11. Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Chín

17 Tháng Mười 20192:49 CH(Xem: 3031)
11. Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Chín

HaiQuangDoi_A
Hai Quãng Đời Của Sơ Tổ Trúc Lâm

HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________



11. Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Chín

 

Vậy cho hay:

Cơ quan Tổ giáo,

Tuy khác nhiều đàng,

Chẳng cách mấy gang.

Chỉn xá nói từ sau Mã Tổ;

Ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng.

Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi;

Khuếch nhiên bất thức, tai ngu mảng ắt còn vang.

Sanh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ;

Thân bồ-đề, lòng minh kính, bài giơ mặt vách hành lang.

Vương lão chém mèo, lạt trẩy lòng ngừa thủ tọa;

Thầy Hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng.

Chợ Lư Lăng gạo mắc quá ư, chẳng cho mà cả;

Sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang.

Phá Táo cất cờ, đạp xuống dấu thiêng thần miếu;

Câu Chi day ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang.

Lưỡi gươm Lâm Tế, nạng Bí Ma, trước nạp tăng no dầu tự tại;

Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt hượm xá nghênh ngang.

Đưa phiến tử, cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn;

Xô hòn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền hòa chước móc khoe khoang.

Thuyền Tử rà chèo, dòng xanh chửa cho tịn tẩy;

Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng.

Rồng Yển lão nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ;

Rắn ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt giang (giương).

Cây bách là lòng, thác ra trước phải phương Thái Bạch;

Bính Đinh thuộc hỏa, lại trở sau lỗi hướng Thiên Cang,

Trà Triệu lão, bánh Thiều Dương, bầy thiền tử hãy còn đói khát;

Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu Thất, chúng nạp tăng những để lưu hoang.

Gieo bó củi, nẩy bông đèn, nhân mang mới nát;

Lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.

 

GIẢNG:

 

Vậy cho hay:

Cơ quan Tổ giáo,

Tuy khác nhiều đàng,

Chẳng cách mấy gang.

 

Mở đầu bài, Ngài bảo nên biết đường lối tu của chư Tổ dạy. Tuy khác nhiều đàng, chẳng cách mấy gang. Mỗi vị nói một cách khác, nhưng không xa nhau gang tấc. Tại sao? Vì chư Tổ do chỗ sở ngộ của mình, mỗi vị dùng phương tiện khác nhau, nên đường lối chỉ dạy của các ngài cũng khác. Như các Thiền sư ở Trung Hoa mở bày phương tiện, lập ra các tông phái như Lâm Tế, Tào Động, Qui Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn. Tuy mỗi tông có lối dạy riêng, nhưng thật ra chỗ cứu kính không hai, nên nói: Chẳng cách mấy gang. Thế nên khi học Thiền, chúng ta đừng mắc kẹt nơi phương tiện, mà phải thấy tột đuợc chỗ cứu kính của Thiền.

 

Chỉn xá nói từ sau Mã Tổ,

Ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng.

 

Chỉ hãy nói từ Thiền sư Mã Tổ trở về sau, ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng. Chữ “Tiêu Hoàng” là chỉ vua Lương Võ Đế. Nếu chỉ kể từ Mã Tổ về sau, tức là đã quên buổi ban đầu Thiền tông truyền vào Trung Hoa từ Tổ Đạt-ma, khi Tổ đến gặp vua Lương Võ Đế.

 

Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi;

Khuếch nhiên bất thức, tai ngu mảng ắt còn vang.

 

Đoạn sử này rất quan trọng, thuật lại trường hợp Tổ Đạt-ma gặp vua Lương Võ Đế. Nhà vua hỏi:

 

- Trẫm cất chùa, chép kinh, độ Tăng không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng?

 

Tổ liền trả lời:

 

- Toàn không công đức.

 

Vua Lương Võ Đế tu theo Phật, nhưng còn nặng về hình thức, nặng về công đức bên ngoài. Khi nghe Tổ đáp hoàn toàn không có công đức, Vua ngẩn ngơ không hiểu. Bởi Vua những tưởng hỏi như thế sẽ được Tổ khen ngợi tán dương công đức rộng lớn, nào ngờ Ngài bảo hoàn toàn không có công đức nên nhà vua cảm thấy bực bội. Do đó câu kế nói tính chấp si càng thêm lỗi. Vua Lương Võ Đế chấp chặt hình thức công đức, gọi là chấp si nên càng thêm lỗi lầm.

 

Vua Võ Đế lại hỏi thêm:

 

- Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?

 

Tổ Đạt-ma liền đáp:

 

- Rỗng thênh không Thánh.

 

Trong kinh, Thánh đế đệ nhất nghĩa là chỗ cao tột, chỗ cứu kính của người tu, nhưng khi vua Lương hỏi, Tổ lại nói “rỗng thênh không Thánh”. Câu trên hỏi về chỗ công đức Tổ nói như thế còn có thể bỏ qua, đến đây là chỗ cao tột tại sao Tổ lại xem thường? Vua càng tức tối nên mới hỏi:

 

- Đối diện trẫm là ai?

 

Tổ đáp:

 

- Không biết.

 

Thế nên bốn chữ “khuếch nhiên, bất thức” là để đáp lại hai câu hỏi tiếp theo của vua Lương Võ Đế.

 

Hỏi: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?

 

Đáp: Khuếch nhiên vô Thánh.

 

Hỏi: Đối diện trẫm là ai?

 

Đáp: Bất thức.

 

Nếu chúng ta không hiểu sự tích về chư Tổ thì không thế nào giải nghĩa được chỗ này.

 

Tai ngu mảng ắt còn vang. Tai ngu là chê tai vua Lương Võ Đế, vì chưa tỉnh ngộ, bên tai còn vang những tiếng đáp mà nhà vua không hiểu gì cả, nên rất bực mình.

 

Chúng ta thấy Tổ Đạt-ma gan dạ, bản lãnh phi thường, đối diện trước nhà vua không hề sợ hãi, lại còn dám nói thẳng những câu trái tai như thế. Nếu là chúng ta thì đã vuốt đuôi Vua, khen ngợi nào là công đức vô lượng vô biên v.v… chớ đâu dám nói như thế. Ngài dám cả gan tạt ba gáo nước lạnh vào mặt Vua, trái hẳn với những gì Lương Võ Đế đang mong đợi. Như vậy làm sao ở lại được, nên cuối cùng Ngài phải rút lui sang nước Ngụy.

 

Trở lại chỗ Tổ Đạt-ma muốn nói với vua Lương là ý chỉ gì? Như chúng ta đã biết vua Lương Võ Đế rất tin Phật, nên khi giặc tới vây thành ông không cho đánh, bảo đóng cửa tụng kinh cầu nguyện, nên cuối cùng thành thất thủ. Đó là vì lòng tin của Vua đối với giáo lý Phật pháp quá mạnh mà chưa nắm vững lý tánh. Tổ biết thế nên muốn phá cái chấp ấy của Vua, cốt chỉ ra Thật tánh bên trong cho Vua nhận được. Vì vậy Tổ mới phá các kiến chấp về hình thức bên ngoài. Làm các Phật sự như cất chùa, chép kinh, độ Tăng v.v… là phước đức chớ không phải công đức. Công đức là xoay lại nhận ra Tự tánh bên trong của mình. Nhà vua không hiểu, lầm cho phước đứccông đức, nên câu thứ nhất Tổ đáp để phá tánh chấp si ấy của Vua.

 

Tới câu thứ hai, Vua hỏi Thánh đế đệ nhất nghĩa là chỗ tột cùng của đạo lý. Tổ đáp rỗng thênh không Thánh. Như vậy để nói gì? Đối với con mắt nhà thiền còn thấy Thánh thấy phàm là còn thấy hai, còn đối đãi, còn sanh diệt. Còn đối đãi sanh diệt tức chưa phải cứu kính chân thật, nên với cái nhìn của Tổ “Thánh” còn không có, nói gì là “đệ nhất nghĩa”? Không Thánh nên không phàm, tức tâm đối đãi dứt. Đối đãi không còn, đó mới là chỗ chân thật cứu kính. Chỗ này Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”

 

Câu thứ ba, Vua tức quá nên hỏi đối diện trẫm là ai, Tổ trả lời không biết. Câu trả lời này hay đáo để, bởi “không biết” nên không mắc kẹt hai bên. Nhà vua cho rằng Tổ giống như Thánh rồi, bây giờ nếu Tổ đáp là Thánh là phàm gì cũng kẹt trong đối đãi cả nên Ngài bảo không biết. Một câu đáp đạo lý như vậy nhưng Vua không hiểu nên buộc lòng Tổ phải ra đi, vì biết duyên của mình không hợp với Lương Võ Đế.

 

Sanh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ;

Thân bồ-đề, lòng minh kính, bài giơ mặt vách hành lang.

 

Sanh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm là dẫn sự tích Tổ Đạt-ma. Ngài sanh ở Ấn Độ gọi là Thiên Trúc, nhưng tịch tại chùa Thiếu Lâm ở Trung Hoa.

 

Chôn dối chân non Hùng Nhĩ. Tại sao lại chôn dối? Vì có thuyết nói rằng nhục thân Ngài nhập tháp tại núi Hùng Nhĩ, nhưng thời gian sau, khi Tống Vân đi xứ Ấn Độ về ngang qua dãy núi Thông Lãnh gặp Ngài quảy một chiếc dép về Tây. Tống Vân về tâu lên Vua, nhà vua mở tháp ra chỉ thấy còn một chiếc dép nên nói là chôn dối, chớ không phải chôn thật. Theo truyền thuyết Phật giáo Trung Quốc thì như vậy, nhưng Thiền sư Thường Chiếu ở nước ta không chấp nhận điều đó. Chúng ta là hàng hậu học chỉ ghi nhận các sự kiện lịch sử thế thôi, không dám có ý kiến.

 

Thân bồ-đề, lòng minh kính, bài giơ mặt vách hành lang. Đây nói sự tích Lục tổ Huệ Năng khi đến với Ngũ Tổ. Ngũ Tổ báo cho chúng biết Ngài tuổi đã già, yêu cầu chúng trình kệ để xét coi ai ngộ, Ngài sẽ truyền y bát. Khi đó chúng nhường cho Thượng tọa Thần Tú trình kệ. Ngài Thần Tú ngại chỗ thấy của mình chưa đến nơi, nên không dám trực tiếp trình với Ngũ Tổ. Ngài viết bài kệ trên vách chùa phía ngoài hành lang:

 

Thân thị bồ-đề thọ,

Tâm như minh cảnh đài,

Thời thời cần phất thức,

Vật sử nhạ trần ai.

 

Dịch:

 

Thân như cây bồ-đề,

Tâm như đài gương sáng.

Thường phải nên lau chùi,

Chớ để dính bụi nhơ.

 

Thân bồ-đề, lòng minh kính là nói về hai câu đầu của bài kệ. Lòng minh kính là tâm như gương sáng. Khi viết bài này ngài Thần Tú có hai ý, nếu sáng Ngũ Tổ đọc bài kệ khen, hỏi của ai thì mình ra nhận, nếu Tổ không bằng lòng thì im luôn. Như vậy khỏi mất uy tín với học trò. Bởi lúc ấy ngài Thần TúGiáo thọ của năm trăm chúng, nên thật khó xử. Hiểu thế chúng ta mới thông cảm và thấy đáng thương hơn là đáng trách cho tâm trạng của Ngài.

 

Khi Ngũ Tổ đọc bài kệ, Ngài biết chưa tới nơi, nhưng muốn cho ngài Thần Tú khỏi mất mặt, Ngũ Tổ khen bài kệ hay quá và hỏi ngài Thần Tú “phải của ông không”. Dạ của con. Đã thế, Tổ đánh lừa luôn, nói với đại chúng “bài kệ này hay lắm, các ông phải thắp hương đảnh lễ kính trọng, học thuộc lòng”.

 

Bấy giờ trong chúng đã yên lòng nhưng ngài Huệ Năng thì chưa yên lòng. Bởi người không biết thì nói sao hay vậy, chớ người biết rồi thấy sai nói đúng không được. Thế nên Ngài bảo “tôi cũng có bài kệ nữa” và nhờ người viết bài kệ của mình lên vách hành lang bên cạnh:

 

Bồ-đề bản vô thọ,

Minh cảnh diệc phi đài,

Bản lai vô nhất vật,

Hà xứ nhạ trần ai?

 

Dịch:

 

Bồ-đề vốn không cây,

Gương sáng cũng chẳng đài.

Xưa nay không một vật,

Chỗ nào dính bụi nhơ?

 

Mọi người khi đọc bài kệ của ngài Huệ Năng thảy đều giật mình. Ngũ Tổ thấy thế sợ có chuyện không hay cho ngài Huệ Năng nên vội vã chùi bài kệ ngay và nói “bài này cũng chưa thấy tánh”. Đó là để đánh lạc hướng trong chúng, tránh cho Lục Tổ không bị hãm hại.

 

Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu giá trị của hai bài kệ như thế nào? Ngài Thần Tú nói “thân như cây bồ-đề, tâm như đài gương sáng”. Bồ-đề là Tánh giác, Tánh giác làm gì có hình thức mà nói cây. Tâm như gương sáng để trên đài, nhưng nghiệm kỹ gương sáng không cần để trên đài vẫn sáng. Vì vậy Lục Tổ phản bác lại bằng hai câu “Bồ-đề vốn không cây, gương sáng cũng chẳng đài”. Đó là phá hai thứ tướng.

 

Tới câu thứ ba, ngài Thần Tú nói “thường phải nên lau chùi, chớ để dính bụi nhơ”. Lục Tổ bảo “xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi nhơ”. Hai câu sau làm cho nhiều người hoang mang. Tại sao hoang mang? Lâu nay chúng ta tu luôn luôn nói dẹp phiền não để tâm được sáng. Nhưng ở đây Lục Tổ nói không phải vậy, gương tự nó sáng chớ không phải lau bụi rồi nó mới sáng.

 

Với cái nhìn của ngài Thần Tú, do bụi bặm che lấp làm cho gương tối. Bây giờ muốn gương sáng phải dẹp hết bụi. Đó là Ngài chỉ thấy bên ngoài mà chưa thấy tận bản chất của gương. Bản chất của gương là gì? Là thủy tinh hay pha lê. Thủy tinh hay pha lê có lúc nào tối đâu, nó luôn sáng, sở dĩ nó không phản chiếu được là vì bụi phủ, chớ bản chất nó là sáng. Lục Tổ thấy tận bản chất của gương là sáng nên nói “xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi nhơ”, mà phải lau chùi?

 

Cũng vậy, tâm chúng ta lúc nào cũng thanh tịnh, nhưng bây giờ còn mờ mịt tối tăm là tại phiền não che phủ. Biết rõ bản chất tâm luôn sáng thì sự tu không mệt, không ngán. Nếu không biết thế cứ chùi hoài không thấy sạch thì chán. Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật.” Tánh Phật là cái sáng sẵn bên trong, như gương bản chất tự sáng sẵn, không phải đợi lau mới sáng. Như vậy hai cái thấy của ngài Huệ Năng và ngài Thần Tú cách xa muôn dặm. Một đằng thấy sự tướng bên ngoài, một đằng nhìn tận bản chất bên trong, thấu suốt được lý Phật tánh sẵn có tự thuở nào, không gì che phủ được.

 

Ngũ Tổ đọc bài kệ của ngài Huệ Năng rồi lấy giày chà để lừa thiên hạ. Tại sao Ngài là một vị Thánh tăng mà còn lừa thiên hạ chi vậy? Cái dở Ngài bảo hay, cái trúng Ngài lấy giày chà đi, tại sao lại có thái độ như vậy? Về điểm này, nếu không đọc lịch sử, chúng ta sẽ không hiểu được hoàn cảnh, tâm tư của người hiện thời.

 

Nếu ngài Huệ Năng lúc đó là Đệ nhị tòa trong chúng thì Tổ có làm vậy không? Chắc là không. Ngặt vì Lục Tổ lúc ấy còn tóc, chưa xuất gia. Một người thấy tột lý đạo mà chưa cạo đầu, còn Thượng tọa, Đại đức cả năm trăm người lại chưa thấy đạo, bây giờ Tổ phải xử sự thế nào? Thành ra muốn trong chúng an lòng Ngài phải làm như vậy thôi.

 

Sau khi xóa bài kệ, Ngũ Tổ gọi ngài Huệ Năng vào thất nói kinh Kim Cang cho nghe, rồi truyền y, đưa qua sông đi tuốt. Tổ trở về chùa ba bữa không ra ngoài, chúng lấy làm lạ nên rủ nhau vô thăm xem Ngài có bệnh không. Tổ bảo bệnh thì không nhưng y bát đã về phương Nam rồi. Lúc đó thiên hạ mới bật ngửa, thì ngài Huệ Năng đi đã xa rồi. Vậy mà có nhiều người không chịu bỏ qua, nên đuổi theo giành y lại. Chuyện nghe thật kỳ, người tu mà đi giành y với nhau. Hồi xưa còn học tăng tôi không cảm thông nổi, đến bây giờ thì thông cảm rồi.

 

Bởi ở chùa chúng đông mấy trăm người, trong khi một ông cư sĩ mới tới năm ba tháng lại dốt nữa, nếu tôi kêu vị ấy lên làm giấy giao chùa lại thì chúng có nổi dậy không? Tự nhiên phải nổi dậy. Việc trao y bát còn quan trọng hơn giao chùa nữa. Tâm trạng con người là như vậy, buộc lòng Tổ phải đánh lừa. Đánh lừa cho ngài Huệ Năng đi xa mới kịp, nếu không đánh lừa nhất định họ sẽ đè cổ giựt lại. Hoàn cảnh này kẻ khách quan không biết, chỉ ai ở trong cuộc mới biết. Con người xưa cũng như nay, tâm lý tương tợ nhau. Hiểu như thế chúng ta mới biết tùy mỗi hoàn cảnh khác nhau mà chư Tổ có cách truyền tâm pháp khác nhau. Không nên chấp cứng vào một định kiến mà cho việc làm của Tổ ngày trước sai. Hoặc dựa vào việc truyền trao y bát đặc biệt của Ngũ Tổ cho Lục Tổ mà người sau bắt chước làm theo với mục đích xấu.

 

Đó là tôi nói lược qua câu chuyện trình kệ giữa ngài Thần Tú và ngài Huệ Năng.

 

Vương lão chém mèo, lạt trẩy lòng ngừa thủ toạ;

Thầy Hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng.

 

Câu chuyện Vương lão chém mèo như sau: Một hôm Vương lão sư tức ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện thấy hai chúng ở Đông đường, Tây đường giành nhau một con mèo. Muốn xét coi trong chúng có người nào ngộ đạo không, Ngài mới bảo: “Nói, nói. Nói được thì tha con mèo, nói không được thì chém con mèo.” Ai nấy ngẩn ngơ, không biết nói cái gì. Buộc lòng Ngài cầm dao chặt con mèo.

 

Ngài làm như vậy là vì ai? Người sau trách, Ngài tu mà còn phạm tội sát sanh. Tuy nhiên, trong nhà Phật phạm tội sát sanh là khi nào tâm mình nghĩ giết con vật để làm lợi cho mình hay cho người, tức là do ác ý mà hành động để cầu lợi. Ở đây không phải vì lợi lộc, mà vì muốn thấy trong chúng có ai ngộ đạo hay chưa. Nếu có người ngộ rồi, khi Ngài bảo nói nói, tự nhiên người ấy thốt ra một câu hoặc làm một hành động gì, liền cứu được con mèo. Nhưng vì không ai có khả năng đó, nên buộc lòng Ngài mới chém con mèo.

 

Sau đó Tùng Thẩm tức là Triệu Châu ở ngoài đi vào, ngài Nam Tuyền thuật lại câu chuyện vừa qua và hỏi:

 

- Giả sử ngươi có mặt lúc đó, thì phải nói sao?

 

Triệu Châu liền cởi giày đội trên đầu đi ra. Ngài Nam Tuyền bảo:

 

- Giá khi nãy có ngươi ở đây thì cứu được con mèo.

 

Bởi vì nhà thiền luôn luôn không chấp nhận hai bên, không Thánh không phàm. Đầu là chỗ tôn quí nhất trong thân thể con người, ngược lại với giày dưới chân là chỗ ti tiện nhất. Thiền sư Triệu Châu cởi giày đội lên đầu mà đi, ý muốn nói chỗ ấy không còn hai bên, không đối đãi, không ngôn ngữ làm sao mà nói. Do Ngài đã thấy tột lý đạo mới làm việc đó. Vì thế ngài Nam Tuyền nói “giá khi nãy có ông ở đây thì đã cứu được con mèo”. Như vậy để thấy Ngài không có ác tâm muốn giết con mèo, nhưng vì chánh lệnh đã ra thì phải thi hành.

 

Lạt trẩy lòng ngừa thủ tọa. Vương lão sư chém mèo cốt để làm gì? Cốt để thấy được lòng Thủ tọa của Đông đường và Tây đường. “Lạt trẩy” là dò xét, tức muốn dò xét lòng của những vị Thủ tọa như thế nào. Như vậy việc chém mèo không phải vì mèo, mà vì muốn thử lòng chư Tăng ở nhà Đông và nhà Tây.

 

Thầy Hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng. Thầy Hồ là ngài Tử Hồ, tức Thiền sư Lợi Tung ở núi Tử Hồ, đệ tử của ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện. Trước cửa Thiền viện, Ngài có dựng một tấm bảng đề rằng: “Tử Hồ có một con chó, trên cắn đầu, giữa cắn lưng, dưới cắn chân người. Ai do dự thì tan thân mất mạng.” Có vịTăng đến, Ngài liền nói: “Đây có con chó, hãy coi chừng.” Nếu vị Tăng không biết nói gì, Ngài đuổi đi ra. Đó là thuật đặc biệt của ngài Tử Hồ, nên nói: thầy Hồ khua chó. Chữ “khua” là xua đuổi hay là xuýt. Tử Hồ xuýt chó cho người ta giật mình, để làm gì?

 

Trỏ xem trí nhẹ con giàng. “Trỏ” là chỉ, “con giàng” là con cháu. Tức là chỉ để xem thử trí của con cháu nặng hay nhẹ, cao hay thấp. Vậy ngài Tử Hồ xua chó là để xem những người đến hỏi đạo trí được sâu hay cạn.

 

Chợ Lư Lăng gạo mắc quá ư, chẳng cho mà cả;

Sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang.

 

Đây là câu chuyện của Thiền sư Hành Tư ở núi Thanh Nguyên. Có vị Tăng đến hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Ngài liền đáp: “Gạo ở Lư Lăng giá bao nhiêu?” Tuy hỏi giá bao nhiêu nhưng không cho mặc cả, trả giá mắc rẻ. Câu hỏi này nhằm làm cho Thiền khách bặt đường suy nghĩ, chớ chẳng phải hỏi để tính toán giá gạo mắc rẻ.

 

Sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang. Chữ “sở” là chỗ nơi, “hết tấc” là rất mực. Khôn đến thưa đang là khó đến thưa hỏi. Nghĩa là chỗ Thạch Đầu đá rất trơn, khó đến thưa hỏi. Thạch ĐầuThiền sư Hy Thiên ở Thạch Đầu. Nếu có người đến hỏi đạo, Ngài trả lời ít ai nhận hiểu được, nên ở đây nói chỗ Thạch Đầu đá trơn.

 

Nguyên ngài Đặng Ẩn Phongđệ tử Mã Tổ Đạo Nhất, nghe nói ở Thạch Đầu có những cái kỳ đặc mới xin Mã Tổ đến Thạch Đầu tham vấn. Mã Tổ bảo: “Đường Thạch Đầu trơn.” Ẩn Phong liền thưa: “Con có cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa”, tức gặp việc thì đùa chơi, không có gì quan trọng. Ẩn Phong đến Thạch Đầu đi nhiễu giường thiền một vòng, chống tích trượng hỏi:

 

- Là tông chỉ gì?

 

Ngài Thạch Đầu bèn nói:

 

- Trời xanh! Trời xanh!

 

Ẩn Phong không đáp được, trở về trình Mã Tổ. Mã Tổ bảo:

 

- Ngươi nên đi lại bên ấy, nếu Thạch Đầu nói “trời xanh” thì ngươi “hư! hư!”

 

Ẩn Phong lại đi đến Thạch Đầu làm như trước. Thạch Đầu bèn: “Hư! Hư!” Ẩn Phong không đáp được, lại trở về trình Mã Tổ. Mã Tổ bảo:

 

- Ta đã nói với ngươi “đường Thạch Đầu trơn”.

 

Đó là câu chuyện nói chỗ Thạch Đầu đá rất trơn, đến đó thưa hỏi không được.

 

Phá Táo cất cờ, đạp xuống dấu thiêng thần miếu,

Câu Chi day ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang.

 

Phá Táo cất cờ là nói về ngài Phá Táo Đọa. Ngài là một Thiền sư thuộc hệ Ngưu Đầu, một hôm cùng vài đồ đệ đi ngang cái miếu ở núi Tung Sơn, thấy người ra vào miếu cúng kiếng rất đông, mỗi người mang theo bò heo gà vịt để cúng cho thần miếu. Họ nói trong miếu có thờ ông thần táo rất linh thiêng, ai cầu điều gì cũng được. Ngài vào miếu thấy ông táo, tức cái bếp đắp bằng đất được thờ kính rất trọng. Ngài liền cầm cây gậy gõ vào ông táo nói: “Đây là đất nước gió lửa hợp thành, linh thiêng từ đâu đến?” Xong Ngài đập một cái, ông táo bể nát rơi xuống, cho nên người ta gọi Ngài là Phá Táo Đọa, tức là đập ông táo rơi. Còn nói phá Táo cất cờlà vì trong miếu thờ thần táo có treo tràng phan bảo cái, bây giờ đập ông táo bể nát, cờ xí cũng dẹp hết không còn. Đạp xuống dấu thiêng thần miếu, nghĩa là đạp xuống làm cho sự linh thiêng của ông thần táo ở miếu không còn nữa.

 

Khi đập ông táo rồi, Thiền sư đi ra, những người thờ kính thần táo nghĩ thế nào Ngài cũng bị thần quở hộc máu chết, nhưng không có chuyện gì xảy ra. Giây lát có một người mặc áo xanh đến trước mặt Ngài quì lạy và thưa: “Con là thần táo, nhờ ơn Hoà thượng độ nên con hết nghiệp làm thần táo, được sanh về cõi trời. Con đến đây tạ ơn  Hoà thượng.”

 

Thần táo mê lầm nên chấp cái bếp là mình. Cái bếp vốn do đất nhồi với nước đắp thành, hơi ấm là lửa, khoảng trống thông thoáng là gió, như vậy đủ bốn thứ đất nước gió lửa hợp thành. Vậy mà thần táo bám vào bếp đất cho là mình linh thiêng rồi tác oai tác phúc với thiên hạ, nên Thiền sư chỉ cái bếp là không thật, đập một cái bể nát, lúc đó thần táo thức tỉnh không còn bám vào bếp đất nữa, liền hết nghiệp, sanh về cõi trời. Ông mang ơn ngài Phá Táo Đọa, người đã đánh thức mình, nên đến lễ tạ.

 

Câu chuyện trên tuy có vẻ huyền bí, nhưng giúp chúng ta nhìn tường tận về cuộc sống của mình. Vị Thiền sưthuyết pháp chi đâu, Ngài chỉ nói: “đây là đất nước gió lửa hợp thành, linh thiêng từ đâu đến” và Ngài đập một cái ông táo bể nát. Cũng thế, thân chúng ta do đất nước gió lửa hợp thành, vậy “cái biết này từ đâu mà đến”? Giả sử có người gõ đầu hỏi như vậy, chúng ta có ngộ chăng?

 

Kiểm tra lại thật kỹ thân chúng ta, chất cứng trong người là đất, chất ướt là nước, động là gió, ấm là lửa, bốn thứ hợp lại thành thân này. Đất nước gió lửa là vô tri, nhưng thân này có tri có giác, vậy cái tri giác từ đâu đến? Nếu nhận được cái tri giác đó thì đất nước gió lửa đâu còn giá trị gì, vì chúng là vô tri, là bỏ đi. Chính cái tri giác là cái linh động, mới điều khiển được chúng nó.

 

Song hiện giờ chúng ta không nhận ra cái tri giác mà chỉ biết tứ đại cho là thật mình, nên cố gắng giữ gìn nó, mà càng giữ gìn quí trọng nó, lại càng khổ nhọc nhiều. Bao nhiêu phiền não sanh ra đều do chấp thân là thật. Nếu có ai chê thân mình đen xấu thì giận hờn, dù đó là sự thật trăm phần. Còn nếu có người khen thân mình xinh đẹp thì rất vui vẻ, dù đó là lời nói không đúng sự thật. Quả là mê chấp thân quá mức. Ngày nào chúng ta thức tỉnh biết thân không thật thì mọi mê chấp đều dứt sạch. Khi phải bỏ thân đi, chúng ta không còn nuối tiếc, bám chặt vào thân tứ đại này nữa.

 

Câu Chi day ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang. Thiền sư Câu Chi, mỗi khi có người đến hỏi đạo, dù hỏi câu gì, Ngài đều đưa ngón tay lên, “day ngón” là đưa ngón tay lên. Tại sao? Vì Ngài dùng theo nếp cũ của ông cha. “Ông ang” là ông cha. Bởi ngài Câu Chiđệ tử của Thiền sư Thiện Long, trước kia khi đến hỏi đạo, Thiền sư Thiện Long đưa ngón tay lên, ngài Câu Chi ngộ đạo. Cho nên sau này ngài Câu Chi cũng sử dụng thuật đưa lên một ngón tay mỗi khi có ai đến hỏi đạo.

 

Lưỡi gươm Lâm Tế, nạng Bí Ma, trước nạp tăng no dầu tự tại;

Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt hượm xá nghênh ngang.

 

Tại sao gọi là lưỡi gươm Lâm Tế? Vì ngài Lâm Tế khi có ai đến hỏi đạo, bất cứ câu gì, Ngài đều hét lên một tiếng. Trong nhà thiền nói tiếng hét của Ngài như lưỡi gươm bén chặt đứt hết mọi cố chấp cho người. Ai không biết khởi sanh giải hội thì tan thân mất mạng.

 

Nạng Bí Ma là nói về Thiền sư Thường Ngộ ở ngọn Bí Ma thuộc Ngũ Đài Sơn, chỗ ngài Văn-thù hàng phục rồng. Tục truyền rằng Bồ-tát Văn-thù hiện ra để hàng phục con rồng dữ, nên gọi chỗ đó là ngọn Bí Ma. Ngài Thường Ngộ thường chống một cây nạng gỗ ở trên suôn, phía dưới có cháng hai. Mỗi khi Tăng đến lễ bái hỏi đạo, Ngài liền lấy nạng chận trên cổ Tăng và bảo: “Ma quỉ nào dạy ông đi xuất gia? Ma quỉ nào dạy ông đi hành cước? Nói được cũng bị nạng đập chết, nói không được cũng bị nạng đập chết. Nói mau! Nói mau!” Ai đến hỏi đạo với Ngài cũng sợ cú đòn nguy hiểm này. Đó là thuật đặc biệt của ngài Bí Ma.

 

Trước nạp tăng no dầu tự tại. “Nạp tăng” là chỉ những vị Tăng mặc áo nạp đi hành cước. “No dầu tự tại” là mặc tình đầy đủ, tự tại. Ngài Lâm Tế sử dụng tiếng hét như lưỡi gươm bén, ngài Bí Ma dùng nạng để đè cổ Nạp tăng, hai Ngài rất tự do tự tại trong việc truyền bá, không có gì ràng buộc được.

 

Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt hượm xá nghênh ngang.

 

Sư tử ông Đoan là nói Thiền sư Tây Dư họ Đoan ở An Cát Châu. Sư dùng chỉ màu đan thành lốt sư tử, thỉnh thoảng khoác vào người. Sư đến Hoa Đình, lên tòa nói: “sư tử Linh Sơn la thét trong mây, Phật pháp thật không thể suy lường được”, nên gọi là sư tử ông Đoan.

 

Thường thường trong nhà Phật lấy hình ảnh sư tử tượng trưng cho chánh pháp. Vì xưa nay truyền rằng giữa rừng sâu, trong các loài thú sư tử là trên hết. Tất cả thú vật đều sợ oai phong của nó, kể cả voi to cũng phải khiếp vía mỗi khi nghe tiếng sư tử rống. Do đó nhà Phật mượn hình ảnh sư tử dụ cho chánh pháp để nói giáo lý của Phật-đà là chân lý, không ai có thể bẻ gãy được. Tất cả tà pháp ngoại đạo gặp Phật pháp đều bị đổ vỡ, đều bị hàng phục.

 

Thế nên Thiền sư Tây Dư khi lên tòa thuyết pháp mặc áo sư tử nói “sư tử Linh Sơn hét trong mây, Phật pháp không thể suy lường”, ý muốn tỏ rõ oai phong Phật pháp chấn động muôn loài. Giáo lý ấy siêu việt tất cả, không thể dùng tâm lượng phàm phu mà suy lường, đoán  biết được.

 

Trâu thầy Hựu, tức là con trâu của Hoà thượng Linh Hựu ở Qui Sơn. Ngài Qui Sơn Linh Hựu khi sắp tịch có nói: “Sau khi tịch, Lão tăng sẽ sanh ở dưới chân núi làm con trâu, trên lưng có dòng chữ ‘Qui Sơn Tăng Linh Hựu’. Khi ấy các ngươi gọi Qui Sơn Tăng Linh Hựu là đúng, hay gọi con trâu là đúng?”

 

Đây là điểm kỳ đặc của Ngài. Chúng ta lâu nay luôn thấy người vật cao thấp khác nhau. Nhưng chỗ chân thật cứu kính không hai, người và muôn vật đều có Phật tánh bình đẳng. Khi nghe Thiền sư nói thế, nhiều người tưởng Ngài chết thành trâu thật, rồi theo đó phản đối việc tu hành, nhất là tu thiền. Đó là vì họ không hiểu thôi.

 

Lối nói của ông Đoan và của thầy Hựu cốt để:

 

Răn đàn việt hượm xá nghênh ngang, “hượm” là dừng tức là răn người Phật tử dừng, chớ nên nghênh ngang.

 

Đưa phiến tử, cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn;

Xô hòn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền hòa chước móc khoe khoang.

 

Đưa phiến tử là đưa cây quạt lên. Thiền sư Văn YểnVân Môn một hôm thăng tòa, đưa cây quạt lên nói: “Cây quạt này nhảy lên cung trời Tam thập tam, đập vào mũi Đế Thích. Con cá lý ngư ở biển đông bị đánh một gậy, mưa như cầm tĩn mà đổ, hiểu chăng?” Nói xong, Ngài hỏi: Các ngươi hiểu chăng? Vậy chúng ta có hiểu hay không? Câu này giống như câu thần chú, không có gì để hiểu. Ngài nói một câu không biết đầu đuôi gốc ngọn, chỉ cốt đưa cây quạt lên. Chúng ta lo đọc câu thần chú mà không hiểu việc đưa cây quạt lên, cho nên bị lời của các Thiền sư lừa là ở chỗ đó.

 

Cất trúc bề là giơ cây trúc bề lên, trúc bề là cái thẻ tre để trên bàn. Thiền sư Qui Tỉnh đến tham vấn với Thiền sư Tỉnh Niệm. Ngài Tỉnh Niệm đưa cây trúc bề lên hỏi: “Gọi trúc bề thì phạm, không gọi trúc bề thì sai, thế thì gọi là cái gì?”

 

Qui Tỉnh giựt cây trúc bề ném xuống đất nói: “Là cái gì?”

 

Ngài Tỉnh Niệm bảo: “Mù.”

 

Qui Tỉnh liền ngộ.

 

Hai cách: Một bên đưa cây quạt lên nói một câu giống như đọc thần chú, một bên đưa trúc bề lên bảo: Nói trúc bề thì phạm, không nói trúc bề thì sai, vậy nói cái gì? Đây chỉ cốt đưa người đến chỗ bí, gặp người gan dạ thì phải làm gì? Mục đích của Thiền sư là nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn. Các ngài muốn nghiệm xem cơ quan người học đã nhẹ sạch chưa, tức là đối với sáu căn người học đã nhẹ, đã thông suốt hay chưa? Nếu ngay đó liền ngộ tức là đã nhẹ, đã thông suốt rồi.

 

Xô hòn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền hòa chước móc khoe khoang.

 

Xô hòn cầu, đây là trường hợp của Huyền Sa Sư Bị hỏi ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn: “Hiện nay trong đại chúng, Hoà thượng phải làm sao?”

 

Ngài Tuyết Phong lấy ba trái cầu gỗ đồng thời ném ra, Huyền Sa làm thế chụp. Ngài Tuyết Phong bảo: “Người hiện ở hội Linh Sơn mới được như vậy.” Đó là lời khen ngài Huyền Sa: “Ông có mặt ở hội Linh Sơn nên mới làm được việc này.” Trong nhà thiền có những thuật kỳ đặc như vậy.

 

Cầm mộc thược. Mộc thược là cái duộc gỗ, giống như cái gáo. Chưa tìm ra sự tích của câu chuyện này.

 

Bạn thiền hòa chước móc khoe khoang. Bạn thiền hòa là những người bạn trong nhà thiền, chước móc là mưu mẹo. Tức là hai vị xô hòn cầu, cầm mộc thược dùng mưu mẹo để khoe khoang.

 

Thuyền Tử rà chèo, dòng xanh chửa cho tịn tẩy;

Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng.

 

Thuyền Tử rà chèo, Thuyền Tử là Thiền sư Đức Thành đưa đò ở bến Hoa Đình, còn gọi là Hoa Đình Thuyền Tử, là đệ tử của ngài Dược Sơn, được thầy truyền tâm ấn, là bạn đồng học với Vân Nham Đàm ThạnhĐạo Ngô Viên Trí. Ngài không chịu đi giáo hóa, thích nơi sơn thủy nên thơ, đến bến Hoa Đình sắm một chiếc thuyền nhỏ đưa đò qua lại, tùy duyên độ nhật. Trước khi đi Ngài có dặn Đạo Ngô: Sau này Sư huynh thấy có người nào lanh lợi kỳ đặc, giới thiệu đến với tôi.

 

Một hôm, Đạo Ngô đến chỗ Thiện Hội đang lúc đăng đàn thuyết pháp.

 

Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là Pháp thân?”

 

Thiện Hội đáp: “Pháp thân không tướng.”

 

Hỏi: “Thế nào là pháp nhãn?”

 

Đáp: “Pháp nhãn không vết.”

 

Đạo Ngô chợt phát cười.

 

Sau buổi giảng Thiện Hội thưa: “Vừa rồi tôi có đáp câu hỏi của Tăng, có chỗ nào sai trái, xin Hoà thượng từ bi chỉ dạy.”

 

Đạo Ngô bảo: “Nếu nói về hiểu Phật pháp, Thầy là bậc nhất, còn về xuất thế thì chưa có Thầy”, tức là về ngộ thiền thì chưa được.

 

Thiện Hội thưa: “Vậy tôi phải làm sao, mong Hoà thượng chỉ dạy.”

 

Đạo Ngô bảo: “Tôi không nói, tôi giới thiệu ông đến chỗ Hoa Đình Thuyền Tử, ông ấy sẽ chỉ cho ông.”

 

Thiện Hội giải tán chúng, đi thẳng đến chỗ Hoa Đình.

 

Thuyền Tử bảo: “Thả ngàn thước tơ ý ở đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau, nói mau!”

 

Khi Thiện Hội vừa mở miệng, bị Thuyền Tử đánh một chèo té xuống nước. Thiện Hội mới leo lên thuyền, Sư lại thúc: “Nói! Nói!”

 

Thiện Hội vừa mở miệng, lại bị Sư đánh. Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ.

 

Thuyền Tử Đức Thành dùng phương tiện đánh Thiện Hội té xuống nước, nhân đó Thiện Hội được ngộ.

 

Câu chuyện Thuyền Tử rà chèo tức là Hoa Đình Thuyền Tử chèo đò để được thong thả vui thích trên sông nước, nhưng dòng xanh chửa cho tịn tẩy. Tịn là tận, là sạch, tịn tẩy là rửa sạch. Tuy Thuyền Tử muốn thong thả vui sống trên dòng sông Hoa Đình, nhưng còn nợ phải độ người đệ tửThiện Hội.

 

Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng. Đạo Ngô tức là Thiền sư Viên Trí, mỗi khi lên tòa thuyết pháp, đầu đội mũ hoa sen, vai vác cây kiếm, tay cầm cái hốt múa. Việc này trông quái gở, không có hình ảnh đạo lý, dường như ma nhập.

 

Rồng Yển lão nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ;

Rắn ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt giang (giương).

 

Thiền sư Vân Môn Văn Yển đưa cây gậy lên bảo chúng: “Cây gậy hóa rồng nuốt hết càn khôn, thì sơn hà đại địa ở chỗ nào?”

 

 Nay chúng ta chỉ chỗ nào, nói thẳng một câu xem! Nếu nói thẳng thì tôi nói: “Ở đầu cây gậy!” Đó là hình ảnh con rồng nuốt hết càn khôn của ngài Văn Yển.Ta xem chỉn lệ, chúng ta xem chỉ sợ thôi, chớ không nói gì được.

 

Rắn ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt giang (giương). Thiền sư Nghĩa TồnTuyết Phong thượng đường nói: “Núi Nam có một con rắn to, hết thảy các ông đều phải khéo xem.”

 

Trường Khánh bước ra thưa: “Hôm nay trong nhà này có người tán thân mất mạng.” Vân Môn lấy cây gậy ném trước Tuyết Phong, rồi ra bộ sợ chớ không nói gì.

 

Người thấy ắt giang, chữ giang là giương, tức là đồn đại. Người thấy ắt sẽ đồn đại rùm lên.

 

Cây bách là lòng, thác ra trước phải phương Thái Bạch;

Bính Đinh thuộc hỏa, lại trở sau lỗi hướng Thiên Cang.

 

Cây bách là lòng, Triệu Châu Tùng Thẩm, khi có người tới hỏi “thế nào là Phật”, Ngài liền chỉ “cây bách trước sân”. Người hỏi không hiểu là gì.

 

Thác ra trước phải phương Thái Bạch. Thác là lầm, phương Thái Bạch là chỉ phương Đông. Khi người hỏi “thế nào là Phật”, Triệu Châu chỉ cây bách trước sân là cốt chỉ tâm, chỉ cái hay thấy của mình. Nhưng người hỏi không nhận ra cái ấy lại lo nhìn cây bách nên nói lầm, tức Thiền sư nói đàng Tây mà người hỏi hiểu đàng Đông.

 

Bính Đinh thuộc hỏa. Nguyên có sự tích như sau: Thiền sư Tắc làm Giám viện, gọi là Giám viện Tắc, ở trong hội Pháp Nhãn đã lâu, mà không thưa hỏi. Pháp Nhãn hỏi:

 

- Giám viện Tắc sao không vào thất?

 

Sư thưa:

 

- Con ở chỗ Thanh Lâm đã có chỗ thâm nhập.

 

Pháp Nhãn bảo:

 

- Ông thử vì ta cử xem.

 

Sư thưa:

 

- Con hỏi “thế nào là Phật”, Thanh Lâm đáp “đồng tử Bính Đinh đến xin lửa”.

 

Pháp Nhãn bảo:

 

- Lời khéo, ngại ông hiểu lầm, nên nói lại xem.

 

Sư thưa:

 

- Bính Đinh thuộc về lửa, đem lửa đi xin lửa, như con là Phật lại đi tìm Phật.

 

Pháp Nhãn bảo:

 

- Giám viện quả nhiên hiểu lầm rồi.

 

Tắc bỏ đi, thời gian sau trở lại. Pháp Nhãn bảo:

 

- Ông hỏi ta, ta sẽ vì ông đáp.

 

Tắc hỏi:

 

- Thế nào là Phật?

 

Pháp Nhãn đáp:

 

- Đồng tử Bính Đinh đến xin lửa.

 

Tắc đại ngộ.

 

Bính Đinh thuộc về lửa mà mình không nhận ra, lại đi tìm ở đâu, cho nên:

 

Lại trở sau lỗi hướng Thiên Cang. Thiên Cang là hướng Bắc. Nghĩa là người ta nói phương Nam, mình lại tìm ở phương Bắc, vì vậy không hiểu được ý nghĩa của Bính Đinh.

 

Trà Triệu lão, bánh Thiều Dương, bầy thiền tử hãy còn đói khát;

Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu Thất, chúng nạp tăng những để lưu hoang.

 

Trà Triệu lão là trà của Triệu Châu. Khi có khách đến, Ngài hỏi: - Từng đến đây chưa?

 

Khách thưa: - Từng đến.

 

Ngài bảo: - Uống trà đi.

 

Lại có người đến, Ngài cũng hỏi: - Từng đến đây chưa?

 

Thưa: - Chưa từng đến.

 

Ngài cũng mời: - Uống trà đi.

 

Tri sự lấy làm lạ, mới hỏi: - Người đã từng đến Hoà thượng mời uống trà, người chưa từng đến Hoà thượng cũng mời uống trà, là tại sao?

 

Ngài gọi: - Tri sự.

 

Tri sự: - Dạ!

 

Ngài bảo: - Uống trà đi.

 

Cho nên gọi là trà Triệu lão, vì gặp ai Ngài cũng mời uống trà.

 

Bánh Thiều Dương là bánh của Vân Môn. Mỗi khi có ai đến, Ngài thường đưa cái bánh lên mời ăn.

 

Triệu Châu mời uống trà, Vân Môn mời ăn bánh, nên gọi là trà Triệu lão, bánh Thiều Dương.

 

Bầy thiền tử hãy còn đói khát, tức là những người đi học thiền tuy được mời uống trà, được cho ăn bánh mà vẫn còn đói khát.

 

Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu Thất, chúng nạp tăng những để lưu hoang. Ở Tào Khê chỗ của Lục tổ Huệ Năng có ruộng nhiều, ở Thiếu Thất chỗ của Tổ Đạt-ma có vườn lớn, thế mà chúng nạp tăng, tức là những thầy tu thiền vẫn còn để nó hoang phế, chưa biết chăm sóc gì cả.

 

Tóm lại, hai câu này muốn nói: Triệu Châu đãi trà, Thiều Dương mời bánh, mà chúng ta vẫn đói khát. Tào Khê có ruộng, Thiếu Thất có vườn, mà chúng ta lại bỏ hoang. Chư Tổ trước kia đã đem hết tâm tư chỉ dạy, thế mà chúng ta vẫn lơ là để đến nỗi thiền phải bị lu mờ, đó là lỗi nơi chúng ta.

 

Gieo bó củi, nẩy bông đèn, nhân mang mới nát;

Lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.

 

Gieo bó củi là câu chuyện Thiền sư Tuyết Phong lúc còn đi tham vấn, đến Động Sơn, Động Sơn bảo: “Vào cửa phải có lời nói.” Sư đáp: “Con không có miệng.” Động Sơn bảo: “Không có miệng phải hoàn con mắt cho ta.” Sư im lặng, gieo bó củi trước Động Sơn. Động Sơn hỏi: “Nặng nhiều ít?” Sư thưa: “Người cả thiên hạ nâng không nổi.”

 

Đó là sự tích gieo bó củi của Tuyết Phong đến hỏi đạo với Động Sơn.

 

Còn sự tích nẩy bông đèn chưa tìm ra.

 

Gieo bó củi, nẩy bông đèn, mục đích để làm gì?

 

Nhân mang mới nát, đây là nói về thiền, do sự ôm ấp trong lòng lâu ngày, hôm nào chợt vỡ ra mới nát khối nghi.

 

Lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang. Linh Vânđệ tử của Tổ Qui Sơn nhìn thấy hoa đào liền ngộ. Hương Nghiêm nghe tiếng vang của hòn sỏi chạm vào cây trúc, liền ngộ đạo. Cho nên: Mặc vẻ mà sang. Một người nhìn hoa đào nở, một người nghe tiếng trúc vang đều ngộ nên thầm lặng mà tươi sáng.

 

Như vậy trong hội thứ chín này, Sơ tổ Trúc Lâm dẫn nhiều sự tích của các Thiền sư. Tất cả hình ảnh này nói lên mỗi Thiền sư có một lối chỉ dạy khác nhau, nhưng mục đích cứu kính không khác. Cốt làm cho hành giả nhận ra Tâm chân thật, mà không cho chúng ta dựa vào bất cứ phương tiện nào suy nghĩ phân biệt. Do đó ở đây hành giả chỉ tu mới đạt được kết quả, chớ không thể học hiểu suông và dùng thức tình mà suy lường chỗ cứu kính ấy được.

 

Qua hội này, chúng ta cũng thấy Ngài đang làm Thái thượng hoàng mà đọc rất nhiều sách thiền, còn chúng ta ngày nay học khá lâu, tìm kiếm khá nhiều mà không biết hết những sự tích Ngài đã dẫn ra. Công phu của Ngài thật đáng kể, thật đáng quí.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 9697)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 4697)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 5628)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 4507)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 3851)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 4138)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 4098)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 3321)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 3603)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 3740)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 3353)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 3809)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 3587)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 3886)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 3788)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 3747)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 4321)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 3642)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 3471)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 3194)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 3416)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 3370)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 3382)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 3642)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 3161)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 4292)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5908)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 7837)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 4158)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 4092)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 3655)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 3892)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 9697)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 3231)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 3343)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 6256)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 5573)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng