08. Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Sáu

17 Tháng Mười 20192:49 CH(Xem: 590)
08. Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Sáu

HaiQuangDoi_A
Hai Quãng Đời Của Sơ Tổ Trúc Lâm

HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________



08. Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Sáu

 

Thật thế!

Hãy xá vô tâm,

Tự nhiên hợp đạo.

Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm,

Đạt một lòng thì thông Tổ giáo.

Nhận văn giải nghĩa, lạc lài nên Thiền khách bơ vơ;

Chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn khéo.

Han hữu lậu, han vô lậu, bảo cho hay: the lọt, duộc thưng;

Hỏi Đại thừa, hỏi Tiểu thừa, thưa thẳng tắt: lòi tiền, tơ gáo.

Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên;

Chùi cho vặc vặc tánh gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo.

Vàng chưa hết quặng, xá tua chín phen đúc chín phen rèn;

Lộc chẳng còn tham, miễn được một thì chay một thì cháo.

Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ-tát trang nghiêm;

Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.

Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân;

Học đạo thờ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo.

 

GIẢNG:

 

Thật thế!

Hãy xá vô tâm,

Tự nhiên hợp đạo.

 

Chữ “xá” là nên. Hãy nên vô tâm, tự nhiên hợp đạo. Người tu tuy có nhiều phương pháp, nhiều lối ứng dụng tu, nhưng chỗ tột cùng vẫn là vô tâm. Vô tâm nào? Vô tâm vọng tưởng, vô tâm phân biệt chạy theo sáu trần. Khi tâm đó lặng đi, tự nhiên hợp đạo, chớ không có gì khác. Ở đây nói vô tâm, chỗ khác nói nhất tâm. Đạo tức là thể chân thật của Chân tâm, khi ngộ được Chân tâm gọi đó là ngộ đạo. Vì vậy muốn ngộ được Chân tâm thì phải không có tâm hư vọng. Tâm hư vọng lặng rồi, thì Chân tâm hiện tiền, cho nên nói: Hãy xá vô tâm, tự nhiên hợp đạo.

 

Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm,

Đạt một lòng thì thông Tổ giáo.

 

Dừng tam nghiệp tức là dừng ba nghiệp ác, nghiệp xấu của thân, khẩu, ý, thì thân tâm mới an tĩnh, trong sáng.

 

Đạt một lòng thì thông Tổ giáo. Chúng ta tu cốt đạt được một lòng, một lòng là nhất tâm. Được vậy, chúng ta mới thông suốt giáo lý của Phật Tổ. Ngược lại, chúng ta sẽ mờ mịt trong rừng đạo lý cao siêu của chư Phật Tổ. Nhất tâm tức là còn một Tâm chân thật, không có những thứ lăng xăng, lộn xộn xen vào. Bởi thế nên, tu Tịnh độ Phật dạy niệm Phật phải nhất tâm, tu Thiền phải lặng vọng tưởng. Hai bên tuy từ ngữ có khác, nhưng chủ yếu không hai. Nhất tâm tức là không còn vọng tưởng.

 

Như vậy hai câu này dạy chúng ta tu, trước hết phải dừng ba nghiệp, kế phải được nhất tâm thì mới mong đạt đến chỗ tột cùng của Phật Tổ.

 

Nhận văn giải nghĩa, lạc lài nên Thiền khách bơ vơ;

Chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn khéo.

 

Người tu nếu chấp từng câu văn, chấp vào nghĩa lý, rồi cứ theo đó mà mắc kẹt, như vậy là người bị lạc loài, là Thiền khách bơ vơ, không thấy được nghĩa lý cứu kính của Phật Tổ dạy. Cũng như đưa ngón tay chỉ mặt trăng, người không nương theo ngón tay để thấy mặt trăng, lại cứ chấp vào đầu ngón tay cho là lớn, nhỏ, đẹp, xấu v.v… người ấy sẽ không bao giờ thấy được mặt trăng. Cũng vậy, người tu thiền cứ mắc kẹt trên văn nghĩa, không bao giờ đạt được chỗ cứu kính.

 

Đức Phật nói bao nhiêu kinh cốt chỉ cho chúng ta nhận được ông Phật của chính mình. Đó là Tánh giác hay Chân tâm của chúng ta. Nhưng chúng ta cứ bám vào kinh, vào nghĩa mà không chịu nhìn lại, để nhận ra Tánh giác nơi mình, chẳng khác nào chỉ phân biệt đầu ngón tay mà không thấy mặt trăng thật.

 

Như tu Tịnh độ, trong kinh Di-đà Phật dạy, người nào niệm Phật từ một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn, mới được sanh về cõi Phật. Nhưng hiện nay, phần nhiều người tu không chịu niệm Phật nhất tâm, mà cứ đem kinh ra tụng hoài mỗi đêm. Tụng như vậy chừng nào mới đến Cực Lạc? Còn người tu thiền tụng kinh Bát-nhã, Phật dạy phải quán năm uẩn không thật thì qua hết khổ ách. Tối nào cũng tụng “ngũ uẩn giai không” thuộc lòng, mà năm uẩn thấy thật, thì chừng nào người ấy giác ngộ?

 

Kinh Phật chỉ dạy chúng ta phương pháp phá dẹp những sai lầm cố chấp để được nhất tâm, mà chúng ta không ứng dụng lại cứ đem ra đọc tụng suông, chẳng khác nào con két, nghe ai dạy câu nào lặp lại y câu đó, chớ không hiểu biếtthực hành gì cả. Người tu như vậy, Ngài cho là những Thiền khách bơ vơ, lạc loài không biết lang thang đến đâu.

 

Chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn khéo. Nạp tăng là ông thầy mặc áo vá, hay nói cách khác Nạp tăng là chỉ cho người tu thiền. Câu trên dùng chữ Thiền khách, câu dưới dùng chữ Nạp tăng đối nhau, tuy khác chữ nhưng ý không khác. Người tu thiền phải chứng được lý của Phật Tổ, biết rõ căn cơ của mình, đó là người cứng cát, là vị Tăng khôn khéo, là người tu hành chân thật.

 

Ở đây, tôi thường nói với Tăng Ni, tôi rất trọng những vị tu thấy được đạo. Đó là chứng lý. Khi chứng lý rồi, ta mới biết trình độ của mình, căn cơ của người, sau đó hướng dẫn chỉ dạy người không khó mà lại có kết quả tốt. Nếu ta chỉ nhận văn giải nghĩa, cho đó là sở trường, là chỗ đầy đủ của mình, đây chỉ là kẻ bơ vơ trên con đường tu thiền mà thôi. Kẻ này đọc thì nghe hay, giảng nghe rõ nhưng đi không tới đâu, nên nói là Thiền khách lạc loài.

 

Như tôi ngày xưa vì quá thích tu thiền, mà bước đầu không có ai dạy, nên tôi tu theo Lục Diệu Pháp Môn, thấy cũng tạm ổn. Đến khi vượt qua được giai đoạn này, tôi lại chủ trương tu theo Thiền tông, vì thấy căn cơ của mình thích hợp với Thiền tông hơn. Sở dĩ biết như thế là vì bản thân tôi có trải qua những giai đoạn công phu, có sự thâm nhập riêng của mình. Những chỗ này rất thật, người có tu mới biết. Bởi khi chưa tu chúng ta sẽ không biết mình thích hợp với pháp môn nào. Bao giờ có trải qua những phút cay đắng rồi bước tới chỗ nhẹ nhàng, thích thú ta mới phát hiện được căn cơ của mình thích hợp chỗ đó. Rồi cứ thế mà đi thẳng một con đường. Đây gọi là chứng lý tri cơ, chỉ có trong kinh nghiệm tu tập, chớ không có trong văn nghĩa suông.

 

Hai câu này Ngài dạy chúng ta phải làm sao đúng nghĩa của một người tu hành có đủ bản lãnh, vượt qua những thứ tầm thường, để đạt đến chỗ cứu kính, chớ không nên mắc kẹt vào hình thức văn tự, chữ nghĩa.

 

Han hữu lậu, han vô lậu, bảo cho hay: the lọt, duộc thưng;

Hỏi Đại thừa, hỏi Tiểu thừa, thưa thẳng tắt: lòi tiền, tơ gáo.

 

Chữ han cũng như chữ hỏi, nên thường nói là hỏi han. Hỏi hay han cũng đồng nghĩa với nhau, nhưng vì muốn đổi chữ cho thành câu hay, nên câu trên dùng chữ han, câu dưới dùng chữ hỏi.

 

Hữu lậu, vô lậu. Chúng ta thường nghe trong nhà Phật hay dùng hai từ ngữ “hữu lậu” và “vô lậu”, như nói tu thế này chỉ được công đức hữu lậu, tu thế kia mới được công đức vô lậu. Như vậy tu làm sao được công đức hữu lậu và tu làm sao được công đức vô lậu? Trước hết chúng ta phải hiểu nghĩa hữu lậu, vô lậu. Theo chữ Hán, lậu là lọt, là rơi rớt, hữu lậu là còn rơi rớt, còn lọt xuống; vô lậu là không còn rơi rớt. Vậy rơi rớt cái gì? Rơi rớt lại trong ba cõi.

 

Như trong kinh thường dạy, chúng ta tu hành nếu được giải thoát sanh tử là ra khỏi tam giới. Tam giớiDục giới, Sắc giớiVô sắc giới. Người nào tu đạt đạo cứu kính được ra khỏi tam giới, đó là vô lậu. Còn người nào tu chỉ có phước báo nhân thiên thì sanh lại trong tam giới hay sanh lại trong cõi đời này để hưởng phước, gọi đó là hữu lậu.

 

Ở đây hỏi hữu lậu hay hỏi vô lậu thì “bảo cho hay” tức là cho họ biết “the lọt, duộc thưng”, chữ “the” tức là vải the. Nếu chúng ta đổ cám hay cát trên vải the rồi lắc một hồi nó rơi xuống hết nên gọi là the lọt. Chữ “duộc thưng”, duộc là cái cán, thưng là cái gáo, nhưng ở đây duộc thưng còn có nghĩa là tấm vách ngăn chận lại. Vì vậy hữu lậu là còn rơi rớt lại cũng như vải the còn rớt cám, rớt cát xuống. Còn vô lậu ví như tấm vách ngăn chận lại, không bị rơi rớt. Có chỗ nói như gáo múc nước, khi múc lên không bị chảy hay bị rớt lại. Đó là ý giải thích về hữu lậuvô lậu.

 

Hỏi Đại thừa, hỏi Tiểu thừa, thưa thẳng tắt: lòi tiền, tơ gáo. “Lòi tiền” là sợi chỉ xâu tiền thành chuỗi. Ngày xưa có dùng loại tiền đồng điếu, chính giữa đục lỗ, muốn đi đâu người ta lấy chỉ xâu lại thành từng xâu hoặc mười đồng hay một trăm đồng, gọi là lòi tiền. “Tơ gáo” là sợi dây kéo gàu múc nước. Như vậy sợi chỉ xâu tiền và sợi dây kéo gàu múc nước, hai thứ có công dụng thế nào? Ở đây muốn nói Tiểu thừa giống như sợi chỉ nhỏ xâu tiền, Đại thừa giống như sợi dây to kéo gàu múc nước, rõ ràng cụ thể như vậy.

 

Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên;

Chùi cho vặc vặc tánh gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo.

 

Nhận biết làu làu lòng vốn, là chúng ta nhận rõ nơi nội tâm mình có Tánh giác hay Chân tâm, nó vẫn sáng làu làu không bao giờ mờ tối. Nhận biết rõ như vậy thì chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên, tức là đâu đợi đến thời tiết nhân duyên mới thấy. Nó đã làu làu trong sáng sẵn, dù đúng thời hay không đúng thời nó vẫn có, chỉ cần ta nhận lại là tự đầy đủ ngay. Câu này rất sâu. Vì vậy chúng ta đừng nên hỏi “tôi tu đến bao giờ mới ngộ đạo”. Câu hỏi đó dư thừa rồi. Đã biết mình có tánh sáng là đã sẵn có, còn hỏi chi nữa.

 

Chùi cho vặc vặc tánh gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo. Tánh gương ở đây là chỉ cho Tánh giác sáng suốt. Tánh là gì? Lâu nay chúng ta hay lúng túng với chữ “tánh” này. Như nghe từ “tánh Không” của các pháp. Tôi thường ví dụ nắm tay. Trước khi co năm ngón lại, không có nắm tay. Do năm ngón co lại nên mới có nắm tay, khi buông năm ngón ra, nắm tay trở lại thành không. Như vậy cái không đã sẵn có nên buông ra nó mới trở lại không. Còn nắm tay do duyên hợp mới có, duyên tan thì không có, cho nên nó giả có, không thật, tùy theo duyên biến đổi. Vậy tánh là cái sẵn có. Tánh giác giống như tánh gương sáng, còn những thứ phiền não nhiễm ô của trần thế giống như bụi bặm.

 

Ngày xưa, hai vị đệ tử của Ngũ Tổ là ngài Thần Tú và ngài Huệ Năng, một vị bảo phải thường xuyên lau chùi gương tâm cho sáng, một vị bảo tâm vốn tự sáng, không cần phải lau chùi. Bởi tánh gương hằng sáng, dù bụi bám hay không bám tánh gương cũng vẫn sáng. Trên tánh rõ ràng như thế, còn lau chùi chỉ là sự tướng bên ngoài. Lục Tổ nhìn thấu được bản chất của tâm giống như tánh gương, nên nói không cần lau chùi. Còn ngài Thần Tú nhìn trên phương diện bụi phủ bên ngoài gương, nên mới bảo lau chùi. Cho nên nói lau là lau bụi chớ không phải lau gương. Gương đã tự sáng, đâu cần phải lau, nhưng vì bụi che mình phủi bụi cho ánh sáng được phát ra bên ngoài. Lâu nay chúng ta thường lầm chỗ này.

 

Cũng vậy, Tâm thể mình nguyên xưa naytrong sáng, nhưng vì phiền não phủ che nên ánh sáng không hiện ra ngoài. Khi dẹp hết phiền não, tâm tự hiện bày sáng suốt. Chúng ta lầm tưởng do dẹp phiền não tâm mới dần dần sáng, điều đó không đúng. Sáng là cái sẵn có nên mới gọi là Tánh giác. Bởi thế đức Phật nói tất cả chúng sanh đều sẵn có tánh Phật. Đã có tánh Phật thì khơi dậy cho ánh sáng phát ra ngoài. Nhiều Phật tử không hiểu, cứ cắm đầu lạy Phật trên bệ thờ, mà ông Phật của mình không thèm biết tới, tội nghiệp ông Phật bên trong quá!

 

Tánh giác của chúng ta không thiếu vắng bao giờ, mà mình mãi lang thang nơi này nơi kia, luân hồi khổ lụy không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp để đi tìm nó. Có đáng thương không? Cho nên chúng ta tu là trở về cái chân thật sẵn có nơi mình. Trở về bằng cách phủi bỏ bụi bặm phiền não che phủ lâu đời, thì Tánh giác sẽ tự hiện bày sáng rỡ. Nên tu là tu với phiền não, chớ không phải tu với Phật. Nhiều người nói tôi ráng tu cho ông Phật của tôi được sáng suốt. Nói như vậy là oan cho ông Phật quá, vì đã là Phật thì có mê tối bao giờ đâu?

 

Hai câu này nói thẳng cho chúng ta biết rằng, người nào nhận ra nơi mình có sẵn Chân tâm, Phật tánh thì chớ lo tu bao lâu mới ngộ đạo. Nó đã sẵn có chỉ cần đừng cho bụi bặm tham sân si dính vào mặt gương thì nó sáng, đâu cần phải hỏi thời tiết nhân duyên làm gì? Chúng ta cứ tự hỏi lại mình xem hôm nay gió thổi có bay không, bụi bám có dính không? Nếu gió thổi không bay, bụi bám không dính thì đạo sờ sờ đó chớ kiếm tìm chi! Đây là một lẽ thật.

 

Vàng chưa hết quặng, xá tua chín phen đúc chín phen rèn;

Lộc chẳng còn tham, miễn được một thì chay một thì cháo.

 

Nếu biết rõ vàng của mình lọc chưa hết quặng, thì xá tua tức là hãy nên chín phen đúc chín phen rèn, nghĩa là phải nấu luyện lọc cho hết quặng, mới được vàng ròng. Còn một chút quặng lẫn trong đó cũng chưa được vàng ròng. Tánh giác tuy lúc nào cũng sáng, nhưng còn một chút phiền não vô minh lẫn vào đó thì vẫn không thể hiện bày.

 

Lộc chẳng còn tham. Đối với tài lộc của thế gian chẳng còn tham, chữ “thì” đây là thời hay bữa. Nếu chúng ta chẳng màng lợi lộc, thì chỉ cần bữa cơm chay hay bữa cháo cũng đủ, nói cách khác là bữa rau bữa cháo cũng được, đâu có gì quan trọng! Xét lại chúng ta ngày nay có được như vậy không? Bữa cơm chay phải ngon chớ dở không được, còn cháo thì hơi đặc đặc, chớ cháo lỏng cũng không chịu nổi. Tu như thế là còn mắc kẹt “lộc” đó.

 

Như vậy, người tu nếu biết rõ nội tâm của mình chưa thuần thục, thì phải cố gắng rèn luyện cho được thuần thục. Nếu thấy lòng mình không còn tham đắm lợi lộc thế gian thì thôi một bữa cơm chay, một bữa cháo cũng tạm no, đâu cần gì nữa.

 

Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ-tát trang nghiêm;

Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.

 

Câu trên nhắc cho người xuất gia, câu dưới nói cho người cư sĩ. Sạch giới lòng là sạch giới tâm. Giới tâm mình phải giữ cho sạch. Cũng như mỗi tháng chúng ta đọc giới của ngài Pháp Loa dạy phải tịnh giới. Tịnh giới nghĩa là mắt đối với sắc, tai đối với tiếng v.v… không cho dính nhiễm. Chùi giới tướnggiữ gìn giới tướng như mười giới Sa-di hay mấy trăm giới của Tỳ-kheo chẳng hạn. Thành ra giới tâm bên trong, giới tướng bên ngoài đều phải sạch hết. Nội ngoại nên Bồ-tát trang nghiêm là ở trong giới lòng, bên ngoài giới tướng đều thành tựu, đó là Bồ-tát trang nghiêm Tịnh độ.

 

Ngay thờ chúa, ở thế gian thì ngay với chúa tức là trung thành với người lãnh đạo. Thảo thờ cha, là hiếu thảo với cha mẹ. Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.Chữ “đỗ” là đứng, đi đứng mới đúng là bậc trượng phu trung hiếu.

 

Như vậy, người xuất gia phải giữ giới lòng, trì giới tướng mới tròn bổn phận của người xuất gia. Người cư sĩ phải trung thành với cấp lãnh đạo, hiếu thảo với cha mẹ mới gọi là người trượng phu trung hiếu.

 

Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân;

Học đạo thờ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo.

 

Hai câu này Ngài nói thẳng thâm ân trong đạo. Chúng ta tham thiền học đạo phải nên kén chọn bạn lành. Đã được bạn lành, được thiện hữu tri thức thì dầu cho nát thân, chúng ta cũng chưa chắc đã đền ơn bậc thiện tri thức được, cho nên nói nát thân mình mới khá hồi ân. Hồi ân tức là đền ơn.

 

Học đạo thờ thầy. Khi chúng ta xuất gia học đạo thờ các bậc sư trưởng hay thờ thầy, thì dầu dọt xương óc chưa thông của báo. Chữ “dọt” là nghiền nát. Dù cho nghiền nát xương óc của chúng ta cũng vẫn chưa đủ để đền đáp ân sâu của thầy Tổ. Như vậy, tuy chưa xuất gia nhưng Ngài đã nói lên được cái cao quí tột trong đạo. Chúng ta học đạo thờ thầy dù cho nát thân cũng chưa đủ báo đáp thâm ân, huống nữa chỉ cực khổ chút ít lại gọi là đền đáp ơn thầy, ơn thiện tri thức đó ư!

 

Học đến đây mới thấy rõ giá trị của người tu. Nếu chúng ta chỉ tu cầm chừng, tu lấy có, thì không bao giờ biết ơn thầy, biết ơn thiện hữu tri thức. Còn người tu đạt được đạo, thấy rõ chỗ giác ngộ cứu kính của mình thì mới hiểu thấu đáo mấy câu này. Cha mẹ sanh ra ta, thì thân cha mẹ sanh chỉ sống được bảy, tám mươi năm, rồi cũng hoại. Còn chúng ta học đạo, ngộ được Thể chân thật, thì muôn kiếp không mất. Như vậy người chỉ cho chúng ta nhận ra cái muôn đời, muôn kiếp không hoại, không mất thì ơn ấy nặng biết ngần nào!



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 795)
01 Tháng Sáu 20209:48 CH(Xem: 94)
Đích đến của sự tu hành trong Đạo Phật không phải là tìm kiếm hay trở thành một cái gì khác mà là trở về soi sáng lại chính mình và thấy ra tất cả giá trị chân lý cao nhất ở trong chính mình chứ không ở đâu khác. Đó là điều đặc biệt của Đạo Phật. Hầu hết các tôn giáoẤn Độ đều nương tựa vào bên ngoài, nương tựa vào thần linh,
31 Tháng Năm 20209:51 CH(Xem: 102)
Dạo này ngoài kia đang xôn xao vì dịch bệnh. Nhiều người viết thư cho tôi về con virut corona ấy. Người thì sợ hãi, bất an, người thì than thở, lo lắng, người quan tâm thăm hỏi rừng thiền có đủ đồ ăn tích trữ hay không. Bỗng nhiên, cả thế giới nháo nhào vì con virut. Người thì stress vì tự nhiên nhàn rỗi, tù túng quá, người thì đau đầu vì
30 Tháng Năm 202010:54 CH(Xem: 129)
Con nghe các băng giảng của quý thầy, quý sư hay nói về Đạo, về Pháp, về Thiền mà không thật sự hiểu rõ về sự giống nhau, khác nhau giữa chúng. Cụ thể, ngay phần “vấn Đạo, vấn Thiền” này; vấn Đạo là hỏi Đạo, vấn Thiền là hỏi Thiền; vậy hỏi Đạo, hỏi Thiền giống nhau và khác nhau ra sao? Còn Pháp nữa. Pháp này cũng không dễ gì mà hiểu
29 Tháng Năm 202011:09 CH(Xem: 133)
Sở dĩ thầy để nguyên từ Dukkha mà không dùng chữ Khổ là vì từ Dukkha rất khó dịch cho lọn nghĩa. Ai cũng dịch là Khổ, Khổ là đúng rồi nhưng nội hàm Dukkha ngữ nghĩa rất lớn rộng, không thể gói gọn trong chữ Khổ được. Thầy nói một câu là con hiểu ngay: Dukkha là Khổ nhưng Lạc cũng Dukkha. Con đã thấy chưa?
28 Tháng Năm 202011:34 CH(Xem: 152)
Ngài dạy rằng, đối với kẻ phàm phu khi cơ thể sinh lývấn đề thì lập tức cái tâm họ có vấn đề. Như vậy, kẻ phàm phu khi bị khổ thân thì sẽ bị khổ tâm giống như một người cùng lúc bị hai cái mũi tên. Ở đây Ngài chỉ nói một phương diện, nhưng tôi thấy phàm phu khổ tâm đã đành mà khi khổ tâm thì cũng có khổ thân nữa. Có những người do ghen tuông,
27 Tháng Năm 20207:43 CH(Xem: 166)
Voltaire nói “Đẹp là con cóc đực trong mắt con cóc cái.” Mỹ có câu tương đương: “Khi ta yêu một người chột thì ta thấy mọi người đều dư một con mắt.” Tôi nói ra nghe kỳ, nhưng có người lỡ yêu người mặt nám, mặt tàn nhang, mặt mụn hoặc mặt rổ, hoặc mùi mồ hôi nặng, khi trót yêu rồi, mai mốt đi đâu mà gặp người không có mùi đó
26 Tháng Năm 202010:18 CH(Xem: 170)
Một vị giảng sư thành công là vị có kỹ năng và phương pháp. Với kỹ năng và phương pháp, vị giảng sư từng bước xây dựng cho mình sự tin tưởng nơi thính chúng, rèn luyện khả năng khơi gợi sự đồng cảm của thính chúng và khả năng trình bày mọi vấn đề hợp với luận lý. Vị giảng sư cần chuẩn bị cho mình một tư thế để luôn luôn thuyết phục
25 Tháng Năm 20206:03 CH(Xem: 239)
Hiển nhiên, Đức Phật là vị Thầy, vị Giảng sư tối thượng, toàn hảo. Chỉ có Ngài mới là nhà truyền pháp vi diệu nhất. Chư vị Bồ-tát được Ngài giao phó việc truyền pháp cùng với sức gia thần của Ngài nên chư vị cũng được xem là Pháp vương hay Pháp vương tử, giảng pháp cho hàng thính chúng rất hữu hiệu. Chư Thánh đệ tử A- la-hán
24 Tháng Năm 202010:55 CH(Xem: 205)
Để hiểu và rèn luyện chánh niệm đối với người mới bắt đầu là điều rất khó, vì đó là thứ mà mọi người chưa bao giờ có. Chính vì vậy, cách dẫn nhập để cho thiền sinh hiểu và trải nghiệm được chánh niệm trong cuộc sống thực là điều quan trọng hàng đầu. Một cách dẫn nhập không khéo léo sẽ làm cho thiền sinh hiểu nhầm và thực hành sai,
23 Tháng Năm 202010:58 CH(Xem: 209)
Bản chất của tình yêu thương là cao khiết, trừ phi nó bị cái Ta luyến ái, dính mắc và vị kỷ buộc ràng. Tất nhiên tình yêu thương cao khiết phải bao gồm bốn đức: Từ, Bi, Hỷ và Xả. Khi tình yêu thương có 4 đức đó thì mới thực sự là hạnh phúc - hạnh phúc của niềm tịnh lạc hay an lạc. Còn nếu trong tình yêu thươngluyến áiích kỷ
22 Tháng Năm 202011:05 CH(Xem: 222)
Dễ duôi là một chướng ngại lớn nhất trên đường tu tập, cũng như trong sự rèn luyện, vươn lên trong cuộc sống của một con người bình thường. Dễ duôi là hành động theo bản năng, theo bất cứ đòi hỏi nào của tham sân si, của các trạng thái tâm bất thiện, một cách vô điều kiện mà không có ý định kháng cự. Thành công trong cuộc sống
21 Tháng Năm 202011:01 CH(Xem: 210)
- Thấy cái áo đẹp, thích là chuyện bình thường, không phải tham, không có tội chi cả. Có 3 loại tham có gốc từ Pali như sau: Chanda có nghĩa là muốn, là ước muốn bình thường như đói muốn ăn, khát muốn uống, muốn xây nhà, muốn tập thể thao, muốn mặc chiếc áo đẹp, muốn ở nơi thoáng mát, tiện nghi... Chanda hay muốn,
20 Tháng Năm 202010:21 CH(Xem: 246)
Thầy khuyên không nên lệ thuộc vào ngồi thiền là vì những lý do sau đây: - Cho rằng chỉ có ngồi mới là thiền và ngồi thiền mới đắc đạo, do đó dễ xem thường những người không ngồi mà hành thiền trong các oai nghihoạt động tự nhiên khác. - Ngồi nhiều làm mất quan bình bốn oai nghi, dẫn đến trì trệ khí huyết và tinh thần căng thẳng
19 Tháng Năm 20209:57 CH(Xem: 260)
1. dục tầm: chạy theo cái mình thích; - 2. sân tầm: chạy trốn cái mà mình bất mãn, mình ghét sợ; - 3.hại tầm: ý tưởng chống đối, đánh phá, tấn công trước cái trần cảnh dầu đó là người hay là vật. Thí dụ như cái lòng mà muốn nhìn thấy người ta đau khổ, nhìn thấy người ta rơi lệ, đổ máu, muốn nhìn thấy một cái vật gì đó mà nó bị bể,
18 Tháng Năm 202010:33 CH(Xem: 261)
Con đang sống cùng con gái đã có chồng, con gái của con rất vô tâm. Con cũng muốn nhẫn nhịn hết để sống cùng vợ chồng nó. Nhưng con thấy nếu con nhẫn hết tất cả những điều không đúng của con gái con thì sẽ càng làm cho bản ngãtăng trưởng và sự bê bối của nó ngày càng nhiều hơn. Con góp ý thì nó gạt phăng đi và tình cảm
17 Tháng Năm 202010:14 CH(Xem: 259)
Sống ở đời này chúng ta có người để mình thương thì dứt khoát có người để mình ghét. Tất thảy chúng sanh trong đời này chia làm hai hạng, hạng để chúng sanh phàm phu thương và hạng để mình ghét. Có hạng thứ ba tôi không kể, đó là người dưng nước lã, hạng này nằm trong diện trừ bị. Họ là người dưng hôm nay nhưng ngày mai
16 Tháng Năm 202010:05 CH(Xem: 264)
Nhân kỷ niệm tròn 2 năm ngày trang web tiếng Việt vn.dalailama.com của Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma chính thức ra đời (ngày 16 tháng 05, 2018) - xin được chia sẻ khoảnh khắc Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma chứng minhgia trì cho sự ra đời của trang web. Xin chân thành cám ơn bạn đọc gần xa đã ghé thăm và đồng hành cùng
15 Tháng Năm 202011:01 CH(Xem: 277)
Theo quan điểm Phật giáo, nhẫn nhục là gì? Nhẫn nhục có ích gì? Nhẫn nhục được dùng trong trường hợp nào? Trường hợp một người bị dồn vào bước đường cùng thì nhẫn nhụctác dụng gì và có thể cứu giúp được người đó hay không?
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 367)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
13 Tháng Năm 202010:44 CH(Xem: 295)
“Biết Pháp” có nghĩa là biết sự thật. Pháp nằm ở đâu? Không xa chút nào. Sắc Pháp ở đâu? Có sắc pháp bên trong ta không? Có danh pháp (tâm pháp) bên trong ta không? Cả hai đều ở bên trong ta, nhưng ta không biết làm thế nào để hiểu chúng, để giải mã chúng, vì ta chưa học kinh điển. Hoặc ngay cả khi chúng ta đã cố gắng
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1069)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2624)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4019)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 367)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
04 Tháng Năm 20206:47 CH(Xem: 427)
"Nếu tôi nói rằng Đức Phật hiện đang sống ở đâu đó trong vũ trụ, bằng xương bằng thịt thì điều ấy trái với lời dạy của Đức Phật. Ngược lại, nếu tôi bảo Đức Phật không còn sống ở bất kỳ nơi đâu trong vũ trụ này dưới bất kỳ hình tướng nào thời nhiều người sẽ rất buồn vì nỗi khát khao hiện hữu của họ không được thoả mãn.
02 Tháng Năm 20206:15 CH(Xem: 543)
Tám pháp thế gian: “Thế nào là tám? được lợi (lābho), mất lợi (alābho); được danh (yāso), mất danh (ayāsa); bị chê (nindā), được khen (pasamsā); hạnh phúc (sukha) và khổ đau (dukkha).” Như vậy tám pháp thế gian này gồm bốn cặp: được lợi — mất lợi, được danh — mất danh, được khen — bị chê, hạnh phúc — khổ đau.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 383)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 407)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 481)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 824)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 978)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 893)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.