078. Thiền sư Pháp Loa (1284 - 1330) (Tổ thứ hai phái Trúc Lâm)

22 Tháng Tám 20194:40 CH(Xem: 1812)
078. Thiền sư Pháp Loa (1284 - 1330) (Tổ thứ hai phái Trúc Lâm)

 TSVN_A

Thiền Sư Việt Nam
HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________

 

 

078. Thiền sư Pháp Loa (1284 - 1330) (Tổ thứ hai phái Trúc Lâm)

 

tên thật là Đồng Kiên Cương, sanh năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284) ngày mùng 7 tháng 5, quê làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Trước khi sanh Sư, thân mẫu nằm mộng thấy có người trao cho thanh thần kiếm, bà thích lắm nhận lấy. Từ đó, bà biết có thai. Vì trước kia bà sanh liền tám người con gái nên chán ngán, phen này bà cố tình uống thuốc phá thai, nhưng đều vô hiệu. Đến khi sanh ra Sư, bà mừng lắm, đặt tên là Kiên Cương. Sư thiên tư dĩnh ngộ, miệng không nói lời ác, ăn không thích thịt cá.

 

Niên hiệu Hưng Long thứ mười hai (1304), Điều Ngự (Nhân Tông) dạo đi các nơi, phá dâm từ (miếu thờ thần không chánh đáng) và ban pháp dược, đến mạn sông Nam Sách. Sư đến lễ bái xin xuất gia, năm này Sư được hai mươi mốt tuổi. Điều Ngự trông thấy bằng lòng, nói: “Kẻ này có đạo nhãn, sau ắt làm pháp khí, vui vẻ tự đến đây.” Ngài bèn cho hiệu là Thiện Lai, dẫn về liêu Kỳ Lân ở Linh Sơn cạo tócthọ giới Sa-di. Ngài dạy đến tham vấn với Hòa thượng Tánh Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây, Sư tìm đủ cách thưa hỏi mà không được khai ngộ. Sư tự đọc bộ kinh Hải Nhãn (có lẽ kinh Lăng Nghiêm) đến bảy chỗ hỏi tâm và đoạn dụ khách trần ở sau, xem đi xem lại nhiều lần, bỗng nhiên Sư có chỗ vào. Sư từ tạ Hòa thượng Tánh Giác, trở về tham yết với Điều Ngự.

 

Gặp lúc Điều Ngự thượng đường, Sư ra thưa hỏi liền được tỉnh. Điều Ngự nhận biết bèn cho Sư theo hầu hạ Ngài. Một hôm, Sư trình cả ba bài tụng, bị Điều Ngự chê cả. Sư thưa thỉnh mấy phen, Điều Ngự dạy phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, trông thấy bông đèn tàn rụng xuống, Sư chợt đại ngộ. Sư đem chỗ ngộ trình lên Điều Ngự, Ngài thầm nhận ấn khả. Từ đây, Sư thệ tu theo mười hai hạnh đầu-đà (khổ hạnh).

 

*

*   *

 

Đến niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305), Điều Ngự đem Sư lên liêu Kỳ Lân cho thọ giới Tỳ-kheo và giới Bồ-tát. Thấy chỗ tham học của Sư đã thành đạt, Điều Ngự cho hiệu là Pháp Loa.

 

Năm Hưng Long thứ mười lăm (1307), Sư được hai mươi bốn tuổi, Điều Ngự trụ ở am Thiên Bảo Quan có bảy tám người Thị giả mà Sư là đứng đầu. Điều Ngự vì Sư giảng Đại Huệ Ngữ Lục. Đến tháng năm, Điều Ngự lên ở am trên đảnh Ngọa Vân Phong. Ngày rằm làm lễ Bố-tát (sám hối tụng giới) xong, Điều Ngự đuổi mọi người xuống, lấy y bát và viết tâm kệ trao cho Sư dạy khéo gìn giữ.

 

Năm Hưng Long thứ mười sáu (1308) vào ngày mùng một tháng giêng, Sư vâng lệnh Điều Ngự làm lễ nối pháp Trụ trì tại nhà Cam Lồ chùa Siêu Loại. Khai lễ có vua Anh Tông và đình thần đến dự. Điều Ngự lên đàn thuyết pháp rồi nhường chỗ cho Sư giảng đạo. Lễ xong, Điều Ngự đặt Sư kế thế trụ trì chùa Siêu Loại và làm chủ sơn môn Yên Tử, là đời thứ hai của phái Trúc Lâm. Điều Ngự còn trao cho Sư hơn hai trăm bộ kinh sử và bảo Anh Tông sung cúng vào chùa cả trăm khoảnh ruộng.

 

Tháng mười một năm ấy (1308), Điều Ngự tịch, Sư phụng mạng cung nghinh xá-lợi về kinh đô. Trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch Thất làm thành quyển Thạch Thất Mị Ngữ.

 

Năm Hưng Long thứ mười chín (1311), Sư phụng chiếu tiếp tục khắc bản Đại Tạng Kinh. Sư giao Bảo Sát làm chủ việc này. Tháng tư, Sư  giảng Truyền Đăng Lục tại chùa Siêu Loại. Sau đó, Huyền Quang trình kiến giải, Sư đều chấp nhận.

 

Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt (1313) vào tháng 9, Sư phụng chiếu đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lượng Giang định chức cho Tăng đồ. Chúng Tăng từ đây mới có sổ bộ, chính Sư là người cầm sổ bộ ấy. Lúc đó, Sư độ hơn một ngàn vị Tăng. Về sau cứ ba năm một lần độ Tăng như thế.

 

Năm Đại Khánh thứ tư (1317) đời Trần Minh Tông, vào tháng 2, Sư bệnh nặng. Sư đem y của Điều Ngự và viết bài tâm kệ trao cho Huyền Quang, pháp khí và gậy trao cho Cảnh Ngung, phất tử trao cho Cảnh Huy, gậy tre trao cho Huệ Quán, pháp thơ và pháp cụ trao cho Huệ Nhiên, linh vàng trao cho Hải Ấn, sử vàng trao cho Huệ Chúc. Sau ít hôm, bệnh Sư được lành.

 

Những hàng Thái hậu, Công chúa, Vương công, quí khanh đều thỉnh Sư truyền giới xuất gia hoặc giới Bồ-tát, cho đến vua Trần Anh Tông cũng xem như đệ tử. Họ đua nhau cúng đất, vàng, tiền để Sư lập chùa, đúc tượng Phật, in kinh quá nhiều, đến nỗi Sư phải tự xin giảm dần những số quyên cúng, thuyền của Vua cấp cho Sư tiện việc đi lại và về kinh đô, Sư cũng từ chối không nhận.

 

Năm đầu Khai Hựu (1329) đời Trần Hiến Tông, Sư mở thêm cảnh Côn Sơn và Thanh Mai Sơn, làm thành danh lam thắng cảnh. Sư có làm bài thơ đề là Luyến Thanh Sơn:

 

Thưa gầy làn nước vút,

Chót vót ánh soi trong.

Ngẩng đầu coi chẳng hết,

Đường tới lại trùng trùng.

 

(Trần Tuấn Khải)

 

Sơ sấu cùng thu thủy

Sàm nham lạc chiếu trung

Ngang đầu khán bất tận

Lai lộ hựu trùng trùng.

 

Một hôm mở hội thuyết pháp, Sư lên tòa nói:

 

- Đại chúng! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói, thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét? Làm sao mà quán? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy.

 

Sư bèn nhìn hai bên nói:

 

- Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!

 

Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, Bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Phàm Thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu kính nhân quả chẳng thật. Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh Pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mắt mà không dễ gì nhìn thấy. Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói “Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm” nên nói: Cửa giới cửa định cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình. Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm, chân đi, ấy là tánh gì? Biết được tánh này, ấy là tâm gì? Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật? Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật.

 

Các nhân giả! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng? Tham!

 

*

*   *

 

Có vị Tăng bước ra nói:

 

- Mặc áo ăn cơm là việc tầm thường, đâu cần phải sanh nghi ngờ?

 

Ông lễ bái xong, đứng dậy hỏi:

 

- Cõi Thiền không dục là khỏi hỏi, cõi Dục không thiền xin nói cho một câu.

 

Sư lấy tay điểm trong hư không.

 

Vị Tăng nói:

 

- Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì?

 

- Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.

 

Vị Tăng thưa:

 

- Cổ nhân đều hỏi: “Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng?” Chỉ đây thế nào? Việc ấy thế nào?

 

Sư đáp:

 

- Thế nào? Việc ấy thế nào?

 

Vị Tăng thưa:

 

- Trên đàn không dây tri âm ít

  Cao vút tiếng đàn cha con hòa...

 

  (Một huyền cầm thượng tri âm thiểu

  Phụ tử đàn lai cách điệu cao...)

 

*

*   *

 

Một hôm Sư nghe đồ chúng tụng kinh, bèn hỏi:

 

- Chúng làm gì?

 

Có vị Tăng ra thưa:

 

- Chúng niệm Phật tâm.

 

Sư bảo:

 

- Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm?

 

Vị Tăng ấy đáp không được.

 

Sư lại hỏi vị Tăng khác:

 

- Chúng làm gì?

 

Tăng thưa:

 

- Niệm Phật.

 

Sư bảo:

 

- Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?

 

Tăng thưa:

 

- Chẳng biết.

 

Sư bảo:

 

- Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?

 

Tăng không đáp được.

 

*

*   *

 

Gần mãn đời Sư, kiểm những công tác Phật sự: đúc tượng Phật kể cả lớn và nhỏ có hơn một ngàn ba trăm (1300) vị; tạo đại già-lam được hai ngôi; xây tháp được năm ngọn; lập tăng đường hơn hai trăm (200) sở; độ Tăng và Ni hơn một muôn năm ngàn (15000) người; in được một bộ Đại Tạng Kinh; đệ tử đắc pháp hơn ba ngàn (3000) người; thành Đại pháp sư có sáu vị.

 

Năm Khai Hựu thứ hai (1330) ngày mùng 5 tháng 2, Sư phát bệnh, trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm tại An Lạc tàng viện. Đến ngày 11 thì bệnh rất nặng. Ban đêm Huyền Quang đứng hầu, thấy Sư ngủ mà nói ra tiếng: “Hồng! Hồng!” Huyền Quang liền thưa:

 

- Tôn giả nói mớ chăng?

 

Sư đáp:

 

- Ngủ thì nói mớ, chẳng ngủ thì chẳng nói mớ.

 

Huyền Quang:

 

- Đâu thể ngủ với thức là một?

 

Sư bảo:

 

- Ngủ với thức là một.

 

Huyền Quang:

 

- Đâu thể bệnh cùng chẳng bệnh là một?

 

Sư bảo:

 

- Bệnh cũng chẳng có can gì y, chẳng bệnh cũng chẳng can gì y.

 

Huyền Quang:

 

- Tại sao lại có tiếng nói ra ngoài?

 

Sư bảo:

 

- Nghe tiếng gió thổi cây thì thế nào?

 

Huyền Quang:

 

- Tiếng gió thổi cây, người nghe chẳng lầm, trong khi ngủ mà nói mớ thì dễ lầm người.

 

Sư bảo:

 

- Người ngu cũng vẫn lầm tiếng gió thổi cây.

 

Huyền Quang:

 

- Chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh.

 

Sư bèn đạp. Huyền Quang lui ra.

 

Từ đây bệnh lại giảm xuống. Đến ngày 13, Sư trở về viện Quỳnh Lâm nơi phương trượng cũ mà nằm. Đệ tử các nơi dồn về thưa hỏi xin kệ. Sư vẫn đối đáp và tùy người cho kệ, không biết mệt mỏi.

 

Đến ngày mùng 1 tháng 3, Thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân đến thăm bệnh và gọi Thái y đến trị cho Sư.

 

Đến tối mùng 3 bệnh Sư trở lại nặng.

 

Huyền Quang thưa:

 

- Xưa nay đến chỗ ấy, buông đi là tốt hay nắm lại là tốt?

 

Sư bảo:

 

- Thảy đều không can hệ.

 

Huyền Quang:

 

- Khi thảy đều không can hệ thì thế nào?

 

Sư bảo:

 

- Tùy xứ tát-bà-ha.

 

Đệ tử đồng đến thỉnh:

 

- Người xưa lúc sắp tịch đều có để kệ dạy đệ tử sao riêng Thầy không có?

 

quở trách họ. Giây lâu bèn ngồi dậy bảo đem giấy viết lại. Sư viết một bài kệ:

 

Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn

Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng

Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi

Bên kia trăng gió rộng thênh thang.

 

(Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn

Tứ thập dư niên mộng huyễn gian

Trân trọng chư nhân hưu tá vấn

Na biên phong nguyệt cánh man khoan.)

 

Viết xong, Sư ném bút, an nhiên thị tịch, thọ bốn mươi bảy tuổi. Đệ tử theo lời phó chúc của Sư, đem nhục thể lên nhập tháp tại Thanh Mai Sơn.

 

Đến ngày 11 tháng 3, Thái thượng hoàng ngự bút ban hiệu Sư là Tịnh Trí tôn giả, tháp tên Viên Thông, tặng mười lượng vàng để xây tháp và đề một bài thi vãn:

 

Đã hết duyên trần thõng tay đi

Giác Hoàng kim tuyến được truyền y

Thanh Sơn cỏ mọc che phần mộ

Cây biếc trong sương để xác ve.

Đêm phủ giảng đường trăng kim cổ

Ngày ngày trượng thất khói mờ che

Thân mến biết bao, ôi luyến tiếc!

Nhớ công giáo hóa lệ đầy mi.

 

(Thùy thủ trần hoàn dĩ liễu duyên

Giác Hoàng kim lũ đắc nhân truyền

Thanh Sơn mạn thảo quan tàng lý

Bích thọ thâm sương xác thuế thiền.

Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt

Hiểu mê trượng thất hữu vô yên

Tương đầu châm giới ta phi tích

Trác tựu ai chương thế lệ huyền.)

 

Những tác phẩm của Sư còn lưu truyền lại có:

 

- Đoạn Sách Lục

 

- Tham Thiền Chỉ Yếu (Thiền Đạo Yếu Học?)

 

- Kim Cang Đạo Tràng Đà-la-ni Kinh.

 

- Tán Pháp Hoa Kinh Khoa Số.

 

- Bát-nhã Tâm Kinh Khoa

 

- và một bài kệ thị tịch...

 

*

*   *

 

PHẦN PHỤ.- Chúng tôi trích dịch vài bài trong tập “Thiền Đạo Yếu Học” của Sư để chúng ta hiểu phần nào tư tưởng Sư đối với Thiền đạo.

 

LỜI KHUYÊN XUẤT GIA TIẾN ĐẠO

 

(Khuyến xuất gia tiến đạo ngôn)

 

Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này: Chúng ta nghiệp dày phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa sanh, Thánh Hiền ẩn bóng, tà pháp thạnh hành, than ôi buồn thay!

 

Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ. Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp.

 

Thế nào là hai? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.

 

Ba thứ pháp là: 1. Rõ tông sư. 2. Biện pháp chân ngụy. 3. Biết thiện ác.

 

1.- Rõ tông sư - Kinh Bổn Hạnh nói: Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?

 

2.- Biện pháp chân ngụy - Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu. Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.

 

3.- Biết thiện ác - Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn... Nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.

 

Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.

 

Hai, phải học pháp cầu thầy. Như trong Lễ Tán nói: Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của Tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.

 

Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử.

 

Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì? Các người nên xét kỹ lời nói này. Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “Mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các ngươi còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cởi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói. Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy.

 

Từ trước, các Tổ sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc Nam hoặc Bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp.

 

*

*   *

 

KHUYÊN CHÚNG THƯỢNG THỪA TAM HỌC

 

(Thượng thừa tam học khuyến chúng phổ thuyết)

 

Là người học Phật, trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì Chân tánh hiện. Tánh thấyvô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.

 

Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Ra, vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chận. Tuy nói ngăn chận mà không phải ngăn chận. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Đó gọi là giới Đại thừa, là giới vô thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng. Tịnh giới nầy, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.

 

Nhân giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập Thiền. Cái yếu chỉ của Thiền địnhthân tâm đều xả. Trước tập định tâm, thường tự suy xét: Thân này từ đâu mà đến? Tâm này từ đâu mà có? Tâm không thật có thì từ đâu có thân? Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có? Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ đâu mà có? Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Mỗi pháp chẳng phải pháp, thì mỗi pháp nương vào đâu? Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Chứng được thật pháp, mới hay chứng nhập thiền.

 

Người tu tập Thiền định không được chấp dụng công, dụng mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong trẻo như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng được, có chỗ nào lại không được?

 

Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: Tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của Thiền tổ. Bảy phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên, chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng Diệu Huệ, chiếu soi không cùng. Đối với Tứ vô lượng tâm, Tứ niệm xứ, Tứ vô úy, Bát chánh đạo, Thập lực của Phật, Mười tám pháp bất cọng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.

 

Tuệ đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận, tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được thấm nhuần. Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.

 

Thiền có chia làm năm:

 

1) Phàm phu thiền,

 

2) Ngoại đạo thiền,

 

3) Tiểu thừa thiền,

 

4) Đại thừa thiền,

 

5) Thượng thừa thiền.

 

Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này, từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độsáu vị Tổ ở Trung Hoa, rồi Tổ Tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.

 

Các chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò, chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là chỗ hạ thủ của Phật, Tổ? Cái gì là chỗ dụng tâm của ngoại đạo, Tiểu thừa? Luống để cho ngày lại tháng qua, lăng xăng tìm cầu bên ngoài. Một phen cái chết đến rồi phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may. Một hôm nào đó, vua Diêm-la đến ắt không thể tha cho ngươi. Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng, rồi bác không nhân quả “mênh mang bát ngát chiêu ương họa”. Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến suy tàn chánh pháp.

 

Ôi! Tôi còn biết nói gì hơn!

 


____________________

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 6465)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 2511)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 2877)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 2355)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 2030)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 880)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 867)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 647)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 788)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 846)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 783)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 940)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 829)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 1031)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 1396)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 1030)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 1483)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 977)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 994)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 871)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 982)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 971)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 971)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 919)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 794)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2735)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 4448)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6169)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 1346)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 1322)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 1289)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1180)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 6465)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1128)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1141)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3902)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2874)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng