075. TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ TRẦN TUNG (1230 - 1291)

22 Tháng Tám 20194:40 CH(Xem: 1939)
075. TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ TRẦN TUNG (1230 - 1291)

 TSVN_A

Thiền Sư Việt Nam
HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________

 

 

075. TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ TRẦN TUNG (1230 - 1291)

 

Thượng Sĩ là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương Trần Liễu, là anh cả của Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Khi Đại vương mất, Hoàng đế Trần Thái Tôn cảm nghĩa phong cho Thượng Sĩ tước Hưng Ninh Vương.

 

Lúc nhỏ, Thượng Sĩ đã tỏ ra bẩm chất cao sáng, thuần hậu có tiếng. Được cử trấn giữ quân dân đất Hồng Lộ, Ngài đã hai lần ngăn giặc Bắc xâm lăng, có công với nước, lần hồi được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ trấn cửa biển Thái Bình.

 

Về con người, Thượng Sĩ vốn khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhã. Lúc còn để chỏm, Ngài đã chuộng cửa Không. Đến tham vấn Thiền sư Tiêu Daotinh xá Phước Đường, Ngài lãnh hội được yếu chỉ, bèn dốc lòng thờ làm thầy, lấy Thiền duyệt làm cái vui hằng ngày, không lấy công danh làm chỗ sở thích, Ngài lui về ấp Tịnh Bang do Vua phong cấp cho, đổi tên lại là làng Vạn Niên.

 

Trộn lẫn thế tục, hòa cùng ánh sáng, trong việc đối xử Ngài chưa hề phụ lòng ai, nhân đó tiếp mạnh hạt giống pháp, dìu dắt được người sơ cơ. Người nào đến hỏi han cũng được Ngài chỉ cho chỗ cương yếu khiến tâm tánh họ ứng dụng được nhẹ nhàng, khi hành cũng như lúc tàng, không gì nhất định cả.

 

Từ lâu, nhà vua nghe đồn đãi về Ngài bèn cho sứ thỉnh vào cửa khuyết. Ngài hầu chuyện lời lời đều tỏ ra siêu tục, nhân đó Vua tôn Ngài là Sư huynh, tặng cho hiệu Thượng Sĩ.

 

*

 

*   *

 

Một hôm, có vị Tăng đến hỏi:

 

- Bạch Thượng Sĩ, tôi vì sanh tử là việc lớn, vô thường nhanh chóng, song chưa biết thân này từ đâu sanh ra? Chết sẽ đi về đâu?

 

Ngài đáp:

 

- Giữa trời dù có đôi vành chuyển,

  Biển cả ngại gì hòn bọt sanh.

 

  (Trường không túng sử song phi cốc,

  Cự hải hà phòng nhất điểm âu.)

 

Lại hỏi:

 

- Thế nào là đạo?

 

Ngài đáp:

 

- Đạo không có trong câu hỏi

  Câu hỏi không có trong đạo.

 

- Cổ nhân nói: “Không tâm tức là đạo.” Đúng chăng?

 

- Không tâm chẳng phải đạo,

  Không đạo cũng không tâm.

 

Nếu họ nói “Không tâm là đạo” thì tất cả cây cỏ đều là đạo cả sao? Bằng ngược lại nói “Không tâm chẳng phải đạo” thì cần gì nói có không? Lắng nghe ta nói kệ đây:

 

Vốn không tâm không đạo,

Có đạo chẳng không tâm.

Tâm đạo vốn rỗng lặng,

Chỗ nào đâu đuổi tầm?

 

(Bản vô tâm vô đạo

Hữu đạo bất vô tâm

Tâm đạo nguyên hư tịch

Hà xứ cánh truy tầm?)

 

Vị Tăng chợt nhận ra ý chỉ, xá lạy lui ra.

 

*

*   *

 

Có vị Tăng hỏi:

 

- Bạch Thượng Sĩ, thế nào là đại ý Phật pháp?

 

Ngài đáp:

 

- Đầu trạnh vỗ sóng mắt sâu bọ

  Cánh bằng nhốt gió ruột kiến trùng.

 

  (Ngao đầu đả lãng tiêu minh nhãn

  Bằng dực đoàn phong lũ nghị trường.)

 

Lại hỏi:

 

- Như vậy, người học nhân đâu vào được chỗ đầu?

 

Ngài đáp:

 

- Gãi ngứa phải đâu người khác ngứa

  Đói ăn chính thật nhà ngươi ăn.

 

- Thế nào là Thanh tịnh Pháp thân?

 

- Ra vào trong vũng nước trâu

  Nghiền ngẫm trong đống cứt ngựa.

 

- Thế ấy thì không thể chứng nhập?

 

- Không có niệm nhơ bợn tức Pháp thân thanh tịnh.

 

Hãy nghe ta kệ đây:

 

Xưa nay không dơ sạch

Dơ sạch toàn tên suông

Pháp thân chẳng ngăn ngại

Gì đục lại gì trong?

 

(Bản lai vô cấu tịnh

Cấu tịnh tổng hư danh

Pháp thânquái ngại

Hà trược phục hà thanh?)

 

*

*   *

 

Lại hỏi:

 

- Tổ Qui Sơn nói: “Trăm năm sau, Lão tăng sẽ xuống núi làm con trâu nước”, ý muốn nói gì?

 

- Lúa nếp đỏ kêu thừa anh võ hột

  Cây ngô biếc đậu phượng hoàng cành.

 

  (Hồng đạo vịnh tàn anh võ lạp

  Bích ngô thê lão phụng hoàng chi(1).)

 

Xưa Thái tử Tất-đạt-đa vào miếu thần, tượng thần sụp xuống lạy dưới chân, việc ấy thế nào?

 

- Nắm xòe vẫn một bàn tay

  Ấn mắt hóa ngàn sai khác.

 

- Ngài Nam Tuyền bán mình(2), ý  ấy là sao?

 

- Còn lúc Ngài chưa bán mạng thì ý ấy là sao?

 

Vị Tăng không  đáp được.

 

Sư hét, đuổi ra.

 

*

*   *

 

Một vị Tăng hỏi:

 

- Hòa thượng Thủy Lạo lần đầu tiên đến tham bái Mã Tổ hỏi về ý nghĩa việc Tổ sư Đạt-ma từ Ấn sang, Mã Tổ đạp cho một đạp té nhào. Thủy Lạo lồm cồm ngồi dậy, chợt tỏ ngộ ngay, vỗ tay cười hả hả. Ấy là nghĩa gì?

 

Ngài đáp:

 

- Cái đạp của rồng voi chẳng phải sức lừa chịu nổi.

 

Lại hỏi:

 

- Sau đó Thủy Lạo còn nói với học trò rằng từ lúc ăn cái đạp của Mã Tổ đến nay, ông ta cười mãi không thôi. Thế lại là nghĩa gì?

 

Ngài đáp:

 

- Thực là tiếng gầm hống của loài sư tử

  Phải đâu giọng kêu the thé của chó rừng.

 

- Tôi không hiểu.

 

Ngài bèn đọc bài kệ chỉ cho:

 

Một đạp ngã nhào,

Ai hay tìm xét.

Đứng dậy cười to,

Lại sanh buồn thảm.

Cần hiểu Tây sang,

Ngựa tơ ăn cỏ.

 

(Nhất đạp đạp đáo

Thùy giải tầm thảo

Đại tiếu khởi lai

Tăng sanh áo não

Yếu thức Tây lai

Mã câu khế thảo.)

 

Vị Tăng xá lui ra.

 

*

*   *

 

Vị Tăng khác hỏi:

 

- Bạch Thượng Sĩ, lời xưa nói: “Xanh xanh trúc biếc thảy là Pháp thân”, có đúng chăng?

 

Ngài đáp:

 

- Sa-di ăn măng rừng bữa trước

  Đâu phải như pháp thân ngươi hôm nay.

 

Lại hỏi:

 

- Còn câu nói “Rậm rậm hoa vàng đều là Bát-nhã” là ý nói gì?

 

- Hoa đào đâu phải cây bồ-đề

  Sao lại Linh Vân nhập được đạo(3).

 

Lại hỏi:

 

- Có ba vị Tăng đi hành cước giữa đường gặp cọp, người nào cũng né qua một bên mà đi. Bấy giờ như thế nào?

 

Ngài đáp:

 

- Gió thổi ngại gì đám hoa rậm

  Trăng tà đâu quản đáy khe sâu.

 

  (Phong xuy bất ngại hoa gian mật

  Nguyệt lạc vô phòng giản để thâm.)

 

Lại hỏi:

 

- Lúc ấy Qui Tông nói “Giống tợ con mèo”. Đó là ý gì?

 

- Miệng nói không phải tự mình gặp.

 

- Còn ngài Trí Kiên nói “Giống tợ con chó”. Đó là ý gì?

 

- Lão ấy nắm được thời cơ gom quét sạch hết, nhưng có điều đáng tiếc.

 

- Còn Ngài ý thế nào?

 

- Con chó.

 

- Đến Sư Nam Tuyền nói “Đó là một con cọp”. Ý chỉ thế nào?

 

- Gót chân chẳng chấm đất.

 

*

*   *

 

Tăng hỏi:

 

- Thế nào là Pháp thân?

 

Ngài đáp:

 

- Bên ao thấy hai cái,

  Dưới trăng vui ba người.

 

- Pháp thân với Sắc thân giống nhau? Khác nhau?

 

- Gươm mang hiệu long tuyền

  Ngọc xưng tên hổ phách.

 

*

*   *

 

Tăng hỏi:

 

- Phật Thế Tôn nói: “Suốt bốn mươi chín năm, ta chưa từng nói một chữ.” Vậy mười hai phần giáo từ đâu mà được?

 

Ngài đáp:

 

- Hơi xông khỏi hộp mong khôi phục,

  Thuốc thánh mở bình muốn bệnh tiêu.

 

- Thế nào là Phật của chính mình?

 

- Chẳng đến rượu bồ đào,

  Khó gặp người đập hũ.

 

- Phải hiểu thế nào?

 

- Nhà lớn một đêm ngủ,

  Sông dài chung đò qua.

 

- Thế nào là tâm của cổ Phật?

 

- Trọn nói khắp thành không quốc sắc,

  Đâu hay cửa tía có thuyền quyên.

 

- Cổ nhân nói “Tức tâm tức Phật”, mà sao không hiện trước mắt?

 

- Phanh trai tìm ngọc dù khó gặp,

  Mổ cá cầu châu uổng công thôi.

 

*

*   *

 

Dám hỏi:

 

- Thế nào là gia phong của Thượng Sĩ?

 

Ngài đáp:

 

- Rảnh, ném trái rừng kêu vượn tiếp,

  Lười, câu cá suối khiến hạc tranh.

 

  (Nhàn phao nham quả hô viên tiếp,

  Lãn điếu khê ngư dẫn hạc tranh.)

 

Lại hỏi:

 

- Tổ ý và giáo ý là đồng hay khác?

 

Ngài đáp:

 

- Sóng, nước tên tuy khác,

  Búp, nở một đóa hoa.

 

- Bồ-đề với phiền não, khác nhau, giống nhau thế nào?

 

- Trong nước có vị muối,

  Giữa sắc có màu keo.

 

- Thế nào là nghiệp sanh tử?

 

- Sương thu lác đác bờ lau

  Trời đêm tuyết xuống nhuộm màu trăng thanh.

 

  (Sương thu trích trích lô hoa ngạn

  Dạ tuyết phân phân nguyệt sắc thiên.)

 

Lại hỏi:

 

- Ngài Dật-đa (Di-lặc) không tu định tuệ thì làm sao thành Phật được?

 

Ngài đáp:

 

- Đào đỏ trên cây thời tiết đúng

  Cúc vàng bên giậu chắc gì xuân.

 

  (Hồng đào thọ thượng chân thời tiết

  Hoàng cúc li biên bất thị xuân.)

 

- Khi ngồi thiền tập định thì thế nào?

 

- Vua chúa xuống xe chọi ếch nhái.

 

- Khi không ngồi thiền tập định thì thế nào?

 

- Thuyền Phạm Lãi sông hồ vui thú.

 

*

*   *

 

Có vị Tăng hỏi:

 

- Kinh nói: “Muốn đạt đến con đường vô sanh, cần biết rõ cội nguồn.” Thế nào là cội nguồn?

 

Ngài đáp:

 

- Tìm nguồn chẳng có cội,

  Nắm cội cũng không nguồn.

 

Lại hỏi:

 

- Trong kinh nói: “Không tức là sắc, sắc tức là không”, ý  ấy thế nào?

 

Ngài im lặng giây lâu, rồi hỏi lại:

 

- Ông hiểu chưa?

 

- Chưa hiểu.

 

- Ông có sắc thân chứ?

 

- Có.

 

- Sao nói sắc tức là không? Ông thấy “cái không” có tướng mạo gì không?

 

- Không.

 

- Sao nói không tức là sắc?

 

- Rốt cuộc là thế nào?

 

- Sắc vốn không không, không vốn không sắc.

 

Vị Tăng lễ tạ.

 

Ngài nói:

 

- Nghe kệ ta đây:

 

Sắc tức không không tức sắc,

Ba đời Như Lai phương tiện đặt.

Không vốn không sắc, sắc không không,

Thể tánh sáng ngời không được mất.

 

(Sắc tức thị không không thị sắc,

Tam thế Như Lai phương tiện lực.

Không bản vô sắc sắc vô không,

Thể tánh minh minh phi thất đắc.)

 

*

*   *

 

Ngày kia, Thái hậu mở tiệc thịnh soạn. Ngài dự tiệc gặp cá thịt cứ ăn. Thái hậu thấy lạ hỏi:

 

- Anh tu thiền mà ăn cá thịt thì thành Phật sao được?

 

Thượng Sĩ cười đáp:

 

- Phật là Phật, anh là anh. Anh chả cần làm Phật, Phật chả cần làm anh. Thái hậu chẳng nghe Cổ đức nói: “Văn-thù là Văn-thù, Giải Thoát là Giải Thoát” đó sao?

 

Khi Thái hậu qua đời, nhà vua cúng chay ở cung cấm. Nhân lễ khai đường, Vua thỉnh các vị Tôn túc bốn phương mỗi vị làm một bài kệ ngắn trình bày chỗ kiến giải của mình. Kết quả bài nào cũng quến sình ủng nước, chưa tỏ ngộ.

 

Nhà vua bèn trao giấy mực cho Thượng Sĩ. Thượng Sĩ viết một hơi bài tụng tự thuật:

 

Kiến giải trình kiến giải,

Tợ dụi mắt thấy quái.

Dụi mắt thấy quái rồi,

Rỡ ràng luôn tự tại.

 

(Kiến giải trình kiến giải,

Tợ niết mục tác quái.

Niết mục tác quái liễu,

Minh minh thường tự tại.)

 

Nhà vua vừa đọc xong bèn phê tiếp theo sau:

 

Rõ ràng thường tự tại,

Cũng ấn mắt làm quái.

Thấy quái chẳng thấy quái,

Quái ấy ắt tự hoại.

 

(Minh minh thường tự tại,

Diệc niết mục sanh quái.

Kiến quái bất kiến quái,

Kỳ quái tất tự hoại.)

 

Thượng Sĩ đọc, thầm nhận đó.

 

*

*   *

 

Sau Vua kém vui, Thượng Sĩ viết thơ hỏi thăm bệnh tình. Vua đọc thơ, trả lời bằng bài kệ như sau:

 

Hừng hực hơi nóng mồ hôi toát,

Chưa hề thấm ướt khố mẹ sanh(4).

 

(Viêm viêm thử khí hãn thông thân

Vị tằng uyển ngã nương sanh khố.)

 

Thượng Sĩ đọc kệ than thở giây lâu. Đến khi nhà vua nhuốm bệnh nặng, Thượng Sĩ khấp khểnh về kinh trước để chịu tang, nhưng Vua đã qui tiên mất rồi.

 

*

*   *

 

Thượng Sĩ với tư cách một cư sĩ thọ Bồ-tát giới, sống đúng theo tinh thần Thiền nên tâm tư rất phiêu dật phóng khoáng. Những điều luận bàn huyền diệu của Ngài, cũng như câu chuyện gió mát trăng thanh, hàng thạc đức đương thời đều kính trọng.

 

Sau, bệnh sơ sài, Ngài không nằm ở phòng riêng, mà nằm ở Dưỡng Chân Trang. Tại đây, giữa nhà trống, Ngài kê một giường gỗ, nằm theo phép kiết tường, mắt nhắm xuôi. Các người hầu hạ và thê thiếp khóc rống lên. Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy, sai lấy nước rửa tay súc miệng, đoạn quở nhẹ rằng:

 

- Sống chếtlẽ thường, sao buồn thảm luyến tiếc chi mà làm não Chân tánh ta.

 

Dứt lời, Ngài êm thấm mà tịch. Bấy giờ nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ bảy (1291) đời Trần Nhân Tông, năm Tân Mão, ngày mùng một tháng tư, Ngài thọ sáu mươi hai tuổi.

 

Vua Nhân Tông nhớ ơn Ngài dạy dỗ, sai thợ vẽ chân dung để thờ và lấy đạo của Ngài truyền cho mà tuyên dương, lập nên phái Trúc Lâm.

 

*

*   *

 

Những tác phẩm của Ngài còn lưu lại khá nhiều, ở đây lược chép một ít tác phẩm quan trọng.

 

(1) Hai câu thơ trong khúc Thu hứng của thi hào Đỗ Phủ, dùng theo phép đảo ngữ.

 

(2) Nam Tuyền ngày kia bảo Tăng chúng: “Vương lão sư bán mình, có ai mua chăng?” Một vị Tăng đáp: “Con mua.” Sư nói: “Giá bán ông ta không quí cũng không mạt, Thầy làm sao mua được?” Vị Tăng không đáp được.

 

(3) Thiền sư Linh Vân ở chỗ Tổ Qui Sơn lâu năm không ngộ, một hôm nhân nhìn xem hoa đào nở chợt ngộ làm bài kệ:

 

Tam thập niên lai tầm kiếm khách

Kỉ hồi lạc diệp hựu sưu chi

Tự tòng nhất kiến đào hoa hậu

Trực chí như kim cánh bất nghi.

 

(4) Bản lai diện mục.

 


____________________

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 6465)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 2511)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 2877)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 2355)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 2030)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 880)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 867)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 647)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 788)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 846)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 783)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 940)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 829)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 1031)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 1396)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 1031)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 1483)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 977)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 994)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 871)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 982)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 971)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 971)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 919)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 794)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2735)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 4449)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6169)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 1346)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 1322)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 1289)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1180)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 6465)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1128)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1141)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3902)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2874)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng