Năm Hình Ảnh Trước Cửa Tử - Five Visions Of A Dying Man

10 Tháng Sáu 20198:59 CH(Xem: 147)
Năm Hình Ảnh Trước Cửa Tử - Five Visions Of A Dying Man

dhp016_B
(Illustration by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka)


Năm Hình Ảnh Trước Cửa Tử [1] - Five Visions Of A Dying Man
Ven. Rastrapal Mahathera - Hải Trần dịch Việt
Source-Nguồn: library.dhammasukha.org, trisieu.free.fr


__________________

Năm Hình Ảnh Trước Cửa Tử [1] 

Lời Tựa

 

Cuộc sống sau cửa tử và sự hiện hữu của không gian bốn chiều [2] là hai nan đề đã làm điên đầu bao triết gia, tâm lý gia, và các học giả về bản chất con người. Có nhiều quan điểm khác biệt đã được nêu lên, nhưng tựu trung, tất cả đồng ý rằng chúng ta đều phải chết. Thêm vào đó, người hấp hối thường có những cử chỉ lạ lùng như thể họ đang sống trong một thế giới nào khác mà chúng ta không cảm nhận được. Lúc đó, dường như họ đang sống trong ảo tưởng. Thế nhưng, nếu quan sát một cách tường tận, chúng ta có thể sẽ thấy rằng những "ảo tưởng" đó tuy khó tin nhưng có thật. Nhiều năm trước đây, là một nhà sư, tôi chứng thực được điều đó khi đứng cạnh giường của một người đang hấp hối. Kinh nghiệm này đã chấn động tinh thần tôi đến độ sau đó tôi phải bỏ công tìm tòi học hỏi thêm các khái niệm về chư Thiên trong Kinh Tam Tạng Phạn ngữ (Pali). Qua lời thỉnh cầu của chư Phật tử bốn phương, tôi xin viết lại câu chuyện trên với hy vọng rằng câu chuyện này sẽ trả lời được phần nào các thắc mắc đó. Nơi đây, tôi xin cám ơn sự khích lệ và đóng góp vào cuốn sách nhỏ này của các Ngài Thiền sư Munindra, Tiến sĩ Arabinda Barua, Giáo sư Sunil Barua, và Bà Krishna Barua.

 

Tỳ Kheo Rastrapal

 

*****

 

Câu chuyện tôi sắp kể ra đây xảy ra vào năm 1957. Lúc đó tôi thọ giới tỳ kheo được bốn năm. Tôi hoan hỉ hăng say học Phật Pháp. Trong đó, có câu chuyện về Phật tử Dhammika trong quyển Chú giải Kinh Pháp Cú làm tôi quan tâm hơn cả.

 

Cư sĩ Dhammika là một Phật tử tín tâm thời Đức Phật còn tại thế. Toàn thể gia quyến ông thực hành Phật Pháp rất nghiêm túc. Khi thọ bệnh, và nhận thấy mình sắp từ giã cõi đời, ông thỉnh cầu Đức Phật cho phép Tăng chúng đến tụng kinh bên giường bệnh. Lời thỉnh cầu của ông được Đức Phật chấp nhận. Ngài cử một số chư Tăng đến gia thất ông, và chư Tăng bắt đầu trì tụng Kinh Tứ Niệm Xứ.

 

Khi chư Tăng đang tụng kinh, thình lình ông la lớn: "Ngừng lại! Ngừng lại!".  Nghe vậy, chư Tăng rất lấy làm ngạc nhiên.  Vì nghĩ rằng ông Dhammika yêu cầu đừng tụng kinh nữa, chư Tăng bèn ngưng tụng và trở về tinh xá trình với Đức Phật.

 

Đức Phật hỏi sao chư Tăng về sớm vậy. Chư Tăng thưa rằng đó là vì cư sĩ Dhammika yêu cầu ngưng, và do đó chư Tăng quay trở về tuy chưa tụng hết bài kinh. Đức Phật nói rằng mọi người đã hiểu lầm ý người bệnh. Ngài giảng giải thêm rằng ý của ông ta hoàn toàn khác hẳn. Ông muốn chư Thiên đang đem xe đến đón ông về thiên giới hãy ngừng lại, đừng đưa ông đi vội,vì ông đang nghe kinh. Ông ta không hề có ý yêu cầu chư Tăng ngưng tụng kinh.

 

Trong Tam Tạng Kinh Điển và trong các sách Chú Giải, tôi cũng từng đọc được nhiều câu chuyện về sự xuất hiện của chư Thiên và ngạ quỷ trong giờ phút lâm chung, tùy thuộc vào nghiệp quả đã làm trong suốt cuộc đời của người hấp hối. Tôi rất thắc mắc, vì những câu chuyện này đi ngược lại với đường lối tôi lý luận lúc đó. Tôi tìm đến Hòa Thượng Jnanishwar, một học giả uyên thâm về Phật học trụ trì tại một ngôi chùa nổi tiếng ở vùng Unainpura tại quốc gia Bangladesh, và trình lên Ngài nỗi thắc mắc của mình. Ngài bèn niệm bài kệ sau:

 

"Niraye aggikkhandho ca petalokanca  andhakam,tiracchanayoninca mamsakkhandhanca manusam,vimanam devalokamhi nimittam panca dissare."

 

Có nghĩa là:

 

"Ai bị đọa xuống Địa Ngục sẽ thấy lửa; ai bị đọa làm ngạ quỷ sẽ thấy xung quanh mình tối tăm; ai sinh làm thú vật sẽ thấy rừng rú, súc vật và muông thú; ai sinh làm người sẽ thấy thân nhân đã khuất; và ai sinh lên cõi Trời sẽ thấy cung điện trên Thiên giới.

 

Thường thường, năm hình ảnh này sẽ hiện ra cho người hấp hối." [3]

 

Ngài Hòa Thượng đã cố công giải thích câu kệ trên cho tôi rất cặn kẽ, nhưng tôi vẫn không đồng ý cho lắm. Phải có một kinh nghiệm thực chứng nào đó họa may mới có thể thuyết phục tôi hoàn toàn tin tưởng vào câu kệ trên.

 

*****

 

Sau đó không lâu, tôi đã chứng thực được điều mình đang mong mỏi. Lúc ấy, tôi đang ở tại một ngôi chùa trong làng Tekota thuộc hải cảng Chittagong, nằm trong quốc gia Bangladesh. Một ngày kia, khi đi học về từ ngôi trường đại học cách chùa khoảng năm dặm, tôi cảm thấy rất mệt mỏi và muốn lên giường nằm nghỉ chốc lát. Bỗng đâu, có một cư sĩ ở làng bên đến chùa nhờ tôi đi thăm người anh rể tên là ông Abinash Chandra Chowdhury, vì ông này đau nặng và đang cơn hấp hối. Ông Chowdhury được năm mươi sáu tuổi, và là một Phật tử tín tâm, ai cũng biết đến tâm đạo của ông ta. Tôi đứng dậy và đi theo vị cư sĩ đến nhà người anh rể của ông ấy.

 

Đến nơi, tôi thấy nhà ông đã đông đủ bạn bè thân quyến. Tất cả đều nhường lối cho tôi tiến đến gần người hấp hối. Ông ta đang nằm trên một tấm nệm trải trên sàn. Lúc ấy khoảng 8:30 tối. Có người mang ghế lại mời tôi ngồi. Cả nhà trở lên im lặng khi tôi sửa soạn tụng kinh. Ai nấy đều hồi hộp vì trước đó, tôi đã từng ngỏ ý trong các bài thuyết pháp rằng tôi ước ao được kiểm chứng lại năm hình ảnh thường hiện ra trước giây phút lìa đời của người sắp chết. Giờ đây, giây phút quan trọng được mong chờ này đã đến.

 

Tôi bắt đầu tụng kinh. Sau khi tụng xong vài bài, tôi nghe người hấp hối thì thào một cách thành kính những chữ "Phật - Pháp - Tăng, Vô thường - Đau khổ - Vô ngã" và "Từ - Bi - Hỷ - Xả". Thế rồi, tôi nhận thấy ông ấy suy nhược hẳn đi. Để nhìn ông ta cho rõ, ngõ hầu chứng minh câu kệ về năm hình ảnh nọ, tôi yêu cầu mọi người cho tôi ngồi xuống sàn, cạnh người sắp quá vãng. Mọi người liền tuân theo ý tôi ngay.

 

Người hấp hối nằm nghiêng về phía tay trái đối diện tôi. Tôi đặt bàn tay phải của mình lên cánh tay phải của ông ta và hỏi thăm sức khỏe. Ông trả lời rằng giây phút lìa đời đã đến, và không còn hy vọng gì sống thêm nữa. Tôi cố gắng an ủi ông rằng ông mới có năm mươi sáu tuổi và không thể nào chết sớm như vậy. Suốt đời ông đã làm rất nhiều việc thiện, nêu lên bao nhiêu gương sáng cho mọi người trong làng, cho nên cuộc đời ông không thể bị vắn số như vậy được.

 

Thế rồi tôi hỏi ông có muốn thọ trì Ngũ Giới và nghe thêm kinh không. Ông ta bằng lòng. Sau khi cho ông thọ giới, tôi tụng kinh và nhận thấy ông ta lắng nghe với tất cả lòng thành kính. Khi ngừng tụng, tôi muốn biết ông có thấy hình ảnh nào không. Suốt thời gian tôi ngồi cạnh, cặp mắt ông ta nhắm nghiền. Cứ mỗi khoảng thời gian ngắn là tôi nhắc lại câu hỏi của mình. Ông ta cho biết rằng ông không nhìn thấy gì cả.

 

Khoảng 11:30 tối, đôi môi ông bắt đầu mấp máy. Những người đứng cạnh giường nhận ra rằng ông đang nói thấy cây Bồ đề tại Bồ đề Đạo tràng, nơi Đức Phật thành đạo. Có lẽ ông ta thấy cây Bồ đề vì đang nhớ lại chuyến hành hương của mình tại Bồ đề Đạo tràng. Tôi hỏi ông còn thấy gì khác. Ông nói một cách ngạc nhiên rằng hai vị sinh thành ra ông cũng ở đó và đang dâng hoa lên Vajrasana (Kim Cương Tọa) dưới cội cây Bồ đề. Ông ta nói như thế đến hai lần. Tôi nhờ ông hỏi song thân ông có muốn thọ Ngũ Giới không. Ông ta trả lời có và hai người đang chắp tay nhận giới.

 

Sau khi truyền Ngũ Giới cho song thân ông, tôi lại hỏi ông xem hai vị ấy có muốn nghe kinh không. Khi được trả lời rằng có, tôi bèn tụng bài Từ Bi Kinh. Tôi cảm thấy rất kích động với những diễn tiến vào lúc đó, vì chúng đã xảy ra giống câu kệ về năm hình ảnh nọ. Những người xung quanh cũng bị kích động không kém vì họ đang chứng kiến một sự kiện không thể ngờ.

 

Theo như lời kệ, tôi hiểu rõ ràng rằng hình ảnh cha mẹ quá vãng cho tôi biết ông sẽ tái sinh làm người và trong điều kiện sống rất cao đẹp, vì có hình ảnh của cây Bồ đề cùng với song đường. Thế nhưng, tôi cảm thấy với đức tin trong sạch, ông xứng đáng lên cõi cao hơn. Tôi tiếp tục hỏi ông còn thấy gì nữa.

 

Một lúc sau, tôi nhận thấy ông ấy có sự thay đổi. Hình như ông ta bắt đầu lo lắng cho cuộc sống trần thế và yêu cầu họ hàng giải nợ cho ông. Tôi hỏi ông thấy gì. Ông trả lời một cách yếu ớt rằng ông thấy một bộ tóc dài. Lúc ấy khoảng 1:40 sáng. Tôi hỏi: "Ông có thấy mắt không?" thì được trả lời rằng: "Không, vì bộ tóc đen phủ kín từ đầu đến gót."

 

Tôi không biết hình ảnh ma quái này có nghĩa gì, nhưng cũng đoán chừng rằng nếu ông ta chết vào lúc này thì sẽ tái sinh vào một cảnh giới thấp, nên tôi bắt đầu tụng kinh để xua đuổi con ma. Quả nhiên công hiệu, vì khi tôi hỏi con ma còn đó không, ông nói con ma đã biến mất. Ít lâu sau, khi tôi nhờ Hòa Thượng Jnanishwar và Hòa Thượng Silalankara giải thích, cả hai đều nói rằng nếu qua đời vào lúc bấy giờ ông ta sẽ tái sinh làm ngạ quỷ.

 

Hình như ông vẫn còn quyến luyến sự sống trên cõi thế gian vì ông nài nỉ thân nhân cất giữ tấm nệm dưới giường ông nằm cho người con trai duy nhất mang tên là Sugata Bikash Chowdhury. Người con trai này còn kẹt ở xa, tận tỉnh Durgapur thuộc Ấn độ. Ông không muốn tấm nệm bị hỏa thiêu theo xác ông theo tục lệ của nhiều Phật tử ở hải cảng Chittagong thuộc quốc gia Bangladesh. Sau đó, ông bị kiệt sức rất nhiều.

 

Tôi hỏi ông còn thấy những gì. Ông ta trả lời rằng ông thấy hai con chim bồ câu đen. Tôi hiểu tức thì rằng đó là hình ảnh của thế giới loài thú, nơi ông sẽ tái sinh. Lúc này đã 2:00 giờ sáng. Tôi không muốn ông thọ sinh làm kiếp thú nên tiếp tục tụng kinh. Khi tụng xong vài bài, tôi lại hỏi ông thấy gì. Lần này, ông trả lời rằng không thấy gì cả.

 

Tôi tiếp tục tụng kinh. Một lúc sau, tôi hỏi ông có thấy gì nữa không. Tôi phải nhắc lại câu hỏi nhiều lần. Cuối cùng, ông ta nói một cách ngạc nhiên rằng ông thấy một cỗ xe từ thiên giới đang tiến đến gần. Mặc dù biết rằng không một chướng ngại vật nào có thể ngăn cản được cỗ xe đó, nhưng vì lòng tôn kính đối với chư Thiên, tôi yêu cầu thân quyến của người hấp hối đứng xa ra, nhường chỗ cho cỗ xe đậu lại. Xong, tôi hỏi ông cỗ xe đó cách xa ông bao nhiêu. Ông đưa tay ra dấu cho biết cỗ xe đó đang ở sát cạnh giường.

 

Khi được hỏi có thấy ai trong xe không, ông ta trả lời rằng có những vị thiên nam và thiên nữ trong xe. Tôi nhờ ông hỏi ý chư Thiên có muốn thọ Ngũ Giới không, vì tôi được biết qua kinh điển rằng chư Thiên rất vâng lời và kính trọng chư Tăng và các vị cư sĩ tại gia có đạo tâm.

 

Khi được trả lời rằng có, tôi liền làm lễ truyền Ngũ Giới cho chư Thiên và hỏi các Ngài có muốn nghe Từ Bi Kinh không. Khi biết chư Thiên đồng ý, tôi bèn tụng hết cả bài kinh. Tôi lại hỏi chư Thiên có muốn nghe Hạnh Phúc Kinh (Mangala Sutta) không, và tôi tụng bài này khi chư Thiên tỏ ý bằng lòng.

 

Khi tôi hỏi các Ngài có muốn nghe thêm bài Linh Bảo Kinh (Ratana Sutta) không, thì người hấp hối xua tay ra dấu rằng chư Thiên bảo không còn thì giờ nghe kinh nữa. Sau đó, ông ta cho biết chư Thiên muốn tôi trở về chùa.

 

Tôi hiểu rằng chư Thiên nóng lòng muốn rước người bệnh lên thiên giới, nhưng tôi tìm cách ngăn cản để kéo dài sự sống cho ông ta trên mặt đất này. Tôi nhờ ông mời chư Thiên lui gót vì chưa đến lúc ông ấy chết. Tôi lý luận rằng ông ta mới có năm mươi sáu tuổi, cho nên tôi dám chắc rằng chư Thiên đã lầm lẫn. Tất cả mọi người có mặt và cả tôi nữa sẵn lòng hồi hướng phước báu của mình đến các Ngài để đổi lấy sự sống cho ông ta.

 

Tôi lại hỏi người hấp hối còn thấy hình ảnh gì nữa không. Ông trả lời rằng song thân ông còn quanh quẩn bên cây Bồ đề. Như vậy, chỉ có nghĩa là tâm ông còn vướng bận cảnh trần rất nhiều và ông sẽ tái sinh làm người. Một lần nữa, tôi đề nghị tất cả chúng tôi hồi hướng phước báu đến cha mẹ ông đã quá vãng, và sau khi thọ hưởng rồi, hai ông bà phải ra đi như chư Thiên đã ra đi vậy.

 

Theo dấu hiệu của người hấp hối thì hình như người cha đồng ý, nhưng người mẹ thì không. Tôi tỏ vẻ nghiêm cẩn với bà mẹ vì chư Thiên đã đồng ý với tôi thì hai người không nên từ chối. Tôi nói rằng nếu hai người vẫn có hành động như thế, e rằng sẽ gây ra các hậu quả không tốt cho hai người mà thôi. Tôi phải nói mãi họ mới chịu nghe. Cuối cùng, cả hai biến mất.

 

Bây giờ thì không còn bóng hình nào lảng vảng trong tâm người bệnh nữa. Trông ông ta thay đổi hẳn. Ông ta hít một hơi dài và có nhiều sức sống. Khi có người cầm đèn đến gần để soi mặt ông, ông ta nói: "Đừng lo nữa, tôi không chết đâu." Nhận thấy ông đã khỏe hẳn, tất cả chúng tôi đều cảm thấy nhẹ nhõm và vui mừng.

 

Chúng tôi đều bị kích động với những diễn tiến vừa qua. Lúc đó đã 5:00 giờ sáng. Mọi người vừa trải qua một đêm không ngủ, nhưng không ai tỏ ra mệt mỏi, vì sự kiện trên quá hấp dẫn và thu hút. Tôi từ giã mọi người, quay trở về chùa, đi tắm, ăn sáng, và sau cùng lên giường chợp mắt.

 

Khoảng 10:30 sáng, nghe tiếng động ngoài phòng, tôi đi ra xem chuyện gì thì thấy ông khách tối qua. Tôi hỏi ông nguyên do trở lại chùa thì được biết ông ta đến đón tôi vì sau năm tiếng đồng hồ khỏe mạnh ông Chowdhury lại bị đuối sức và cái chết lại cận kề.

 

Tôi vội vàng theo người khách trở lại nhà ông Chowdhury. Trên đường, tôi gặp rất nhiều người trong làng lũ lượt kéo nhau đi cùng hướng với tôi, và khi đến nhà ông Chowdhury, tôi thấy rất đông người đứng chật cả nhà. Đó là vì tiếng đồn về sự kiện xảy ra từ đêm trước. Mọi người rẽ ra nhường lối cho tôi tiến đến giường bệnh.

 

Tôi ngồi bên cạnh người hấp hối hỏi thăm sức khỏe. Ông ta trả lời rất yếu ớt rằng ông không sống được nữa. Tôi khuyến khích ông và nhắc nhở ông những việc thiện ông đã làm trong đời. Lâu lâu tôi lại hỏi ông có thấy ai không, nhưng ông ta không thấy gì cả.

 

Khoảng 11:20 sáng, một cụ lão tên là cụ Mahendra Chowdhury khoảng 86 tuổi nhớ ra giờ ăn chót trong ngày của tôi sắp qua nên nhắc tôi độ ngọ. Tôi cương quyết từ chối vì không thể rời giường bệnh vào lúc đó cho dù là để ăn cơm.

 

Câu nói của tôi làm bầu không khí căng thẳng thêm vì ai cũng chờ đợi những diễn tiến tiếp theo tối trước ra sao. Tôi lại hỏi người hấp hối thấy gì không. Lần này, ông ta trả lời: "Có, chư Thiên lại đem xe đến nữa."

 

Sự xuất hiện của chư Thiên ngay sau khi tôi từ chối ăn trưa làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Sau này, khi tôi nhờ Hòa Thượng Jnanishwar và Hòa Thượng Silalankara giải thích, cả hai đều nói rằng chư Thiên chờ tôi đi độ ngọ, để khi tôi vắng mặt là chư Thiên đón ông ta về trời ngay. Thế nhưng vì tôi không chịu bỏ đi, nên các Ngài đành đến rước ông ta vậy.

 

Người bệnh cho tôi biết chư Thiên thỉnh cầu và năn nỉ tôi trở về chùa. Khi tự hỏi tại sao, tôi bỗng hiểu sở dĩ các Ngài ngần ngại không rước người bệnh đi khi tôi còn ở đó vì các Ngài mang ơn tôi đã ban Ngũ Giới và tụng kinh cho các Ngài. Sau này, nhị vị Hòa Thượng cũng nói thế.

 

Vì cảm thấy người bệnh không thể trốn tránh cái chết được nữa, tôi nhờ ông thưa cùng chư Thiên rằng: "Xin chư Thiên tự nhiên rước ông ta đi, cho dù tôi đang có mặt tại nơi đây. Tôi không phản đối nữa. Tôi rất hoan hỉ cho phép ông ta ra đi." Sở dĩ tôi nói vậy vì ông ta sẽ đi về thiên giới, rất xứng đáng với các công đức ông đã làm và đó là điều tôi chân thành ao ước cho ông. Tiếp theo, tôi yêu cầu bà vợ và thân quyến của ông nói lời giã biệt một cách vui vẻ.

 

Đây là lúc mọi người sửa soạn cuộc hành trình cuối cùng trong đời của người hấp hối. Trước khi ra đi, ông nói: "Thôi, tôi đi dây." Vẻ mặt ông rất hân hoan và xán lạn.

 

Tôi bèn nâng đầu và vai ông, còn người khác nắm chân. Chúng tôi đặt ông nằm ngửa cho thẳng thắn. Tôi nhỏ vài giọt nước đường vào miệng ông. Tiếp theo, tôi đặt bàn tay phải của mình lên ngực ông ta. Tôi cảm thấy còn rất nhiều hơi ấm. Người đang chết hình như còn tỉnh thức và đang lẩm nhẩm những câu kinh nhật tụng.

 

Thế rồi, ông ta giơ bàn tay phải lên như đang tìm kiếm một vật gì. Tôi không hiểu ông muốn gì. Có người trong đám đông đề nghị có lẽ ông muốn sờ chân tôi như đêm trước ông đã từng làm như vậy, vì tôi đang ngồi trên sàn cạnh ông.

 

Tôi đưa chân phải của mình đến gần để ông ấy có thể đưa tay ra sờ được. Khi sờ được chân tôi xong, trông ông có vẻ mãn nguyện. Sau đó, ông giơ bàn tay vừa đụng vào chân tôi lên trán mình và sau cùng xuôi thẳng tay đặt bên hông.

 

Tôi cảm thấy hơi ấm ở ngực ông bớt dần. Khoảng một hay hai phút sau, cơ thể ông ấy giật lên và trút hơi thở cuối cùng. Khi xác ông hoàn toàn lạnh, tôi rút tay về và nhìn quanh. Mọi người xung quanh ngồi hay đứng đều hoan hỉ và an nhiên tự tại.

 

Cả nhà không một tiếng khóc. Đó là một cuộc tiễn đưa người chết rất hay, theo đúng lời tôi căn dặn trong các buổi thuyết giảng. Tôi từ giã mọi người và bảo thân nhân bạn bè người chết bây giờ có thể tha hồ khóc lóc, vì vào lúc này sự thương tiếc không còn ảnh hưởng đến người quá vãng nữa.

 

*****

 

Câu chuyện trên đã đánh tan mọi mối nghi ngờ từ trước về câu kệ diễn tả năm hình ảnh xuất hiện trong trí người sắp chết do Hòa Thượng Jnanishwar đọc và tôi cũng từng thấy những câu tương tự trong kinh điển. Sau này, khi phân tích về cái chết của ông Chowdhury, tôi nhận ra rằng mỗi giai đoạn đều có một hình tướng (nimitta) tương xứng với trạng thái của tâm (citta).

 

Cảnh cây Bồ đề và cha mẹ đã khuất là kết quả của nghiệp tướng (kammanimitta). Đó là yếu tố quan trọng trong tâm thức do thiện nghiệp gây ra. Thế nhưng, sau này, ông ta thấy người tóc dài và hai con chim bồ câu hoặc hình ảnh ngạ quỷ. Đó là dấu hiệu của những việc bất thiện ông đã làm.

 

Nghe kinh tụng đã xua đuổi được tư tưởng bất thiện và kết quả là hình ảnh ma quái lẫn muông thú biến mất. Tâm trở nên an tịnh nhờ nghe kinh kệ và thọ Ngũ Giới nên hình ảnh chư Thiên xuất hiện. Cho đến phút cuối, trạng thái tâm trong sạch này mạnh hơn hết. Tâm này còn mạnh hơn cả tâm khi thấy song thân. Hình ảnh cha mẹ đã biến mất để cuối cùng con đường lên thiên giới hiển lộ cho người hấp hối thư thái ra đi.

 

*****

 

Kết luận câu chuyện này là giây phút cuối trong đời sẽ có ảnh hưởng mạnh đưa chúng ta về cảnh giới cao hơn hay thấp hơn. Vì thế, bổn phận của thân nhân người đang hấp hối là hãy nhắc nhở cho người đó những việc thiện đã làm trong đời và tụng kinh niệm Phật luôn luôn. Chúng ta không nên làm tâm thức người đó mê mờ qua sự khóc than hay khiến họ lo nghĩ đến chuyện thế tục.

 

Tôi cũng hiểu thêm rằng cho dù mộ đạo hay làm việc thiện đến đâu chăng nữa, chúng ta không thể đạt được giải thoát hoặc lên cõi Niết bàn. Mọi hành vi thiện chỉ có thể giúp chúng ta tái sinh lên cõi an vui như cõi trời hoặc Phạm Thiên chẳng hạn.  Chỉ khi hành thiền Tuệ Quán (Vipassana-bhavana) chúng ta mới thoát khỏi được mười kiết sử (dasa samyojana) và đạt được bốn quả Thánh đưa đến Giải Thoát. Bốn quả Thánh đó là Nhập Lưu, Nhất Lai, Bất Lai và A-la-hán.

 

Ba kiết sử đầu tiên là thân kiến (sakkaya-ditthi), hoài nghi (vicikiccha), và giới cấm thủ (silabbata-paramasa) chỉ vượt qua được khi đạt quả Nhập Lưu. Ai đã đạt được quả vị này sẽ không tái sinh vào bốn khổ cảnh: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, và A-tu-la [3].  Không những thế, các Ngài không tái sinh quá bảy lần. Khi lâm chung, các Ngài chỉ thấy hình ảnh cõi người hay cõi trời mà thôi.

 

Ai hành thiền tiến xa hơn nữa sẽ đạt được quả vị Nhất lai khi kiết sử thứ tư là dục ái (kamaraga) và thứ năm là sân hận (patigha) đã bị suy yếu. Các Ngài chỉ còn tái sinh thêm một lần mà thôi. Hình ảnh hiện ra khi hấp hối cũng là hình ảnh cõi người hay cõi trời.

 

Người nào hành thiền và diệt được hoàn toàn kiết sử thứ tư và thứ năm, nghĩa là dục ái (kamaraga) và sân hận (patigha), sẽ không tái sinh lại cõi người nữa. Các Ngài sẽ tái sinh vào thiên giới gọi là Tịnh Cư Thiên, và sẽ nhập Niết bàn sau đó. Những vị này chỉ nhận được hình ảnh chư Thiên khi hấp hối.

 

Khi hành thiền nếu tiến được xa hơn, chúng ta có thể đạt được quả A-la-hán khi loại trừ năm kiết sử còn lại. Đó là sắc ái (rupa-raga), vô sắc ái (arupa-raga), mạn (mana), trạo cử (uddhacca), và vô minh (avijja). Các Ngài đã đạt được quả vị cuối cùng, và khi lìa cõi đời sẽ không thấy hình ảnh gì cả.

 

Niết bàn là đích cuối cùng do Đức Phật tìm thấy qua thiền Tuệ Quán. Các đệ tử của Ngài đi trên con đường do Ngài chỉ dạy, và phải nhờ thiền Tuệ Quán mới đạt đến Niết bàn. Những hình ảnh hiện ra chỉ là những ánh đèn khi mờ khi tỏ tạm soi kiếp sống con người. Mục tiêu cuối cùng, ngọn đèn sáng thật sự ở cõi Niết bàn, chỉ đạt được qua thiền Tuệ Quán mà thôi.

 

*****

Vài điều sơ lược về tác giả

 

Hòa Thượng Rastrapal hiện đang dạy thiền và là vị trụ trì tại Trung Tâm Thiền Học Quốc Tế (International Meditation Centre) tại Bồ đề Đạo tràng (Bodh Gaya), thuộc Ấn độ.

 

____________________

 

 

[1] Lời người dịch: Nguyên bản "Five Visions of a Dying Man", tác giả Hòa Thượng Rastrapal, thuộc loạt sách Lá Bồ đề, số 150 (Bodhi Leaves No. 150) do Hội Ấn tống Kinh sách Phật giáo (Buddhist Publication Society) tại Tích Lan xuất bản, năm 2000.

 

[2] Lời người dịch: Chiều thứ tư thuộc về thời gian, ba chiều kia là chiều ngang, chiều dọc và chiều sâu. Thế giới chúng ta đang sống có ba chiều. Theo giả thuyết, nếu được sống trong không gian bốn chiều, chúng ta có khả năng đi ngược về quá khứ hay tiến thẳng đến tương lai rất dễ dàng.

[3] Lời người dịch: Tỳ kheo Tịnh Đức có bình luận thêm rằng nếu người hấp hối thấy máu, đâm chém hoặc hình ảnh nào có sắc thái giận dữ thì sẽ tái sinh trong cõi A-tu-la. Có hai loại A-tu-la (Asuras): A-tu-la Thiên và A-tu-la thọ khổ.

Five Visions Of A Dying Man


Preface

Life beyond death and extra-temporal existence have so far posed most baffling questions to philosophers, psychologists, and students of human nature. Various opinions are held in this matter, but one thing that is certain is that we all must die. And on the very eve of death the passing person is often found to behave in a mental haze under the spell of some extra-temporal spirits. Psychologically these mental stages may be termed illusion, hallucination, or delusion. But sometimes, to an earnest observer, it might so happen that the whole phenomenon becomes a striking fact far stranger than fiction. One such thrilling experience happened to me many years ago when, as a monk, I stayed by the bedside of a dying gentleman. The experience had such an overwhelming impact on my mind that I subsequently undertook painstaking research on the conception of gods in the Pali Tipitaka.

 

Under the pressing demands from different quarters, I cannot resist the temptation to record my old experience, thereby holding a torch up for the large number of inquisitive persons who, I believe, will surely find this report interesting and illuminating. In this short venture I thankfully acknowledge the inspiration and cooperation received from the meditation teacher Anagarika Munindra, Dr. Arabinda Barua, M.A., Ph. D. (London), Barrister-at-Law, Prof. Sunil Barua, B. Sc., M.A., LL.B., B.Ed., and Smt. Krishna Barua, B.A.

 

Ven. Rastrapal Mahathera

 

*****

 

The incident to be described took place in 1957, four years after I had received higher ordination as a Buddhist monk. I was filled with enthusiasm and a great yearning to learn all that could be learnt about Buddhism. During the course of my studies the story of Dhammika Upasaka, as related in the Dhammapada Commentary, drew my attention.

 

Dhammika Upasaka was a devoted follower of the Buddha. Along with the members of his family he used to observe the tenets of the Dhamma most punctiliously. Once he fell ill and when he felt that he was nearing death, he sent to the Buddha for a number of monks to recite suttas by his bedside. The monks were accordingly sent and they started chanting the Satipatthana Sutta.

 

When they had chanted half the sutta he abruptly shouted, "Stop! Stop!" Hearing this, the monks were surprised. Thinking that the Upasaka had asked them to stop chanting, they stopped and went back to the Buddha.

 

The Buddha asked them why they had returned so early. They said that the upasaka asked them to stop, and that was why they had come back early before finishing the recital of the sutta. Lord Buddha told them that they must have misunderstood what the upasaka had said. The real cause, the Buddha explained, was otherwise. The upasaka had asked those devas (gods), who had come to take him to the heavens in their chariots, to stop their attempts to get him to come along. He had not asked the monks to stop their chanting.

 

I also came across stories in the Tipitaka and Commentaries about the appearance of gods or evil spirits at the moment of a person's death, in accordance with his kamma or action in his worldly life. I was perplexed by these stories as they did not agree with my rational mind. I approached the Venerable Jnanishwar Mahathera a profound scholar in Buddhism, who was the resident monk of a well-known monastery at Unainpura in Bangladesh. I put my problem to him. He related a gatha (verse) which was as follows:

 

"Niraye aggikkhandho ca petalokañca andhakam,

tiracchanayoniñca mamsakkhandhañca manusam,

vimanam devalokamhi nimittam pañca dissare."

 

"Those who will go to hell see the vision of a mass of fire, those who will go to the world of the petas see darkness and gloom all-around, whose who will take birth as lower animals see visions of forests and animals and other creatures, those who will take birth as human beings see the vision of their dead relations, and those who will take birth in the celestial worlds have the vision of the heavenly palaces. These are the five visions which usually appear before a dying person." *

 

______________________

 

* Editor's note: The Pali verse and the English translation that is offered are not in complete agreement, but I am unable to locate the original of the verse to see if a line is missing.

 

The Venerable Mahathera explained this verse to me at great length, but I was left only half convinced. I needed a personal experience of the import of the verse to be fully convinced.

 

It was not long before I had the experience for which I longed. At the time I was staying at a vihara in a village named Tekota in Chittagong (Bangladesh). One day, after I returned from my college, which was some five miles away from my vihara, I was extremely tired and wanted to take a little rest in bed. Just then one gentleman from a neighbouring village came to the vihara and asked me to accompany him to the bedside of his brother-in-law, Mr. Abinash Chandra Chowdhury, who was seriously ill and was almost on the verge of death. The dying gentleman, who was fifty-six years of age, was a devout Buddhist and was well known for his piety. I got up and set out for his home.

 

When I reached his house, I found the place packed with his relatives and friends. They made way for me and on approaching the dying person I found him lying on a mattress spread on the floor. It was then about 8:30 in the evening. I was given a chair to sit upon. Before I started chanting the suttas appropriate for the occasion, a hush of silence descended over the place. People around were all in suspense. On many earlier occasions I had told the villagers in the course of my discourses that I was keen to verify what was stated in the verse about the appearance of the five visions at the moment of a person's death. It was, indeed, such a moment that had arrived.

 

I started to chant and when I had finished chanting a couple of suttas I heard the dying man feebly uttering the words "Buddha-Dhamma-Sangha, Anicca-Dukkha-Anatta" and "Metta-Karuna-Mudita-Upekkha" at intervals with much devotion. Next I observed that his condition was fast deteriorating. In order to have a close look at him to test the veracity of the verse about the five visions, I asked the people to spread a seat for me on the floor, beside the dying man. This was done.

 

The dying man was lying on his left side facing me. I placed my right hand on his right forearm and asked him how he was feeling. The reply was that the time had come for him to leave the world and he had no hope of living any longer. I tried to console him by saying that he was then only fifty-six years of age and could not possibly die so early in his life. His life devoted to righteousness, which was such a source of inspiration to his co-villagers, could not be cut short so soon.

 

I then asked him whether he would like to take the Five Precepts and hear some suttas. He replied in the affirmative and after administering the Five Precepts I recited a few suttas, which he listened to with great devotion. After pausing I felt curious to know whether he had any vision appearing before him. His eyes were closed all the time I sat by his bedside. I went on repeating my query at short intervals. He told me that he was having no vision at all.

 

At about 11:30 P.M. he muttered something. All of us at his bedside could make out that he was telling about the vision of the Bodhi Tree at Buddhagaya, where the Buddha had attained Full Enlightenment. The vision of the Bodhi Tree was perhaps a reminiscence of his visit to Buddhagaya. Then I asked him whether he had the vision of any other objects there. He exclaimed that his deceased parents were there and they were offering flowers to the Vajrasana ("diamond seat") under the Bodhi Tree. This he repeated twice. I then told him to ask his parents whether they would like to take the Five Precepts. He said they would and they were already waiting with folded hands to receive the precepts.

 

After administering the Five Precepts I again asked him whether his parents would like to listen to some suttas. When he replied in the affirmative I recited the Karaniya Metta Sutta. I felt thrilled at the turn of events, which coincided with the words of the verse on the five visions. Others present there also seemed to be thrilled. They were watching the scene with great excitement as this was something unprecedented for them.

 

It was then clear to me, on the basis of the verse, that the vision he had of his parents indicated that he was going to take birth in the world of human beings, and that also on a higher plane of human existence as he had the vision of the Bodhi Tree along with his parents. But I felt that a man of his devotion and piety deserved rebirth in a still higher plane of existence and I went on asking him whether he was having any other visions.

 

A little while later I found a change coming over him. He seemed to have turned worldly-minded and asked his relatives to free him from his debts. At that moment I asked him whether he was having any other vision before him. He feebly exclaimed he was seeing long hair. It was then 1:40 A.M. I asked him, "Do you see some eyes?" He replied, "I don't, because it is covered from head to foot with dark hair."

 

I could not make out what this apparition signified, but I guessed that if death had come to the gentleman at that moment he would have been reborn in some lower plane of existence. On a later date, when I wanted to have this vision clarified by the Venerable Jnanishwar Mahathera and from another learned monk, the Venerable Silalankara Mahathera, they both were of the opinion that the apparition meant that the dying man might have gone to the world of the petas if he had died at that moment. At that stage, in order to drive out the apparition, I started chanting the suttas. This had the desired result, for when I asked him whether the apparition was still there, the dying man exclaimed that it had vanished.

 

His attachment to his earthly existence seemed to be still persisting as he next asked his relatives to remove from under his bed a newly made mattress which he wanted to be kept for his only son, Mr. Sugata Bikash Chowdhury, who was then staying at a distant place, Durgapur in India. He did not want the mattress to be burnt with his dead body as was the custom with some Bangladeshi Buddhists in Chittagong. Thereafter he again fell into a state of extreme exhaustion.

 

I asked him what he was experiencing then. He replied he was seeing two black pigeons. At once I realized that it was the vision of the animal world where he was going to be reborn. The time was then 2 A.M. I did not want him to pass into the animal world and I again started reciting the suttas. When I had finished a few suttas, I again asked him whether he was having any vision. This time he replied there was no vision before him.

 

I then resumed discourses on the Dhamma and after a while again asked him whether any other vision was before him. I had to repeat my question several times and at last he exclaimed that he had seen a heavenly chariot approaching. Although I knew that no barrier could stand on the way of the heavenly chariot, still in honour of the devas I asked the relatives of the dying man to make way for the approach of the chariot. I then asked him how far the chariot was from him. He made a sign by his hand to indicate that it was by his bedside.

 

On asking him whether he saw anyone in the chariot, he said there were male and female heavenly beings in the chariot. I then told him to ask the heavenly beings whether they would take the Five Precepts. I had read in the scriptures that the devas obey and respect not merely monks but also pious lay devotees.

 

On his conveying their assent I administered the Five Precepts and thereafter I again asked whether they would listen to the Karaniya Metta Sutta. With their consent I recited the sutta. Again I asked whether they would like to listen to the Mangala Sutta and I recited the sutta when they gave their consent.

 

When I again asked whether they would listen to the Ratana Sutta, this time the dying man waved his hand to signify that the heavenly beings were not willing to listen to this sutta. He thereupon told me that the devas wanted me to go back to my vihara.

 

I then realized that the devas were getting impatient to take him to heaven, but I wanted to intercede and prolong his life on this earth. I told the dying man to tell the devas to depart as it was not yet time for his death. As he was only fifty-six years of age, I was sure the devas had come to take him to heaven by mistake. I myself and all others present there were ready to transfer our merits to the devas in exchange for which we would beg them to spare his life.

 

I again asked the dying man whether any other vision was present. He replied that his parents were still lingering on under the Bodhi Tree. This could have but one meaning, namely, that the pull from the human world was still very strong on him and he would be reborn as a human being. Again I suggested that we all offer our accumulated merits to his departed parents, in exchange for which they should take their leave, just as the devas had done.

 

From the indication made by the dying man it seemed that his father was willing to accede to my request but not his mother. I expressed resentment at this intransigence on the part of the mother and through the dying man excitedly told his parents that when the devas had agreed to heed my request, it was quite improper for them to refuse. This sort of conduct, I said, could cause them harm. I had to repeat this remonstrance several times, and at last it produced the desired effect. The parents, I could gather, had at last taken their leave.

 

Now that all the visions that had appeared to the dying man were gone, a visible change came over him. He took a deep breath and again showed signs of vitality. When one of his relatives came near him with a lamp in hand to take a close look at him, he exclaimed, "Don't worry any more, I am not going to die." When we saw the dying man coming to life again, a wave of joy and relief passed over all of us.

 

We all felt overwhelmed by this unprecedented scene, which had unfolded in a kaleidoscopic manner. It was then five o'clock in the morning. Everyone present had passed the entire night without sleep, but strangely no one showed any sign of exhaustion, so absorbing and thrilling had the incident been. I then took my leave, went back to my vihara, took a bath, had breakfast, and went to bed to take a nap.

 

At about 10:30 A.M. I heard a sound outside my room. On coming out I saw the same gentleman who had come to fetch me the evening before. I asked him why he had returned. He told me that he had come to fetch me again as Mr. Chowdhury, after passing some five hours in a good condition, had developed signs of complete exhaustion and his end appeared to have come.

 

I quickly returned to the house of Mr. Chowdhury in the company of the gentleman. I found long treks of villagers going in the same direction, and when I reached the house it was overflowing with the crowds of people who had gathered there on hearing of the unprecedented events of the night before. All made way for me to reach the bedside of the dying man.

 

I took my seat by the dying man's bedside and asked him how he was feeling. He feebly replied that he could not survive any longer. I gave him words of encouragement and urged him to remember the good deeds he had done in his life. I occasionally asked him whether he had any vision before him, but each time the reply was "No."

 

It was then 11:20 A.M. and one of his relations, Mr. Mahendra Chowdhury, who was an old man of 86, realizing that the time for my last meal of the day would soon be over, asked me to have my meal. I told him, with some vehemence, that I could not possibly leave the side of the dying man at that moment, even for my meal.

 

This created a tense situation, as all the crowd that had assembled there were feverishly awaiting to see the trend of events that might follow. I again asked the dying man whether he was having any vision. This time he said, "Yes, they have come again, the devas in the chariot."

 

The appearance of the devas at that stage, when I insisted on staying at the dying man's bedside after refusing my last meal of the day, intrigued me for a long time. Later, when I asked the Venerable Jnanishwar Mahathera and the Venerable Silalankar Mahathera to clarify this matter, they both told me that the devas must have been waiting for me to depart for my meal; then in my absence, they would take the dying man away to heaven. But when they found that I insisted on staying at the dying man's bedside, they at last arrived to take him away.

 

The dying man then told me that the devas were imploring me to go back to my vihara, and they were insistent on this. Asking myself why, I realized that this hesitancy of the devas to take away the dying man from my presence must be due to their obligation to me for giving them the Five Precepts and reciting the suttas for them. I later got confirmation of my conviction on this point from the Venerable Mahatheras when I related the incident to them.

 

As I felt that his death was inevitable, I asked him to tell the devas, "You can take him away from my presence. I have no objection to your doing so. I most gladly give him permission to leave us." This I did because he was going to the region of the devas, to which he was entitled by virtue of his merits and which I sincerely wished for him. I next asked his wife and his other near relations to bid him a glad farewell, which they all did.

 

The stage was now set for his final departure for the next world. He took his last leave from all of us with the words, "I am going now." Those were the last words uttered by the dying man. His face was bright and full of beatitude.

 

Thereafter, I took hold of his head and shoulders on the one end, and asked another man to get hold of his legs. We stretched him flat on his back and I poured a few drops of sweet water into his mouth. Then I placed my right hand on his chest. I felt it to be quite warm. The dying man, as I had guessed, was still conscious and seemed to be muttering to himself the devotional phrases that he used to recite throughout his life.

 

Thereafter, he lifted his right hand with great effort and moved it in a way which suggested that he was seeking for something. I could not make out what he wanted. Someone in the crowd suggested he might be trying to touch my feet, which the previous night, too, he had occasionally done.

 

I then moved my right foot closer so he could touch it with his outstretched hand. The touch seemed to bring him great satisfaction, as could be seen from the expression on his face. He next touched his forehead with that hand and then placed the hand straight by his side.

 

I felt the warmth in his chest gradually decreasing. After a minute or two he gave a sudden jerk with his body and breathed his last. Thereafter he became still. When the body was quite cool I withdrew my hand from his chest and looked around. I saw everyone either sitting or standing quite calmly.

 

No one wept nor were there any sounds of lamentation coming from any quarter. This was a fitting final farewell to a dying man, quite in conformity with the instructions I had given my devotees in the course of my discourses on religious matters. I then left the house, telling the relatives and friends of the dead person to weep or lament if they liked, as at that point such lamentations could no longer have any effect on the dead person.

 

This incident at long last put an end to whatever doubts I might previously have had about the veracity of the verse relating to the appearance of the five visions, which had been told to me by the Venerable Jnanishwar Mahathera and which I had also read about in the scriptures. Later, when I turned my analytical mind to the case of the dying man, I found that at every stage the nimittas (visions) had appeared in accordance with the state of his mind (citta).

 

The sight of the Bodhi Tree and of his deceased parents were the results of his kamma nimitta, that is, the predominant factor which prevailed in his consciousness due to the force of the actions done by him in his present life. But when, at intervals, he saw the vision of a hairy person or pigeons or fearful demons, those were the signs when his mind was temporarily overcome by worldly clingings or by recollections of bad deeds done by him during his life.

 

The recital of the suttas drove away the evil thoughts and consequently the apparitions disappeared. The purification of the mind that took place by hearing the suttas and taking the Five Precepts made the appearance of the devas possible. Until the end, this state of mind was more powerful than any other. It was even more powerful than the lingering vision of his parents, which had to disappear for the way to be made absolutely clear for the dying man to go to the heavenly region after his passing away from this world.

 

*****

 

The conclusion that one can draw from this incident is that the last moment in the life of a person determines whether he will be reborn in a higher plane of existence or in a lower one. It is therefore the duty of all well-wishers of a dying person to pacify his mind by reminding him of the good deeds he had done in this life and by reciting suttas and gathas. One should not cloud his mind by weeping or lamentation or by drawing his mind to worldly affairs.

 

It is also my understanding that however pious or devoted a person might be, no amount of good deeds on his part can bring him ultimate deliverance or enable him to realize Nibbana, the supreme goal of life. Good deeds can only lead to rebirth in happy planes of existence in the next world, the highest being the Brahma-world. It is only through the practice of insight meditation (vipassana-bhavana) that one can overcome the ten fetters (dasa samyojana) and attain the four stages of liberation: sotapatti (stream-entry), sakadagami (once-returning), anagami (non-returning), and arahatta (full liberation).

 

Of the ten fetters, the first three, namely, self-delusion (sakkaya-ditthi), doubt (vicikiccha), and clinging to mere rule and ritual (silabbata-paramasa), can be overcome by attaining the first stage of sanctification, stream-entry. A person who has attained this stage will not take birth in the nether worlds—hell (niraya), ghost (peta), and animal (tiracchana), realms—and will not be reborn more than seven times; for them, no vision of the three nether worlds will appear at the time of death. They may have the visions only of the human world or the celestial realms.

 

A person who makes further progress in meditation and reaches the stage of once-returner by subduing the fourth and fifth fetters, namely, sensual lust (kamaraga) and ill-will (patigha), will be reborn once more only. For them too the first three visions will not appear, but only one of the two happy visions will appear before death.

 

A person who has attained the stage of non-returner through the pursuit of further meditation, by completely annihilating the former two fetters, namely, sensual lust and ill-will, will not be reborn again in this world but will be reborn in the Brahma-world, from which he will attain final deliverance. Such a one will have only one vision, namely, that of the devas.

 

After attaining this stage, through the pursuit of further meditation a person attains the stage of arahantship by annihilating the remaining five fetters, namely, greed for fine-material existence (rupa-raga), greed for immaterial existence (arupa-raga), conceit (mana), restlessness (uddhacca), and ignorance (avijja). Such a person will not be born again as he has attained final deliverance, and thus no vision of any kind can appear before him at the moment of death.

 

Nibbana is the final goal of life discovered by the Buddha. This discovery was made by him through personal experience by the practice of meditation. His true followers are those who tread the path indicated by him, and it is only through the pursuit of meditation that the final goal of Nibbana can be attained here in this world. The visions can only serve as light posts in the labyrinth of human existence, sometimes dark, some times bright. But the final goal of life, the true light, lies ultimately in the attainment of Nibbana, which one can reach by stages through the pursuit of insight meditation

 

About the Author

 

Ven. Rastrapal Mahathera is the chief incumbent and meditation master at the International Meditation Centre at Bodh Gaya.



__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Sáu 20199:53 CH(Xem: 100)
Trời mang sức mạnh núi này, Mang hùng vĩ của thân cây trên đồi, Hè mang hơi ấm mặt trời, Và bình lặng của biển khơi khắp miền, Mang hồn quảng đại thiên nhiên, Vòng tay an lạc của đêm lặng lờ, Mang thông thái của tuổi già, Tiềm năng chim phượng bay xa vô ngần,
04 Tháng Sáu 201911:04 SA(Xem: 132)
1. Quy tắc đầu tiên: "Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp cả." Điều này có nghĩa rằng không ai xuất hiện trong cuộc đời chúng ta một cách tình cờ cả. Mỗi người xung quanh chúng ta, bất cứ ai chúng ta giao lưu, đều đại diện cho một điều gì đó, có thể là để dạy chúng ta điều gì đó hoặc giúp chúng ta cải thiện tình hình hiện tại.
03 Tháng Sáu 201911:47 SA(Xem: 136)
Trong một lần bình luận của mình, Glenn Beck đã từng nói rằng: Một người bình thường muốn chứng minh bản thân bình thường là điều hết sức khó khăn. Có lẽ chỉ có người không muốn chứng minh điều gì hết, mới có thể được gọi là một người bình thường. Về sau, rất nhiều người đã để lại lời bình luận của riêng họ
02 Tháng Sáu 20199:08 CH(Xem: 170)
Phóng viên nổi tiếng Sydney Harries và một người bạn dừng chân mua báo ở một quầy bán báo, người bạn mua xong rất lịch sự nói lời "Cám ơn!" nhưng người chủ quầy báo thì ngược lại, mặt lạnh như tiền, một tiếng cũng không thèm mở miệng. Hai người rời quầy báo tiếp tục đi về phía trước, Sydney Harries hỏi:
23 Tháng Năm 20199:43 SA(Xem: 233)
Tiền kiếp – có hay không? Miêu tả 2500 trường hợp trẻ em thuộc dữ liệu của trường Đại học Virginia (Hoa Kỳ) được các nhà nghiên cứu tìm hiểu cẩn thận kể từ khi bác sĩ Ian Stevenson nghiên cứu trường hợp đầu tiên cách đây 40 năm. Những đứa trẻ này thường bắt đầu kể về kiếp trước ở độ tuổi hai hoặc ba và có thể nói về gia đình lúc trước
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 233)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 233)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩ và tìm hiểu xem có tiền kiếp và luân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 229)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 315)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 242)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 307)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 402)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 601)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 533)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 616)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 843)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 1276)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 2453)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 1083)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 730)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
16 Tháng Sáu 201910:17 CH(Xem: 208)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
16 Tháng Sáu 201910:16 CH(Xem: 1991)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 1016)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
25 Tháng Sáu 20199:21 SA(Xem: 49)
Hôm nay nhân quí thầy chùa Bửu Thọ mời chúng tôi về dự lễ an vị đức Bồ-tát Quán Thế Âm và khai đại hồng chung của chùa, nên tôi sẽ giảng về đề tài Đức từ bi và nhẫn nhục. Bởi vì tôn tượng Bồ-tát Quán Thế Âm tượng trưng cho hạnh từ bi trong đạo Phật.
24 Tháng Sáu 20198:41 CH(Xem: 62)
Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Hòa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ. Trong đó, gồm một số bài Hòa thượng được thỉnh giảng cho sinh viên một số trường Đại học ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
07 Tháng Sáu 20192:54 CH(Xem: 161)
Nội dung tập sách này ngoài ghi lời giảng dạy của Thầy Viện Chủ, chúng tôi còn trích nguyên văn một số bài kinh giáo lý căn bản như Phật nói về giáo lý Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Nhân quả v.v... trong Trung Bộ Kinh (và Tăng Chi Bộ Kinh) do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 153)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy khộng thể nào quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 243)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 827)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 1089)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1375)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4390)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;