04. Phật Giáo Trong Mạch Sống Dân Tộc - Chương III: Văn Nghệ

25 Tháng Bảy 20194:33 CH(Xem: 3171)
04. Phật Giáo Trong Mạch Sống Dân Tộc - Chương III: Văn Nghệ
 PhatGiaoVoiDanToc_A
Phật Giáo Với Dân Tộc (1998)
HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info
 
____________________
 


04. Phật Giáo Trong Mạch Sống Dân Tộc - Chương III: Văn Nghệ

 

A. TỪ NGỮ

 

Rất nhiều từ ngữ Phật giáo đã biến thành ngôn ngữ thường dùng của người dân Việt. Như khi thấy ai bị hoạn nạn đau khổ, tỏ lòng thương xót, người ta bảo “tội nghiệp quá!” Hai chữ “tội nghiệp” là từ ngữ chuyên môn của Phật giáo, để chỉ tội ác mình đã gây sẽ chiêu cảm nghiệp báo đau khổ rồi mình phải chịu. Hoặc khi gặp một người quá lớn, thấy một vật quá to, người ta liền la lên: ông ấy “Tổ sư Bồ-đề”,  vật đó “Tổ sư Bồ-đề”. Tổ sư Bồ-đề là Sơ tổ Thiền tông tại Trung Hoa, nói đủ là Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma), người Việt Nam cũng kính thờ Ngài như vị Sơ Tổ. Có thể nói trong phái Thiền tông Trung Hoa và Việt Nam, vị lớn nhất là Ngài. Vì thế, người Việt Nam muốn mô tả cái gì lớn đều mượn danh tự của Ngài mà mô tả. Khi muốn diễn tả một số người quá đông, vật gì quá nhiều, người ta dùng danh từ “hằng hà sa số”. Nếu hỏi “hằng hà sa số” là cái gì, chắc chắn ít có người hiểu chính xác, họ chỉ biết đó là nói rất nhiều. Bởi khi xưa đức Phật thường thuyết pháp gần lưu vực sông Hằng (Ganges) ở Ấn Độ, cho nên khi cần mô tả một con số quá nhiều, Ngài thí dụ như số cát sông Hằng. Hoặc khi có những tiếng động ồn náo, người ta bảo “om sòm bát-nhã”; do khi đến chùa vào những buổi lễ, nhà chùa thường chuyển những hồi trống Bát-nhã. Lại có những người rày đó mai đây, ít khi dừng chân lâu một chỗ, khi có người hỏi anh đi đâu mãi, họ trả lời tôi đi “ta-bà thế giới”. Ta-bà thế giớithế giới của đức Thích-ca giáo hóa. Theo thế giới quan của Phật giáo thì thế giới ta-bà to gấp mấy lần quả địa cầu này. Còn bao nhiêu từ ngữ khác như hỉ xả, từ bi, giác ngộ...,  người Việt Nam đã quen dùng như tiếng Mẹ, không chút gì ngượng ngập lạ lùng.

 

B. VĂN CHƯƠNG BÌNH DÂN

 

1.- TỤC NGỮ, CA DAO

 

Người nông phu làm việc ngoài đồng, ngoài áng, tay cuốc tay cày trên cánh đồng cỏ xanh lúa mướt, để giải khuây cơn mệt nhọc, đem hứng thú trong công việc làm ăn, họ cất tiếng hát lên:

 

Ai ơi! hãy ở cho lành

 

Kiếp này chẳng được, để dành kiếp sau.

 

Thật là những tiếng như những lời khuyên tha thiết, nhẹ nhàng mà tràn trề đạo đức. Cứ khuyên nhau ăn ở cho lành, dù hiện đời chưa được hưởng quả lành, đời sau sẽ hưởng chớ không bao giờ mất. Lòng tinluân hồi nhân quả của người Việt Nam chắc như đá, vững như núi, không khi nào lay chuyển. Lại, xa xa vẳng nghe tiếng vọng lại:

 

Trách người một trách ta mười,

 

Bởi ta tệ trước, nên người bạc sau.

 

Lời nhắc nhở này thật là thâm thúy, kêu gọi nhau hãy tự xét lỗi mình, phải can đảm qui tội về mình, đừng than phiền trách cứ một ai. Người bình dân Việt Nam nhận định rằng không một hiện quả nào mà chẳng phát xuất từ nguyên nhân. Ta bị đối xử bạc ác, đừng vội trách người mà phải tự trách mình. Nếu mình trước không có ăn ở tệ hại với họ, làm gì họ cư xử xấu xa với mình?

 

Để nói lên tâm hồn sắt đá tôn trọng đạo đức lên trên hết, mặc ai chạy đua theo danh lợi,  mặc ai tham đắm tiền tài, người bình dân tự bảo:

 

Mặc ai chác lợi mua danh

 

Miễn ta học được đạo lành thì thôi.

 

Bởi vì danh lợi chỉ là hạt sương, cái chớp, chợt hiện rồi biến mất có gì lâu dài, thân này là kiếp phù du sớm còn tối mất. Chỉ có đạo đức mới thật lâu dài.

 

Cuộc đời khác nữa là hoa,

 

Sớm còn tối mất nở ra lại tàn.

 

Do nhận định trên, người bình dân Việt Nam cảm thấy người có đạo đức thì tai họa gì cũng qua được. Bằng người không đạo đức tất nhiên phải chuốc lấy tai ương.

 

Linh đinh qua cửa Thần phù,

 

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

 

Đến khi người quyết chí tu hành cũng cần phảihoàn cảnh thuận tiện. Tức là phải được khung cảnh tịch liêu thanh nhã thì tâm tư mới sảng khoái nhẹ nhàng, sự tu hành chóng đạt kết quả như nguyện.

 

Dù ai quyết chí tu hành,

 

Có về Yên Tử mới đành lòng tu.

 

Trăng thanh gió mát bốn mùa,

 

Trúc Lâm Tam Tổ từ xưa còn truyền.

 

Thật vậy, có được cảnh thanh lịch, có gương chư Tổ truyền thừa thì tâm phàm tục mới mong lắng dịu. Nếu thiếu những trợ duyên này, dù cố gắng thế mấy cũng khó kết quả.

 

Lại nữa, nếu không tu thì thôi, trót đã tu thì phải tu đến nơi đến chốn, đừng để dở dở ương ương mà người đời mỉa mai:

 

Tu chẳng trọn đời, mặc áo tơi mà chết.

 

Qua những câu ca dao tục ngữ bình dị mà rất hay ở trên, chúng ta đã thấy người bình dân đã thấm nhuần Phật giáo từ trong cốt tủy. Họ không cần đọc hết những bộ kinh đôi ba mươi quyển, không cần học thuộc những bài giảng dài ba bốn mươi trang, mà họ nói lên được những lời đạo đức chân thành. Thật là Phật giáo đã len trong huyết quản của họ từ bao giờ rồi.

 

2.- THƠ CA

 

Thơ ca Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo rất nhiều, điển hình những quyển thơ xưa nhất như thơ Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính... cốt truyện và lời thơ đều hoàn toàn Phật giáo. Tuy nhiên, Phật giáo theo quan niệm bình dân đã phối hợp cùng tín ngưỡng dân tộc. Những khi đồng áng rảnh rang, người bình dân thường ngâm nga những vần thơ lục bát tràng thiên thuần túy Việt Nam này để làm thú vui tiêu khiển. Không những thơ có công dụng tiêu khiển trong những ngày nhọc nhằn mệt mỏi, mà cũng để xây dựng, giáo hóa người Việt có những đức tánh cao thượng theo gương trong truyện tích và biết tránh dữ làm lành. Những đức tánh mà người Việt chú trọng nhất là trong gia đình hiếu thảo với cha mẹ, ngoài xã hội nhân từ với mọi người.

 

Đọc thơ Quan Âm Diệu Thiện, chúng ta thấy hai đức tánh đó nổi bật  nhất. Đây đoạn mở đầu quyển thơ:

 

Chân như đạo Phật rất mầu,

 

Tâm trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ nhân.

 

Hiếu là độ được đấng thân,

 

Nhân là vớt khỏi trầm luân mọi loài.

 

Tinh thông nghìn mắt, nghìn tay,

 

Cũng trong một điểm linh đài hóa ra.

 

Xem trong biển nước Nam ta,

 

Phổ mônđức PhậtQuan Âm.

 

Nói về chữ Hiếu, Diệu Thiện tức là Công chúa thứ ba, con vua Diệu Trang Vương nước Hưng Lâm xứ Tây Trúc. Bà mộ Phật pháp không chịu lấy chồng. Vua cha giận đày đọa đến chết. Nhưng sau khi hồn bà dạo qua mười tám cửa ngục ở Diêm-la, được hoàn trở lại dương thế. Vì ghét con đi tu, vua cha đã đốt chùa, hại các Tăng Ni. Do gây nhân ác ấy, sau này nhà vua mắc quả báo đau đớn khổ sở. Bà tu hành đắc đạo, dùng thần thông giả chước cứu cha:

 

Ấy là phép Phật thần thông,

 

Giả làm chước ấy để phòng cứu cha.

 

Kinh Lăng Nghiêm, truyện Phật Bà,

 

Thiên bá vạn hóa thực là linh thay.

 

Cho nên chùa tạc tượng Ngài,

 

Làm ra nghìn mắt, nghìn tay lưu truyền.

 

Vui trong thế giới ba nghìn,

 

Sắc không, không sắc, phép thiêng khôn dò.

 

Thấy cha báng bổ đốt chùa,

 

Phải làm thế ấy để cho hết ngờ.

 

Lòng nhân phát xuất từ chỗ trông thấy nỗi khổ của chúng sanh. Bà Diệu Thiện khi hồn dạo qua mười tám cửa ngục hình, mục kích sự đau khổ vô hạn của sanh linh trong ngục tối, Bà động lòng từ bi phát nguyện cứu rỗi, khiến sanh linh đều thoát khỏi ngục hình:

 

Ấy là các cửa ngục hình,

 

Điều gì thất đức tại mình biết sao.

 

Lòng trần tưởng chẳng chi nao?

 

Ai hay quả báo khi vào Âm ti.

 

Cơ thâm thì tội cũng thâm,

 

Ác hữu, ác báo chẳng lầm chút nao.

 

Dối người dối được trời sao?

 

Trời, Thần, vua Táo soi vào con tim.

 

Dương gian chết có một phen,

 

Phép Âm bắt mãi chết liền sống ngay.

 

Làm cho thảm thiết đọa đày,

 

Cho bõ lại ngày ác nghiệp Dương gian...

 

Khẩn cầu niệm chú tụng kinh,

 

Ngọc Hoàng cảm động lòng thành tự nhiên.

 

Vua rằng:“Nghe đức Từ Bi,

 

Mở lòng thương xót phù trì chúng sinh.

 

Khắp mười tám cửa ngục hình,

 

Một giờ đại xá thiên sinh từ rày...

 

Tuy nhiên, người Việt Nam rất nặng tinh thần dân tộc, dù cốt truyện phát xuất từ nơi nào cũng phải biến hóa thành của người Việt Nam. Bà Diệu Thiện tuy người Tây Trúc, nhưng khi tu hành được Phật giới thiệu sang Việt Nam ở núi Hương Tích:

 

Đức Phật mới chỉ đường tu,

 

Rằng: có một chùa ở Hương Tích sơn.

 

Gần bể Nam Việt thanh nhàn,

 

Sang tu chốn ấy sẽ toan viên thành.

 

Núi cao ngan ngát mịt mù,

 

Am thanh, cảnh vắng, bốn mùa cỏ cây.

 

Trên thì năm sắc từng mây,

 

Dưới thì biển nước trong rày như gương.

 

Cá chim chầu tại tĩnh đường,

 

Hạc thường tiến quả, hươu thường dâng hoa.

 

Một mình tu núi Phổ Đà,

 

Thân là thân Phật, cảnh là cảnh Tiên.

 

Thơ Quan Âm Diệu Thiện nhằm vào chữ Hiếu và lòng Nhân thì thơ Quan Âm Thị Kính nhằm vào “Nhẫn nhục” và “Cứu độ”. Thị Kính đã mắc oan tình “toan ám sát chồng”, bà trá hình quyết chí vào chùa tu.

 

Xuất gia quyết một tâm liền,

 

Phụ tình đới nhật, bước lên dặm đường.

 

Quần chân, áo chít dịu dàng,

 

Giả hình nam tử, ai tường căn nguyên.

 

Tưởng xuất giaan ổn, nhưng oan khiên chưa dứt, Thị Mầu lại một phen vu oan đã giở thói trăng hoa. Bị làng tra tấn tàn nhẫn, nhưng bà cũng cam tâm nhịn chịu. Sư phụ trông thấy xót xa van xin:

 

Áo xiêm xem đã tơi bời,

 

Thương thay Sư mới cất lời van lơn.

 

Thưa rằng: làm phúc nào hơn,

 

Mở lòng Bồ-tát, dẹp cơn lôi đình.

 

Khoản làng xin nộp phân minh,

 

Dại khôn xin hãy thứ tình một phen.

 

Sự oan ức nhục nhã này nếu không đủ sức nhẫn nhục thì không sao chịu nổi. Nhờ sức nhẫn nhục mới làm sáng tỏ ý chí của người chân chánh tu hành. Bà tự an ủi:

 

Sá thù chi đứa dâm ô,

 

Nước tùy duyên rửa đi cho kẻo mà.

 

Chữ rằng: nhẫn nhục nhiệm hòa,

 

Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu.

 

Đến đứa con oan của Thị Mầu đem ném trước hành lang chùa, Bà động lòng trắc ẩn, đem vào chùa nuôi. Mặc tình sư phụ phản đối, thế gian chê cười, Bà vẫn thấy cứu một mạng người là trên hết:

 

Bữa sau Sư phụ mới hay,

 

Dạy: “Như thế ấy thì thầy cũng nghi.

 

Nếu như khác máu du thì,

 

Con ai mặc nấy, can gì đa mang?”

 

Bạch rằng: “Muôn đội thầy thương,

 

Xưa nay thầy dạy muôn đường nhỏ to:

 

Dẫu xây chín đợt phù đồ,

 

Sao bằng làm phước cứu cho một người.

 

Vậy nên con phải vâng lời,

 

Mạng người không lấy làm chơi, mà liều.”

 

Sư nghe thưa thốt mấy điều,

 

Khen rằng cũng có ít nhiều từ tâm.

 

Ngỡ là nước lã mà lầm,

 

Cũng đem giọt máu tình thâm hòa vào.

 

Mẹ vò thì sữa khát khao,

 

Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.

 

Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,

 

Nhai cơm mớm sữa dễ nên con người.

 

Đến đâu ai cũng chê cười,

 

Tiểu kia tu có trót đời được đâu.

 

lòng từ bi thương xót chúng sanh, bà Thị Kính an nhẫn mọi khó nhọc để làm việc “mẹ vò nuôi con nhện”. Đâu những khổ nhọc trong việc nhai cơm mớm sữa, mà còn bị thế gian khinh bỉ chê cười, xem bà là kẻ gian manh núp bóng Bồ-đề, làm điều tà vạy. Thế mà bà vẫn cam chịu, miễn cứu được một mạng người thì thôi. Bao nhiêu đó, chúng ta thấy rõ đức tánh từ bi, nhẫn nhục của bà viên mãn. Người bình dân công nhận rằng người nào đầy đủ lòng từ bi, viên mãn hạnh nhẫn nhục thì người ấy chắc chắn thành Phật. Cho nên bà Thị Kính liền đó chứng thành quả Phật.

 

Lời kết cấu cốt truyện nhằm vào mục đích răn ác, khuyến thiện. Cho nên đến kết luận nhờ công tu của Thị Kính, cả nhà đều độ thoátsum họp vui vầy:

 

Độ cho hai khóm xuân, huyên,

 

Ra tay cầm quyết bước lên trên tòa.

 

Siêu thăng thoát hóa cả nhà,

 

Từ đây phúc đẳng hà sa vô cùng.

 

Lên chừng Cực Lạc hội đồng,

 

Mọi người khi ấy đều trông rành rành.

 

Thiệt là lành lại gặp lành,

 

Nam-mô Di Phật tu hành thì coi.

 

Thật là đã bỏ những ngày trần lao khổ ải, trở về hội đồng trong cảnh Cực Lạc an vui. Một hình ảnh đoàn tụ cực kỳ lý thú. Thế hỏi còn ai không muốn tu, không muốn làm lành lánh dữ.

 

Đọc những quyển thơ trên, chúng ta thấy tinh thần dân tộc và Phật giáo đã đồng nhất. Những lời thơ bình dị ấy gây một tác động lớn lao trong dân tộc. Người bình dân hiểu Phật giáo không phải do những thời thuyết pháp mà nhờ những vần thơ dễ hiểu êm ái này.

 

3.- TRUYỆN CỔ TÍCH

 

Ngoài thơ ca, chúng ta còn thấy những truyện cổ tích chứa đầy màu sắc Phật giáo. Tổ tiên ta khéo đem giáo lý đạo Phật lồng vào những mẩu truyện lý thú, hấp dẫn kể cho con cháu nghe để xây dựng chúng sống theo khuôn đạo đức từ thuở bé. Như truyện “Phượng hoàng đậu cây khế”:

 

Xưa một nhà có hai anh em, khi cha mất đi, người anh tranh hết cả ruộng vườn, để cho người em chỉ mỗi một cây khế.

 

Người em cũng vui lòng chịu,  không dám nói gì đến anh.

 

Sau một hôm có đàn Phượng hoàng từ đâu bay lại, đậu trên cây khế, có bao nhiêu quả ăn hết sạch.

 

Người em thấy vậy, ra gốc cây vừa khóc vừa nói với chim Phượng hoàng rằng:

 

- Cơ nghiệp tôi chỉ có mỗi cây khế đó thôi. Bây giờ các Ngài lại xơi hết cả thì tôi trông cậy vào đâu cho có ăn!

 

Phượng hoàng nghe nói bảo rằng:

 

- Ta vốn hay đậu nơi cây ngô đồng và tắm mát chốn hồ sen.

 

Ta mà đến đây chẳng qua chỉ để nghỉ chân chốc lát thôi. Ta có ăn mất trái khế nào, thì ta đền trả lại không sợ thiệt.

 

Nói rồi Phượng hoàng nhả trong mồm ra rơi xuống một cây khế khác, bao nhiêu hoa tinh là bạc, bao nhiêu quả tinh là vàng cả.

 

Người em, vì thế mà được giàu có hơn anh nhiều.

 

Anh thấy em giàu, hỏi tại duyên cớ làm sao.

 

Em kể lại câu chuyện Phượng hoàng cho anh nghe.

 

Anh bèn ngỏ ý muốn đổi cả vườn ruộng cho em để lấy cây khế, những mong Phượng hoàng lại đến ăn quả, lại cho cây khế bằng vàng, bằng bạc.

 

Em bằng lòng.

 

Nhưng anh được cây khế, đợi mãi chẳng thấy chim Phượng hoàng nào đến cả, chỉ thấy lũ quạ đen, ngày nào nó cũng rủ nhau đến kêu “xấu hổ! xấu hổ!”

 

(Trích Truyện cổ Việt Nam, tập 1 của Nguyễn Văn Ngọc)

 

Lối kết cấu mẩu chuyện rõ ràng theo đúng đạo lý nhân quả. Kẻ hiền lành thì được quả phước giàu sang, người gian ác không sớm thì chầy, phải chịu quả báo đau khổ. Ngoài ra như truyện “Con Tấm con Cám”, truyện “Kéo cầy trả nợ” v.v... đều cấu tạo theo tinh thần nhân quả này.

 

Lại còn có truyện nói về sự oan oan tương báo không dứt. Nếu con người còn ôm ấp thù hằn, mong có ngày trả thù báo oán thì thù oán ấy mãi chồng chất chẳng dừng. Như câu truyện “Hét ăn Giun” này:

 

Xưa có một người tên là Giun làm nghề giữ lúa ngoài đồng. Một hôm có cha thằng Hét đến ăn trộm lúa, bị thằng Giun đánh chết.

 

Hét căm giận, thề nguyền thế nào cũng báo thù được cho cha mới nghe.

 

Một buổi, Hét bắt gặp Giun, đuổi đánh. Giun cắm đầu, cắm cổ chạy bán sống, bán chết lên trên núi. Thấy ông Bụt đang đứng đó, nó liền vội vàng quì xuống van lạy rằng:

 

- Tôi đang có sự nguy cấp, xin ông cứu tôi với...

 

Bụt hỏi:

 

- Sự gì?

 

Nó nói:

 

-  Trước tôi lỡ tay giết chết cha thằng Hét, bây giờ nó thù, nó muốn giết chết tôi. Hiện nó đang đuổi tôi ở đằng sau lưng kia...

 

Bụt bảo:

 

- Làm thế nào bây giờ? Tránh đâu cho thoát được? Hay tao hóa cho mày làm con chim...

 

- Nhưng rồi nó lấy cung nó bắn thì tôi cũng không thoát được tay nó.

 

-  Ừ, tao hóa cho mầy làm con cá vậy.

 

-  Nhưng rồi nó lại chăng lưới nó bắt, thì tôi cũng không khỏi chết với nó được.

 

Bụt nghĩ rồi bảo:

 

- Lên trời không thoát, xuống nước không khỏi, thôi thì tao cho mầy chun dưới đất, họa may mới xong được. Tao hóa cho mày làm một con bé và dài, không chân, không cánh và lẩn lút chui luôn ở dưới đất. Vốn mày tên là Giun thì tao cho gọi con ấy là “con giun”.

 

Thằng Giun nghe gật đầu.

 

Ông Bụt liền hóa cho nó làm ngay con giun chui tuột ngay xuống đất.

 

Lúc Hét đến, không thấy Giun đâu, chỉ thấy ông Bụt, Hét mới lại thưa với ông Bụt rằng:

 

-  Thằng Giun xưa nó giết cha tôi, tôi phải đuổi nó kỳ cùng, giết được nó mới nghe. Nó chạy đàng nào rồi, ông mách cho tôi với.

 

Bụt bảo:

 

-  Tao đã hóa cho nó làm con giun chui xuống đất rồi.

 

Thằng Hét nghe nói, khóc lóc thảm thiếtnhư ý kêu van bắt đền Bụt rằng:

 

- Thù cha không báo, thật là bất hiếu, mà cái lỗi ấy ở tại ông...

 

Bụt nghe nó nói, thương tình nghĩ cái lẽ “oan oan tương báo” khó lòng tránh được, mới bảo nó rằng:

 

- Ừ, thì bây giờ ta hóa cho mày làm giống chim, cứ lấy tên mày mà gọi là chim hét. Rồi mày tìm giun ở dưới đấtbáo thù vậy.

 

Nói xong, ông Bụt làm phép cho thằng Hét hóa ra ngay chim hét, và từ đó hét chỉ tìm giun mà ăn, lấy làm ngon lắm.

 

Sau người ta lại thích ăn chim hét cũng cho là ngon. Bởi vậy tục ngữ mới có câu:

 

“Muốn ăn hét, phải đào giun” là ý nói hét nó hay ăn giun, mình phải đào đất bới giun lên, hét nó xuống ăn giun thì mình mới bắt được nó.

 

(Truyện cổ Việt Nam, tập II của Nguyễn Văn Ngọc)

 

Cốt truyện kết cấu thích hợp với câu “lấy oán báo oán, oán mãi chất chồng; lấy ân báo oán, oán liền tiêu diệt” ở trong kinh Phật. Phật giáo thật đã có mặt trong mọi lãnh vực văn hóa Việt Nam. Những hình ảnh,  những lời lẽ trong truyện thật là mộc mạc bình dị, nhưng ảnh hưởng không phải là nhỏ đối với trí óc non dại. Lối giáo dục của người bình dân không cầu kỳlý thú, không cao siêu mà hấp dẫn, thật là một phương pháp kỳ diệu vậy.

 

C. VĂN CHƯƠNG BÁC HỌC

 

Những áng văn bác học của các văn sĩ Việt Nam thời xưa còn lưu lại không ai chẳng biết quyển “Đoạn Trường Tân Thanh” của Nguyễn Du, quyển “Cung Oán Ngâm Khúc” của Ôn Như Hầu là hai tác phẩm nổi tiếng nhất. Chúng ta thử xét qua hai tác phẩm này xem chịu ảnh hưởng Phật giáo nhiều ít.

 

Lối dụng ngữ trong “Cung Oán Ngâm Khúc”, Ôn Như Hầu đã khéo dùng danh từ nhà Phật tô điểm cho văn chương ông thêm đậm nét siêu thoát linh hoạt. Để diễn tả thân phận con người là khổ đau, bèo bọt, ông dùng:

 

Gót danh lợi bùn pha sắc xám,

Mặt phong trần nắng rám mùi dâu,

Nghĩ thân phù thế mà đau,

Bọt trong “bể khổ”, bèo đầu “bến mê”.

 

Trong kinh Phật, khi giải bày nỗi khổ đau vô tận của chúng sanh thường hình dung bằng “khổ hải” (bể khổ). Nhưng cái khổ ấy từ đâu mà ra, vốn từ chỗ mê lầm phát xuất hay từ vô minh sanh khởi. Chỗ mê lầm ấy được hình dung bằng “mê tân” (bến mê). Như thế, danh từ bể khổ, bến mê của Phật giáo đã giúp cụ Ôn Như diễn tả thấu đáo nỗi khổ đau của kiếp người.

 

Chẳng những kiếp ngườiđau khổ chập chùng, mà còn cơn vô thường đuổi ngặt. Từ ngoại cảnh đến con người lúc nào cũng rắp ranh tan hoại.

 

Nào hoa, cỏ, núi, sông và đá đều chung chịu một luật vô thường.

 

Hình mộc thạch vàng kim ố cổ,

Sắc cầm ngư ủ rũ ê phong,

Tiêu điều nhân sự đã xong,

Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư.

Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ

Quán thu phong đứng rũ tà huy

Phong trần đến cả sơn khê,

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này,

Tuồng huyễn hóa đã bày ra đấy,

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

Trăm năm còn có gì đâu?

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.

 

Cụ Ôn Như đã diễn tả rõ ràng khúc chiết đạo lý vô thường bằng một bức tranh đầy màu sắc. Đá tuy cứng chắc vẫn bị gió sương bào mòn búa mỏng. Những cây cổ thọ rườm rà vươn mình trên đỉnh núi cao, tưởng được sống vĩnh viễn, đâu ngờ trải qua những cơn mưa sa, nắng táp dần dần lá héo cành khô, rồi đến ngày tàn lụi. Đàn chim bay cao vút trên không trung, bầy cá lặn sâu dưới đáy biển vẫn không khỏi ủ ê khi mưa chiều gió sớm. Nhìn lại kiếp người thật mỏng manh tạm bợ, tuy nói rằng trăm năm mà nhớ lại chỉ thấy nấm mồ cỏ mọc xanh rì.

 

Nhân sanh và vũ trụ đã vô thường khổ đau như thế, còn gì mà không đem mình vào cửa Phật để dứt sạch thất tình lục dục, khơi sáng ngọn đuốc trí tuệ, vượt khỏi kiếp luân hồi.

 

Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật,

Mối thất tình quyết dứt cho xong.

Đa mang chi nữa đèo bòng,

Vui gì thế sự mà mong nhân tình.

Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa,

Mượn “hoa đàm”, “đuốc tuệ” làm duyên.

Thoát trần một gót thiên nhiên,

Cái thân ngoại vật là tiên trong đời.

 

Hoa đàm nói đủ là hoa ưu-đàm, tên một thứ hoa quí ở Ấn Độ. Đuốc tuệ là ngọn đuốc trí tuệ. Phật ví dụ trí tuệ con người một khi phát sanh, chẳng khác nào ngọn đuốc sáng đưa con người ra khỏi chỗ mê lầm.

 

Cụ Ôn Như đã trình bày đầy đủ kiếp ngườiđau khổ, nhân sinhvô thường, tu hành là thoát tục. Qua những ý nghĩa đó khiến ta liên tưởng đến tam pháp ấn của Phật giáovô thường, khổ, vô ngã. Triết lý quyển “Cung Oán Ngâm Khúc” tức là triết lý Phật giáo. Nhưng cụ chỉ nhìn về mặt tiêu cực của Phật giáo, nên chi lời văn đượm vẻ bi đát. Nếu chúng ta nhìn về mặt tích cực thì trong cái vô thường đã sẵn cái thường, trong cái khổ đã chứa mầm lạc, trong cái vô ngã vẫn có cái ngã. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận cụ Ôn Như đã tài tình dùng danh từ, ý nghĩa của Phật giáo một cách tuyệt xảo.

 

Đến cụ Nguyễn Du trong quyển Đoạn Trường Tân Thanh đã áp dụngnghiệp báo của Phật giáo một cách triệt để. Hình ảnh Đạm Tiên hiện về là cái bóng ngã trước của con người Thúy Kiều. Những linh cảm báo trước đều là hiện hình của tiền nghiệp. Nhưng nghiệp không phải bất khả chuyển, cho nên “có trời mà cũng tại ta”. Ta hãy nghe lời sư Tam Hợp giải bày:

 

Sư rằng: “Phúc họa đạo trời,

 

Cội nguồn cũng bởi lòng người mà ra.

 

Có trời mà cũng tại ta,

 

Tu là cội phúc, tình là dây oan...”

 

 

Sư rằng: “Song chẳng hề chi,

 

Nghiệp duyên “cân lại nhắc đi” còn nhiều!

 

Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,

 

Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm.

 

Lấy tình thâm, trả tình thâm,

 

Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.

 

Hại một người, cứu muôn người,

 

Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng.

 

Thửa công đức ấy ai bằng?

 

Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi.

 

Phật giáo không thừa nhận có ông Trời thưởng người làm phước, phạt người gây tội, mà tất cả đều qui về nơi “nghiệp”. Chúng ta tạo nghiệp ác sẽ bị quả báo ác. Như mình cứu giúp người, được người đền ơn lại, mình chửi mắng đánh đập người, bị người đánh đập lại, không có ông Trời nào chen vào đó cả. Quả báo đau khổ chúng ta hiện chịu đây, là do nghiệp xưa đã tạo. Nghiệp đã do mình tạo thì trách trời, oán người thật là việc ngớ ngẩn. Lòng lành là động cơ tạo nên cội phước, chỉ có lòng lành mới thật là đáng quí trọng. Dù ai có tài khuynh đảo Trời đất mà thiếu lòng lành, âu cũng là việc chuốc tai mang vạ mà thôi. Để thấy đầy đủ ý nghĩa này, ta hãy nghe bốn câu kết luận của cụ Nguyễn Du:

 

Đã mang lấy nghiệp vào thân,

 

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

 

Thiện căn vốn tại lòng ta,

 

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

 

Chỉ cần bốn câu chót này, thi hào Nguyễn Du kết thúc tường tận ý nghĩa “nghiệp báo”. Chữ Trời ở đây dùng để chỉ lý thiên nhiên, hay nói khác đi là chỉ nhân quả báo ứng. Không một người nào chưa giải thoát mà không bị chi phối bởi lý thiên nhiên hay luật nhân quả báo ứng ấy.

 

Như thế, thi hào Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng Phật giáo rất sâu đậm. Và lời khuyên chót của Nguyễn Du thật là những lời giảng đạo thấm thía.

 

Sau này, thi sĩ Chu Mạnh Trinh đã cảm hứng khi đi vãn cảnh núi Hương Tích. Thi sĩ họ Chu dùng ngọn bút vẽ khung cảnh lung linh huyền ảo của núi rừng khe suối, đượm nhuần tinh thần Phật giáo:

 

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái,

Lững lờ khe yến cá nghe kinh.

Thoảng bên tai một tiếng chày kình,

Khách tang hải giựt mình trong giấc mộng.

 

Chim cũng đi hái trái cúng Phật. Cá lội lững lờ trong khe hình như đang say nghe tiếng kinh kệ. Con người đang đắm mê danh lợi, chợt nghe tiếng hồng chung ngân vang, sực tỉnh cuộc đờiảo mộng. Thật là đẹp đẽ và cao quí làm sao!

 

Đến một văn hào nổi danh trong làng áo mũ, đã từng lên voi xuống chó, từng trải mùi tân khổ, vinh quang là Nguyễn Công Trứ. Nhân sinh quan của ông là hưởng lạc. Thế mà ông vẫn chịu ảnh hưởng ít nhiều Phật giáo. Ta hãy đọc một đoạn trong bài chữ NHÀN của ông:

 

... Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe?

Trần có vui sao chẳng cười khì?

Khi hỉ lạc, khi ái ố, lúc sầu bi,

Chứa chỉ lắm một bầu nhân dục...

 

Thế là ông chấp nhận thuyết “nhân sinh đa khổ” của Phật giáo. Chẳng những ông chấp nhận, mà ông còn tự xem là một triết lý của ông, đáng được ông đem ra phô diễn. Chính trong bài “Vịnh nhân sinh quan”, ông đã trình bày rõ ràng ý này.

 

... Ôi nhân sinh là thế ấy,

 

 Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao.

 

Ba mươi năm hưởng thụ biết chừng nào?

Vừa tỉnh giấc nồi kê chưa chín...

 

Kiếp người sở dĩ chán ngán khổ đau vì nó là vô thường giả ảo. Mới trẻ đó bỗng liền già đó, mới gặp đây bỗng phải chia lìa, vừa thấy đó chợt liền mất đó. Ấy là những ảnh tượng, những đau buồn nhất của con người. Văn hào Nguyễn Công Trứ đã nhìn thấy “nhân sinh đa khổ” là vì nhân sinh vô thường. Đó là thuyết lý căn bản của Phật giáo.

 

Gần chúng ta hơn, thi sĩ Hàn Mạc Tử, một thi sĩ nhiều đau khổ nhất. Thi sĩ vẽ cảnh biệt ly cô quạnh, nước mắt rơi không biết số muôn ức nào, qua những lời thơ:

 

Mây vẽ hằng hà sa số lệ,

Là nguồn ly biệt giữa cô đơn.

 

Ở đây, chúng ta thấy từ ngữ “hằng hà sa số” được dùng một cách êm dịu linh động trong thi văn.

 

Ngoài ra, còn biết bao nhiêu tác phẩmtừ ngữtinh thần Phật giáo bàng bạc trong ấy. Có thể nói Phật giáo là nguồn cảm hứng trong thi văn Việt Nam. Bởi vì những cảnh núi non thanh u tịch mịch là cảnh của thiền môn, tiếng trống sớm, giọng chuông chiều đập mạnh vào cảm quan của thi sĩ. Mắt trông thấy cảnh nên thơ, tai nghe êm dịu, khiến lòng thi sĩ tràn trề cảm hứng.

 

D. KIẾN TRÚC

 

Tinh thần Phật giáotinh thần không cố chấp, không đóng khung trong một hình thức cố định. Phật giáo biết rõ mỗi chúng sanh đều có tâm tưởng ý nghĩ khác nhau. Không thể bắt buộc họ đồng nhất với nhau, khi nghiệp lực của mỗi người còn khác biệt. Từng cá nhân vẫn sai biệt theo nghiệp lực của mình, huống là mỗi dân tộc, phong tục tập quán làm sao giống hệt nhau được. Đứng về phương diện khế cơ, Phật giáo du nhập vào địa phương nào, tùy dân tộc tánh của địa phương ấy, sự kiến thiết chùa chiền phải thích ứng với dân tộc đó.

 

Cho nên, những ngôi chùa ở Trung Hoa hình thức đặc biệt Trung Hoa. Ngôi chùa ở Nhật Bản hình thức hoàn toàn Nhật Bản. Ngôi chùa ở Thái Lan, Miên... hình thức hẳn là Thái Lan, Miên. Ngôi chùa Việt Nam thì thật sự là Việt Nam. Trông qua những ngôi chùa thờ Phật, ở mỗi nơi đều có kiểu khác biệt nhau. Có người cho đó là tánh cách vô tổ chức của Phật giáo. Theo quan niệm của tôi, đó là đặc tánh của Phật giáotôn trọng tinh thần dân tộc, gần gũi quần chúng, thích ứng nhân tâm. Phật giáo đến đâu chỉ giúp cho văn hóa xứ ấy được phong phú, không bắt xứ ấy lệ thuộc văn hóa Phật giáo. Vì thế, dân tộc Việt Nam chỉ muốn Việt Nam hóa Phật giáo, chớ không để Phật giáo hóa Việt Nam.

 

Lối kiến trúc những ngôi chùa cổ ở Việt Nam phối hợp tinh thần dân tộc cùng tinh thần Phật giáo làm một. Ngôi chùa độc đáo nhất ở Việt Nam xây cất thời vua Lý Thái Tôn tên “chùa Một Cột” hay “chùa Diên Hựu”. Sử chép:

 

Đại Bảo nguyên niên tạo Diên Hựu tự. Sơ Đế mộng Quan Âm Phật tọa Liên Hoa đài dẫn Đế đăng đài. Cập giác ngữ quần thần, hoặc dĩ vi bất tường! Hữu Tăng Thiền Tuệ khuyến Đế tạo tự lập thạch trụ vu địa trung, Cầu Quan Âm Liên Hoa đài vu kỳ thượng như mộng trung sở kiến, Tăng đồ toàn nhiễu tụng kinh Diên Thọ cố danh Diên Hựu.

 

(Đại Việt Sử Ký toàn thư 9, 11, 37)

 

Năm 1049 dựng chùa Diên Hựu, tức chùa Một Cột. Nguyên Vua mộng thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên đài sen, đến dắt Vua lên đài. Lúc tỉnh Vua kể truyện lại, triều thần cho là điềm gở. Sư Thiền Tuệ khuyên xây chùa, dựng một cột đá giữa hồ, đặt đài sen tượng Quan Âm ở trên như đã thấy trong mộng. Tăng đồ đi vòng quanh đài, tụng kinh để cầu cho Vua sống lâu, cho nên có tên là Diên Hựu.

 

(Nguyễn Đăng Thục dịch)

 

Cách kiến thiết ngôi chùa Diên Hựu thế nào, chúng ta hãy đọc thêm đoạn văn sau đây:

 

Theo bia “Sùng Thiện Diên Linh” dựng năm 1122 ở núi Long Đội, tỉnh Hà Nam:

 

Ở vườn Tây Cấm, dựng chùa Diên Hựu. Theo dấu cũ thêm ý mới của nhà vua, tạc hồ Linh Chiểu. Trên hồ dựng lên một cột đá, trên cột đá nở một bông sen nghìn cánh, trên bông sen lại gác một tòa điện tượng Phật vàng. Chung quanh hồ có hành lang bao vây, tường vẽ. Ngoài hành lang lại có hồ Khang Bích bọc bốn bề, mỗi bề có thông ra ngoài sân, trong sân, kế đầu cầu ở trước chùa có dựng hai tháp lớn, lợp ngói sứ.

 

(Lý Thường Kiệt 9-11, trang 415 của Hoàng Xuân Hãn)

 

Trong quyển Văn minh Việt Nam, Lê Văn Siêu nói lối kiến trúc thành Thăng Long, có đề cập đến chùa Một Cột như sau:

 

Tiện đây, lại nói luôn đến chùa Nhất Trụ. Có lẽ chùa này cũng do cùng một kiến trúc sư kiến tạo nên. Bởi qui mô kiến trúc chùa cũng theo đúng một tinh thần như đã nói: Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái biến hóa vô cùng. Nhưng đặc biệttoàn thể ngôi chùa lại quan niệm theo hình thể bông sen, cắm chân ở dưới đất bùn (cột) và lên đến trên thì to ra như hình búp hoa. Mái ở trên thời mở ra làm hai, xuống từng dưới là bốn mái và xuống từng dưới nữa là tám mái trông ra tám hướng. Chùa đặt ở ngay bên nội điện.

 

(Văn minh Việt Nam, trang 82-83)

 

Một công trình kiến trúc quí báu đáng lưu lại muôn năm, một quốc bảo của Việt Nam, mà đã bị bọn phi dân tộc phá hoại trong thời chiến này, thật đáng trách và đáng tiếc!

 

Ngoài ngôi chùa độc đáo trên, tất cả ngôi chùa khác đều kiến thiết theo một quan niệm dân tộc và Phật giáo. Có đi ra Huế, chúng ta sẽ thấy các ngôi chùa Linh Mụ, Tây Thiên, Báo Quốc, Từ Hiếu v.v... không khác điện Thái Hòa trong thành nội bao nhiêu. Hình thức ba gian, năm gian hai chái, mái cong... chứa đầy tinh thần dân tộc.

 

Tuy nhiên, gần đây có những ngôi chùa hoặc người đứng ra xây cất không nhận thức được tinh thần dân tộc, hoặc chạy hùa theo lối kiến trúc Tây phương khiến những ngôi chùa ấy lai căng một cách đáng thương! Có khi đến ngôi chùa mà chúng ta không thể tưởng tượng đó là chùa, tưởng chừng ngôi biệt thự cất theo kiểu mới.

 

E. ĐIÊU KHẮC, HỘI HỌA

 

Nếu phê bình mỹ thuật về ngành điêu khắc, hội họa chung của dân tộc Việt Nam, chúng tôi không đủ khả năng làm việc ấy. Nhưng nhìn riêng về hình tượng tranh ảnh Phật giáo, chúng tôi có những nhận xét sau đây:

 

1.- TINH THẦN DÂN TỘC

 

Tinh thần điêu khắc, hội họa cũng như tinh thần kiến trúc, nghĩa là phối hợp tinh thần Phật giáo với tinh thần dân tộc. Sự phối hợp này thể hiện cụ thể qua hình tượng đức Phật hay chư vị Bồ-tát. Đức Thích-ca là vị Hoàng tử Ấn Độ đi tu, sau này thành Phật. Như vậy, tướng mạo Ngài nhất địnhtướng mạo người Ấn Độ, nếu tạc tượng hay họa ảnh Ngài phải giống người Ấn mới đúng với hình tướng thật của Ngài. Nhưng nhìn vào tất cả tượng Phật thờ ở Việt Nam, Trung Hoa... tại các ngôi chùa cổ, chúng ta không tìm thấy một dáng điệu nào giống người Ấn Độ, mà thấy in hệt người Việt Nam, người Trung Hoa... Lối điêu khắc ấy, gần đây có một số người cho là sai sự thật. Đó là thái độ câu chấp lệ thuộc vào hình thức. Tinh thần Phật giáotinh thần vô ngã. Đức Phật không thừa nhận Ngài là người riêng của xứ Ấn Độ, mà là ông Thầy dẫn đường của Tam giới (tam giới chi đạo sư). Người Phật tử không thấy Ngài là ông cha riêng của một nước, mà công nhận Ngài là ông cha lành chung cả bốn loài (tứ sanh chi từ phụ). Đã thấy Phật là ông cha chung của chúng sanh, thì chúng ta là người Việt Nam dĩ nhiên phải thấy đức Phật là người Việt Nam; người Trung Hoa, Nhật Bản phải thấy đức Phật là người Trung Hoa, Nhật Bản. Nếu chúng ta tạc tượng Phật in hệt người Ấn Độ, đó là phản bội tư tưởng của Ngài và cũng phản bội tinh thần dân tộc Việt Nam. Nghĩa là đã không đem văn hóa Phật giáo làm giàu cho văn hóa Việt Nam, ngược lại bắt văn hóa Việt Nam nô lệ văn hóa Phật giáo. Đến tượng các vị Bồ-tát cũng thế. Như tượng Bồ-tát Quan Thế Âm, thật là một gương mặt từ bi của một bà mẹ hiền Việt Nam.

 

2.- TINH THẦN PHẬT GIÁO

 

Những cử chỉ trong hình tượng Phật biểu lộ trung thành tinh thần Phật giáo. Có thể đơn cử một vài cử chỉ làm tỉ dụ. Nhìn vào tượng đức Phật Thích-ca, thấy cặp mắt Ngài đăm chiêu nhìn xuống, khiến chúng ta tự nghĩ: Tại sao có dáng điệu này? Bởi vì Phật giáo chủ trương thuyết nhân duyên hay nhân quả, cho nên không có một điều gì xảy ra mà không có nguyên nhân hay duyên cớ. Những nguyên nhânduyên cớ ấy đều phát xuất từ bản thân chúng ta. Muốn tìm hiểu thấu đáo nguyên nhânduyên cớ đó, phải căn cứ vào tâm tưởng, ngôn ngữ và hành động của chúng ta. Bỏ ta mà tìm kiếm bên ngoài, đức Phật cho đó là suy xét sai lầm, lệch lạc (tà kiến). Phải nhìn thẳng vào chúng ta, phải quán sát lại nội tâm của mình, một khi thấy rõ rồi thì mọi việc đều hiểu biết tường tận, hoặc nói cách khác là được giác ngộ. Muốn quán sát nội tâm mình, dĩ nhiên cặp mắt phải đăm chiêu ngó xuống. Tóm lại, cặp mắt Phật ngó xuống nói lên giáo lý đạo Phậtgiáo lý “nội quan”.

 

Quán sát nội tâm để thấu đạt mọi nguyên nhân phát xuất nơi mình, đó là thái độ tiêu cực tự giác, tự ngộ. Đối với xã hội, Phật giáo còn có thái độ tích cực giác thađộ tha. Cho nên nhìn vào tượng Phật Di-đà phóng quang, chúng ta thấy tượng đứng thẳng, một tay kiết ấn cam lồ, một tay duỗi xuống phóng quang. Phật giáo nhận xét chúng sanh còn trong dòng trầm luân muôn vàn đau khổ, chẳng khác nào những kẻ đang đắm chìm ngụp lặn trong biển cả. Cử chỉ duỗi tay xuống của đức Phật để nói lên ý nghĩa, Ngài lúc nào cũng sẵn sàng đưa tay cứu vớt tất cả chúng sanh. Tinh thần độ tha của đạo Phật biểu lộ rất đầy đủ trong cử chỉ ấy.

 

Đến tượng Bồ-tát Quan Thế Âm, tay trái cầm bình Thanh tịnh đựng nước cam lồ, tay mặt cầm cành Dương liễu để nhúng nước cam lồ rưới xuống chúng sanh. Đức Quan Thế Âmhình ảnh một bà mẹ hiền của tất cả chúng sanh. Ngài lúc nào cũng nguyện dẹp hết đau khổ (lòng bi) đem mọi an vui (lòng từ) lại cho chúng sanh. Nước cam lồ để tượng trưng lòng từ bi của Ngài. Nó có công dụng rưới tắt ngọn lửa phiền não đang bừng cháy trong tâm chúng sanh, và đem lại sự thanh lương an tịnh cho mọi loài. Nó không đóng khung trong một hình thức vuông, tròn, không cố định trong cá thể lỏng, cứng, tùy hoàn cảnh, tùy tâm niệm chúng sanh liền theo đó ứng hiện cứu độ. Lòng từ bi thật là mênh mông, bát ngát không thể lường, không thể biết hết được.

 

Đó là phác họa vài nét điêu khắc, hội họa hình tượng Phật, Bồ-tát, nói lên tinh thần Phật giáo một cách cụ thể. Chúng ta có thể nhân đây có những nhận xét tổng quát về điêu khắc chứa đựng đầy đủ tinh thần Phật giáo.

 

3.- PHẬT GIÁO GIÚP NGÀNH ĐIÊU KHẮC, HỘI HỌA VIỆT NAM SỚM PHÁT TRIỂN

 

Chúng ta không thể chối cãi được những hình ảnh điêu khắc trong các hang động xưa kia lưu lại, những cốt tượng tìm được hiện còn giữ trong Bảo tàng viện Quốc gia, đa sốhình ảnh Phật giáo và cốt tượng Phật, Bồ-tát. Bao nhiêu đó cũng đủ minh chứng, nhờ ảnh hưởng Phật giáo mà ngành điêu khắc, hội họa Việt Nam sớm được phát triển.

 

____________________

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 9381)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 4465)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 5421)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 4309)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 3659)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 3746)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 3702)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 2968)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 3226)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 3412)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 3013)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 3415)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 3240)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 3500)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 3459)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 3352)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 3926)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 3283)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 3128)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 2874)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 3088)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 3039)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 3074)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 3269)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 2816)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 4136)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5771)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 7669)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 3904)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 3830)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 3421)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 3551)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 9381)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 3009)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 3131)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 6029)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 5265)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng