Sách Và Các Bài Viết Của HT. Thích Thanh Từ
16 Tháng Tám 20198:40 CH(Xem: 64)
Hôm nay nhân ngày Tự Tứ, quí Phật tử về Thiền viện cúng dường lễ Vu Lan, chúng tôi sẽ nói một ít chuyện đạo lý mang ý nghĩa báo hiếu để quí vị nhận hiểu và áp dụng chữ Hiếu đúng theo tinh thần Phật dạy. Từ lâu chúng ta đã nghe nói về ngài Mục Kiền Liên với lễ báo hiếu Vu Lan, tức ngày rằm tháng bảy, ngày hoan hỷ của mười phương chư Phật
12 Tháng Tám 20197:04 CH(Xem: 146)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
11 Tháng Tám 20199:09 CH(Xem: 73)
Cô qua đây, gặp lại Diệu Nhân và các Phật tử quen thuộc Diệu Nhân cô rất là mừng. Mười năm. Mười năm kể từ lúc bắt đầu thành lập Diệu Nhân. Hồi đó cô nhớ cũng tại ga ra này - chỉ là cái nhà nhỏ thôi, buổi thuyết pháp đầu tiên của cô ở đây các vị ngồi nghe pháp mà mồ hôi đổ rất “lâm li” bởi vì trời nóng quá. Bây giờ tiện nghi được cải thiện
10 Tháng Tám 20195:55 CH(Xem: 104)
Hôm nay quý vị phát tâm về Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã tu tập, đến thời nghe pháp, quý Thầy sẽ nói chuyện để quý vị biết thêm vấn đề tu tập của mình. Khi quý vị phát tâm chuẩn bị lên thiền viện tu tập, người thân hay bạn bè mình có đồng thuận hết không, hay có những người chưa thông cảm? Sẽ có những người không thông cảm,
09 Tháng Tám 20199:34 CH(Xem: 85)
Thưa Sư con cũng đang gặp khó khăn trong chuyện riêng của mình. Hiện tại gia đình con bây giờ chỉ có con, ba và chị gái. Năm vừa qua bản thân và gia đình con đã gặp phải rất nhiều chuyện buồn nên năm nay cả nhà ai cũng muốn con lập gia đình (cưới vợ) vì tuổi con cũng đã lớn và để cảnh gia đình bớt cô quạnh, nhất là ba con vì tuổi đã già
08 Tháng Tám 20199:07 CH(Xem: 87)
Thực tại là khái niệm triết học dùng để chỉ hiện thực khách quan hay tổng thể những gì đang tồn tại và diễn biến xung quanh cuộc sống mà tư duy con người không dự phần. Nó có thể là con suối đang chảy, dòng sống đang trôi hay hơi thở vào ra... hết sức tự nhiên, biểu lộ như nó là, mà không phải những gì người ta nghĩ về hay suy diễn.
07 Tháng Tám 201910:36 CH(Xem: 87)
"Chúng ta chỉ "thấy" với cái tâm phân biệt tốt/xấu, đầy thành kiến, suy tính cho nên đức Phật chỉ rõ là cần phải buông bỏ cái tâm đó thì mới thấy vạn pháp như thật được. Nhưng "buông bỏ" không có nghĩa là diệt chúng, hay dẹp bỏ chúng, mà có nghĩa là phải coi chúng như là những dữ kiện (data) để thấy "như thật". Khi tọa thiền là ngồi với cái Tâm
06 Tháng Tám 20198:43 CH(Xem: 71)
Gia đình con từ trước đến nay hay tin phong thủy và bói toán. Nói cách khác thì là mê tín phải không Thầy? Khi mua nhà bố mẹ con phải chọn hướng theo tuổi của vợ chồng, người giúp mua/bán nhà, số nhà, đất và nhiều nữa. Sau khi nghe và hiểu một số lời Thầy dạy thì bố mẹ con cũng đỡ kén chọn nhưng vẫn do dự
05 Tháng Tám 20198:45 CH(Xem: 104)
Thiền viện Vạn Hạnh trên đường Nguyễn Kiệm tại thành phố Hồ Chí Minh là một tòa nhà uy nghi to lớn. Bên cạnh thiền viện là một con hẻm nhỏ dẫn đến một ngôi chùa khiêm tốn, được gọi là tịnh thất của các tỉ kheo ni. Mỗi lần khách bấm chuông lại thấy một ni cô tuổi còn trẻ chạy ra cẩn thận hỏi tên khách mới mở cửa.
04 Tháng Tám 20197:33 CH(Xem: 152)
Quyển sách này đã được dịch và ấn tống cho các Phật tử tu thiền trong nhiều năm qua. Những lời dạy từ căn bản giúp làm sâu sắc thêm việc thiền tập và phát sinh trí tuệ minh sát. Vì là trích chọn lại nên có nhiều chỗ, nhiều ý lặp đi lặp lại, nhưng bản thân sự lặp đi lặp lại cũng là một phong cách giảng dạy của thiền sư Ajahn Chah,
02 Tháng Tám 20198:33 CH(Xem: 129)
Truyền đến nước Nam, Tổ ban đầu là Tuệ Trung Thượng Sĩ được ấn chứng nơi Thiền sư Tiêu Dao. Thượng Sĩ lại dạy đạo cho vua Trần, truyền năm đời vua, làm sáng tỏ cơ nhiệm mầu của Phật pháp, rõ thấu ý chỉ sâu xa hiển và mật. Vua Nhân Tông bỏ nước xuất gia,
01 Tháng Tám 201910:18 CH(Xem: 145)
Ni Sư Thích Nữ Thuần Tuệ chia sẻ bài Pháp với chủ đề "Chuyển Nghiệp Khai Tâm" trong khoá tu cùng tên được tổ chức vào ngày 12,13,14 tháng 7 năm 2019 tại San Jose, CA
31 Tháng Bảy 20197:00 SA(Xem: 130)
Trước khi giảng về quyển sách này, tôi có ít lời nói trước. Theo thường lệ nhà chùa mỗi năm vào rằm tháng tư đến rằm tháng bảy là ba tháng an cư kiết hạ của Tăng Ni. Ở đây lý đáng cũng phải tổ chức như vậy, nhưng vì tổ hợp làm tương phải đi mua bán, đem giao hàng hóa dưới chợ và đi mua nguyên liệu nơi này nơi kia mãi,
30 Tháng Bảy 20192:43 CH(Xem: 109)
Phật pháp thật là uyên thâm, kinh điển có nhiều như rừng như biển. Người phát tâm học Phật sẽ ngơ ngác trước cảnh sâu xa bát ngát ấy. Vì thế có lắm người đã nhiều năm nghiên cứu mà vẫn bị lạc trong rừng kinh điển chẳng biết lối ra. Hoặc có người đã lắm công phu dò tầm và vẫn chơi vơi nơi vực sâu thăm thẳm của Phật pháp.
29 Tháng Bảy 20198:18 CH(Xem: 114)
Có một số người phê phán tu Biết vọng mà Hòa Thượng Chơn Không đang hướng dẫn cho Tăng Ni và Phật Tử tu là do người sau đặt ra chớ không do Phật dạy. Lại còn cho rằng Thiền Tông là quái thai của Phật Giáo, nghi ngờ việc Phật truyền tâm ấn cho Tổ Ca Diếp và sự truyền thừa của Chư Tổ Ca Diếp và sự truyền thừa của Chư Tổ Thiền Tông không có thật.
28 Tháng Bảy 20196:00 SA(Xem: 137)
Hơn mười năm Hòa thượng hướng dẫn Tăng, Ni tu học tại thiền viện Trúc Lâm. Những năm tháng đầu, vì chúng tôi là một nhóm hợp chủng Tăng Ni từ tứ phương quy tụ về, nên Hòa thượng phải luôn răn nhắc, quở rầy để khép chúng tôi vào khuôn khổ lục hòa. Vì vậy, những lời Hòa thượng dạy Tăng, Ni trong thời gian đó, chúng tôi góp nhặt
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1029)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 2332)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 1239)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
17 Tháng Tám 20197:00 SA(Xem: 704)
Tủ Sách Và Các Bài Viết Của HT. Thích Thanh Từ
12 Tháng Tám 20197:04 CH(Xem: 146)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
04 Tháng Tám 20197:33 CH(Xem: 152)
Quyển sách này đã được dịch và ấn tống cho các Phật tử tu thiền trong nhiều năm qua. Những lời dạy từ căn bản giúp làm sâu sắc thêm việc thiền tập và phát sinh trí tuệ minh sát. Vì là trích chọn lại nên có nhiều chỗ, nhiều ý lặp đi lặp lại, nhưng bản thân sự lặp đi lặp lại cũng là một phong cách giảng dạy của thiền sư Ajahn Chah,
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 853)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 696)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 2860)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 1361)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1786)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4597)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;