Diễn Giải Sơ Lược Về Thiền Tập - On Meditation

01 Tháng Giêng 201612:08 CH(Xem: 8621)
Diễn Giải Sơ Lược Về Thiền Tập - On Meditation

AjahnChah100_B


Diễn Giải Sơ Lược Về Thiền Tập - On Meditation
Thiền Sư: Ajahn Chah - Người Dịch: Lê Kim Kha
(Source-Nguồn: The Sangha of Wat Pah Nanachat - thuvienhoasen.org)


___________________

(Một Phần Trong Quyển Sách Nầy)
THIỀN


Ngồi thiền và làm cho tâm bình an, nhưng bạn không cần phải nghĩ quá nhiều về điều đó. Ngay lúc này ta chỉ tập trung vào tâm, chứ không phải điều gì khác. Đừng để tâm nghĩ trái nghĩ phải, nghĩ trước nghĩ sau, nghĩ trên nghĩ dưới. Việc duy nhất chúng ta phải làm ngay bây giờ là tu tập sự chánh niệm vào hơi-thở. Nhưng trước tiên, cố định sự chú tâm ở trên đỉnh đầu và di chuyển sự chú tâm từ từ xuống thân cho đến các đầu ngón chân, và sau đó chuyển sự chú tâm từ các đầu ngón chân từ từ lên thân và lên lại đỉnh đầu. Chuyển sự chú tâm của ta từ trên xuống xuyên qua thân, quan sát bằng tâm. Chúng ta làm vậy để có được sự hiểu biết bước đầu về trạng thái của thân ngay lúc này. Rồi bắt đầu thiền tập, chú ý rằng ngay lúc này việc duy nhất của ta là quan sát hơi thở-vào và hơi thở-ra. Đừng điều khiển hơi thở, đừng cố thở dài hơn hay ngắn hơn, cứ để hơi thở tự nó thở như bình thường. Đừng thúc ép hơi thở, hãy để hơi thở trôi qua một cách dễ dàng và tự nhiên.

Ta phải hiểu rằng mình đang buông-bỏ, không còn sự kiểm soát nào cả, chỉ còn lại sự tỉnh-giác. Ta phải duy trì sự tỉnh-giác, để yên cho hơi thở nó tự đến tự đi một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Không cần thiết phải làm gì hơi thở, hãy để hơi thở đi vào và đi ra một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Duy trì sự nhất quán rằng ngay lúc này ta không có việc gì hay thứ gì khác cần phải để ý nữa. Những ý nghĩ hay đối thoại này nọ về điều gì sẽ xảy đến, về điều gì ta sẽ biết hoặc sẽ thấy trong khi ngồi thiền... thường xuất hiện, nhưng ngay khi chúng xuất hiện cứ để chúng tự biến mất, đừng để tâm vào chúng, đừng để ý hay quan tâm gì đến những ý nghĩ đó.


Trong khi ngồi thiền không cần chú ý đến bất cứ thứ gì khởi lên trong tâm. Bất cứ khi nào tâm bị tác động bởi những ý nghĩ hay trạng thái, bất cứ khi nào có một cảm giác hoặc một cảm xúc trong tâm, cứ để mặc nó, cứ để nó tự biến đi. Cho dù những ý nghĩ là tốt hay xấu thì cũng không quan trọng. Không để ý đến chúng, cứ để mặc chúng tự biến đi và hướng sự chú tâm về lại hơi-thở. Duy trì sự tỉnh giác vào hơi-thở đang đi vào và đang đi ra một cách thoải mái, nhẹ nhàng. Đừng lo gì về hơi thở quá ngắn hay quá dài. Chỉ đơn giản quan sát nó, không kiểm soát hay can thiệp nó, không xía vào nó bằng bất cứ cách gì. Nói cách khác, đừng dính mắc vào bất cứ sự gì về nó. Để yên cho hơi thở tiếp tục thở như-nó-là, và tâm sẽ trở nên yên lặng. Khi ta tiếp tục làm được như vậy, tâm sẽ từ từ thả yên mọi sự và đi đến nghỉ ngơi, hơi-thở sẽ trở nên nhẹ hơn và nhẹ hơn cho đến khi nó trở nên mờ nhạt, như thể không còn hơi thở nữa vậy. Cả thân và tâm sẽ cảm giác nhẹ nhàng và có thêm năng lượng. Nếu tất cả được tu tậpduy trì như vậy thì sẽ tạo nên một sự thấy biết hội tụ vào một-điểm (nhất điểm). Ta có thể nói rằng tâm đã thay đổi và đạt đến một trạng thái tĩnh lặng.

Khi tâm bị động vọng(1) , thiết lập lại sự chú tâm chánh niệm và hít sâu vào cho đến khi dưỡng khí đầy bít, sau đó thở ra cho đến khi hết sạch khí. Tiếp tục hít vào thật sâu cho đến khi dưỡng khí đầy phổi, sau đó thở ra cho đến khi sạch hết. Làm như vậy hai hoặc ba lần, sau đó thiết lập lại sự tập trung của tâm. Làm như vậy tâm sẽ được tĩnh lặng hơn. Nếu có những cảm nhận giác quan khác làm kích thích tâm, thì cứ lặp lại cách làm như vậy và thiết lập lại sự tập trung của tâm. Áp dụng thủ thuật này một cách tương tự cho việc đi thiền. Khi đi thiền, tâm bị động vọng thì đứng yên lại, làm tĩnh lặng tâm, thiết lập lại sự chú tâm tỉnh giác vào đối tượng thiền, và sau đó tiếp tục bước đi. Ngồi thiền và đi thiền về căn bản là giống nhau, chỉ khác nhau về tư thế ngồi hay đi mà thôi.

Nhiều lúc nghi-ngờ khởi sinh trong tâm, vì vậy ta phải có sự chánh niệm, đó là cái ‘‘người biết” (2) , để tiếp tục theo dõixem xét cái tâm đang bị kích thích ở bất cứ dạng nào của nó (dù tốt hay xấu, nặng hay nhẹ, rõ rệt hay vi tế). Điều này có nghĩa là đang có chánh niệm. Sự chánh niệm này quan sátquan tâm đến tâm. Ta phải duy trì cho được ‘‘sự biết” này và không được lơ tâm hoặc lăng xăng chỗ khác, cho dù tâm đang ở trong bất kỳ trạng thái nào đi nữa.

Thủ thuật là phải luôn có sự tỉnh-giác giám sát cái tâm. Một khi tâm được hợp-nhất với sự chánh niệm, một loại tỉnh-giác khác sẽ khởi lên. Cái tâm đã phát triển tĩnh lặng thì được giữ trong chính sự tĩnh lặng đó, đơn giản giống như một con gà đang ở trong một cái lồng vậy. Con gà không thể đi lăng xăng ra ngoài, nhưng nó vẫn có thể đi lại bên trong lồng. Tương tự như vậy, sự tỉnh-giác có mặt trong một cái tâm đang có chánh niệm và đang được tĩnh lặng thì sự tỉnh giác đó không làm quấy nhiễu tâm (vì nó được giới hạn bên trong một cái ‘lồng’, đó là tâm đang có chánh niệm và tĩnh lặng). Không có ý nghĩ hay cảm nhận nào xảy ra bên trong một cái tâm tĩnh lặng mà có thể gây hại hay quấy nhiễu tâm. Một số người muốn tuyệt đối không trải nghiệm bất kỳ ý nghĩ hay cảm giác nào cả, nhưng điều này là không đúng cách. Những cảm giác [thọ] khởi sinh bên trong trạng thái tĩnh lặng. Tâm trải nghiệm những cảm giáccùng lúc nó tĩnh lặng, thì nó không hề bị quấy nhiễu. Khi có sự tĩnh lặng như vậy thì không xảy ra tác động xấu hại nào cả. Rắc rối chỉ xảy ra khi ‘‘con gà” chạy ra khỏi cái ‘‘lồng”. Ví dụ trong khi ta đang ngồi quan sát hơi thở vào và ra, rồi quên mất mình, để lơ cho tâm lăng xăng khỏi hơi-thở, tự nhiên lại nhớ chuyện nhà, chuyện đi mua đồ, hoặc chuyện đi đến nơi này nơi nọ... Nhiều khi sự lăng xăng này xảy ra lâu hơn nửa giờ rồi ta mới chợt nhớ lại rằng mình Thiền sư Ajahn Chah đang ngồi đây để thiền tập cơ mà, và rồi ta tự hỏi ‘‘Ụa, ta đang làm gì đây?”. Đây là chỗ các bạn phải thực sự cẩn thận, bởi đây là lúc con gà chạy xổng ra khỏi chuồng – cái tâm đã rời bỏ cơ sở (trú xứ) tĩnh lặng của nó.

Ta phải cẩn thận duy trì sự tỉnh-giác cùng với sự chánh niệm, và cố kéo tâm về lại. Mặc dù tôi dùng chữ ‘‘kéo tâm về lại” nhưng thực tế thì tâm không thực sự đi đâu cả. Chỉ có đối tượng của sự tỉnh-giác đã thay đổi. (Sự tỉnh giác bị hướng về những thứ khác thay vì hơi thở). Ta phải giữ cho tâm ở ngay nơi hiện-tại, ngay bây giờ và tại đây. Hễ khi nào còn có chánh niệm thì còn có sự hiện diện của tâm ngay tại đây và bây giờ. Trông có vẻ như ta đang kéo tâm về lại nhưng thực tế nó đã không đi đâu cả, đơn giản là nó đã thay đổi một chút ít. Trông có vẻ như tâm đi đây đi đó, nhưng thực ra sự thay đổi đã xảy ra ngay chính tại một-điểm. Rồi thì, khi sự chánh niệm được thiết lập trở lại, tâm quay về ngay trong-một-cái-chớp. Nó không phải quay về từ nơi nào khác. Nên hiểu rằng nó đang ở ngay đây. Khi có sự rõ-biết hoàn toàn, có sự tỉnh giác trong từng mỗi khoảng khắc, thì đó được gọi là sự có mặt của tâm. Nếu sự tỉnh giác (chú tâm) của bạn bị giạt khỏi hơi-thở qua những đối tượng khác thì lúc đó sự rõ-biết bị gián đoạn. Chỉ khi nào còn sự tỉnh giác vào hơi-thở thì mới còn sự có mặt của tâm. Chỉ cần có hơi thở và sự tỉnh giác liên tục không gián đoạn thì bạn có sự hiện diện của tâm.

Cần phải có cả hai thứ là sự chánh niệm (sati) và sự rõ biết (sampajanna, sự hiểu biết rõ ràng). Chánh-niệm là nhớ, thường nhớ, là niệm và sự rõ- biết là tỉnh thức, là luôn ý thức tỉnh giác về chính mình. Ngay lúc này, chúng ta đang tỉnh giác một cách rõ ràng về hơi-thở. Tu tập việc quán sát hơi thở giúp cho sự chánh niệm và sự rõ biết cùng nhau phát triển. Chúng làm việc chung với nhau. Có được sự chánh niệm và sự rõ biết cũng giống như có được hai người thợ cùng nhau nâng một tấm ván gỗ vậy. Giả sử có hai người đang cố gắng hết sức để nâng một tấm ván gỗ, tấm ván quá nặng gần như không thể nâng nỗi. Một người khác tốt bụng thấy vậy liền chạy tới phụ thêm một tay vào giúp vào hai người kia. Tương tự như vậy, khi sự chánh-niệm và sự rõ-biết đang cùng có mặt, thì trí- tuệ khởi sinh ngay tại đó để trợ giúp. Sau đó thì ba yếu tố này cùng hỗ trợ lẫn nhau. Khi có trí tuệ thì ta có được sự hiểu biết về những đối tượng giác quan. Chẳng hạn, khi đang ngồi thiền những đối tượng giác quan được trải nghiệm sẽ làm phát sinh những cảm giác và những trạng thái cảm xúc. Tự nhiên nhớ đến một người bạn, trí tuệ hiểu biết sẽ đối ứng ngay: ‘‘Điều này có gì đâu”, ‘‘Dẹp ngay”, hoặc ‘‘Quên nó đi”. Hoặc tự nhiên nghĩ đến việc mình sẽ đi đâu đó ngày mai, phải lập tức xử lý ngay ‘‘Ta chẳng quan tâm đến việc đó”, ‘‘Kệ nó, việc của ngày mai”, ‘‘Đến đâu lo đến đó, đâu phải chuyện bây giờ”. Hoặc có nhiều ý nghĩ về người khác và thứ khác cứ khởi sinh, lúc đó người thiền cứ kiên quyết gạt bỏ những ý nghĩ đó qua một bên. Đó là cách chúng ta xử lý đối với mọi sự khởi sinh trong tâm khi ngồi thiền, nhận biết chúng chỉ là sự lăng xăng: ‘‘Điều này không chắc”, ‘‘Điều đó không chắc”, ‘‘Không có điều gì là chắc cả”. Cần phải duy trì loại tỉnh-giác như vậy.

Chúng ta phải dẹp bỏ hết tất cả mọi ý nghĩ, mọi đối thoại bên trong và mọi nghi ngờ này nọ. Đừng để dính vào những thứ đó trong khi ngồi thiền. Cuối cùng, tất cả những thứ đó biến qua, chỉ còn lại trong tâm một dạng tinh khiết nhất của sự chánh niệm, sự rõ biết và trí tuệ. Khi các yếu tố này bị suy yếu, những nghi ngờ sẽ lại khởi sinh, nhưng hãy cố dẹp bỏ ngay những nghi ngờ đó, chỉ giữ lại sự chánh niệm, sự rõ biết và trí tuệ. Cố gắng tập luyện sự chánh niệm theo cách như vậy cho đến khi nó có thể được duy trì mọi lúc mọi nơi. Đến lúc đó ta sẽ ‘‘hiểu” rõ được sự chánh-niệm, sự rõ-biết và sự thiền một cách thấu suốt.

Quy tụ sự chú tâm vào ngay điểm này thì ta sẽ nhìn thấy sự chánh-niệm, sự rõ-biết, cái tâm-đạt- định và trí-tuệ có mặt cùng với nhau. Cho dù ta đang bị hấp dẫn hoặc bị kích thích bởi những đối tượng bên ngoài của giác quan, ta vẫn có thể tự nhắc mình ‘‘Không có gì là chắc chắn”. Dù chúng là gì đi nữa thì đó chỉ là những chướng ngại cần được quét sạch cho đến khi tâm được trong sạch. Tất cả những gì cần giữ lại đó là sự chú tâm và sự chánhniệm, sự rõ biết và sự tỉnh giác, sự chánh định [trạng thái tâm vững chắcbất động], và trí tuệ bao trùm. Ở đây tôi chỉ nói đến như vậy thôi (căn bản) về đề tài thiền tập.


1) Tâm bình thường luôn động, động vọng, bị kích động, bị kích ứng, bị quấy nhiễu, bị tác động...bởi những thứ bên ngoài thông qua các giác quan. *Các giải thích và chú thích để trong ngoặc vuông [...] là của tác giả. Các giải thích và chú thích khác là của người dịch

2) Dịch ý từ thuật ngữ tiếng Thái ‘‘Poo Roo” của trường phái Thiền Trong Rừng, diễn tả phẩm chất tỉnh giác, chánh niệm. Cái ‘‘người biết”, ‘‘sự biết”, ‘‘sự thường biết”, sự chánh niệm, sự tỉnh giác là đồng nghĩa khi nói về thiền trong lúc này.


-----------------------------------

(Một Phần Trong Quyển Sách Nầy)
NIỆM CHỮ ‘‘ĐỨC-PHẬT’’


Thiền niệm chữ ‘‘Đức Phật” [Buddha](3) cho đến khi chữ này thấm sâu vào tận trái tim và tâm thức (citta) của chúng ta. Chữ ‘‘Đức Phật” đại diện cho sự tỉnh giáctrí tuệ của Đức Phật lịch sử, của một vị Phật. Về mặt thực hành, người thiền thực sự nhờ vào chữ này hơn bất cứ thứ gì khác.


Chữ ‘‘Đức Phật” mang lại sự tỉnh giác giúp ta hiểu biết sự thật về tâm của mình. Đó là một sự nương tựa đích thực, có nghĩa là có mặt sự chánh niệmtrí tuệ minh sát. Loài thú cũng có một loại tỉnh giác. Chúng có sự chú tâm khi rình săn con mồi và chuẩn bị tấn công con mồi. Động vật ăn thịt cần có sự chú tâm để giữ lấy con mồi khi con mồi vùng vẫy để thoát chết. Đó là một loại chú tâm ‘chánh niệm’. Vì lẽ này, chúng ta cần biết phân biệt những loại chánh niệm khác nhau.


Chữ ‘‘Đức Phật” là cách dụng tâm. Khi ta áp dụng tâm vào một đối tượng một cách có ý thức, tâm sẽ tỉnh thức. Sự chú tâm tỉnh giác sẽ đánh thức tâm. Một khi ‘‘sự biết” này đã khởi sinh trong quá trình thiền tập, ta có thể nhìn thấy tâm một cách rõ ràng. Khi nào tâm không có sự tỉnh giác về chữ ‘‘Đức Phật”, thì ngay cả có mặt sự chánh niệm của tâm trí phàm thường của chúng ta, thì tâm cũng gần như không tỉnh thức và không có trí tuệ minh sát. Nó sẽ chẳng dẫn bạn đến điều gì thực sự lợi lạc cả.


Sự chánh niệm phụ thuộc vào sự có mặt của chữ ‘‘Đức Phật”—đó là ‘‘sự biết”. Đó phải là một sự thấy biết rõ ràng, nó dẫn đến một cái tâm trở nên sáng hơn và sáng tỏ [phát quang] hơn. Sự sáng tỏ tác động đến sự thấy biết của tâm giống như sự thắp sáng lên một ngọn đèn trong một căn phòng tối vậy. Chừng nào căn phòng còn tối thì mọi thứ trong căn phòng đều khó phân biệt được, hoặc không nhìn thấy được. Nhưng nếu ta bật/mở/thắp ánh sáng, nó sẽ sáng suốt hết căn phòng, giúp chúng ta nhìn thấy rõ hơn sau từng mỗi giây khắc, và rồi chúng ta thấy rõ những chi tiết của mọi thứ bên trong phòng.


3) Truyền thống Thiền Trong Rừng của thiền sư Ajahn Chah niệm chữ ‘‘Buddho” [nghĩa là Đức Phật] khi thiền về hơi thở. Người thiền niệm trong tâm chữ này, chẳng hạn vần ‘‘Bud” khi thở vào và vần ‘‘dho” khi thở ra. Ở Việt Nam chúng ta có thể áp dụng tương tự, niệm trong tâm chữ ‘‘Đức” thở vào, niệm chữ ‘‘Phật” thở ra. Khi niệm chữ Đức-Phật, tâm người thiền dễ tập trung vào đối tượng hơi thở hơn. Công dụng cũng gần giống như những cách đếm hơi thở mà các thiền sư xưa nay đã chỉ dạy.

(A Part In This Book)
MEDITATION

 

Sitting meditation and making the mind peaceful, you don’t have to think about too much. Right now, just focus on the mind, and nothing else. Don’t let the mind shoot off to the left or to the right, to the front or behind, above or below. Our only duty right now is to practice mindfulness of the breathing. But first, fix your attention at the head and move it down through the body to the tips of the feet, and then back up to the crown of the head. Pass your awareness down through the body, observing with wisdom. We do this to gain an initial understanding of the way the body is right now. Then begin the meditation, noting that at this time your sole duty is to observe the inhalations and exhalations. Don’t force the breath to be any longer or shorter than normal, just allow it to continue easily. Don’t put any pressure on the breath, rather let it flow evenly, letting go with each in–breath and out–breath.

 

You must understand that you are letting go as you do this, but there should still be awareness. You must maintain this awareness, allowing the breath to enter and leave comfortably. There is no need to force the breath, just allow it to flow easily and naturally. Maintain the resolve that at this time you have no other duties or responsibilities. Thoughts about what will happen, what you will know or see during the meditation may arise from time to time, but once they arise just let them cease by themselves, don’t be unduly concerned over them.

 

During the meditation there is no need to pay attention to anything that arises in the mind. Whenever the mind is affected by any thoughts or moods, wherever there is a feeling or sensation in the mind, just let it go. Whether those thoughts are good or bad is unimportant. It is not necessary to make anything out of them, just let them pass away and return your attention to the breath. Maintain the awareness of the breath entering and leaving in a relaxed way. Don’t worry about the breath being either too long or too short. Simply observe it without trying to control or suppress it in any way. In other words, don’t attach to anything. Allow the breath to continue as it is, and the mind will become calm. As you continue the mind will gradually lay things down and come to rest, the breath becoming lighter and lighter until it becomes so faint that it seems like it’s not there at all. Both the body and the mind will feel light and energized. All that will remain will be a one–pointed knowing. You could say that the mind has changed and reached a state of calm.

 

If the mind is agitated, re–establish mindfulness and inhale deeply till there is no space left to store any air, then release it all completely until none remains. Follow this with another deep inhalation until your lungs are full, then release the air again. Do this two or three times, then re–establish concentration. The mind should be calmer. If any more sense impressions cause agitation in the mind, repeat the process on every occasion. Similarly with walking meditation. If while walking, the mind becomes agitated, stop still, calm the mind, re–establish the awareness of the meditation object and then continue walking. Sitting and walking meditation are in essence the same, differing only in terms of the physical posture used.

 

Sometimes doubts may arise, so you must have mindfulness, to be the one who knows(1), continually following and examining the agitated mind in whatever form it takes. This is what it means to have mindfulness. Mindfulness watches over and takes care of the mind. You must maintain this knowing and not be careless or wander astray, no matter what state the mind takes on.

 

The trick is to have awareness overseeing the mind. Once the mind is unified with mindfulness a new kind of awareness will emerge. The mind that has developed calm is held in check by that calm, just like a chicken held in a coop... the chicken is unable to wander outside, but it can still move around within the coop. It doesn’t matter that it is walking to and fro, because it stays in the coop. Likewise the awareness that takes place when the mind has mindfulness and is calm does not cause trouble. None of the thinking or sensations that take place within the calm mind cause harm or disturbance.

 

Some people don’t want to experience any thoughts or feelings at all, but this is not right. Feelings arise within the state of calm. The mind is both experiencing feelings and calm at the same time, without being disturbed. When there is calm like this there are no harmful consequences. Problems occur when the ‘‘chicken’’ gets out of the ‘‘coop’’. For instance, you may be watching the breath entering and leaving and then forget yourself, allowing the mind to wander away from the breath, back home, off to the shops or to any number of different places. Maybe even half an hour may pass before you suddenly realize you’re supposed to be practicing meditation and you think, ‘Oh! what am I doing?’. This is where you have to be really careful, because this is where the chicken gets out of the coop – the mind leaves its base of calm.

 

You must take care to maintain the awareness with mindfulness and try to pull the mind back. Although I use the words ‘‘pull the mind back,’’ in fact the mind doesn’t really go anywhere. Only the object of awareness has changed. You must make the mind stay right here and now. As long as there is mindfulness there will be presence of mind. It seems like you are pulling the mind back but really it hasn’t gone anywhere, it has simply changed a little. It seems that the mind goes here and there, but in fact the change occurs right at the same spot. Then, when mindfulness is re–established, it’s back in a flash. It doesn’t come from somewhere else Understand, that it’s right here.

 

When there is total knowing, a continuous and unbroken awareness at each and every moment, this is called presence of mind. If your attention drifts from the breath to other places then the knowing is broken. Whenever there is awareness of the breath the mind is there. With just the breath and this even and continuous awareness you have presence of mind.

 

There must be both mindfulness (sati) and clear comprehension (sampajañña). Mindfulness is recollection and clear comprehension is self–awareness. Right now you are clearly aware of the breath. This exercise of watching the breath helps mindfulness and clear comprehension develop together. They share the work. Having both mindfulness and clear comprehension is like having two workers to lift a heavy plank of wood. Suppose there are two people trying to lift some heavy planks, but the weight is so great, they have to strain so hard, that it’s almost unbearable. Then another person, imbued with goodwill, sees them and rushes in to help. In the same way, when there is mindfulness and clear comprehension, then wisdom will arise at the same place to help out. Then all three of them support each other.

 

With wisdom there will be an understanding of sense objects. For instance, during the meditation sense objects are experienced which give rise to feelings and moods. You may start to think of a friend, but then wisdom should immediately counter with ‘‘It doesn’t matter’’, ‘‘Stop’’ or ‘‘Forget it.’’ Or if there are thoughts about where you will go tomorrow, then the response would be, ‘‘I’m not interested, I don’t want to concern myself with such things.’’ Maybe you start thinking about other people, then you should think, ‘‘No, I don’t want to get involved.’’ ‘‘Just let go,’’ or ‘‘It’s all uncertain and never a sure thing.’’ This is how you should deal with things in meditation, recognizing them as ‘‘not sure, not sure,’’ and maintaining this kind of awareness.

 

You must give up all the thinking, the inner dialogue and the doubting. Don’t get caught up in these things during the meditation. In the end all that will remain in the mind in its purest form are mindfulness, clear comprehension and wisdom. Whenever these things weaken, doubts will arise, but try to abandon those doubts immediately, leaving only mindfulness, clear comprehension and wisdom. Try to develop mindfulness like this until it can be maintained at all times. Then you will understand mindfulness, clear comprehension and meditation thoroughly.

 

Focusing the attention at this point you will see mindfulness, clear comprehension, the concentrated mind, and wisdom together. Whether you are attracted to or repelled by external sense objects, you will be able to tell yourself, ‘‘It’s not sure.’’ Either way they are just hindrances to be swept away till the mind is clean. All that should remain is mindfulness and recollection, clear comprehension and awareness, concentration – the firm and unwavering mind, and all–round wisdom. For the time being I will say just this much on the subject of meditation.

 

1) this is a literal translation of a common expression in the Thai forest tradition: ‘Poo Roo’, It refers to the quality of awareness itself.

 




























-----------------------------


(A Part In This Book)

RECITING ‘‘BUDDHO’’

 

Meditate reciting ‘‘Buddho’’, ‘‘Buddho’’(2) until it penetrates deep into the heart of your consciousness (citta). The word ‘‘Buddho’’ represents the awareness and wisdom of the Buddha. In practice, you must depend on this word more than anything else. The awareness it brings will lead you to understand the truth about your own mind. It’s a true refuge, which means that there is both mindfulness and insight present.

 

Wild animals can have awareness of a sort. They have mindfulness as they stalk their prey and prepare to attack. Even the predator needs firm mindfulness to keep hold of the captured prey however defiantly it struggles to escape death. That is one kind of mindfulness. For this reason you must be able to distinguish between different kinds of mindfulness. ‘‘Buddho’’ is a way to apply the mind. When you consciously apply the mind to an object, it wakes up. The awareness wakes it up. Once this knowing has arisen through meditation, you can see the mind clearly. As long as the mind remains without the awareness of ‘‘Buddho’’, even if there is ordinary worldly mindfulness present, it is as if unawakened and without insight. It will not lead you to what is truly beneficial.

 

Mindfulness depends on the presence of ‘‘Buddho’’ – the knowing. It must be a clear knowing, which leads to the mind becoming brighter and more radiant. The illuminating effect that this clear knowing has on the mind is similar to the brightening of a light in a darkened room. As long as the room is pitch black, any objects placed inside remain difficult to distinguish or else completely obscured from view because of the lack of light. But as you begin intensifying the brightness of the light inside, it will penetrate throughout the whole room, enabling you to see more clearly from moment to moment, thus allowing you to know more and more the details of any object inside there.

 

2) The word “Buddho” is often taught as a word to recite mentally in combination with the breath, by meditation masters of the Thai forest tradition. One recites the syllable “Bud” on the in-breath and “dho” on the out-breath.


__________________


Diễn Giải Sơ Lược Về Thiền Tập
PDF
AjahnChah_ThienTap (Nguyên Tập Sách Nầy)



__________________


On Meditation
PDF
AjahnChah_OnMeditation (Whole Book)


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5343)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1681)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1835)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1594)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1283)
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 78)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 136)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 147)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 160)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 152)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 180)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 174)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 215)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 209)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 235)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 216)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 302)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 241)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 269)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 280)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 264)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 265)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 583)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 301)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2202)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3903)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5530)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 302)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 403)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 215)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5343)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 463)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 466)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2991)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2002)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng