V234

Đàm Đạo Với Thiền Sư Ajahn Sumedho - Ajahn Sumedho Interviewed

20 Tháng Bảy 20191:33 CH(Xem: 303)
Đàm Đạo Với Thiền Sư Ajahn Sumedho - Ajahn Sumedho Interviewed

AjahnSumedho_B


Đàm Đạo Với Thiền Sư Ajahn Sumedho - Ajahn Sumedho Interviewed
Interview by Roger Wheeler - Tỳ kheo Thiện Minh dịch
Source-Nguồn: dhammatalks.net, budsas.org


__________________

Đàm Đạo Với Thiền Sư Ajahn Sumedho

LỜI GIỚI THIỆU

 

Từ đầu thế kỷ 20 đã có một số Sư Nam Tông người Anh nỗ lực tìm cách hoằng pháp tại Vương quốc Anh. Nhưng mãi tới những năm 1978-1979, chùa Pah Cittaviveka mới được thành lập. Đến năm 1984, ngôi chùa thứ hai được thành lập là Chùa Amaravati. Từ đó Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy, theo truyền thống du tăng khất sĩ tu trong rừng của Thái Lan, bắt đầu có nền móng vững chắc tại Vương Quốc Anh. Nhiều chi nhánh thành hình trong nước Anh và một hệ thống các chùa tại các nước Úc, Tân Tây Lan, Ý, Thụy Sĩ, Mỹ.

 

Đó là công sức của Hòa Thượng Ajahn Sumedho, đệ tử của Hòa Thượng Thiền Sư Ajahn Chah, cùng với chư tăng ni và các Phật tử Anh, Thái, và nhất là nỗ lực và công đức hộ pháp bền bỉ của Hội the English Sangha Trust (được thành lập năm 1956 nhằm mục đích thành lập một Giáo Hội Tây Phương tại nước Anh. Chủ tịch Hội rất tích cực trong thời kỳ đó là ông Maurice Walshe, đã dịch quyển Trường Bộ Kinh lại từ tiếng Pali ra tiếng Anh.

 

Quyển sách Cittaviveka kể lại diễn tiến sự thành lập ngôi chùa "rừng" đầu tiên, các bài thuyết giảng về các pháp tu căn bản, trong đó có lược thuật về quá trình tu học tại Thái Lan của Ngài Hòa Thượng Ajahn Sumedho.

 

Lần đầu tiên chúng tôi may mắn có duyên đến thăm viếng và làm công quả tại chùa Cittaviveka (Chithhurst Buddhist Monastery) vào cuối năm 1980. Tôi không bao giờ quên được không khí bình an tĩnh lặng của ngôi chùa, lúc đó là một ngôi nhà cũ đang được sửa chữa, khu rừng hùng vĩ, nhứt là những đêm ngồi thiền bên lò sưởi củi ấm cúng, bên ngoài tuyết phủ trắng phau. Sau này chúng tôi đến chùa Amaravati vì ở gần nhà hơn.

 

Có dịp đến sinh hoạt tại chùa, lần hồi tôi mới biết chư tăng ni theo truyền thống nầy giữ giới luật rất nghiêm nhặt. Dù vậy các Phật tử, đủ mọi quốc tịch, đến chùa lúc nào cũng cảm thấy thoải mái, dễ chịu và hạnh phúc. Điều này khiến tôi nghĩ rằng: "Chính giới luật được cẩn trọng gìn giữ và thực hành là điều kiện làm cho Chùa Cittaviveka, Chùa Amaravati và Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Anh ngày càng hưng thịnh, là nơi lý tưởng cho tăng ni tu học, là nơi nương tựa tinh thần cho mọi người".

 

Dịch giả , Đại đức Thiện Minh, không những đã có công đức dịch tác phẩm này, mà Sư cũng đã từng nhập hạ và tu học nhiều tháng tại Chùa Amaravati, thăm viếng Chùa Cittaviveka, có nhiều dịp thân cận với Ngài Hòa Thượng Ajahn Sumedho.

 

Tôi chân thành cảm tạ Đại Đức Thiện Minh đã dành cho tôi danh dự viết lời giới thiệu và xin trân trọng giới thiệu dịch phẩm này đến quý độc giả.

 

Cambridge, ngày 15-11-2003

Giác Niệm - Hồ Hồng Phước

 

____________________

 

 

Cuộc phỏng vấn dưới đây do Roger Wheeler thực hiện với Đại đức Ajahn Sumedho ở Hiệp hội Thiền Minh Sát Tuệ ở Barre, Massa Chusetts, Hoa Kỳ vào tháng 5 năm 1981.

 

Đại đức Sumedho, một tỳ khưu của hệ phái Nguyên Thủy; hiện nay là bậc cao tăng ở Trung Tâm Phật Giáo Amaravati, gần Hemel Hempstead, thuộc Anh quốc. Ngài cũng là người sáng lập Tu viện Phật giáo Chithurst ở West Sussex, và người dẫn dắt tinh thần ở một số tu viện mà ngài đã xây dựng ở Anh quốc, Châu Âu và New Zealand. Vào thời điểm tiến hành cuộc phỏng vấn này, Roger Wheeler là một thiền sinh đang theo học ở Trường Gelugpa thuộc Phật giáo Tây Tạng. Hiện nay ông ta đang sống ở Anh quốc (tháng sáu 1986).

 

____________________

 

 

ĐÀM ĐẠO VỚI THIỀN SƯ AJAHN SUMEDHO

 

Roger Wheeler: Điều gì thu hút ngài đến với Phật giáo? Theo ngài, Phật giáo đã cống hiến những gì?

 

Ajahn Sumedho: Con đường giải thoát.

 

Wheeler: Ngài cũng đã từng tu tập vài pháp môn phải không?

 

Sumedho: Có một thời tôi hoàn toàn một con chiên ngoan đạo của Chúa Giê-su, nhưng sau đó tôi đoạn tuyệt với Thiên Chúa giáo, chủ yếu là do tôi không hiểu được giáo lý và không thể tìm được bất cứ ai có thể giúp tôi thấu hiểu nó. Dường như không có bất cứ phương pháp tu tập nào trong Thiên Chúa giáo, khác hơn là niềm tin đơn giản hoặc sự chấp nhận mù quáng những gì đã được rao giảng.

 

Điều gây ấn tượng nhất cho tôi đó là Phật giáo này không đòi hỏi người ta tin tưởng một cách đơn thuần. Đó là một cách thức giúp người ta thoát khỏi sự hoài nghi. Nó cống hiến một phương pháp thực tiễn phát hiện chân lý thông qua kinh nghiệm bản thân, tốt hơn thông qua sự chấp nhận giảng dạy của người khác. Tôi nhận ra rằng đây là phương cách tôi phải thực hiện, bởi vì đó là bản chất của tôi: ưa hoài nghi và chất vấn, hơn là có niềm tin. Do đó, những tôn giáo yêu cầu người ta chấp nhận bằng đức tin là không thể được. Tôi không thể nào ngay cả sự khởi lên tiếp cận chúng.

 

Khi tôi hiểu được Phật giáo, nó giống như một sự soi sáng cho tôi, bởi vì tôi đã thấy rằng những khuynh hướng tôn giáo của một người có thể được đáp ứng bằng cách này. Trước đây, tôi cảm thấy buồn phiền trong một sự kiện rằng tôi đã biết thế giới vật chất không làm cho tôi hài lòng; và tuy tôn giáo mà tôi được nuôi dưỡng bằng sự dâng hiến, đã không đem lại một pháp tu nào khác hơn là đức tin mù quáng.

 

Phật giáo thật sự là một điều khám phá đầy lý thú.

 

(Tiếp đến Ajahn Sumedho đề cập đến việc ngài có những nguồn cảm hứng do những cuốn sách của thiền sư Suzuki, và đã gặp gỡ được Phật giáo ở Nhật Bản trong lúc tham gia vào lực lượng Hải Quân Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên).

 

Wheeler: Sau khi kết thúc sự phục vụ trong lực lượng Hải quân, ngài lưu lại California hay quay trở lại Châu Á?

 

Sumedho: Sau khi rời Hải quân, tôi đi học lại ở Trường Đại học để hoàn tất bằng cử nhân (B.A) về môn Nghiên Cứu vùng Viễn Đông. Rồi ghi danh ở đại học CaliforniaBerkeley lấy bằng M.A về môn Nghiên cứu Á Châu. Khi tôi hoàn tất chương trình học này vào năm 1963, tôi tham gia vào Tổ chức Hòa Bình.

 

Wheeler: Điều nào thu hút Ngài đến Thái Lan hơn là Nhật Bản, ví dụ những lời giáo huấn của Suzuki xuất phát từ đâu?

 

Sumedho: À, tôi đã sống một nơi thuộc về thế giới này. Tôi cũng nhớ đến những mùa đông lạnh giá của xứ sở Nhật Bản. Bởi vì Thái Lan có một khí hậu nắng ấm ôn hòa, tôi cảm thấy rằng mình cũng tìm được điều gì đó mà thời tiết đã dành cho tôi, vì tôi sợ phải sống suốt những mùa đông băng giá.

 

Wheeler: Có phải ngài đã đi thẳng đến Tu Viện của thiền sự Ajahn Chah?

 

Sumedho: Không, đầu tiên tôi đến Bangkok, ở đó, tôi hành thiền với tư cách là một cư sĩ. Vào buổi sáng tôi dạy Anh ngữ ở đại học Thammasat và buổi tối bắt đầu tu tập thiền.

 

Rồi sau đó tôi quyết định xuất gia, nhưng tôi không muốn sống ở Bangkok. Trong khi tôi đi nghỉ hè ở Lào, tôi gặp gỡ một nhà sư Canada. Ông ta góp ý rằng tôi có thể xuất gia ở một thành phố nhỏ của Thái Lan, nằm ngang bờ sông Mekong. Vì thế, tôi nghe theo lời khuyên của ông ta và xin xuất gia ở một ngôi chùa ở Nong Khai.

 

Vào năm đó, cơ bản là tôi tự mình tu tập, không có vị thầy nào hướng dẫn. Năm sau, tôi gặp một môn đồ của thiền sư Ajahn Chah. Ông ta là một nhà sư Thái biết nói tiếng Anh, và rồi ông ta đưa tôi đến gặp thiền sư Ajahn Chah. Tôi lưu lại tu viện của ngài Ajahn Chah gần 10 năm.

 

Wheeler: Ngài đề cập rằng chính khía cạnh hoài nghi của Phật giáo đã thu hút ngài. Người ta có thể hoài nghi. Chính điều này thường xảy ra với những người bị thu hút đến với truyền thống Phật giáo Tây Tạng do bởi nhân cách hoặc trí tuệ của người thầy. Có phải những vị thiền sư có vai trò quan trọng như thế trong truyền thống Nguyên Thủy?

 

Sumedho: Không. Họ cố gắng giảm bớt việc đặt nặng vấn đề này, tuy vậy, người ta thường bị các thiền sư thu hút. Đây là điều rất tự nhiên. Tuy vậy, chính giới luật đã được đặt ra để điều này ngăn tô điểm thêm cho vị thầy. Một người tuân giữ giới luật bằng thái độ tôn kính và hành động bi mẫn đến bất cứ vị thầy nào hoặc bất cứ ai.

 

Thật sự tôi không đi tìm kiếm một vị thầy. Tôi không cảm thấy cần có một vị thầy đặc biệt. Tuy vậy tôi có lòng tin vào giáo pháp của Đức Phật. Khi tôi gặp ngài Ajahn Chah, lòng tin của tôi lại càng gia tăng, khi tôi nhận ra được ngài thật là một người thông thái. Trước hết là tôi yêu mến ngài, nhưng tôi không cảm thấy mộ đạo. Tuy vậy, tôi đã lưu lại nơi này... và tôi thật sự không hiểu được lý do, bởi vì nơi này có nhiều điều tôi không thích lắm. Tuy thế, dường như tôi lại ở đây - đến 10 năm chứ!

 

Wheeler: Ngài Ajahn Chah thường dạy dỗ các môn đồ của mình ra sao?

 

Sumedho: Ngài Ajahn Chah thành lập tu viện để đem lại cơ hội cho mọi người muốn xuất gia và tu tập thiền Phật giáo. Như vậy, điều chính yếu ngài đem lại là một nơi tu tập, một môi trường dẫn dắt.

 

Bản thân giáo lý chỉ là giáo lý truyền thống Phật giáo về Tứ Diệu Đế. Ngài triệt để tôn trọng Giới Luật (Vinaya) - quy tắc về các luật lệ tu tập do đức Phật đặt ra và có ghi trong Kinh Tạng Pali. Một phần của sự hòa hợp để sống nơi đây, đó là các nhà sư thích nghi cách cư xử của họ đối giới luật truyền thống.

 

Tôi cảm thấy đó là điều tôi rất cần. Đó là một cơ hội để sống theo quy ước thuộc giới luật truyền thống. Bản thân tôi rất tùy tiện, buông thả và tôi nhận ra rằng đó là sự yếu đuối quá lớn lao trong bản chất của tôi. Tôi bực bội với quyền lực, và không biết cách nào để thích nghi với giới luật. Vì thế tôi hết sức hài lòng có cơ hội để thực hiện điều này. Nó là một sự thử thách tốt đẹp đối với bản thân tôi và tôi biết rằng điều đó tôi cần phải làm. Nơi tôi vẫn còn nhiều ngã mạn, tôi muốn sống theo ý riêng của mình. Ngài Ajahn Chah rất nghiêm khắc, chúng tôi phải sống theo những điều kiện mà tu viện đặt ra. Tôi học tập để thực hành giới luật ở nơi đây.

 

Ngài Ajahn Chah không nhấn mạnh phương pháp. Ngài chỉ nhấn mạnh sự tỉnh giác suốt ngày đêm, giữ chánh niệm và theo dõi sự vô thường của các điều kiện như là người ta cảm nhận về cuộc sống.

 

Suốt năm đầu tiên trong khi sống ở Bangkok, tôi hành thiền một mình. Bởi vì tôi hiểu được kỹ thuật thiền, nên khi tôi đặt chân đến tu viện Wat Pah Pong, ngài Ajahn Chah chỉ khuyến khích tiếp tục thực hành những gì tôi đã từng học hỏi ở Bangkok. Ngài không đòi hỏi tôi thích nghi cách ăn ở của mình ở bất cứ hình thức đặc biệt hoặc kỹ thuật khác, ngoài giới luật (vinaya) của các nhà sư.

 

Tôi xin đọc cho ông nghe một vài điều về truyền thống Krishnammti. Ông ta nói:

 

"Dời quá khứ đến hiện tại, giải thích hoạt động của hiện tại dưới dạng quá khứ là hủy hoại vẻ đẹp sống động của hiện tại. Truyền thống dù cổ hay tân cũng không phải là bất khả xâm phạm. Một đầu óc chứa nặng những ký ức về quá khứ, mà quá khứ là truyền thống - và không dám buông bỏ, là vì đầu óc đó không có khả năng đương đầu với những điều mới lạ. Truyền thống trở thành sự an toàn của chúng ta, và khi tâm an toàn là tâm đang ở trong tình trạng suy nhược. Người ta phải lên đường nhẹ nhàng, không vướng bận, không cần chút nỗ lực nào cả, và cũng không bao giờ dừng lại ở bất cứ đền thờ nào, bất cứ đài kỷ niệm nào, hoặc vì bất cứ vị anh hùng nào, xã hội hay tôn giáo nào. Hãy lên đường một mình với vẻ đẹp và tình yêu thương." [1]

 

Wheeler: Bây giờ sự hiện diện của ngài ở đây là một sự thể hiện rõ ràng về sự nối tiếp một truyền thống đã và đang tiếp diễn hơn 2500 năm. Về lời trích dẫn này. Tôi tự hỏi liệu người ta cũng có thể bị dính mắc trong hình thức, quên mất đi mục đích theo đuổi? Hoặc nói cách khác, làm cách nào người ta có thể tránh được sự chấp thủ hình thức?

 

Sumedho: À, nó giống như việc lái một chiếc xe. Người ta có thể gạt bỏ đi tập quán sử dụng xe hơi, và nói "Tôi sẽ không lệ thuộc vào điều này bởi vì nó xuất phát từ quá khứ. Vì thế tôi sẽ đi bộ đến thành phố New York"; hoặc, "Tôi sẽ tự mình phát minh một chiếc xe, bởi vì tôi không muốn sao chép của một người nào khác". Điều mấu chốt nói về chiếc xe được sử dụng thì không nhiều lắm, nhưng vấn đề là việc đến được New York. Dù người ta đi chậm hay nhanh, người ta nên dùng những gì đã có sẵn, bất cứ phương tiện gì mà người ấy có thể tìm thấy ở chung quanh mình. Nếu không có, hãy sáng chế một cái, hoặc đi bộ. Người ta phải làm hết khả năng của mình nếu có thể được. Nhưng nếu có một điều gì gần gũi, tại sao không học hỏi để sử dụng nó -- nhất là nó vẫn còn có thể hoạt động được?

 

Vì vậy truyền thống là như thế đó. Nó không phải là sự  bám víu. Người ta cũng có thể bám víu vào tư tưởng mà người đó không cần đến truyền thống, nó chỉ là một khái niệm hoặc một quan điểm khác. Những lời trích dẫn như thế này là nguồn cảm hứng, nhưng chúng không phải luôn luôn hết sức thực tiễn, bởi vì người ta có thể tạo nên quan điểm khác mà những truyền thống bị sai lệch hoặc có hại như ông thấy. Vấn đề không nằm trong truyền thống, nhưng lại nằm trong sự bám víu, chấp thủ. Thân xác này là một hình thức quy ước đến từ quá khứ. Ngôn ngữ chúng ta dùng, thế giới chúng ta sinh sống, và những xã hội mà chúng ta góp phần, tất cả là những hình thức qui ước được sản sinh ra từ quá khứ. Chúng ta đang ở trong một thế giới quy ước. Chúng ta không đặt thành vấn đề việc nương dựa vào những quy ước, nhưng học cách sử dụng chúng một cách thiện xảo. Chúng ta có thể dùng ngôn ngữ để tán gẫu, dối trá, và trở thành những diễn giả làm cho người ta mê muội; chúng ta có thể trở thành những người cầu toàn với lời lẽ dao to búa lớn. Điều quan trọng là người ta phải hiểu rằng ngôn ngữ dùng để giao tiếp, truyền đạt. Khi tôi truyền đạt điều gì đó cho anh, tôi đây cố gắng trình bày càng rõ ràng và thẳng thắn càng tốt. Đó là một kỹ năng. Nhưng nếu lưỡi của tôi bị cắt đi, tôi sẽ chỉ học hỏi để sống mà không có lời nói - vấn đề là như vậy. Sự việc này sẽ không phải là một nỗi muộn phiền lớn lao, nhưng có một chút bất tiện - đối với một đôi điều; nhưng có thể thuận lợi đối với nhiều điều khác.

 

Những truyền thống tôn giáo chỉ là những quy ước có thể được người ta dùng hoặc không, tùy theo thời gian và nơi chốn. Nếu một người biết sử dụng truyền thống, người này có nhiều thuận lợi hơn người không biết, họ cho rằng đó là những điều làm mất thời giờ vô ích. Một người có thể đến nhà thờ Thiên Chúa giáo, đến ngôi chùa Phật giáo Nguyên Thủy, hoặc một giáo đường Do Thái, và tôn kính, cảm xúc theo một quy ước mà người ấy tự mình khám phá, không có cảm nghĩ rằng nó xấu xa hay sai trái. Điều này không tùy thuộc chúng ta quyết định: tất cả chúng đều dựa trên cơ bản làm điều thiện, tránh xa điều ác. Do đó, nếu ai bám víu vào chúng, sẽ bị chúng trói buộc. Nếu một người xem tôn giáo chỉ là một quy ước, như thế, người này có thể học cách sử dụng nó thích đáng. Tôn giáo là chiếc bè đưa người đó sang sông.

 

Wheeler: Ngài đề cập rằng những truyền thống có thể sử dụng tùy thuộc thời gian và nơi chốn. Tôi nhận thấy rằng ngài thường đi khất thực vào buổi sáng. Về khía cạnh này, tôi phát hiện điều này thật đáng ca tụng. Mặt khác, tôi tự hỏi loại ảnh hưởng nào tác động đến xã hội không theo đạo Phật? Đối với một người gia trưởng trung lưu, một người mặc y vàng hoặc y đỏ có thể là bất cứ một điều gì đó đối với một thí chủ Hare Krishna, để làm ... bất cứ điều gì.

 

Truyền thống đang theo, vào thời điểm này, vào nơi chốn này, đang làm hại hơn là lợi phải không? Liệu nó có thể làm xúc phạm những người này không?

 

Sumedho: Vâng, mục đích là tốt lành, thời điểm là bây giờ, và nơi chốn là ở đây. Một số người sẽ lấy làm khó chịu; một số người khác nhận thấy nó thật tốt đẹp. Ở Anh quốc, điều này khiến cho một số người khó chịu, nhưng đôi lúc người ta cũng cần phải bị khó chịu. Họ cần phải bị lay động một chút, bởi vì người ta có thể tự mãn ở những quốc gia này.

 

Đi khất thực cũng thu hút những người tốt, những người thích thú điều này. Chúng ta không có ý định gây "sốc" hoặc gây nguy hại. Tôi được che chở một cách khiêm tốn và tôi không lừa họ trong bất cứ mối quan hệ nào, hoặc làm hại họ dưới bất cứ hình thức nào. Ngược lại, việc khất thực nó mang lại cho họ cơ hội để bố thí (dana), nếu họ thật sự sẵn lòng.

 

Ở Anh quốc, có một điều phải công nhận rằng hầu hết mọi người không hiểu được điều này. Tuy thế đối với tôi, dường như việc đi khất thực là một quy ước tôn giáo đáng được duy trì.

 

Việc này giống như đem lại chất bồi dưỡng vào tôn giáo lần nữa. Nó thúc đẩy các nhà sư hoạt động trong xã hội.

 

Khi đức Phật còn là một hoàng tử (trước khi thành đạo), ngài đi ra khỏi cung điện và thấy được 4 vị sứ giả, họ đã thay đổi cuộc đời của ngài. Đầu tiên là một người già, thứ hai là một người bệnh, thứ ba là một tử thi, thứ tư là một nhà sư tham thiền dưới một cội cây. Tôi xem điều này như một thông điệp. Tôi không mang theo nó khắp nơi như là một bổn phận tôi phải thực hiện nó, nhưng chỉ một phần cuộc sống của tôi, cách tôi sống ở đời. Nếu mọi người phản đối và nhận thấy nó sai trái, nếu nó gây khó khăn cho tất cả mọi người, như vậy tôi sẽ không thực hành nó. Tuy vậy điều này đã chưa hề xảy ra.

 

Nhiều người nghĩ rằng tôi đừng nên đi khất thực trong làng. Họ cho rằng đây là điều ngớ ngẩn. Một số người Anh cũng như những Phật tử đều cảm thấy rằng, chúng tôi nên thích nghi với phong tục nước Anh. Tuy vậy, tôi quyết đi khất thực khi có cơ hội. Tốt hơn là quyết định liệu tôi có nên thích ứng với phong tục của người Anh hay không. Đơn giản là tôi chỉ mang đến một truyền thống và thực hiện nó bằng việc nghe. Do đó tôi cảm thấy nó sẽ diễn ra phù hợp với hình thức của nó. Nếu một người xén bỏ truyền thống ngay trước khi gieo nhân mới, người ấy thường cắt đứt hoặc xem nhẹ toàn bộ tinh thần của truyền thống đó. Toàn bộ truyền thống dựa trên lòng bác ái, nhân từ, sự tốt lành, đạo đức... và tôi không làm điều gì sai trái. Tôi có thể đang thực hiện tốt đẹp những việc mà mọi người không hiểu được...

 

Wheeler: Trong tâm tôi, và tôi tưởng tượng trong tâm của những người khác cũng vậy, việc đi khất thực dường như là một loại chấp thủ vào hình thức và truyền thống.

 

Sumedho: Như vậy người đó không có chánh niệm.

 

Wheeler: Làm thế nào để người ta giữ được tâm tỉnh giác cả ngày lẫn đêm? Trong khi thực hiện những nghi lễ nào đó tụng kinh hoặc đi khất thực, làm thế nào để người ta có thể tránh được trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta lập đi lập lại một cách máy móc?

 

Sumedho: Cuộc sống hàng ngày là máy móc và đều đặn. Thân xác là máy móc và đều đặn. Xã hội cũng cùng một cách thế. Tất cả những sự việc pha trộn nhau cứ lập đi lập lại giống nhau. Nhưng tâm của chúng ta không còn bị những thói quen đó đánh lừa nữa.

 

Wheeler: Krishnamurti nói: "Những người tu hành sống trong tu viện, trong sự cách ly, hoặc đi đến một ngọn núi cao, một nơi vắng vẻ, tâm của họ bị bắt buộc phải thích nghi với một khuôn mẫu đã được đặt để " [2]. Trước đây ngài nói rằng ở tu viện của ngài Ajahn Chah, ngài đang thích nghi với một quyền lực bởi vì ngài đã cảm thấy rằng trước đó ...

 

Sumedho: Người ta đang thích nghi hành động của mình vào một khuôn mẫu. Sự việc là thế đó.

 

Wheeler: Đúng vậy, Krishnamurti nói: " Họ đang buộc tâm của họ đi vào một khuôn mẫu. Tâm thật sự thích nghi với một khuôn mẫu đã được đề ra, chứ không chỉ thân xác. Chúng phụ thuộc vào nhau."

 

Sumedho: Đúng. Đó là sự thực hành Samatha (thiền định): tin vào giáo lý và thấm nhuần vào sự tu tập. Nhưng đấy không phải là mục đích của thiền Phật giáo.

 

Wheeler: Thiền Samatha hòa hợp với giáo lý chứ?

 

Sumedho: Nếu một người tin tưởng vào giáo lý, những ý tưởng trong tâm của một người đó sẽ chấp nhận một giáo lý nào đó, và loại bỏ những giáo lý nào không thích hợp. Như vậy cũng có sự tu tập thiền vắng lặng (samatha), ở đây, người ta rèn luyện tâm tập trung vào một đề mục. Sự tu tập này làm cho tâm yên tĩnh và vững chắc.

 

Wheeler: Có phải ngài đang gọi nó là "một khuôn mẫu" đã được đặt để?

 

Sumedho: Đúng. Nhịp thở đầu đều của một người là một khuôn mẫu (nền tảng) mà anh bám vào và chấp thủ nó phải không? Nó đem lại một sự vắng lặng nào đó cho tâm.

 

Wheeler: Người ấy không được "bám víu" vào hơi thở. Sự thở xảy ra tự nhiên. Người ấy có thể nói rằng mình quan sát hơi thở ...

 

Sumedho: Người ấy chỉ tập trung vào hơi thở. Vào một khoảnh khắc đặc biệt người ấy hoàn toàn tập trung và không còn để ý đến các đối tượng khác.

 

Wheeler: Tôi hoàn toàn không đồng ý. Điều đó như thế nào với cái tâm có thói quen theo một giáo điều?

 

Sumedho: Bất cứ vật gì cũng là một khuôn mẫu hoặc một điều kiện (sankhara), nếu một người đặt niềm tin vào sankhara đó, người ấy sẽ trở thành sankhara đó. Nếu một người chấp thủ vào bất cứ đối tượng nào, rồi sẽ trở thành đối tượng đó. Như vậy, khi một người đang tập trung vào hơi thở bình thường, rồi người ấy sẽ trở thành hơi thở bình thường đó, Theo tinh thần, hình dáng của một người diễn ra theo hình thức này, một người đồng hóa với đối tượng đó cho đến bao lâu sự tập trung còn hiện hữu.

 

Sự kiện giống như vậy phù hợp với giáo lý. Chúng là những thế giới của những hình thể (sắc) quy ước và thói quen. Một người có thể được ví như là một đức tin trong ý nghĩ của những người khác, trong những giáo pháp và các tín ngưỡng, trong những điều mà người khác phát biểu.

 

Chánh niệm là không bám víu. Điều mà Krishnamurti vạch ra là sự tỉnh giác về bản chất biến đổi, cái cách mà vạn vật đích thực hoàn hữu trong một khoảnh khắc. Nhưng ông ta phát biểu quá cao siêu. Hầu hết mọi người, dù cho họ cố suy nghĩ những điều mà ông ta phát biểu, cũng không thể thấu hiểu được.

 

Đó là những gì mà người ta nhận biết được qua sự từ bỏ. Một người phải đi xuống một vị trí hết sức hèn mọn, điều đó được ngài Ajahn Chah gọi là con giun đất, chỉ là một điều rất đơn giản và không mong đợi được bất cứ kết quả nào. Làm lành, lánh dữ, luôn giữ thân, khẩu, ý, trong chánh niệm

 

Wheeler: Tại sao các tôn giáo suy thoái?

 

Sumedho: Bởi vì chúng chỉ là tục đế (sự thật quy ước). Chúng không phải chân đế (sự thật tối thượng).

 

Wheeler: Nhưng người ta không hành trì. Họ chỉ tu tập một cách máy móc. Khi một vị thầy (thiền sư) hướng dẫn một khóa thiền ở đây, người ta thường nêu lên một câu hỏi Đạo Phật được coi là một tôn giáo hòa bình, và người ta cho rằng chiến tranh chưa bao giờ khởi lên do đạo Phật. Nhưng hãy nhìn vào Tây Tạng và Campuchia, nhiều người đã bị tàn sát. Ở nước Lào, các nhà sư làm việc trên các cánh đồng. Một người đến viếng nhà sư Campuchia, đã nói rằng, về cơ bản, người ta không hành trì, và đó là lý do Phật giáo bị tan rả, là lý do có quá nhiều hỗn loạn.

 

Sumedho: À, tại sao thế giới lại như thế? Tại sao họ lại hủy diệt hàng triệu người Campuchia? Người ta có thể suy đoán. Nhưng một điều duy nhất mà người ta có thể biết là những điều kiện về cái tâm của một người - tham, sân và si - là phản ánh về thế gian, cái cách của nó là thế. Thế giới có những vụ thảm sát, chết chóc, bạo ngược và hủy diệt bởi vì chúng ta thực hiện những việc đó suốt trong tâm trí chúng ta.

 

Ông đã làm gì trước khi xuất gia, hoặc ngay trong khi được xuất gia? Ông đã cố gắng loại trừ nhiều điều ra khỏi tâm của mình phải không? Nếu ông nổi giận, ganh tỵ, có những ý nghĩ bẩn thỉu, ông loại trừ chúng, do bởi anh nghĩ rằng đó là phương cách để giải quyết vấn đề. Một người diệt trừ những điều này vì cho rằng chúng là nhân khổ đau của mình.

 

Bây giờ hãy áp dụng những điều này cho một quốc gia như Campuchia. Chính quyền Khơme Đỏ cho rằng giai cấp tư sản trung lưu là nhân của khổ - vì thế chánh quyền này tiêu diệt nó. Sự việc diễn ra ở cùng một nguyên tắc.

 

Giáo lý của Phật giáo là bất bạo động. Người ta không hủy diệt loài gây hại, nhưng còn phải hiểu rằng ngay cả tâm của loài gây hại cũng là vô thường và vô ngã. Chúng sẽ tự mình biến mất.

 

Nhiều điều mà chúng ta sợ lại thật sự là những người bạn thân thiết của mình - giống như sự tự sợ hãi. Chúng ta lo sợ về cái chưa từng biết, nhưng chính điều không biết là con đường dẫn đến giác ngộ. Không biết là điều mang đến nỗi khiếp sợ cho cuộc sống con người. Nhiều người dành phần lớn cuộc đời để cố gắng tìm sự an toàn ở một số hình này hoặc hình thức khác, do bởi sợ hãi. Nỗi lo sợ đưa đẩy họ trở thành như thế này, hoặc bám víu vào điều khác, dành dụm thật nhiều tiền, đi tìm lạc thú hoặc tìm một nơi an toàn để sống, hoặc tìm kiếm một con người lý tưởng họ hy vọng rằng sẽ giúp họ hạnh phúc mãi mãi. Đó là nỗi sợ hãi cô đơn, sợ điều chưa từng biết - về những gì chúng ta không thể biết. Trong lúc tham thiền, khi người ta có chánh niệm (sự chú tâm), chính sự sợ hãi đó - nhận thấy được chân tướng của nó - đưa chúng ta đến sự bất tử, sự vắng lặng. Tuy thế, nỗi sợ hãi là một cái gì đó mà chúng ta phản ứng rất mạnh mẽ.

 

Như vậy, nếu một người không thể bình an với những điều làm hại cái tâm của mình, người ấy không thể mong đợi quá nhiều vào một chánh quyền giống như Khờ me Đỏ, hoặc phần lớn các nguyên lý vũ trụ được khá hơn. Chúng ta cũng không có quyền đổ trách nhiệm to tát như vậy cho xã hội. Vạch lỗi của Mỹ, đó là điều dễ làm, - hoặc vạch lỗi của Campuchia hoặc Tây Tạng - do bởi các nhà sư đã không tu tập chuyên cần hoặc người dân Campuchia không phải là những Phật tử thuần thành, điều này thật sự hơi ngớ ngẩn.

 

Anh sẽ xử sự ra sao về việc này? Đó là điều tôi đang đề cập. Tôi không thể trợ giúp thế giới quan điên rồ của Pol Pot. Cái cách mà hắn ta dự định giải quyết vấn đề thật vô cùng ngu dại. Nhưng tôi cũng đã từng nhận ra chính sự ngu ngốc giống như thế trong bản thân tôi; nỗi ham muốn tiêu diệt điều mà tôi không ưa thích, hoặc điều mà tôi cho là nguyên nhân đau khổ của thế giới, hoặc của bản thân tôi. Đó là nơi người ta có thể thấy được những gì phát sinh ra vấn đề. Người ta có thể nói "Ồ, các nhà sư tu tập không nghiêm túc" nhưng điều này thật sự không công bằng.

 

(Câu hỏi tiếp không được ghi vào)

 

Tôi đã từng có một kinh nghiệm rất thuận lợi với thiền sư, Ajahn Chah, và thấy được ngài là người hạnh phúc, khoan dung và hài hòa biết bao. Lẽ dĩ nhiên, có nhiều đệ tử của ngài cũng không hiểu những điều ngài dạy dỗ. Tuy vậy ngài thực sự làm cho nó rõ ràng và mang lại cho họ từng cơ hội để tu tập và khám phá.

 

Khi người ta nói về dukkha (khổ), (Đế thứ nhất) Khổ Đế, người ta không nói một cách trừu tượng về dukkha - "ngoài dukkha". Dukkha tồn tại như một sự việc vô danh. Tôi đang nói về chính cái cảm giác đó trong một người, ở nơi đây (chỉ về bản thân người ấy), điều này cảm thấy không hoàn toàn hạnh phúc hoặc cảm thấy khó chịu một chút, lo lắng, không hài lòng, không an toàn, hoặc không được thanh thản. Người ấy tự mình cảm nhận được Khổ Đế.

 

Người ta không chỉ rõ dukkha như một điều mơ hồ nào đó đang lơ lửng khắp thế gian. Nếu một người thật sự nhìn vào tâm của mình, người này thấy sự bất mãn, bất an, sợ hãi và lo lắng. Đó là những gì mà người ấy có thể tự mình nhận thấy được. Người ta không buộc phải tin. Thật là ngu xuẩn khi nói rằng; "Tôi tin vào khổ đế" hoặc "Tôi không tin vào khổ đế. Tôi tin rằng mọi điều đều tuyệt vời". Tin hay không tin thì không quan trọng, nhưng đúng hơn, người ta hãy nhìn sâu vào nội tâm và tự hỏi "Tôi có luôn luôn cảm thấy tuyệt vời và hạnh phúc không? Có phải cuộc sống là một nguồn vui liên tục? Hoặc đôi khi tôi có cảm thấy phiền muộn, hoài nghi, lo sợ v.v...?"

 

Chỉ nói riêng về cảm nhận của bản thân tôi, tôi có thể nhận thức rất nhiều về khổ đế. Không phải là tôi muốn chấp nhận một ý hệ bi quan. Tôi nhận ra rằng có một nỗi sợ hãi, bất an, phiên muộn trong bản thân tôi.

 

Tuy vậy, khổ đế (thánh đế thứ I) không phải là một chủ thuyết. Nó không nói "Đời là khổ" nhưng chính xác hơn nó chỉ nói rằng "Có điều này". Nó đến rồi đi. Nó sinh (Tập đế), nó diệt (Diệt đế; thứ ba) và từ đó dẫn đến sự hiểu biết Bát Chánh Đạo (Đạo đế). Đó là một cái nhìn rõ ràng vào sự siêu nghiệm của khổ, tất cả của thông - qua chánh niệm. Bát Chánh Đạo chỉ là sự chánh niệm trong đời sống hàng ngày.

 

Wheeler: Tuy vậy chính chánh niệm không phải là một yếu tố nhân thiện.

 

Sumedho: Trung tính. Nó không thuộc về bất cứ ai. Nó không phải là những gì mà người ta thiếu; nó không phải là một sở hữu cá nhân.

 

Wheeler: Có những sở hữu tâm thiện và sở hữu bất thiện, và có những sở hữu luôn luôn hiện diện, giống như chánh niệm. Chánh niệm không phải là tốt đẹp bẩm sinh.

 

Sumedho: Đó là sự tỉnh giác về thiện, ác như là sự đổi thay. Bằng cách dùng tuệ phân biệt (sati-panna), người ta thấy những điều thiện và ác là vô thường và vô ngã. Sự chánh niệm này giúp cho người ta thoát khỏi ảo tưởng cho rằng những điều thiện ác này có khuynh hướng có sẵn.

 

Wheeler: Tôi xin được quay trở lại một chốc lát về vai trò của truyền thống. Ngài có cảm thấy rằng sự trung thành tuyệt đối với một truyền thống đặc biệt thường có khuynh hướng phân biệt giữa truyền thống này và truyền thống khác mà đã có những giá trị chắc chắn nào đó?

 

Sumedho: À, theo mức độ quy ước, dù gì đi nữa mọi vật đều riêng biệt. Anh với tôi là một người khác biệt, là một thân xác khác biệt. Điều khác biệt này chỉ có thể được giải quyết khi chúng ta hợp nhất với nhau bằng sự phát triển trí tuệ. Còn với hình dạng quy ước này thì chỉ có sự phân biệt. Sẽ luôn luôn có đàn ông, đàn bà và vô số quy ước tôn giáo. Tất cả những điều này đều theo nằm trên sự nhận thức của giác quan, đó là luôn luôn phân biệt và kỳ thị. Sự việc này không thể khác đi được – Nhưng nếu một người có chánh niệm, chính những quy ước này đưa người ta đến bất tử, ở nơi đó chúng ta hợp nhất lại thành một. Ở nơi đấy không có "anh" hoặc "tôi".

 

Wheeler: "Bất tử" - ngài sử dụng thuật ngữ này như thế nào?

 

Sumedho: Nó chỉ có ý nghĩa là không sanh không diệt. Thật sự, không có gì để nói thêm, bởi vì các từ là sanh và tử.

 

Wheeler: Liệu người ta có thể nói rằng "bất tử" là đồng nghĩa với sự chấm dứt bám víu và chấp thủ?

 

Sumedho: Không chấp thủ đưa đến những điều kiện chết.

 

Wheeler: Tôi nhận ra nó có nhiều tình huống hơn ngoại lệ khi lệ thuộc vào một nhóm, có một khuynh hướng cảm thấy an toàn, khuynh hướng kết tội, xem thường hoặc chê bai những người không có cùng đức tin tôn giáo hoặc giáo điều triết lý. Làm cách nào để người ta vượt qua được cái ý tưởng phân biệt này, tạo ra bả chất phản kháng? Làm thế nào người ta không còn bị vướng mắc ở hình thức, liệu việc này còn ở trong sự nghiên cứu hay môi trường thiền?

 

Sumedho: À, chỉ cần được giác ngộ thì sẽ giải quyết được mọi vấn đề của anh

 

Wheeler: Cám ơn nhiều.

 

Sumedho: Người ta phải thực hiện việc tốt nhất trong tất cả các việc này.Tu viện Chithurt là một điển hình của một nơi không tốt nhất mà cũng không tồi tệ nhất. Nó vừa phải. Một số người sẽ sử dụng nó, một số người không. Tôi không muốn nó trở thành quá hoàn hảo hoặc lý tưởng, bởi vì mọi người cần có sự va chạm, bằng không, họ sẽ trở nên tự mãn hoặc buồn chán. Cần phải cho mọi người một không gian để làm việc vì thiên hướng hoặc vấn đề cảm xúc của họ.

 

Trong cuộc sống của mình tôi đã thấy rõ cái cách mình bị vị thầy, truyền thống, và quy tắc thu hút ra sao. Nếu một người nghiêm túc và theo dõi dukkha, sau đó bắt đầu nhận thấy được điều này và xả bỏ nó. Đó không có nghĩa người này từ bỏ truyền thống; nó chỉ có nghĩa là người này có thể cư xử thanh thản với nó.

 

Tôi thích đời sống ở tu viện. Tôi thích mình là một nhà sư. Tôi nghĩ rằng đó là một cách sống rất đáng yêu khi làm con người. Nhưng nếu ý thích sống ở tu viện không còn nữa, khi tới lúc, nó sẽ chấm dứt. Nó là như thế đó. Đâu có hề gì.

 

Tuy thế cũng không cần phải loại bỏ lễ xuất gia. Tôi trở nên chín chắn nhờ nó. Tuy vậy tôi chưa từng thấy một cách sống nào tốt đẹp hơn để sống cuộc sống của một con người. Vì thế tôi sống cách này cho tới lúc nó thay đổi. Khi đến thời điểm thay đổi nó sẽ tự mình thay đổi. Tôi không quyết định được, "Chà, tôi chán việc này. Tôi sẽ thử làm một cái gì khác".

 

Người có thể nhận thấy toàn bộ ý nghĩa chung về cuộc sống của một nhà sư thật tuyệt vời. Nó vô hại, nó thật đáng kính trọng; nó cũng rất hữu ích cho xã hội. Tôi biết cách sử dụng nó. Tôi có thể dạy dỗ qua truyền thống này. Tôi có thể dạy cho mọi người cách sử dụng truyền thống này, mà tôi nghĩ rằng biết cách dùng nó là một điều tốt. Người ta có thể học hỏi cách dùng những quy ước thay vì chỉ chối bỏ chúng.

 

Nếu tôi cho anh một con dao, anh có thể sử dụng nó với mục đích xấu hay tốt. Vấn đề là không phải con dao, phải không? Nếu anh dùng nó để giết tôi, anh sẽ nói "con dao này xấu", phải không? Con dao này có thể là một con dao rất tốt, một công cụ khéo và hữu ích. Điều này giống như truyền thống Nguyên Thủy và Phật giáo Tây Tạng; sự việc là học cách sử dụng chúng khéo léo - và điều này tùy thuộc vào anh đấy!

 

Người ta phải công nhận rằng những thiền sư Á Châu đến từ một xã hội (ví dụ như Tây Tạng) nơi đây mọi điều không ít thì nhiều đã được người ta cho là có giá trị. Họ được nuôi dưỡng trong một xã hội nghĩ và sống theo Đạo Phật. Dù họ có lòng mộ đạo hay không, điều này không có sự khác biệt. Tuy thế, điều này ảnh hưởng đến quan điểm của họ và thế giới. Trong khi bạn đến từ một quốc gia mang chủ nghĩa vật chất, và nơi đó, những giá trị - được đặt trên cơ bản tham lam và cạnh tranh, sự tin cậy và đức tin còn nằm trong sự hiểu biết khái niệm - đã tác động đến tâm của anh. Đức tin của chúng ta ở Hoa Kỳ nằm trong sách vở, phải không? Ở các trường đại học, ở khoa học, ở sự hiểu biết khái niệm, ở lý lẽ hiện thực.

 

Wheeler: Ngài có nhận thấy rằng loại hiểu biết này không có căn cứ phải không? Hoặc có thể nó cũng được sử dụng thích đáng?

 

Sumedho: Sự học hỏi cách sử dụng các sự vật như thế đó là đúng đắn có trí tuệ. Chẳng có điều gì trên thế gian là vô giá trị. Tất cả đều hoàn hảo. Không có bất cứ điều gì trong vũ trụ mà chúng ta phải loại ra hoặc thêm vào. Thật sự, chẳng có điều gì sai lệch.

 

Người ta đang đi tìm một sự hoàn hảo, tuy thế nó lại nằm trong sự sai sót, nơi mà mọi người lầm lạc. Nếu một người đi tìm sự hoàn hảo nơi một vị thiền sư Phật giáo hoặc ở truyền thống Phật giáo, người này sẽ bị vỡ mộng vì nó. Nếu một người đi tìm sự hoàn hảo ở bất cứ ai, hoặc sự hoàn hảo nơi thân xác của một người, và những trạng thái tâm của một người... điều này không thể đạt được! Người ta không thể buộc tâm chỉ nghĩ đến những ý nghĩ tốt lành, hoặc luôn luôn từ bi bác ái, không có thù hận hoặc ác cảm.

 

Tâm giống như một tấm gương - nó phản chiếu. Như vậy những bậc có trí tuệ biết được phản chiếu là phản chiếu, và không phải là ngã (cái tôi). Những sự phản chiếu không làm hư hại chiếc gương chút nào. Chiếc gương có thể phản chiếu những điều cực kỳ xấu xa nhất nhưng không bị điều xấu xa làm dơ bẩn. Và những sự phản chiếu sẽ thay đổi. Chúng vô thường.

 

Sự xấu xa nhất và dơ bẩn cũng đóng một vai trò quan trọng. Sân hận và những điều xấu xa trong tâm của một người giống như phân bón bốc mùi hôi hám. Nó không tốt đẹp và người ta không thích thú khi gần nó. Tuy thế nó thật sự mang lại nhiều nguồn dinh dưỡng tốt cho rễ cây, để chúng sẽ trổ ra nhiều cành hoa xinh đẹp. Nếu người ta có thể xem xét phân bón và biết nó dùng cho việc gì, như vậy người ấy có thể đánh giá được giá trị của nó, thay vì nói "Ồ, hãy đem nó đi nơi khác! Tôi không cần nó cho bất cứ điều gì".

 

Ngay cả sân hận là Dhamma (Chân lý), dạy chúng ta rằng nó là vô thường và vô ngã. Mọi việc đều đưa chúng ta đến chân lý tuyệt đối, nhờ thấy rằng bất cứ điều gì điều sanh rồi cũng diệt. Như vậy ngay những ý tưởng xấu xa nhất trong tâm của một người cũng như thế; nó đơn thuần là điều kiện thay đổi. Nếu một người không cưỡng lại được hoặc buông thả, nó khởi lên từ sự rỗng không và quay trở lại sự rỗng không. Nó hoàn hảo. Không có điều gì là sai lệch và đó là lý do tại sao không có gì để lo sợ.

 

Nếu một người cố gắng suy nghĩ ra những phương cách để thay đổi để mà thế giới sẽ thật hoàn hảo, người ta sẽ hết sức chua xót và thất vọng. Mọi người cảm thấy rất khó chịu khi tôi nói điều này, bởi vì họ nghĩ rằng tôi không làm gì cả. Điều gì cần phải làm, tôi sẽ làm. Điều gì không cần làm, tôi không làm.

 

Chỉ duy điều này: Người ta làm điều thiện và tránh xa điều xấu. Đó là tất cả những gì mà tôi có thể gánh vác. Tôi không thể làm điều gì khác cho thế gian ngoài điều này. Khái niệm về thế gian sẽ thay đổi khi trí tuệ phát sinh từ trong bản thân của chúng ta. Rồi lúc ấy chúng ta sẽ nhìn thế giới theo bản chất thật của nó, đúng hơn là tin tưởng vào thế giới như chúng ta nghĩ nó là như thế.

 

Chân lý không phải là tín đồ Phật giáo. Nghĩa là không phải các Phật tử đều có bất cứ tuệ giác nào với chân lý. Nó chỉ là một cách để tiến hành.

 

Wheeler: Ngài đề cập rằng vấn đề được đặt nặng ở tu viện của thiền sư Ajahn Chah là sự duy trì Vinaya, giới luật của nhà sư. Có nhà sư nào của ngài Ajahn Chah học kinh điển, chẳng hạn như Abhidhamma, có phải thiền sư Ajahn Chah nhận thấy việc học là cần thiết, hoặc không xem trọng việc học?

 

Sumedho: Tất cả các nhà sư đều phải học. Vẫn còn các kỳ thi của chánh quyền dành cho các nhà sư, mà người ta có thể đạt tới ba trình độ. Ngài Ajahn Chah khuyến khích các nhà sư tham dự các kỳ thi dựa trên sự hiểu biết cơ bản về Dhamma và Vinaya. Vì thế, ngài khuyến khích các nhà sư học nhiều vào.

 

Ngài Ajahn Chah sẽ gởi những nhà sư có sở thích và năng khiếu theo học tiếng Pali ở một tu viện đặc biệt chuyên dạy ngôn ngữ này. Tuy thế, ngài không đi lệch ra ngoài đường lối của mình trong việc khuyến học, bởi vì ngài nhận thức rằng việc hiểu biết văn phạm Pali không phải là điều kiện cần đưa đến giác ngộ.

 

Đó là một sự việc rất đặc thù. Người ta không thể may chỉ một bộ quần áo mà vừa vặn cho tất cả mọi người. Tuy vậy, khuôn mẫu chung được khuyến khích ở tu viện là phát triển chánh niệm của mình trong khi an trú trong giới luật.

 

Wheeler: Có phải thiền sư Ajahn Chah mong muốn các nhà sư của mình giảng dạy một mục nầy hoặc mục khác phải không?

 

Sumedho: Khi họ có đầy đủ khả năng, ngài đề nghị họ bắt đầu giảng dạy.

 

Wheeler: Như vậy, một ngày nào đó hầu hết hoặc tất cả các nhà sư sẽ giảng dạy?

 

Sumedho: Điều này tùy thuộc vào nhà sư. Một số nhà sư không thể giảng dạy; họ không có khả năng về phương diện này - nghĩa là, không có khả năng sư phạm. Một số vị khác hướng dẫn bằng những hình thức khác, chỉ bằng gương sống của họ.

 

Wheeler: Lúc ban đầu, ngài nói rằng ngài đã gặp nhiều khó khăn khi ở chùa Wat Pah Pong. Đó là những khó khăn? Lẽ đương nhiên, lúc mới đầu, ngài gặp khó khăn về ngôn ngữ và tôi chắc rằng đó là một khó khăn hơn

 

Sumedho: Vâng, chính là ngôn ngữ và văn hóa mới lạ. Trong hoàn cảnh đó người ta phải từ bỏ mọi thứ mà người ta đã từng quen thuộc trong cuộc sống của mình.

 

Wheeler: Ngài đã xử lý việc đó thế nào?

 

Sumedho: Thực tế, tôi đã hành động như vậy. Tôi thật sự không biết diễn tả như thế nào về phương sách tôi giải quyết về vấn đề này. Nếu một người muốn ở lại và học hỏi những điều ở nơi đây, người ấy chỉ làm những gì cần phải làm. Tôi tìm cách thay đổi lối sống của mình cho phù hợp với cách sống của những người ở đấy.

 

Các nhà sư Thái rất tử tế. Đây không phải là nơi những ta gây khó khăn cho tôi. Luôn luôn có sự bao dung và nhân ái. Tôi chỉ tập làm quen với tính cách khác biệt, ăn thức ăn lạ, tập nói ngôn ngữ của họ.

 

Wheeler: Đôi khi, những người từ hai nền văn hóa khác lạ gặp gỡ nhau, một hình thức kiêu ngạo về nền văn hóa của mình có thể phát sinh từ phía này hay phía khác, hoặc cả hai. Ngài có đối mặt sự kiện này không?

 

Sumedho: Vâng, đúng như vậy. Người Thái có những cảm nghĩ giống như những người khác về nền văn hóa và xã hội của họ. Tuy vậy, tất cả mọi người chúng tôi cùng chia xẻ một lối sống chung trong tu viện; nơi đây không chú trọng về di sản văn hóa mà chú trọng về giáo pháp của Đức Phật. Vì thế những khác biệt về văn hóa dường như không phải là điều lớn lao với bất cứ ai.

 

Tôi sành sõi cuộc đời hơn họ rất nhiều. Tôi đã từng đi đây đó nhiều nơi, và nói chung, biết rất nhiều điều trên thế giới. Họ cao cả hơn tôi ở khả năng sống thật tốt đẹp và hòa hợp vào duy nhất một truyền thống mà họ hiểu biết. Tôi thường cảm thấy mình rất ngớ ngẫn và vụng về, giống như một người rất đần độn, bởi vì tôi không có sự phối hợp về thể chất hoặc sự nhạy bén ở hành động mà họ có.

 

Wheeler: Hôm nọ, chúng ta đã trò chuyện về các truyền thống và tập quán, và một thái độ tự mãn có thể phát sinh như thế nào đối với sự tu tập của một người. Thường thường, nhà sư trẻ phải tuân giữ chặt chẽ lời nguyện và giữ gìn giới luật nghiêm minh. Sau đó người ta nhận thấy mình thật sự không đi sâu hoặc tu tập nghiêm túc. Một người có khuynh hướng trở thành máy móc trong những hành động của mình, và có lẽ muốn khám phá chân lý, người đó sẽ bị ngộp thở bởi sự đè nặng của sự tổ chức cơ cấu hoặc truyền thống. Ngài có nhận thấy rằng loại suy thoái này đã diễn ra ở Wat Pah Pong không?

 

Sumedho: À, tôi không tìm kiếm truyền thống cho chính bản thân tôi, bởi vì tôi có nhiều động cơ cho riêng mình, không để cho bất cứ truyền thống nào cản trở tôi. Tuy thế tôi có thể thấy một số nhà sư không năng động lắm. Họ chỉ trong khuôn khổ, bởi vì nó là truyền thống của họ. Do đó, họ có khuynh hướng chìm sâu vào lối sống quen thuộc của một nhà sư.

 

Ngài Ajahn Chah thật sự là một chuyên viên đưa mọi người vượt ra khỏi những tập quán bất di bất dịch. Tuy vậy ngài không thể liên tục hoạt động như vầy. Người ta không thể mong đợi ngài làm vú em cho tất cả các nhà sư. Tôi nghĩ rằng vào lúc ban đầu, ngài đã hoạt động rất mạnh. Tôi nhận thấy rằng bây giờ, Ngài thực hiện điều này dễ dàng hơn nhiều và hầu như để việc này lại cho các nhà sư phát triển. Phương pháp phải là như thế. Đây là một phương pháp tu tập rất chính chắn. Thiền sinh không cần đến các vị thiền sư liên tục đến khuyến khích và khuấy động. Chúng tôi tự mình thực hiện công việc này. Tuy thế các nhà sư Thái và sư phương Tây dường như đã lún sâu vào thói quen. Họ thường hành động như thế dù họ ở bất cứ nơi nào. Họ không có "sự thôi thúc" trong cuộc sống của mình.

 

Wheeler: Tôi nghĩ rằng ngài đang chế giễu tôi ... Krishnamurti nói: "vai trò của Guru, người thầy tinh thần, là vạch rõ con đường. Thế là hết bổn phận. Sau đó để người ta học hỏi. Nếu vị này muốn tìm hiểu, vị này sẽ tự mình khám phá. Nhưng nếu ngài hướng dẫn cho vị này mọi điều, như vậy ngài đã đối xử người như một đứa bé. Không còn gì là ý nghĩa đối với nó!" [3]

 

Sumedho: Đúng vậy, đúng vậy.

 

Wheeler: Trong vai trò của ngài là một tu viện trưởng, bằng cách nào Ngài hướng dẫn các môn đồ của mình để ngăn ngừa việc thọ nhận những vật có giá trị; đặc biệt trong việc thọ nhận những lễ vật cúng dường của các thí chủ? Làm cách nào để ngài đề nghị họ ngăn chặn những sự việc trở thành lề thói, quả thật đó là sự an toàn; cái cảm nghĩ rằng đó đúng là một cuộc sống tốt đẹp, thoải mái?

 

Sumedho: À, chính xác nó không phải là một cuộc sống thoải mái. Ở Anh quốc, vấn đề này không biến thành một thông lệ, bởi vì không có truyền thống để mà ăn sâu vào. Nó thật mới lạ. Như vậy nó không phải là một cảnh ngộ để người ta thật sự có thể chìm sâu vào bất cứ điều gì.

 

Ở Anh quốc không an toàn như ở một xứ sở đạo Phật. Làm một nhà sư ở Anh quốc là sự mạo hiểm, sự may rủi, không được đảm bảo. Như vậy người ta cần phải cảnh tỉnh nhiều hơn nữa, trong khi đó ở Thái Lan, người tu đương nhiên là được bởi vì Phật giáo đã được chính thức hơn và vững chắc ở xứ sở này.

 

Tất cả những gì người ta có thể làm là khuyến khích liên tục nhắc nhở mọi người - bởi vì họ quên lãng. Nhưng họ thật sự phát triển như thế nào là tùy thuộc vào họ. Như họ nói "Anh có thể đưa một con ngựa xuống nước..." Và đó là tất cả những gì anh có thể thực hiện được.

 

Wheeler: Tuy thế đối với một số người có thể có một khoảng trống giữa khuynh hướng và sở thích của chính họ; và hệ tư tưởng mà họ đang theo đuổi. Làm cách nào để nối kết khoảng trống đó?

 

Sumedho: Tại sao người ta phải thừa nhận một khoảng trống giữa mọi người. Đó là giá trị thật của đời sống tu hành. Người ta phải thừa nhận con người cần có thời gian và cơ hội để phát triển, đúng hơn là kỳ vọng họ tạo nên những thay đổi lớn lao ngay lập tức. Một số người hiểu biết liền lúc ấy; một số khác phải mất nhiều năm. Điều này không có nghĩa là người ta sẽ chỉ giảng dạy cho những người hiểu ngay liền - họ không cần phải được dạy dỗ thật nhiều!

 

Người ta cũng có thể cung cấp ít nhất một nơi trong tu viện cho những người sống một đời sống tốt đẹp thay con đường thiện . Cuối cùng điều gì đó cũng sẽ thấm vào họ. Ít ra đó là nghiệp thiện. Người ta không làm bất cứ hành động bất thiện nào. Loại môi trường này khuyến khích người ta làm lành tránh dữ. Đó là một môi trường đạo đức. Sự đặt nặng ở đây là chú ý, cảnh giác và theo dõi; đối mặt với cuộc sống của mình là như mình người ấy đang cảm nhận nó, xem xét nó, và học hỏi từ nó.

 

Cải cách mà một người cương quyết và quyết tâm trong tu tập là vấn đề cá nhân. Một số người tiến bộ rất nhanh, những người khác lại rất chậm; một số lại trung bình. Trong tu viện, người ta có thể cho phép nhanh hoặc chậm. Sự việc không phải là người ta đang chỉ chọn lựa người giỏi nhất, những người nhanh nhất. Sự lợi ích của việc có một cộng đồng tu tập là có cơ hội cho nhiều người phát huy. Một vài người chẳng bao giờ giác ngộ được nhưng ít ra họ có phát triển sự tốt đẹp trong cuộc sống của mình.

 

Wheeler: Như thế, ngài không cho rằng một cộng đồng tu sĩ sẽ giống như một chỗ dựa hoặc một nơi giam cầm, ngăn chặn người ta phát triển?

 

Sumedho: Không. Bất cứ cái gì cũng có thể là chỗ dựa, là nơi giam cầm. Tất cả đều tùy thuộc vào việc người ta sử dụng hoặc nương dựa vào nó. Nhiều người nghĩ rằng có chỗ dựa là tồi tệ. Những sự nương tựa tự nó không chống đỡ không có gì tồi tệ. Đôi lúc chúng ta cần nương tựa.

 

Hãy tưởng tượng khi nói với một đứa bé sơ sinh, "Con có đôi chân rồi. Hãy đứng dậy và bước đi! Ta sẽ không ẵm con đứng dậy, cho con ăn hoặc làm bất cứ việc gì cho con. Bây giờ con đã sinh ra đời. Con phải học hỏi và tự lo cho bản thân". Tuy thế đứa bé vẫn chưa sẵn sàng. Hiểu được hoàn cảnh nầy tình huống, người ta nuôi nấng và chăm sóc bé.

 

Vừa lúc đứa bé biết bò, người ta không nói rằng, "Nếu con dựa vào việc bò, con sẽ bò suốt toàn bộ cuộc đời còn lại và không đến được bất cứ chỗ nào. Hãy đứng dậy và bước đi!" Nhưng đứa bé không thể làm được. Nó chưa sẵn sàng. Nó vẫn chưa đủ sức mạnh.

 

Nó dùng chân tay của mình để bò và vẫy, leo lên ghế, và người mẹ nắm lấy bàn tay của nó v.v..., nó đang phát triển sức mạnh và lớn lên dần, cho tới lúc nó bước đi được bước chân đầu tiên trong cuộc đời. Khi nó tự mình bước đi, Theo lẽ tự nhiên, nó không còn cần dùng đến những sự nương dựa nữa. Khi đứa bé bắt đầu học đi một mình, nó bỏ đi những sự nương tựa. Nó không còn muốn nắm bàn tay của mẹ nữa.

 

Trên con đường tâm linh cũng thế, đôi lúc những sự nương tựa có chủ ý tăng thêm sức mạnh. Khi người ta đủ mạnh, người ta bắt đầu bước đi - tự lập.

 

Wheeler: Ngài đã đưa ra phép loại suy về một đứa bé đang tập bò, phát triển chầm chậm, dần dần. Một người ở trong hệ thống, chỉ thích nghi với khuôn mẫu của nó mà không thật sự đào sâu - làm cách nào mà một hệ thống hoặc một tổ chức có thể giúp anh ta vượt ra khỏi lối mòn mà anh ta đã lún sâu?... À, tôi chỉ đang nói về bản thân tôi, ngài biết đấy... Đôi lúc tôi cảm thấy cần thiết phải trốn thoát khỏi chủ định duy nhất về sự thức tỉnh, cái mà có thể tạo thành lối sống tự mãn.

 

Sumedho: Chính cuộc sống là một sự thay đổi không ngừng. Đó không phải là những cơ cấu và những điều kiện tự thay đổi. Một số nhà sư phải từ bỏ y áo và trở về đời. Một số khác, sau nhiều năm không tìm được điều gì cho bản thân, và tìm kiếm cái điều gì khác để làm. Tất cả những gì mà người ta có thể yêu cầu họ làm là cố gắng sống trung thực với những ý định của họ. Mỗi một cá nhân phải giải quyết chính cuộc đời của mình...

 

Nếu một ai đó cảm thấy mình đã sống đủ cuộc đời tu hành và muốn sống theo một cách khác, điều này là hoàn toàn đúng thôi; đó là sự lựa chọn của người đó. Nhưng người ấy nên trung thực với những ý định của mình, tốt hơn là chỉ dùng như lời bào chữa. Điều này rất quan trọng. Điều duy nhất không được tốt đẹp mà người ta nghe thấy được là khi một ai đó rời bỏ tăng đoàn (giới luật tu tập), nhưng không trung thực với lý do người ấy từ bỏ để trở lại đời thường. Một người có thể biện hộ sự ra đi của mình bằng cách bôi bác truyền thống. Tuy thế đôi khi người ta rời bỏ cuộc sống tu tập vì những hoài nghi chính đáng.

 

Wheeler: Là một tu viện trưởng, làm cách nào ngài khuyên các đệ tử của mình có cách nhìn về những lễ nghi và nghi thức mà dường như có thể khá xa cách với sự tu tập thực tế?

 

Sumedho: Riêng cá nhân tôi thích những nghi lễ. Thực thú vị khi thực hiện chúng; chúng yên lặng. Người ta thực hiện chúng với một nhóm người. Đó là đang thực hiện một điều thú vị, cùng với nhau và trong một trạng thái hợp nhất. Ý định này luôn luôn tốt đẹp; tỏa ra tình nhân ái và tụng lên những lời dạy của Đức Phật bằng tiếng Pali. Nó thường nâng cao và truyền cảm hứng cho tâm của nhiều người. Đó là chức năng duy nhất mà tôi có thể trình bày.

 

Tôi cho rằng lễ hội làm cho cuộc sống càng tốt đẹp hơn. Nếu một người chưa bao giờ sử dụng lễ nghi và không hiểu được mục đích của nó. Như vậy khi một người gặp gỡ một hình thức lễ nghi, người ấy có thể phản đối, và nghĩ rằng "Tôi không thích sự việc này", hoặc "Những lễ nghi là không đúng". Nhưng chúng không phải như vậy! Chẳng có điều gì sai trái với lễ nghi. Chúng hoàn toàn đúng khi người ta có những sự kiện này.

 

Chúng ta không đặt thành vấn đề để nói người ta nên hay không nên có những nghi lễ. Chúng là một phần truyền thống của chúng ta, như vậy chúng ta sử dụng chúng nếu chúng thích hợp. Nếu chúng không thích hợp, chúng ta không sử dụng chúng. Nó là vấn đề của sự hiểu biết, hơn là có những quan điểm về nó.

 

Wheeler: Ngài quan niệm như thế nào về vai trò của một tu viện trưởng? Ngài nhận xét bản thân mình như thế nào khi mình là một nhân vật có quyền lực?

 

Sumedho: À, tôi thật sự không suy nghĩ về điều này. Tôi hành động đúng mực của một vị tu viện trưởng. Đó là bản tính biết đánh giá phẩm hạnh và những cơ cấu tôn ti trật tư của tôi. Tôi không cảm thấy những điều này là không thể chịu đựng được Thực sự, tôi nhận thấy (vai trò một tu viện trưởng) là một niềm vui lớn lao. Đó thật là một chức vụ thú vị. Nó có sự bất lợi của mình trong ý nghĩa là tôi phải nhận các thứ bị ném đến cho tôi chứ không phải được chọn lựa.

 

Tuy thế tôi cũng rất thích phục vụ người khác. Tôi thích quay trở lại và đứng số 10 trong hàng. Ở Thái Lan, điều rất tốt đẹp là không phải một người quan trọng, không cần phải luôn luôn đứng trước mọi người.

 

Tuy thế, sự tu tập của chúng tôi là tập thích nghi dần, chứ không phải chọn lựa. Trước tiên là không dễ dàng làm một người tu viện trưởng. Có một điều thật khó khăn đối với tôi để nhận lấy vị trí này, bởi vì nhiều ý tưởng không tương xứng và tự hoài nghi phát sinh. Vì thế tôi thể nhập vào nó. Tôi làm việc với những ý tưởng này, dùng làm đề mục tham thiền của tôi đưa tới cái điểm mà ở đó vị trí này trở nên dễ dàng đối với tôi. Tôi thích nghi dần với vị trí hơn là tin tưởng vào những ý nghĩ: "Ô, tôi chưa sẵn sàng cho vị trí, hoặc chức vụ này, hoặc tôi không muốn làm công việc này!" Gắn bó vào vai trò của một thầy trụ trì cũng là một điều dễ dàng để thực hiện. Nghĩa là, tự đưa bản thân mình trở thành một người quan trọng.

 

Nếu một người có chánh niệm, người ấy đang kiểm soát và theo dõi; những điều này chỉ là những tình huống đổi thay của samsara (luân hồi, cõi ta bà). Lúc này là thầy trụ trì, lúc khác là người hầu - mọi điều đang thay đổi. Nếu một người không có sự yêu thích hơn, như vậy người này không gặp phải sự đau khổ khi hoàn cảnh thay đổi. Nhưng nếu một người quyết tâm không trở thành chức tu viện trưởng hoặc giữ một địa vị có trách nhiệm, thì khi hoàn cảnh xảy ra người ấy giả thử phải giữ địa vị nầy, ông ta sẽ đau khổ.

 

Về một mặt khác, nếu một ai đó muốn trở thành một người quan trọng, nhưng chỉ ở vị trí số 10, người đó cũng đau khổ, bởi vì cảm giác phẫn uất và ganh tị với những người trên mình. Như vậy người ta cũng phải theo dõi điều này.

 

Điểm chủ yếu ở giáo pháp của Đức Phật là phải nhận biết về khổ. Mọi người đều phải gặp khổ, như vậy tất cả chúng ta đều phải theo dõi điều này. Sự kiện không phải là để chọn bất cứ vị trí nào ở trong hàng là "của mình". Một người có thể lên, xuống hoặc ở lại, tùy theo thời gian và nơi chốn.

 

Wheeler: Làm cách nào ngài đã tham thiền về sự "không tương xứng này" mà ngài cảm thấy? Làm cách nào mà ngài đã đối diện với điều đó?

 

Sumedho: Tôi chỉ theo dõi. Tôi chỉ lưu ý và lắng nghe, những tình huống của tâm tôi than vãn, kêu ca tiếp tục mè nheo, "Tôi chưa sẵn sàng..."

 

Wheeler: Một lần nữa, trong buổi tham thiền sáng nay, nỗi giận hờn và phẫn uất lại nổi lên. Lần này tôi để cho nó đến tự nhiên, theo dõi, quan sát nó... sinh rồi diệt... không đồng hóa với nó, không bám víu vòa nó. Và khi nó đi - và chắc chắn sẽ trở lại nữa! Tất cả của sự tu tập có phải là: sự theo dõi liên tục, kiên quyết và vững bền về sự sanh diệt của các hiện tượng?

 

Sumedho: Đó chính là sự nhận thức hoặc tỉnh giác.

 

Wheeler: Và những chướng ngại sẽ mất dần sau một thời gian nào đó phải không?

 

Sumedho: Đúng vậy. Nếu người ta không hành động theo nó. Thói quen sẽ dần dần tàn lụi.

 

Wheeler: Mặc dù người ta không hành động theo phiền não nhưng bởi vì khuynh hướng phiền não luôn khởi dậy nên hành động cũng không phải theo đó mà ra hay sao?

 

Sumedho: Người ta không thể ngăn được tình trạng làm cho ảo tưởng phát sinh trong tâm của người đó. Một trong hai hành động có thể có là: hoặc người đó phản ứng bằng cách bị cuốn hút vào hành động hoặc kềm chế nó.

 

Nếu một người có khuynh hướng kiềm chế được sự khó chịu, thì sẽ cảm thấy tội lỗi hoặc tự sân hận. Người đó nuôi dưỡng tâm trạng đưa ra tâm trạng đó, "Ồ, tôi không còn gì để hy vọng, ngu xuẩn, tôi không thể làm được bất cứ điều gì đúng đắn. Tôi đang phung phí đời mình..." Chỉ lắng nghe nó! Hãy tiếp tục nuôi dưỡng và lắng nghe nó. Người ta nhận ra nó bằng cách khéo léo phô bày và quan sát nó. Và rồi nó sẽ biến mất. Ngược lại người ta có khuynh hướng chỉ kềm chế nó.

 

Wheeler: Mặc dù ảo tưởng hoặc cảm xúc không phát sinh vào lúc đó, bởi vì người ta biết rằng cái nào chiếm ưu thế hơn thì cái đó sẽ gây cho người ta sự lo âu liên tục, như vậy là "nuôi dưỡng nó" đơn giản có nghĩa là để cho nó sinh khởi?

 

Sumedho: Thậm chí tôi đã đi tìm kiếm nó. Khoảng 7 hoặc 8 năm trước. Tôi gặp phải một vấn đề về sự ganh tị. Tôi chán ghét sự ganh tị. Tôi hiểu rõ rằng ganh tị là điều xấu, vì thế tôi thường cố gắng triệt tiêu nó. Khi tình huống đó phát sinh tôi thường suy nghĩ, "Ô, không được, ganh tị đây này. Tôi cố gắng giải quyết sự việc này ngay bây giờ. Tôi phải làm gì đây? À, người ta lẽ ra phải có niềm vui đồng cảm với những người mà mình ganh tị!". Do đó, tôi nghĩ rằng "Mình phải thật sự hạnh phúc với những gì đại loại như thế. Tôi phải thật sự hoan hỉ hạnh phúc về sự thành công của anh ta..."; nhưng trong lòng, tôi không thật sự muốn như vậy, nên tôi chỉ nói lời đầu môi chót lưỡi. Điều này không giải quyết vấn đề. Tôi thường kềm chế nó; tiêu diệt nó, và nó thường quay trở lại, đập mạnh vào chính tôi.

 

Cuối cùng, tôi nhận ra rằng vấn đề không còn là việc ganh tị, nhưng là mối ác cảm của tôi dành cho nó. Tôi chỉ căm hận bản thân vì có tính ganh tị. Tôi cảm thấy rằng lẽ ra tôi không nên có trạng thái đó; tôi xấu hổ vì điều này. Khi tôi đạt được sự thấu hiểu sâu sắc này, tôi bắt đầu nêu nó ra, suy nghĩ mọi điều khiến tôi ganh tị. Tôi tiếp tục quan sát nó. Sau một thời gian thực hiện điều này, vấn đề không còn nữa.

 

Tham ái là một điều gì mà chúng ta đã từng ham muốn, thích thú. Một người không phô bày tham ái ra để quan sát bởi vì người ấy bị cuốn hút vào nó; người ta thật sự dễ dàng bị tham ái lôi cuốn.

 

Tuy thế, những cảm xúc như hờn giận, và ganh tị là một loại cảm nhận ghê sợ đối với tôi. Tôi hoàn toàn không thích chúng và không ham muốn chúng. Như vậy, thay vào việc xua đổi chúng đi, tôi phải đưa chúng đến với tôi, như vậy tôi có thể nhận thức được chúng.

 

Tôi cố ý suy nghĩ về những kinh nghiệm ganh tị đã qua; Tôi chỉ nêu ra tất cả những ký ức mà vấn đề ganh tị nầy đã gây ra. Tôi không phân tích nó và tìm cách thấu hiểu nó "Tại sao?" nhưng chỉ quan sát bản chất vô thường của nó. " Xu hướng tiến tới" này đã dung hòa được thói quen bỏ qua mọi việc mà tôi đã có. Như thế chẳng còn vấn đề gì nữa.

 

Do đó, tại sao phải cần đến trí tuệ. Khi một người hiểu được khuynh hướng về sự yêu, ghét như thế người ấy thật sự biết được cách tu tập. Tìm ra sự quân bình giữa lực hút (yêu) và lực đẩy (ghét) đều xuất phát từ trí tuệ ở đây (chỉ vào trái tim của mình). Tôi chỉ đưa ra một sự hướng dẫn để xem xét việc sử dụng. Hãy quan sát nếu nó xảy ra!

 

Wheeler: Các đệ tử liên hệ với ngài ra sao? Nó có tương tự như cách liên hệ của ngài với thiền sư Ajahn Chah?

 

Sumedho: Các đệ tử (nhà sư) cùng sống chung hiện nay rất tôn kính tôi. Họ là một Tăng đoàn rất tốt. Tôi đã từng gặp những đệ tử gây cho tôi khó khăn. Nhưng người ta cũng học hỏi được từ đấy. Những nhà sư khó tính không thích hoặc không kính trọng một người hay có thể dạy người khác quá nhiều điều. Họ tạo ra sự bất đồng ý kiến.

 

Wheeler: Nhưng những điều ấy không gây ra những khó khăn trong Tăng đoàn (Sangha) sao?

 

Sumedho: Vâng, chúng tôi tìm cách giải quyết những khó khăn hơn là tạo ra những môi trường lý tưởng.

 

Wheeler: Làm cách nào ngài góp ý kiến cho một trong những đệ tử của mình nếu vị này có những nỗi băn khoăn về việc tuân giữ những giới luật nào đó? Ví dụ, nếu một trong những vị sư cảm thấy tốt hơn nên mặc quần áo của cư sĩ thay vì mặc áo cà sa của nhà sư khi đến Luân Đôn?

 

Sumedho: Chúng tôi sẽ không bao giờ mặc quần áo của người đời.

 

Wheeler: Như vậy, không cần thiết đến lời khuyên.

 

Sumedho: Mục tiêu là hướng nhà sư đến sự hiểu biết ý định hoặc mục đích của mình, để biết rõ được mình đang làm điều gì, hơn là bắt buộc, hoặc qui định họ.

 

Chúng tôi đang dùng những tập tục đặc biệt và những truyền thống như là một tiêu chuẩn phản ánh, là một phương cách nhìn lại bản thân. Vấn đề mọi người phải tuân theo giới luật, nhưng cố gắng gợi lên đức hạnh con người, chịu trách nhiệm về phẩm hạnh của mình trong cộng đồng tu sĩ và ở thế gian. Người ta có thể khiến cho mọi người tuân giữ giới luật mà không sợ hãi. Họ lo sợ sẽ phạm giới bởi vì họ sẽ phải bị bắt gặp, bị trừng phạt và bị làm bẻ mặt. Nhưng điều này không gợi lên tính chính trực và đức hạnh.

 

Về mặt khác, người ta không muốn làm cho giới luật lỏng lẻo mà cũng không để cho bất cứ ai làm theo ý mình. Người ta cần một sự nghiêm khắc, một tiêu chuẩn mà người ta có thể học hỏi từ đó. Nếu không người ta thường nghĩ rằng "Ồ, y cà sa hay áo đời không có gì khác biệt ... Ồ, ăn buổi xế thì được thôi... Ồ, mang theo tiền thì cũng tốt thôi!". Người ta có thể hợp lý hóa bất cứ điều gì.

 

Có đủ lý do bào chữa cho việc phạm giới luật mà tôi đã từng thấy. Phải làm gì nếu một gia đình bên cạnh đang sắp sửa chết đói? Tại sao tôi không thể ăn cắp bánh mì của người giàu đem phân phát nó cho họ? Người ta luôn luôn có một lý do chính đáng để biện minh về hành động của mình. Như vậy đó không phải là việc hợp lý mà chúng ta đang cố gắng phát huy, nhưng là ý nghĩa của đức hạnh và trí tuệ. Quy định họ bằng sự sợ hãi, trói buộc họ bằng chuỗi giới luật là điều không thể thực hiện được bởi vì giới luật không uyển chuyển và cứng nhắc đến nổi biến họ thành như những con chuột trong mê cung.

 

Wheeler: Tôi thường nghĩ rằng các nhà sư Theravada thể hiện những lời nguyện rất chính xác. Tuy vậy bây giờ tôi thấy rằng Giới Luật (Vinaya) có thể được dùng như là một bài học trong sự phát triển chánh niệm. Tất cả là thế đó.

 

Sumedho: Đúng vậy. Nó thật sự là một phương tiện hết sức tốt đẹp.

 

Wheeler: Nhưng theo như ngài đã đề cập, những giới luật có thể trở thành một kỷ luật làm loạn tinh thần.

 

Sumedho: Trước tiên người ta phải thích sự luyện tập rồi. Người ta tự luyện tập. Khi một người học chơi đàn piano, thì không thể khởi đầu với nhiều khúc nhạc khác nhau. Đầu tiên, người ấy phải học từng khúc nhạc. Trước hết người ấy cần phát huy kỹ năng và sau đó phối hợp.

 

Người ấy phải làm công việc lặp đi lặp lại giống như việc phải ngồi hàng giờ liền cho đến khi đạt được kỹ xảo. Rồi sau đó người ấy bắt chước theo để chơi các khúc nhạc. Cuối cùng, khi kỹ năng đã được phát triển, người ấy không phải học theo hoặc bắt chước bất cứ điều gì nữa. Đây là điều tự nhiên. Sau đó người ấy có thể chơi nhiều thể điệu khác nhau, và nó trở thành một nguồn vui cho mọi người lắng nghe. Nhưng nếu một người cố gắng chơi nhiều thể điệu khác nhau trước khi người này biết đượctừng khúc nhạc, điều này có thể làm cho mọi người cảm thấy khó chịu khi nghe.

 

Đó là lý do tại sao giới luật tu sĩ (Vinaya) giống như các bài tập piano. Vào những năm đầu tiên thật chán nản. Người ta phải nghe đi nghe lại nhiều lần: mọi việc đều phải thực hiện theo một cung cách nào đó. Mặc dù nó trông có vẻ tiểu tiết và không thích đáng với bất cứ điều gì lớn lao, một khi đã rành rẽ cách sử dụng, người ấy đều phải nghĩ đến nó, cũng không thắc mắc, "Tôi nên ấn phím này hay phím kia?" Nó tự động bởi vì người ta đã được kỹ xảo sử dụng nhạc cụ đặc biệt này rồi. Từ đó về sau, người ta không còn lệ thuộc nó, người ta có thể sử dụng nó.

 

Một số nhà sư cũng giống như những người chơi dương cầm, họ chỉ chơi đi chơi lại những khúc nhạc tiêu chuẩn bởi vì họ e ngại rời xa tiêu chuẩn cơ bản. Họ không có sự tự tin; họ thiếu trí tuệ; họ chỉ ở trong khuôn khổ của mình. Điểm chủ yếu của giới luật tu sĩ là không quy định ai, trái lại, nó mang lại sự tự do hoàn toàn cho con người - không phải tự do theo đuổi ham muốn, nhưng tự do là tự giác. Người ta chỉ có thể thực hiện điều này nhờ có trí tuệ chứ không phải do ham muốn. Người ta không thể tự giác với lòng ham muốn, người ta bị nó khống chế.

 

Vinaya là một phương cách rèn luyện thân và khẩu; tạo cho chúng vẻ đẹp và khuôn thước, và thiết lập mối quan hệ với những người khác. Ví dụ, nhiều người chỉ trích những giới luật về phụ nữ: "Tại sao một nhà sư không thể đụng chạm đến người nữ?... Tại sao một nhà sư không thể ở trong phòng với một người nữ?... Tại sao tôi không thể mời một người phụ nữ đến đây để cùng trò chuyện riêng tư?... Điều đó đối với người nữ như thế nào? Có phải đức Phật là một người trọng nam khinh nữ không?" Những câu hỏi như thế thường được nêu lên. Đó là vấn đề thiết lập mối quan hệ thích đáng để người ta có thể tu học được Dhamma.

 

Nếu tôi mời một người nữ đến đây trong phòng này, mặc dù với ý nghĩ, "Tôi không còn tham dục nữa"; như thế thì người khác thấy có được không? Nó cũng là một cách để bảo vệ người phụ nữ, giữ cho họ khỏi bị đàm tiếu.

 

Hơn thế nữa, người nữ thường hay yêu các người thầy và những nhân vật có thế lực. Đối với những nhà sư hãy còn bị những người phụ nữ quyến rũ, phụ nữ có một sức hấp dẫn mạnh lôi cuốn họ mạnh mẽ, đặc biệt những người phụ nữ đang bàn cãi những vấn đề riêng tư của họ. Người ta có thể dễ dàng bị tình cảm lôi cuốn vào sự kiện đó.

 

Đức Phật không dạy rằng một nhà sư không thể hướng dẫn cho phụ nữ. Ngài dạy rằng một nhà sư nên thiết lập một mối quan hệ ở nơi mà có thể truyền dạy giáo pháp. Tôi nhận thấy điều này rất hữu ích trong việc rèn luyện các nhà sư. Không có những vụ tai tiếng hoặc chuyện gì lôi thôi trong tu viện của chúng tôi. Khi những người phụ nữ đến, họ biết những quy luật và chấp nhận chúng. Do đó, chúng tôi có thể truyền dạy giáo lý mà không có liên quan đến tình cảm và tất cả mọi vấn đề bàn ra tán vào.

 

Nhiều tỳ khưu ở Anh quốc, cả người Thái lẫn người phương Tây, đã bị ô danh do bởi tình trạng dễ duôi về phụ nữ. Đó là một mãnh lực tự nhiên. Khi tôi đến Anh quốc, tôi cũng nghĩ đây nó sẽ là một vấn đề rắc rối. Tôi cảm thấy rằng người phụ nữ phương Tây sẽ rất ghét và phản đối những quy tắc. Nhưng họ lại không như thế. Khi họ hiểu được những quy tắc, họ hết sức tôn trọng chúng. Nhưng chư Ni đôi lúc quá tỉ mỉ hơn cả chúng tôi. Họ rất thận trọng về Vinaya, bởi vì họ thật sự muốn thực hành nó đúng mực.

 

Trong cộng đồng tu viện của chúng tôi, không có vấn đề ganh tị về với người nữ. Chẳng hạn như, đại đức Sucitto có một người bạn gái hoặc ưu đãi với một trong những ni cô! Những tình trạng như thế này, nơi có sự ganh tị phát sinh, là một vấn đề thường tình của thế gian, phải không? Đây là một hình thức rèn luyện để tránh được những khó khăn này.

 

Wheeler: Ngài dạy dỗ cho mọi người đồng đều với nhau phải không?

 

Sumedho: Vâng, các ni cô là một thành phần lớn của cộng đồng tu sĩ. Họ thực hiện tất cả mọi chức năng và có cùng một hình thức rèn luyện.

 

Wheeler: Ngài có cảm thấy rằng người phương Tây dễ thích hợp trong việc tu tập chánh niệm (satipatthana) hơn là học về phân tích tâm lý (vi diệu pháp).

 

Sumedho: Chánh niệm là điểm chủ yếu của Giáo Pháp Đức Phật. Người ta không cần dành nhiều thời gian để học nó. Tôi cảm thấy không cần thiết học cũng có thể thực hành được. Tôi không phản đối điều gì cả.

 

Tuy thế, một số người cảm thấy thiên về sự uyên bác và tiến đến gần sự tu tập ở hình thức này. Tôi chỉ có có thể nói về kinh nghiệm bản thân mình. Tôi cảm thấy sự tu tập căn bản này là đủ rồi: Tứ Diệu Đế và Tứ niệm xứ. Tôi cần đến Vinaya và chánh niệm để hiểu biết được Giáo Pháp của Đức Thế Tôn qua kinh nghiệm thực hành hơn là lý thuyết. Nếu không, nó giống như việc luôn luôn xem bản đồ mà chẳng đi đâu cả.

 

Sự kiện là người ta không cần biết quá nhiều. Giáo pháp thì thật đơn giản. Cho nên đối với nhiều người việc tu tập là đủ rồi. Tuy thế tôi cũng thành thật hoài nghi liệu người ta hiểu được cái điểm mấu chốt của sự tu tập tứ niệm xứ. Nó vẫn là một điều nhồi sọ trong khi người ta phụ thuộc về những gì chỉ dạy phải thực hành và đã sắp xếp hết mọi điều cho họ.

 

Bây giờ khi tôi đọc các bộ kinh và Abhidhamma (vi diệu pháp), tôi có thể hiểu được. Tôi biết được những gì đang được trình bày. Trước khi tu tập thiền, tôi đọc nhiều kinh điển nhưng không thể hiểu chúng thật sự muốn nói gì. Khi một người đang tu tập, người ấy thật sự thực sự nhận lấy giáo pháp của Đức Phật và thật sự quán chiếu bản thân. Khi một người xem xét bản chất của sự khổ, người này không nhận lấy sự định nghĩa của một ai đó nhưng đang nhận thức về kinh nghiệm ở bản thân (chỉ vào mình). Giáo pháp của Đức Phật trở nên rõ ràng, trong sáng khi người ta suy niệm về nó.

 

Chú thích:

 

[1] J. Krishamrurti The Only Revolution, New York: Harper & Row, 1970, trang 76.

[2] J. Krishnamurti; Freedom from the known, New York : Harper & Row, 1969, trang 10.

[3] J. Krishnamurti; The Awakening of Inlellgence, New York: Avon Books, 1975, trang 147 - 148.

Ajahn Sumedho Interviewed

I first met Ajahn Sumedho at the Centre for Higher Tibetan Studies in Switzerland in the spring of 1979. He had just finished giving a ten-day course in the mountains near Berne, and was invited to spend a couple of days at the Centre by its Abbot, Geshe Rabten.

One person who attended Bhikkhu Sumedho's course liked to be around him because 'he is just such a nice guy'. It was heartening for me to see a monk who kept strictly the rules of discipline, the Vinaya, yet maintained a softness and naturalness behind his observance of them.

 

To illustrate Sumedho's resoluteness about the importance of practice and meditation: While we were both walking around the hillside near the Centre, overlooking the French and Swiss Alps with Lake Geneva below, he asked me whether I had a desire to return to India. I answered that I would go if it were for the purpose of improving my Tibetan. I could then return to the West and act as an interpreter for a Tibetan master or work as a translator of Tibetan texts. His only response to that was: 'Why don't you just get enlightened?'

 

When Ajahn Sumedho ('Ajahn' is the Thai equivalent of the Pali/Sanskrit Achariya, or 'Master') came to the Insight Meditation Society in May of 1981, he conducted an eight-day work retreat. As the following interview will show, there is nothing special that is cultivated in the meditation; there is no particular technique that is taught. One's only responsibility is to remain mindful in all activities throughout the day. Live simply, be natural and watch the mind are the keys to his practice.

 

During the retreat the students performed various tasks around the Centre for two hours every afternoon. Some painted, some cleaned the building, others worked in the garden. We chanted prayers every morning and evening, and I was rather surprised to see how the twenty-five participants (most of whom were new to meditation) so quickly and easily adapted to the bowing and ceremony that the two monks, Sumedho, and the young English monk, Sucitto, who accompanied him, asked them to perform.

 

Ajahn Sumedho inspired the retreatants with his three daily impromptu talks, and casually spent his lunch hour and the one and one-half hour tea break willingly answering their questions about Dhamma practice and entertaining them with stories about monastic life in Thailand.

 

What was most encouraging for me was to see that there are monks who have the determination and the motivation to maintain the purity of a tradition. Many of the questions that I raised in my paper concerning the shortcomings of conformity and blind obedience to spiritual organizations and teachers were skilfully and wisely dealt with by Ajahn Sumedho. I appreciated his humour and patience with my persistent questions concerning organised religion. His views on the values of tradition and monastic life enabled me to see this matter from a different perspective.

 

The following is the major part of our three interviews.

 

____________________

 

1.

 

RW: What attracted you to Buddhism? What did you feel it had to offer?

 

AS: The path of liberation.

 

RW: Had you tried other paths or methods as well?

 

AS: At one time I was quite a devout Christian, yet I later became disillusioned with Christianity, mainly because I did not understand the teachings and was not able to find anyone who could help me to comprehend them. There did not seem to be any way to practise Christianity, other than just believing or blindly accepting what was said.

 

What impressed me about Buddhism was that it did not ask one merely to believe. It was a way where one was free to doubt. It offered a practical way of finding out the truth through one's own experience, rather than through accepting the teachings of other people. I realised that was the way I had to do it, because it is my nature to doubt and question, rather than to believe. Therefore, religions that asked one to accept on faith were simply out. I could not even begin to get near them.

 

When I discovered Buddhism, it was like a revelation for me, since I saw that one's religious inclinations could be fulfilled in this way. Previously, I felt a sense of sorrow in the fact that I knew the material world was not satisfactory for me and yet the religion I had been brought up in offered no alternative way of practice other than just blind faith. Buddhism was quite a joyous discovery.

 

[Ajahn Sumedho mentioned being inspired by D.T. Suzuki's books, and having encountered Buddhism in Japan while in the navy during the Korean war.]

 

RW: Upon completion of your naval service, did you remain in California or did you return to Asia?

 

AS: After I left the navy, I went back to the University of Washington to finish my bachelor's degree in Far Eastern Studies. I then went to the University of California at Berkeley for an M.A. in Asian Studies. When I completed that in 1963, I went into the Peace Corps.

 

RW: What attracted you to Thailand more than to Japan, for example, where Suzuki's teachings originated?

 

AS: Well, I was in that part of the world. Also, I remembered the cold winters of Japan. Since Thailand had such a nice, sunny climate, I felt I might as well see what it had to offer, because I dreaded having to live through those cold winters.

 

RW: Did you immediately go to Ajahn Chah's monastery?

 

AS: No, I went first to Bangkok where I practised meditation as a layman. During the mornings I taught English at Thammasat University and in the afternoons I went off to practise meditation.

 

I later decided to ordain, but I did not want to live in Bangkok because I did not find it very suitable for me. While I was on vacation in Laos, I met a Canadian monk who recommended that I ordain in a Thai town across the Mekong River. So, I followed his advice and ordained at a temple in Nong Kai. That year I mainly practised on my own, without a teacher. The following year I met a disciple of Ajahn Chah, a Thai monk who spoke English. He then took me to meet Ajahn Chah.

 

RW: And you remained at Ajahn Chah's monastery for ten years?

 

AS: Yes.

 

RW: You mentioned that it was the doubting aspect of Buddhism that attracted you to it. One was able to doubt. It very often happens that people are attracted to the Tibetan tradition because of the personality or wisdom of the teacher. Does the teacher have such a significant role in the Theravada tradition?

 

AS: No. They try to de-emphasize that; yet people are often attracted to teachers, which is very natural. However, the discipline itself is arranged so that one is not to adore a teacher. One keeps within the discipline by respectful attitudes and compassionate actions towards any teacher or anyone. I was not really looking for a teacher. I did not have the feeling that I needed a particular kind of teacher. Yet I had confidence in the Buddha's teaching. When I met Ajahn Chah, my confidence in him grew when I realised what a wise man he was. At first I liked him but I did not feel any great devotion. But I stayed there and I really do not know why because there were many things I did not like about the place. Yet, I just seemed to stay there... for ten years!

 

RS: How would Ajahn Chah instruct the disciples under him?

 

AS: Ajahn Chah set up a monastery which provided the opportunity for people to ordain and practise Buddhist meditation. So mainly what he offers is a place, a conducive environment.

 

The teaching itself is just the traditional Buddhist teaching of the Four Noble Truths. He adheres to the Vinaya discipline. Part of the agreement to live there is that the monks adapt their behaviour to the traditional discipline. I felt that was what I needed very much. It was an opportunity to live under a convention of that kind. My background was very permissive and freewheeling and I realised that was a great weakness in my nature. I resented authority and did not know how to conform to discipline in any way. So I was quite glad to have the opportunity to do that. It was a good challenge for me and I knew that was what I needed to do. Much conceit still existed in me, wanting to live on my own terms. Ajahn Chah was very strict. We had to live on the terms established by the monastery. I learned to do that there.

 

Ajahn Chah does not stress method. He stresses just being aware during the day and night, being mindful and watching the impermanence of conditions as one experiences life.

 

During the first year while I was in Bangkok, I meditated alone. Since I understood the meditation technique, when I went to Wat Pah Pong [the name of the monastery], Ajahn Chah just encouraged me to keep doing what I had learned in Bangkok. He did not demand that I adapt my behaviour to any particular form or technique other than the Vinaya discipline of the monks.

 

*  *  *  *  *

 

RW: I would like to read to you something from Krishnamurti concerning tradition. He says: 'To carry the past over to the present, to translate the movement of the present in terms of the past destroys the living beauty of the present. There is nothing sacred about tradition, however ancient or modern. The brain carries the memories of yesterday, which is tradition and is frightened to let go because it cannot face something new. Tradition becomes our security and when the mind is secure it is in decay. One must take the journey unburdened, sweetly, without any effort, never stopping at any shrine, at any monument, or for any hero, social or religious, alone with beauty and love.'

 

Now, Sucitto's and your presence here has been an obvious display of the carrying on of a tradition that has been going on for over 2500 years. Concerning this quotation, I wonder if one could get too caught up in form, missing the intended purpose? Or, another way of stating it, how does one avoid getting caught up in form?

 

AS: Well, it is like driving a car. One could dismiss the convention of a car and say, 'I am not going to depend on that because it is from the past. So I'll just walk on my own to New York City.' Or, 'I'll invent my own car, because I don't want to copy someone else and take something that is from the past and bring it into the present.' I could do that, and maybe I would succeed. I don't know.

 

The point is not so much in the vehicle that is used, but in getting to New York City. Whether one goes slow or fast, one should take what is available, whatever vehicle one finds around oneself. If there isn't any, invent one, or just walk. One must do the best one can. But if there is one already around, why not learn to use it? -- especially if it is still operable.

 

So, tradition is like that. It is not... clinging. One can also cling to the idea that one does not need tradition, which is just another opinion or view. Quotations like that are tremendously inspiring, but they are not always very practical because one forms another opinion that traditions are wrong or harmful.

 

The problem, you see (I am sure Krishnamurti must realise this) does not lie in the tradition, but in the clinging. This body is a conventional form that came from the past. The language that we use, the world we live in, and the societies we are a part of are all conventional forms that were born in the past. So, one could say that one does not want anything to do with them. In that case one should stop talking completely. Krishnamurti should stop having books published.

 

RW: He asks his listeners, 'I don't know why you buy these books.'

 

AS: We live in a conventional world. It is not a matter of depending on conventions, but learning how to use them skilfully. We can use language for gossip, lying, and becoming obsessed speakers; we can become perfectionists, fuss-budgets with language. The important thing to understand is that language is communication. When I communicate something to you, I try to speak as directly and clearly as possible. It is a skill. But if my tongue were cut out, I would just learn to live without speaking -- that's all. That would not be any great sorrow, but a bit of an inconvenience -- for some things; it might be convenient for many other things.

 

Religious traditions are just conventions that can be used or not, according to time and place. If one knows how to use it through the tradition, one is much better off than another who does not know, who thinks that they are all just a waste of time. One can go to a Christian church, a Theravada monastery or a Synagogue, and respect, get a feeling for the convention that one finds oneself with, without feeling that it is bad or wrong. It is not up to us to decide about that. They are all based on doing good, refraining from doing evil. Therefore, if one clings to them, then one is bound to them. If one regards religion as just a convention, then one can learn how to use it properly. It is the raft that takes one across.

 

RW: You mentioned that traditions can be used according to the time and place. I noticed that you and Sucitto go on 'alms round' in Barre in the morning. On the one hand, I find this quite admirable. On the other hand, I wonder what kind of effect this has on a society that is not Buddhist. To the average householder, a person wearing orange or red robes could be anything from a Hare Krishna devottee to -- whatever.

 

Is following the tradition, at this time and in this place, doing more harm than good? Could it be offensive to these people? Would it have been offensive for me to go and listen to Krishnamurti in Saanen wearing my robes (which, in that context, I chose not to do)?

 

AS: Well, the intention is good, the time is now, and the place is here. Some people will be upset; some will find it very nice. In England it upsets some people, but sometimes people need to be upset. They need to be shaken a bit, because people are very complacent in these countries.

 

Going on alms round also attracts good people, who seem to like it. Since our intention is not to shock or harm, how my appearance affects others is their problem. I am modestly covered and am not out to lure them into any kind of relationship or harm them in any way. On the contrary; it gives them the opportunity to offer dana (charity) if they are so inclined.

 

In England, admittedly, most people do not understand it. Yet it seems to me that making the alms round is one of the religious conventions that is worth maintaining, because the people in countries like this have forgotten how to give. It is like putting juice back in the religious body again. It is getting monks moving within the society.

 

When the Buddha was a prince [before he was enlightened], he left the palace and saw four messengers who changed his life. The first one was an old man, the second was a sick person, the third was a corpse and the fourth was a monk meditating under a tree. I look at this as a message. I do not carry it around as a duty I have to perform, but just part of my life, the way I live my life. If people object and find it very wrong, if it is causing people all kinds of problems, then I will not do it. That has not happened yet.

 

People thought that I should not go on alms round in the village. They thought it was stupid. Some English people, as well as Buddhists, felt that we should adapt to the English customs. However, I decided to take it as it came. Rather than deciding whether or not I should adapt to the English customs, I simply brought the tradition and played it by ear. I felt it would take its own form, accordingly. If one trims the tradition down before even planting the seed, one often severs or slightens its whole spirit. The entire tradition is based on charity, kindness, goodness, morality... and I am not doing anything wrong. I may be doing things that people do not understand...

 

RW: In my own mind, and I imagine in the minds of others as well, the alms round might seem to be a type of clinging to form, to tradition.

 

AS: Then one is not being mindful. It would just be clinging to a method. Yet it is still better than what most people cling to, isn't it?

 

RW: I am not sure. Is it possible to place a value judgment on clinging? However how does one keep the mind awake, day and night? While performing certain rituals, chanting or on alms round, how can one avoid the repetitive, mechanical routineness of our daily existence?

 

AS: Daily existence is mechanical and routine. The body is mechanical and routine. Society is that way. All compounded things just keep doing the same thing over and over. But our minds do not have to be deluded by those habits anymore.

 

RW: Krishnamurti says that 'religious people, those who live in a monastery, in isolation, or go off to a mountain or a desert, are forcing their minds to conform to an established pattern.' You said earlier that at Ajahn Chah's monastery, you were conforming to an authority because you felt that previously...

 

AS: One is conforming one's bodily action to a pattern. That is all.

 

RW: Yes, Krishnamurti says: 'forcing the minds to a pattern.' Minds do conform to an established pattern, not just the body. They are dependent.

 

AS: Right. That is samatha [tranquility, concentration] practice: believing in doctrines and absorbing into conditions. But that is not the purpose of Buddhist meditation.

 

RW: Samatha practice is conforming to doctrines?

 

AS: If one believes in doctrines, the thoughts in one's mind to accept certain doctrinal teachings, and reject those which do not fit. Then there is also the samatha practice of tranquility, where one trains the mind to concentrate on an object This practice calms and steadies the mind.

 

RW: And you are calling that 'an established pattern'?

 

AS: Yes. The normal rhythm of one's breath is an established pattern that you cling and are attached to, isn't it? It gives some tranquility to the mind.

 

RW: One does not 'cling' to the breath. Breathing happens naturally. One might say that one observes the breath...

 

AS: One focuses solely on the breath. At one particular moment one is concentrating and not noticing any other object.

 

RW: I do not quite follow. What does that have to do with the mind habitually following dogma?

 

AS: Whatever is a pattern or a condition [sankhara], if one believes in that sankhara, one becomes that. If one attaches to any object, then one becomes that object. So, when one is concentrating on the normal breath, then one becomes that normal breath. Mentally, one's form takes that, one becomes one with that object for as long as the concentration lasts.

 

The same holds with doctrines. They are the worlds of forms, conventions and habits. One can be likened to a (doctrinal) belief in the thoughts of others, in teachings and creeds, in what other people say, in Krishnamurti (which is the problem with his disciples).

 

Mindfulness is not clinging. What Krishnamurti is pointing to is the awareness of the changing nature, the way things really are in the moment. But he seems to delude people by the fact that he started [teaching] from a very high place. Most people, even if they think about what he is teaching, cannot understand it.

 

It is something one knows through letting go -- even of believing in Krishnamurti, or of trying to figure out what he is talking about. One has to come down to a very low level of humility, what Ajahn Chah calls an earthworm, just being very simple and not expecting any results. Doing good and refraining from doing evil with body, speech and mind, and being mindful.

 

RW: Why do religions degenerate?

 

AS: Because they are only conventional truth. They are not ultimate truth.

 

RW: But people do not practise. They practise mechanically. When a teacher conducts a course here, the question often arises, 'Buddhism is known as a peaceful religion, and it is said that a war has never begun in the cause of Buddhism.' But look at Tibet and Cambodia. People were massacred. In Laos the monks are working in the field. One visiting Cambodian monk said that, basically, people do not practise, and that is why it falls apart, why there is so much trouble.

 

AS: Well, why is the world as it is? Why did they annihilate two million Cambodians? One can speculate. But the only thing that one can know is that the conditions of one's mind -- greed, hatred and delusion -- are the reflection of the world, the way it is. The world has murders, death, atrocities and destruction because we do it all the time in our minds, too.

 

What did you do before you ordained, or even while you are ordained? You try to annihilate a lot of things out of your mind, don't you? If you have anger, jealousy, nasty thoughts, you annihilate them, because you think that is the way to solve the problem. One annihilates that which one thinks is the cause of one's suffering.

 

Now apply that to a country like Cambodia. The Khmer Rouge government believed that the middle class bourgeoisie was the cause of all suffering so the government annihilated it. It works on the same principle.

 

Buddhist teachings are non-violent. One does not annihilate the pests, but understands that even the pests of the mind are impermanent and non-self. They will disappear on their own.

 

Many things that we are frightened of are really our best friends -- like fear itself. We are afraid of the unknown, but the unknown is the way to enlightenment. Not-knowing is what brings terror into people's lives. Many people spend much of their life just trying to find security in some form or another, because of fear. Fear drives them to become this, or get hold of that, to save up a lot of money, to seek pleasure or a safe place to live, or to find some ideal person they hope will make them happy forever. That is fear of being alone, fear of the unknown -- of that we cannot know. In meditation, when one is mindful, that very fear -- seeing it as it really is -- leads us into the deathless, the silence. Yet fear is something that we react to very strongly.

 

So, if one cannot be at peace with the pest of one's mind, one cannot very well expect a stupid government like the Khmer Rouge, or most elements of the world, to be any better. We have no right to point the blame at such things as big as society. To find fault with America -- that is easy to do -- or with Cambodia or Tibet... because the monks did not practise hard enough or the Cambodian people were not good Buddhists... that is a bit silly, actually.

 

What are you doing about it? That is what I am saying. I cannot help Mr.Pol Pot's screwed-up version of the world. How he intended to solve the problem was idiocy. But I have seen that very same idiocy in myself: the desire to wipe out that which I do not like or that which I think is the cause of the world's or my own suffering. That is where one can see what the problem arises from. One can say, 'Oh, the monks weren't good enough', but that is not fair, really.

 

[The next question was not recorded].

 

AS: I have had a very fortunate experience with a Buddhist monk, Ajahn Chah, and I see what a very happy, tolerant and harmonious being he is. Of course, many of his disciples do not understand what he is teaching, either. Yet he certainly makes it all very clear and offers them every occasion to practise and find out.

 

When one talks about dukkha [suffering], the first noble truth, one is not talking abstractly about dukkha out there, that exists as some sort of nameless thing. I am talking about that very feeling in one, in here [points to himself], that does not feel quite happy or feels a bit upset, worried, discontented, insecure, or ill-at-ease. One experiences the first noble truth within oneself.

 

One is not pointing to dukkha as some sort of vague thing that hovers over the world. If one really looks at one's mind, one finds discontentment, restlessness, fear and worry. That is something one can see oneself. One does not have to believe. It would be idiocy to say 'I believe in the first noble truth', or, 'I don't believe in the first noble truth. I believe that everything is wonderful.' It is not a matter of believing or disbelieving, but rather one looks inside and asks oneself, 'Do I always feel wonderful and happy? Is life just a constant source of joy and gaiety? Or do I sometimes feel depression, doubt, fear, etc?'

 

Just speaking from my own experience, I could very much see the first noble truth. It was not that I wanted a more depressing ideology to accept. I recognised that there was fear, uncertainty and uneasiness in myself. Yet the first noble truth is not a doctrine. It is not saying 'life is suffering', but rather it is just saying, 'there is this'. It comes and goes. It arises (the second noble truth), it ceases (the third noble truth), and from that understanding comes the eight-fold path (the fourth noble truth), which is the clear vision into the transcendence of it all -- through mindfulness. The eight-fold path is just being mindful in daily life.

 

RW: Yet mindfulness itself is not a wholesome factor.

 

AS: Neutral. It does not belong to anybody. It is not something one is lacking; it is not a personal possession.

 

RW: There are wholesome and unwholesome mental factors, and there are factors which are always present, like mindfulness. Mindfulness is not innately good.

 

AS: It is awareness of good and evil as change. By using the wisdom factor of discriminating alertness (satipanna), one sees the conditions of good and evil as impermanent and not-self. This mindfulness liberates one from the delusion that these conditions tend to give.

 

____________________

 

2.

 

RW: I would like to return for a moment to the role of tradition. Do you feel that adherence to a particular tradition would naturally tend to separate one from another tradition that has a certain set of values?

 

AS: Well, on the level of convention, everything is separate anyway. You are separate from me as a person, as a body. That can only be solved when we merge by developing wisdom. With conventional form there is only separation. There will always be men and women and innumerable religious conventions. These are all on the level of sense perception, which is always discriminative and separative. It cannot be otherwise. Yet if one is mindful, those very conventions take one to the deathless, where we merge. There is no 'you' or 'me' there.

 

RW: 'Deathless' -- how do you use that term?

 

AS: It just means that which is never born and never dies. There is nothing more one can say, really, because words are birth and death.

 

RW: Could one say that the deathless is synonymous with the end of clinging and grasping?

 

AS: Non-attachment to mortal conditions.

 

RW: I find it more the case than the exception that when belonging to a group, there is a tendency to feel secure, and to condemn, belittle or speak condescendingly to those who do not share one's own religious beliefs or philosophical dogma. I was quite concerned about these matters when I left the Centre in Switzerland... How does one overcome this feeling of separation, form versus the essence? How can one be free from getting enmeshed in form, whether it be in a study or meditative environment?

 

AS: Well, just be enlightened. It would solve all your problems.

 

RW: Thanks a lot.

 

AS: One has to make the best of all these things. Even here [at the Insight Meditation Society] the meditation is kind of spoon-fed. It is like sitting in a high chair and having your mommy come and dish it to you on a little plate. It is idealistic. For meditators there is hardly any friction; everything is secure and provided.

 

In places like Tharpa Choeling [the Tibetan Centre in Switzerland] there is more friction, much more to forgive, much more confusion to the mind. Chithurst is a good example of being neither the best nor the worst place. It is adequate. Some people will make use of it, some will not. I do not want it to be too perfect or ideal, because people need friction. Otherwise they become complacent and dull. One has to give people space to work through their biases and hang-ups.

 

In my own life I saw how I became attached to the teacher, the tradition and the rules. If one is serious and watching dukkha, then one begins to see that and let it go. That does not mean one has to throw away the tradition; it just means that one can be at ease with it.

 

I enjoy monasticism. I like being a monk. I think it is a very lovely way to live as a human being. But if it does not work anymore, when the time comes to end it -- it will end. That is it. It does not matter that much.

 

Yet there is no need to throw away the ordination either. I have grown because of it. I have not as yet seen a better way to live one's life. So I stay with this one until it is time to change. When the time for change comes, it will have to come on its own. It is not up to me to decide, 'Well, I'm fed up with this. I'm going to try something else.'

 

One can see the whole tenor of the life of a monk is very good. It is harmless, it is honourable; it is useful in society too. I know how to use it. I can teach through this tradition. I can teach people how to use the tradition, which I think is a good thing to know how to use. One can learn how to use conventions instead of just rejecting them.

 

If I give you a knife, you can use it for good or bad. It is not the knife's problem, is it? If you use it to murder me, would you say, 'The knife is bad'? The knife might be a very good knife, a well-made and useful tool. The same with the Theravada or Tibetan tradition; it is learning how to use them skilfully -- and that is up to you!

 

One has to recognise that Asian teachers come from a society (Tibet, for example) where everything is more or less taken for granted. They have been raised in a society that thinks and lives Buddhism. Whether they are devout or not does not make any difference. Nevertheless, it affects their whole outlook on themselves and the world. Whereas you come from a country which is materialistic, and where the values -- based on greed and competition, and trust and faith in conceptual learning -- have affected your mind. Our faith in America is in books, isn't it? In universities. In science. In conceptual learning. In being reasonable.

 

RW: Do you find that type of learning to be invalid? Or can that also be used properly?

 

AS: No. Right. It is learning how to use things like that correctly, with wisdom. Nothing in the universe is a waste. It is all perfect. There is nothing in it that needs to be rejected or added. There is nothing wrong, really.

 

One is looking for perfection, yet it is in the imperfect where most people go wrong. If one is looking for perfection in a Buddhist teacher or in a Buddhist tradition, one will be greatly disillusioned by it. If one looks for perfection in Krishnamurti or in anyone, or in the perfection of one's own body and the conditions of one's mind... it is not possible! One cannot force the mind to think only good thoughts, or to be always compassionate and kind, without giving rise to even an impulse of aversion or anger.

 

The mind is like a mirror -- it reflects. So the wise man knows the reflections as reflections, and not as self. Reflections do not harm the mirror at all. The mirror can reflect the filthiest conditions and not be dirtied by it. And the reflections change. They are not permanent.

 

Filth and dirt also play an important part. Hatred and all the nasty things in one's mind are like manure. Manure stinks. It is not nice and one is not happy to be around it. Yet it does give a lot of good nourishment to the roots of the plants so that they will have beautiful flowers. If one is able to look at the manure and see it for what it is, rather than saying, 'Ugh, get it out of there! I don't want anything to do with it', then one can appreciate its value.

 

Even hatred is Dhamma teaching us that it is impermanent and not-self. Everything takes us into the ultimate truth, through seeing that whatever arises passes away. So even the dirtiest thought in one's mind is just that; it is merely that condition changing. If one does not resist or indulge, it arises up from the void and goes back into the void. It is perfect. There is nothing that is wrong and that is why there is nothing to fear.

 

If one starts trying to think of ways to change the world so that it will be perfect, one will become very bitter and disappointed. People get very upset when I say that, because they think that I am just not going to do anything. What needs to be done, I am doing. What does not need to be done, I leave undone.

 

Just this condition: One does good and refrains from doing evil. That is all I can be responsible for. I cannot make the world (my concept of world) anything other than it is. That concept of world will change as we arouse wisdom within ourselves. We will then be able to look at the world as it is, rather than believe in the world as we think it is.

 

The truth is not Buddhist. It is not that Buddhists have any special insight into the truth. It is just that it is a way that works.

 

*  *  *  *  *

 

RW: You mentioned that the emphasis at Ajahn Chah's monastery is on the maintaining of the Vinaya, the monks' discipline. Do any of his monks study scripture: the Abhidhamma for example? Does he find that necessary or place any importance on study at all?

 

AS: The monks do study. There exist for monks the governmental examinations, of which one can take up to three levels. Ajahn Chah encourages the monks to take these examinations, which are a basic intellectual understanding of the Dhamma and Vinaya. So he encourages the monks to do that much.

 

Ajahn Chah will send those monks, who have the inclination and aptitude for learning the Pali language, to a special monastery where the language is taught. However, he does not go out of his way to encourage that because he realises it is not necessary to know Pali grammar in order to attain enlightenment.

 

It is a very individual thing. One cannot make just one suit of clothes to fit everyone. However, the general pattern encouraged at the monastery is to develop one's mindfulness while living under the Vinaya discipline.

 

RW: Does Ajahn Chah expect his monks to teach at one point or another?

 

AS: When they are ready, he has them start teaching.

 

RW: Then, most or all of the monks will one day teach?

 

AS: It also depends on the monk. Some monks cannot teach; they just do not have that kind of ability -- that is, in a structured way. Some teach in other ways, just by their living example.

 

RW: You said earlier that you had many difficulties when you were at Wat Pah Pong. What were they? Of course, in the beginning you could not speak the language at all. I am sure that was a big one.

 

AS: Well, it is just a strange culture and language. In that situation one has to give up practically everything that one is accustomed to in one's own life.

 

RW: How did you deal with that?

 

AS: I just did it, actually. I do not quite know how to say how I dealt with it. If one wanted to stay and learn from that place, one just did what one had to do. I managed to change my ways to adapt to their ways.

 

The Thai monks were always very kind. It was not a place where people made things difficult for one. There was always generosity and kindness. It was just getting used to doing things in different ways, eating strange food and speaking a different language.

 

RW: Sometimes, when people from two different cultures meet, a kind of cultural arrogance may arise from one side or the other, or both. Did you encounter this?

 

AS: Well, yes. The Thai people have feelings like anyone else about their culture and society. However, we all shared in common living in a monastery, where the emphasis is not on cultural inheritance but rather on the Buddha's teaching. So the cultural differences did not seem to be of any great significance to anyone.

 

I was much more sophisticated than they were. I had travelled a great deal and had lived in different places and knew much more about the world in general. Their superiority to me was in their ability to live so well and to coordinate in the only tradition that they knew. Oftentimes I felt very clumsy and foolish, like a very oafish person, because I did not tend to have the physical coordination or agility in bodily action that they had.

 

RW: We were talking the other day about traditions and routines, and how a complacent attitude may arise towards one's practice. There is often the tendency for a young monk to be very strict about his vows and to keep a strict discipline. Later one finds one is not really digging in or doing the practice seriously. One tends to become mechanical in one's actions and maybe that will to discover the truth becomes stifled by the weight of the organisation or the tradition. Did you find that kind of degeneration at Wat Pah Pong?

 

AS: Well, I did not find it for myself, because I had plenty of motivation on my own -- and I did not let any tradition stop me. Yet I could see that some monks were not very motivated. They were in it just because it is their tradition. Therefore, they tend to sink into habitual living as a monk.

 

Ajahn Chah is quite an expert at pushing people out of ruts. Yet he cannot keep doing that all the time. One cannot expect him to play nursemaid to all the monks. I think he did that very much at first. I noticed that he now takes it all much easier and leaves it pretty much up to the monk to develop. That is the way it should be. This is a very mature practice. The teacher should not be constantly called up to prod and arouse the students. We should do that ourselves. Yet there are Thai and Western monks who just seem to sink into habits. They would do that anywhere they were. They do not have that 'urgency' in their lives.

 

RW: I think you are poking fun at me... Krishnamurti says, 'The guru's role is to point out. Finished. Then let the person learn. If he inquires, he will find out. But if you tell him everything, then you are treating him just like a child. There is no meaning to it.'

 

AS: Right, right.

 

____________________

 

3.

 

RW: In your position as abbot, how would you instruct your monks to prevent the possibility of taking things for granted, especially receiving charity from lay supporters? How do you advise them to guard against things becoming routine, matter of fact, secure; the feeling that it is just a nice, comfortable life?

 

AS: Well, it is not exactly a comfortable life. In England the problem does not lie in sinking into a routine, because there is no tradition there to sink into. It is new and fresh. So, it is not a case that one can really sink into anything.

 

In England there is not the security that there is in a Buddhist country. Life as a monk in Britain is risky, a chance; it is not guaranteed. One then needs to be much more alert, whereas in Thailand one can take it all for granted because it is so established and secure there.

 

All one can do is to encourage and keep reminding people -- because they forget. But how they develop is really up to them. As they say, 'you can take a horse to water...' And that is all one can do.

 

RW: Yet for some people there might be a gap between their own tendencies and inclinations, and the ideology that they are following. How can that gap be bridged?

 

AS: That is why one has to allow people space. That is the real value of the monastic life. One has to allow people time and the opportunity to develop, rather than to expect them to make great changes all at once. Some people understand immediately; for others it will take years. That does not mean that one will teach only the ones who understand immediately -- they do not need to be taught very much!

 

One can also provide in the monastery a place for people to live at least a good life in a wholesome way. Eventually something will filter down to them. At least it is good kammically. One is not doing any harmful actions. That kind of environment encourages one to do good and refrain from doing evil. It is a moral environment. The emphasis is on paying attention, being alert, and watching; confronting one's life as one experiences it, looking at it, and learning from it.

 

How determined and resolute one is in that practice is an individual matter. Some are very quick, others are very slow; some are neither quick nor slow. In the monastery one can allow for the fast and slow. It is not that one is selecting only the best, the quick ones. The advantage of having a monastic community is to have the opportunity for many beings to develop. Some may not ever be enlightened but at least they can develop harmlessness in their lives.

 

In Thai monasteries, sometimes very 'heavy' people ordain, criminals and the like. Monastic life is a refuge for them where they are all the time encouraged to do good. Whether they attain enlightenment or not, who knows? At least it is a more skilful way of dealing with these types of people (who have enough faith that they would ordain) than to lock them up. Some monks tell of their past, which can be quite shocking. When one asks them why they ordained, they answer: 'I have faith in the Buddha's teaching and it is the only way that I can break from my old ways and habits.' In worldly life they tend to get pulled back into their old patterns.

 

RW: You would not think, then, that a community of monks would be like a crutch or a bondage, preventing a person from growing?

 

AS: No. Anything can be a crutch or a bondage. It all depends on whether one uses it or leans on it. People think that having crutches is bad. Crutches themselves are not bad. Sometimes we need them.

 

Imagine saying to a new-born baby, 'You have two legs. Get up and walk! I'm not going to pick you up, feed you or do anything for you. You're now in the world. You have to learn to take care of yourself!' The baby is just not ready yet. Understanding the situation, one feeds it and takes care of it.

 

As soon as the baby starts crawling, one would not say, 'If you depend on crawling, you are going to crawl the rest of your life and never get anywhere. Get up and walk!' But the baby cannot. He is not ready. He is not strong enough.

 

By crawling and waving his arms and legs, pulling himself up on the chair, and mommy taking his hand, etc., he is developing strength and growing until it is time to take his first step. When he starts to walk on his own, he does not want to use crutches anymore, naturally. When children learn to walk independently they throw away their crutches. They do not want to hold mother's hand anymore.

 

In the spiritual path, too, sometimes crutches and refuges are deliberately provided for strengthening. When one is strong enough, one starts walking independently.

 

RW: You gave the analogy of a baby crawling, developing slowly, gradually. A person who is within the system, just conforming to the pattern of it without really digging in -- how can that system or organisation help to shake him out of the rut he is in... Well, I am just talking about myself, you know... Sometimes I feel it is necessary to make a break for the sole purpose of shaking up what can be a complacent life-style.

 

AS: Life itself is ever-changing. It is not that structures and conditions themselves change. Some monks have to disrobe and leave. Some, after years, find nothing in it for themselves and seek something else to do. All that one can ask them to do is to try to be as honest as possible about their intentions. Each individual has to work out his own life...  

 

If someone feels one has had enough of monastic life and wants to do it another way, that is quite alright; it is one's choice. But one should be honest about one's intentions rather than just using an excuse. That is important. The only thing that is not nice to hear is when someone leaves [the monastic order] but is not honest about why one is leaving. One may justify one's leaving by putting down the tradition. Yet sometimes people leave for justifiable serious doubts.

 

RW: As Abbot of Chithurst, how do you advise your monks to view ceremonies and rituals that might seem rather remote to the actual practice?

 

AS: I personally like rituals. They are quite pleasant to do; they are calming. One does them with a group of people. It is doing something that is pleasant, together and in unison. The intention is always good: to radiate kindness and to chant the teachings of the Buddha in Pali. It tends to uplift and inspire the minds of many people. That is its only function as far as I can tell.

 

I think ceremony makes life much more beautiful. I have seen Dhamma communities which do not have ceremonies. They are a bit gross, actually.

 

RW: Gross?

 

AS: Gross. People just do not have a sense of etiquette, a kind of refinement, a lovely movement, a sense of time and place that one has when one understands the value of precepts and ceremonies. They have their beauty.

 

The bhikkhu form is a kind of dance one does. One learns to move. It has its own beautiful form, which is a way of training the physical form in beautiful movement, the mental and the physical combined. However, it is not an end in itself. It can become silly if it is an end in itself. And it is not necessary, either. If it does not fit or if people do not want it, then one just does not use it. It is something one can use or not use according to time and place.

 

If one has never used ceremony or does not understand its purpose, then when one is faced with a ceremony, one might reject it, thinking, 'I don't like it', or 'ceremonies are wrong'. But they aren't! There is nothing wrong with ceremonies, they are quite alright to have. To feel one should not have ceremonies is just as much an opinion as to feel one should. It is not a matter of having to say one should or should not have them. They are a part of our tradition, so we use them if they are appropriate. If they are not appropriate, we do not use them. It is a matter of knowing, rather than of having opinions about it.

 

RW: How do you view your role as abbot? How do you see yourself as a figure of authority at Chithurst?

 

AS: Well, I really do not think about it. I act very much like the abbot. It is my nature to appreciate dignity and hierarchical structures. I do not find those unbearable. Actually, I find [the role of abbot] great fun. It is a pleasant position to be in. It has its disadvantage in the sense that one gets everything thrown at oneself.

 

Yet I quite like serving others, too. I like to go back and be number ten in the line. In Thailand it was very nice to be nobody, without always having to be up in front of everybody.

 

However, our training is to adapt, not to choose. It was not easy to be an abbot at first. It was difficult for me to accept that position because many feelings of inadequacy and self-doubt arose. So I penetrated it. I worked with these feelings, making them my meditation to the point where my position became easy for me. I adapted to the position rather than believing the thoughts, 'Oh, I'm not ready for this', or 'I don't want to do this'. Becoming attached to the role of abbot would also be an easy thing to do; that is, taking oneself to be someone important.

 

If one is mindful, one is checking and watching; these things are just the changing conditions of samsara. Sometimes one is the abbot, sometimes the servant -- everything is changing. If one has no preferences, then one has no suffering when conditions change. But if one is determined not to be an abbot or to take a position of responsibility, then when conditions arise where one is supposed to do that, one suffers.

 

On the other hand, if one wants to be someone important, but is only number ten in the line, one also suffers, because of feeling resentful and jealous of those who are above oneself. So one also has to watch for that.

 

The point of Buddha's teaching is to have that awareness of suffering. Everyone suffers, so we all have to watch this. It is not to choose any position in the line as 'mine'. One has to be able to move up or down or stay, depending on time and place.

 

RW: How did you meditate on this 'inadequacy' that you felt? How did you confront that?

 

AS: I just watched. I just brought up and listened to the complaining, whining conditions of my mind that kept nagging, 'I'm not ready' ...

 

RW: Again, during this morning's meditation anger and resentment were arising. This time I just let it come, watched it, looked at it... arising and passing... without identifying with it, without getting caught up in it. And it went (and will surely come back again!) Is that all the practice is: a continuous, steady, constant watching of the arising and passing away of phenomena?

 

AS: It is just awareness.

 

RW: And these hindrances will just peter out, dissolve after some time?

 

AS: Right. If one is not acting on it, the habit will just fade away.

 

RW: But even though one is not acting on it, because the propensity or tendency is present for a particular mental disturbance to arise, is there not action being created from that?

 

AS: One cannot help the conditions that are present which make that delusion arise in one's mind. One of two actions may follow: either one reacts by getting caught up in the action or one represses it.

 

If one tends to repress the unpleasant, listen to the guilt or self-hatred. Bring up the mood, 'Oh, I'm hopeless, stupid, I can't do anything right, I'm wasting my life...' Just listen to it! Keep bringing it up and listening to it. One sees it by skilfully bringing it up and looking at it. And it goes away. Otherwise one tends just to repress it.

 

RW: Even though the delusion or emotion is not arising at the time, because one knows that it is a predominant condition that causes one continuous agitation, does 'bringing it up' simply mean letting it arise?

 

AS: I would even go seek it. About seven or eight years ago I had a problem of jealousy. I hated the jealousy. I had the insight that jealousy was a problem so I tended to try to annihilate it. When that condition would arise I would think, 'Oh God, here it is. I've got to try to deal with this now. What do I do?' Well, one is supposed to have sympathetic joy (mudita) for those of whom one is jealous. So I would think, 'I'm really happy for so-and-so. I'm really happy he's successful.' But I did not mean a word of it. I was just lying through my teeth. It was not solving the problem. I would repress it, annihilate it, and it would always come back bashing on me.

 

Finally, I realised that the problem was not with jealousy, but with my aversion to it. I just hated myself for having that. I felt I should not have that condition; I was ashamed of it.

 

When I had that insight I started being jealous of everything. I started bringing it up, thinking of everything that made me jealous. I kept looking at it. After doing that for some time, the problem was no more there.

 

Lust is something we have greed for, it is something we enjoy. One does not have to keep bringing up lust to look at, because one will get lost in it; it is too easy to absorb into lust.

 

However, emotions like anger and jealousy are a nasty kind of experience for me. I simply do not like them and do not want them. So instead of pushing them away, I had to bring them to me, just so I could see them.

 

I deliberately thought of past experiences with jealousy; I just brought up all the memories that that particular problem caused. I did not analyse it and try to figure out 'Why?', but simply looked at the impermanent nature of it. This movement toward neutralised the habit I had developed of pushing away. Then there was no more problem.

 

That is why wisdom (panna) is necessary. When one understands the movements of attraction and aversion, then one really knows how to practise. Finding the balance between drawing near and pushing away comes from trusting the wisdom here [points to his heart]. I am just giving a guide to consider using. See if it works!

 

RW: How do your monks relate to you? Is it a similar type of relationship as you had with Ajahn Chah?

 

AS: The monks who are now with me are quite respectful. They are a very good Sangha. I have had on occasion monks who gave me difficulties. But one learns from that also. Difficult monks who do not like or respect one can teach one an awful lot. They cause friction.

 

RW: But could that not cause problems in the Sangha?

 

AS: Well, we learn to deal with problems rather than create ideal environments.

 

RW: How would you advise one of your monks if he had qualms about following certain precepts? For example, if one of the monks felt it would be better to don layman's clothes instead of wearing the robes when going into London?

 

AS: We would never wear lay clothes.

 

RW: Then, no advice is necessary.

 

AS: Unthinkable. But generally, it is a very individual thing. One has to take into account many things. However, the whole point is to get the monk to know his intention, to know what he is doing, rather than forcing, compelling or conditioning people.

 

We are just using these particular customs and traditions as a standard of reflection, as a way of looking at ourselves. It is not a matter of making everybody obey the rules, but to try to arouse the honour in a person, to be responsible for his conduct in the community and in the world. One can make people, out of fear, obey rules. They would be afraid to break them because they would be caught, chastised and humiliated. But that is not arousing integrity and honour in a man.

 

On the other hand, one does not want to make it lax, either, letting everyone just do what he wants. One wants a kind of strictness, an impeccable standard, from which one can learn. Otherwise, people tend to think, 'Oh well, the robes don't make any difference', 'Oh well, eating in the afternoon is ok', 'Oh well, carrying money is alright'. One can rationalise anything.

 

There are good reasons for breaking all the rules as far as I can see. What if a family next door is starving to death? Why should I not be able to go steal a loaf of bread from a rich man to give it to them? There is always a good reason to justify the action. So it is not the rationalising that we are trying to develop, but the sense of honour and wisdom. That can only be done by conditioning them through fear, binding them to a set of rules that are so inflexible and rigid that they just become rats in a maze.

 

RW: I used to think that Theravada monks interpreted the vows very literally. Yet when I observe you and Bhikkhu Sucitto, I see that the Vinaya can be used as a lesson in the development of mindfulness. That is all it is.

 

AS: Right. It is really quite a good vehicle.

 

RW: But as you mentioned, precepts can become a neurotic discipline.

 

AS: Right. At first it has to be like an exercise. One trains oneself. When one learns to play the piano, it is not possible to start with the variations of themes. First one must learn the themes. In the beginning one needs to develop skill and become coordinated. One has to do repetitious things, like sitting for hours, until one acquires the skill. One can then play the standard themes simply by following. Eventually, as skill increases, one does not have to follow or imitate anymore. It is natural. Then one can play the variations, and it becomes a joy to listen to. But if one tries to play variations before one knows the theme, it can become very unpleasant -- for everybody.

 

That is why Vinaya discipline is like piano exercises. The first few years are boring. One has to listen to it over and over: everything has to be done in a certain way. Although it all looks a bit fussy and irrelevant to anything grand, once one learns how to do it, one does not have to think about it, wondering, 'Should I press this key or that one?' It is automatic. One already has the skill with that particular instrument. From that point on, one is free from it; one can use it.

 

Some monks, like piano players, just play the standard theme over and over because they are afraid to let go of the standard. They are not confident; they lack wisdom; they have only conditioned themselves. The point of the Vinaya is not to condition one but to give one complete freedom -- not freedom to follow desire but freedom to be spontaneous. One can only do this through wisdom and not through desire. One cannot be spontaneous with desire; one just becomes overwhelmed by it.

 

The Vinaya is a way of training body and speech, of giving them beauty and form, and of establishing relationship with others. For example, many people criticise the rules concerning women: 'Why can't monks touch women?'; 'Why can't monks be alone in a room with a woman?'; 'Why can't I have a woman up here and talk to her alone in a private interview?'; 'What is it about women? -- Was Buddha a male chauvinist pig?' Questions like this often come up. It is a matter of establishing a proper relationship so that the Dhamma can be taught. (Most women here have forgotten how nature works. The female attracts the male. It is a natural condition).

 

Also, if I have a woman up here in the room, even though thinking 'I don't have a problem with lust anymore', how would that look to others? If Bhikkhu Sucitto sees a naked woman walking out of my room... well, it looks bad. It is a way of protecting women, of keeping their reputation from being gossiped about.

 

Moreover, women often fall in love with teachers and figures of authority. For monks who are still very attracted to women, women have a tremendous power to draw them in, especially if the women are discussing their own personal problems. One can easily get emotionally caught up in that.

 

Buddha did not say that a monk cannot teach women. He said that a monk should establish a relationship in which teaching can be given. This I have found very helpful in training the monks at Chithurst. There are no scandals or problems there. When women come, they know the conditions for instruction and accept them. Therefore, the teaching of the Dhamma can be given without emotional involvement and all kinds of gossipy problems.

 

Many bhikkhus in England, both Thai and Western, have lost their reputation due to their laxity with regard to women. That is a very strong natural force. When I went to England, I also thought it would be a problem. I felt that Western women were going to hate and resent the regulations. But they do not. When they understand them, they respect them very much. Our four nuns at Chithurst are more meticulous than we are. They are very careful about the Vinaya because they really want to do it correctly.

 

In our monastic community there is no jealousy about women. Such as, Venerable Sucitto has a girl friend or favours one of the nuns! Situations like this, where jealousy arises is a traditional world problem, isn't it? Men fighting over women is a natural condition, too, This kind of training avoids those difficulties.

 

RW: You teach everyone equally, don't you?

 

AS: Yes. In Chithurst the nuns are very much a part of the monastic community. They come to all the functions and have the same training.

 

*  *  *  *  *

 

RW: Do you feel that Westerners are more suitable to the satipatthana practice than to the study of philosophical analysis?

 

AS: Satipatthana is the whole point of the Buddha's teaching. One need not spend much time reading about it. I certainly do not feel it is necessary [to study], even though it is quite alright to do that. I have nothing against it.

 

However, some people feel inclined toward scholarship and approach the practice in that way. I can only speak from my own experience. I felt that just the basic training was enough: the Four Noble Truths and the satipatthana practice. I needed the Vinaya discipline and the satipatthana practice in order to know the Buddha's teaching through experience rather than through theory. Otherwise, it is like reading maps all the time without going anywhere.

 

RW: In Tibet, however, the practice seemed to develop quite differently. There was much memorisation of root texts and commentaries, and the debating upon them.

 

AS: Not having been born or lived in Tibet, I cannot very well speak for a Tibetan. Yet they obviously must have their reasons for their ways. I can only speak of my own experience. But to this day, the idea of spending years just studying about the Dhamma... I would not do it. I just would not! To me it is like reading cookbooks without preparing any meals.

 

RW: I mentioned to you about the Lam-rim: a systematic outline of the Buddha's sutra teaching. It is a graduated series of meditations that is taught as a method for attaining liberation. By studying and integrating it in one's mind, habituating the teachings to one's thinking, investigating though critical analysis -- do you feel this approach can cut through mental distortions?

 

AS: I really cannot say. I just don't know about it. I have never tried it out.

 

RW: I find the Lam-rim to be an excellent framework for the satipatthana practice. Having taken a number of courses here during these past six months, it is possible to do the sitting and walking practice, but I wonder if there is a deep understanding of what one is doing and why one is doing it. A conceptual framework can give one a good basis for understanding what the practice is all about. The reflective meditations are also a good motivating force, helping one to understand the rarity and meaning of having taken a human form, its impermanent nature, and the sufferings of cyclic existence.

 

AS: I agree. This type of study is very good. I cannot see why the two cannot go together. I cannot see myself just studying it without doing it. In Thailand I have seen monks study and learn Pali for forty years, not doing the actual practice, and then even disrobing. But that is their problem.

 

The fact is that one does not need to know an awful lot. The teaching is so simple. That is why for many people the practice is enough. Yet I also seriously doubt whether people understand the point of the walking and sitting practice. It is still rather spoon-fed when people are dependent upon being told what to do and having everything arranged for them.

 

When I now read the Suttas and Abhidhamma, I can understand them. I know what is being said. Before I practised meditation, I read many of the texts but just could not understand what they really meant. When one is practising, one is actually taking the teachings of the Buddha and really looking at oneself. When one investigates the nature of suffering, one is not taking someone else's definition but is looking at the experience in here [points to himself]. The Four Noble Truths, the Eight-fold Path and Dependent Origination all become very clear when one meditates upon them.

 

I do not want to be quoted on any opinions because they are just that. I can only speak from my experience. Some people seem to be able to get great benefits from studying Abhidhamma. Now I have just no interest in Abhidhamma as a subject that I would study.

 

RW: In Tibet, the study of Abhidhamma came last on the list. However, the process of debate, as a skilful means for sharpening the mind -- two people confronting each other in a quick, concentrated exchange -- is like taking a dull knife (the mind) and sharpening it so that it can then be used as a sword to cut through ignorance.

 

Presumably, many Tibetans have attained realisations through using philosophical analysis as a tool to prepare their minds for meditation. The Gelug tradition, however, is often ridiculed by the other three sects of Tibetan Buddhism for its heavy emphasis on study. For those who are capable of pursuing such a system of learning, it seems quite valuable.

 

AS: In your life here at the Insight Meditation Society, you will find your Tibetan tradition to be more meaningful and useful if you learn to use it and have more confidence in it. So do not be just blindly attached to the satipatthana practice. You are already established in a tradition and trained in it. So when you have had enough of sitting and walking...



__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Chín 201911:37 CH(Xem: 100)
Lời nói đôi khi có những tác dụng không thể lường trước. Có những lời nói có thể đem lại an vui hạnh phúc đến cho mọi người. Có những lời nói có thể đem lại những sự ly tán, tan nát hạnh phúc của các người khác, đôi khi đổ vỡ hạnh phúc gia đình của chính người nói. Có những lời nói, làm cho người nghe, mỉm cười tươi tắn, vui vẻ khỏe khoắn.
22 Tháng Bảy 201910:19 CH(Xem: 317)
8h sáng một buổi sáng mùa hè nắng gắt tháng 6 tại Hà Nội, một chuyến xe hàng nhét chật những thuốc men và thiết bị y tế đậu lại trước văn phòng của một tổ chức thiện nguyện ở Hà Nội. Rồi từ đây, các thiết bị y tế và thuốc men sẽ đi cùng bác sỹ Tadashi Hattori đến nhiều miền quê rất nghèo của Việt Nam.
18 Tháng Bảy 201911:07 CH(Xem: 321)
Đài truyền hình CNN trong Tháng Sáu loan tin, năm 2017, tỉ lệ tự tử ở lứa tuổi giữa 15 và 19 là 11.8/100,000 trong năm. Với lứa tuổi từ 20 đến 24, tỉ lệ là 17/100,000. Trong khoảng bốn tháng từ Tháng Mười Hai, 2018, tới Tháng Ba, 2019, theo ghi nhận của cơ quan cảnh sát miền Nam California, có 17 trường hợp thanh thiếu niên đã chết
17 Tháng Bảy 20198:41 CH(Xem: 510)
Kyle Huỳnh, 15 tuổi, học lớp 10 tại trung học Bolsa Grande, treo cổ tự tử tại nhà ngày 29 Tháng Mười Một gây xúc động mạnh nơi bạn học, đau buồn nơi gia đình, hoang mang nơi cộng đồng; và trên hết, để lại quá nhiều câu hỏi cho bất cứ bậc phụ huynh nào có con đang bước vào tuổi trưởng thành. Nguyên nhân cái chết thương tâm của Kyle
30 Tháng Sáu 20194:12 CH(Xem: 664)
Rừng Thu (Autumn Forest) - 50 bài thơ chuyển ngữ Anh Việt. Xuất bản June 2019 - Tác phẩm mới của nhà thơ: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
11 Tháng Sáu 20199:53 CH(Xem: 397)
Trời mang sức mạnh núi này, Mang hùng vĩ của thân cây trên đồi, Hè mang hơi ấm mặt trời, Và bình lặng của biển khơi khắp miền, Mang hồn quảng đại thiên nhiên, Vòng tay an lạc của đêm lặng lờ, Mang thông thái của tuổi già, Tiềm năng chim phượng bay xa vô ngần,
04 Tháng Sáu 201911:04 SA(Xem: 613)
1. Quy tắc đầu tiên: "Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp cả." Điều này có nghĩa rằng không ai xuất hiện trong cuộc đời chúng ta một cách tình cờ cả. Mỗi người xung quanh chúng ta, bất cứ ai chúng ta giao lưu, đều đại diện cho một điều gì đó, có thể là để dạy chúng ta điều gì đó hoặc giúp chúng ta cải thiện tình hình hiện tại.
03 Tháng Sáu 201911:47 SA(Xem: 796)
Trong một lần bình luận của mình, Glenn Beck đã từng nói rằng: Một người bình thường muốn chứng minh bản thân bình thường là điều hết sức khó khăn. Có lẽ chỉ có người không muốn chứng minh điều gì hết, mới có thể được gọi là một người bình thường. Về sau, rất nhiều người đã để lại lời bình luận của riêng họ
02 Tháng Sáu 20199:08 CH(Xem: 572)
Phóng viên nổi tiếng Sydney Harries và một người bạn dừng chân mua báo ở một quầy bán báo, người bạn mua xong rất lịch sự nói lời "Cám ơn!" nhưng người chủ quầy báo thì ngược lại, mặt lạnh như tiền, một tiếng cũng không thèm mở miệng. Hai người rời quầy báo tiếp tục đi về phía trước, Sydney Harries hỏi:
23 Tháng Năm 20199:43 SA(Xem: 682)
Tiền kiếp – có hay không? Miêu tả 2500 trường hợp trẻ em thuộc dữ liệu của trường Đại học Virginia (Hoa Kỳ) được các nhà nghiên cứu tìm hiểu cẩn thận kể từ khi bác sĩ Ian Stevenson nghiên cứu trường hợp đầu tiên cách đây 40 năm. Những đứa trẻ này thường bắt đầu kể về kiếp trước ở độ tuổi hai hoặc ba và có thể nói về gia đình lúc trước
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 813)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 628)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩ và tìm hiểu xem có tiền kiếp và luân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 638)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 706)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 589)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 604)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 695)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 890)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 852)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 1113)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1353)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 2617)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 1506)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
12 Tháng Mười 201910:53 CH(Xem: 122)
Ngài U Thittila không những uyên thâm pháp học, pháp hành ở Myanmar - xứ sở có truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy lâu đời và thuần tuý nhất, mà Ngài còn là một trong những vị Như Lai sứ giả thành công trong việc truyền bá chánh pháp sang các nước phương Tây sớm nhất. Chính nhờ những kinh nghiệm sâu rộng đó
10 Tháng Mười 20199:53 CH(Xem: 98)
Đức Phật là người đã tự mình giác ngộ lý tứ diệu đế và đem những điều mình đã hiểu biết ra dạy dỗ kẻ khác. Rất dễ dàng để nói chữ Phật. Nhưng thực hành hạnh Bồ Tát để trở thành một vị Phật là điều rất khó khăn. Người nào thực hành hoàn mãn các pháp Bala mật
07 Tháng Mười 20199:48 CH(Xem: 107)
Thuở xưa, đức Phật với nắm lá trong tay, hỏi chư tỳ-khưu rằng: “Số lá trong bàn tay của Như Lai, so với lá trong rừng, ở đâu nhiều hơn?” Khi chư tỳ-khưu đáp “Lá trong rừng nhiều hơn”, đức Phật bèn nói tiếp: “Cũng vậy, những thấy biết của Như Lai nhiều như lá cây trong rừng, nhưng những điều Như Lai đem ra giảng nói chỉ như nắm lá ít ỏi
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 757)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 371)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 302)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 1258)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1048)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 3091)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái