07. Bốn Núi - Giảng Giải

02 Tháng Mười Một 201911:48 SA(Xem: 2263)
07. Bốn Núi - Giảng Giải

KhoaHuLuc1
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)

HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________



07. Bốn Núi - Giảng Giải

 

Bốn núi này là y cứ trong kinh, ngài Trần Thái Tông diễn tả cho chúng ta dễ hiểu. Trong Hán tạng, kinh Tạp A-hàm bài 1147 có nói về bốn núi. Tạng Pali kinh Tương Ưng Bộ bài 136 (Hòa thượng Minh Châu dịch) cũng nói về bốn núi. Một hôm vua Ba-tư-nặc đi chinh phạt loạn quân ngoài biên giới, đánh thắng kéo quân về đến gần tinh xá của Phật ông dừng quân lại, đích thân đến lễ Phật. Phật hỏi: Đại vương đi đâu về xem có vẻ nhọc nhằn? Vua bạch: Con đi chinh phạt bọn ngoại xâm, vừa chiến thắng trở về. Khi nói nhà Vua hiện ra kiêu khí của người thắng trận. Đức Phật hỏi: Này Đại vương, nếu có người ở phương Đông đến thưa thế này: Tôi thấy một ngọn núi từ phương Đông lăn lần lần về đây, lăn đến đâu nghiền nát cỏ cây người vật ở đó. Lại có một người phương Nam tới cũng tâu: Đại vương, có một ngọn núi ở phương Nam đang lăn về đây, tới đâu nó đều nghiền nát cây cỏ người vật. Lại phương Tây, phương Bắc, mỗi phương có một ngọn núi đang lăn về, lăn đến đâu cây cỏ người vật đều bị nghiền nát. Nếu có người báo bốn ngọn núi đang lăn về, tàn sát cây cỏ, người, vật thì Đại vương sẽ cử đội quân nào để đi chinh phục chúng? Nhà vua bạch: Dầu đội quân có tài trăm trận trăm thắng đi nữa cũng không thể nào chinh phục được bốn núi đó. Phật bảo: Bốn núi đó là sanh, già, bệnh, chết. Dầu cho ai tài giỏi đến đâu, dũng mãnh đến đâu cũng không thắng được, không chinh phục được sanh, già, bệnh, chết mà đều bị chúng nghiền nát. Nghe như thế kiêu khí của nhà Vua không còn nữa. Đó là ý nghĩa bốn núi.

 

Trong chúng ta ai cũng không khỏi bị bốn núi nghiền nát, chúng ta đang thấy nó lăn từ từ gần đến mình. Như hiện nay ba núi sanh, già, bệnh lăn tới tôi rồi, chỉ còn núi thứ tư, núi tử nữa là kết cuộc. Như vậy ai cũng bị bốn núi nghiền nát mà không hay và cũng không ai chống lại được chúng. Thế nên người tu là muốn thoát bốn núi đó, không để chúng nghiền nát. Còn người thế gian bị nó nghiền mãi, sanh ra rồi lại bị nghiền nát, cứ như thế mà muôn đời muôn kiếp không biết bao nhiêu lần khổ đau. Từ ý nghĩa đó ngài Trần Thái Tông làm bài bốn núi.

 

Nguyên là tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có. Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không. Vọng ấy từ không, không hiện vọng, vọng sanh các sắc. Đã trái không sanh không hóa, mải làm có hóa có sanh. Không sanh hóa thì không hóa không sanh, có hóa có sanh nên có sanh có hóa. Hoặc sanh Thánh Hiền ngu trí, hoặc hóa vảy cánh lông sừng. Luôn luôn chìm đắm nơi bến mê, mãi mãi trôi lăn trong biển khổ. Mờ mờ mịt mịt nào biết nào hay, rối rắm lăng xăng chẳng tỉnh chẳng ngộ. Trọn là buông tâm chạy đi, đều không nắm mũi kéo về. Khiến đến qua lại sáu đường, xuống lên bốn núi. Bốn núi là: sanh, già, bệnh, chết. Nay lần lượt trình bày bốn núi để lại đời sau.

 

Mở đầu Ngài diễn tả: “Nguyên là tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có.” Đọc kinh Bát-nhã chúng ta thấy rõ tứ đại không thật, năm ấm cũng không thật, nên nói tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có.

 

“Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không”, tức là do thể không dấy niệm khởi vọng, từ vọng biến thành sắc chất, nên nói sắc chất gốc tự chân không, chớ không phải riêng có. Điều này những nhà khoa học hiện đại dễ tin, vì khi phân tích tột cùng sắc chất, họ thấy là chân không chớ sắc chất không có cái thể riêng. Tóm lại Ngài nói do không khởi sắc, tức là từ không rồi dấy vọng thành sắc, sắc do vọng dấy từ chân không, nên không rời chân không.

 

“Vọng ấy từ không, không hiện vọng, vọng sanh các sắc.” Vọng đó là từ không, không hiện ra vọng, vọng sanh ra các sắc. Nay nói về tâm người tu, trong lúc chúng ta ngồi thiền, nếu không nghĩ gì, lúc đó là không hay là có? Không nghĩ gì thì thấy như không. Vừa dấy niệm là vọng, vọng cấu kết với hình sắc nên nhớ hình này hình kia, nội tâm chúng ta rõ ràng như vậy. Bên ngoài cũng thế, từ vọng hiện ra các hình sắc, nên:

 

“Đã trái không sanh, không hóa”, lý đáng chân không là không sanh không hóa, nhưng vì trái với nó nên “mải làm có hóa có sanh”, nghĩa là sanh hóa liên tục.

 

“Không sanh hóa thì không hóa không sanh, có hóa có sanh nên có sanh có hóa.” Nếu đứng về mặt không sanh không hóa thì đó là thể, không có hóa sanh gì cả. Lục Tổ thấy được thể đó Ngài mới nói “Bản lai vô nhất vật”, không sanh không hóa thì có vật gì? Nay vì theo có hóa có sanh, nên mọi việc đều thành có sanh có hóa.

 

“Hoặc sanh Thánh Hiền ngu trí, hoặc hóa vảy cánh lông sừng.” Sanh hóa là sanh ra người Thánh bậc Hiền, hoặc kẻ trí người ngu sai biệt; hoặc hóa làm chim chóc, tôm cá, trâu bò, các loại.

 

“Luôn luôn chìm đắm nơi bến mê, mãi mãi trôi lăn trong biển khổ”, vì sanh hóa nên cứ chìm đắm mãi nơi bến mê, lăn lộn trong biển khổ không ra khỏi.

 

“Mờ mờ mịt mịt nào biết nào hay, rối rắm lăng xăng chẳng tỉnh chẳng ngộ.” Như vậy chúng ta sống trong mờ mịt lăng xăng, không một phút giây thức tỉnh.

 

“Trọn là buông tâm chạy đi, đều không nắm mũi kéo về.” Buông tâm chạy đi là phóng tâm chạy theo ngoại cảnh, vì phóng tâm chạy đi nên hóa hóa sanh sanh liên miên không dừng. Trái lại nếu biết nắm mũi kéo về thì không sanh không hóa. Chúng ta bắt đầu nắm mũi kéo về được chưa? Cố nắm nhưng nó còn giãy quá. Nếu kéo được thì trở về không sanh không hóa.

 

“Khiến đến qua lại sáu đường”, khi đã sanh hóa thì lăn lộn trong sáu đường, “xuống lên bốn núi” sanh, già, bệnh, chết. Sở dĩ có bốn núi, là vì chúng ta bỏ chân không, chạy theo vọng tưởng, từ vọng tưởng tạo thành sắc thân, rồi lăn lộn trầm luân trong biển khổ.

 

Ngài nói tổng quát kệ bốn núi:

 

Bốn núi cheo leo vạn khóm tùng,

Ngộ xong chẳng có, muôn vật không.

Mừng được ba chân lừa có sẵn,

Cỡi lên thúc mạnh vượt cao phong.

 

Bài kệ nghe như khó hiểu. “Bốn núi cheo leo vạn khóm tùng” là diễn tả sanh, già, bệnh, chết, cheo leo như ngọn núi cao. Tuy thế nếu “ngộ xong chẳng có, muôn vật không”. Nếu ngộ được lý chân không, mới thấy muôn vật là không thật, chỉ từ vọng sanh.

 

“Mừng được ba chân lừa có sẵn” tức là mừng được có sẵn con lừa ba chân.

 

“Cỡi lên thúc mạnh vượt cao phong”, cỡi lừa ba chân chạy thẳng lên ngọn núi cao tuyệt. Có vô lý không? Cỡi lừa bốn chân không biết có chạy nổi lên ngọn núi không, chớ lừa ba chân làm sao chạy được? Vì thế bài kệ này mỗi người hiểu mỗi cách.

 

Con lừa ba chân xuất xứ từ câu chuyện của ngài Dương Kỳ Phương Hội, đệ tử ngài Từ Minh. Sử Trung Hoa ghi rõ, có người tới hỏi ngài Dương Kỳ “thế nào là Phật?” Ngài đáp “Con lừa ba chân chạy tứ tung”. Ngài Trần Thái Tông mượn câu chuyện đó, nói có sẵn lừa ba chân cỡi chạy thẳng lên ngọn núi cao phong. Trong nhà Thiền, nói đến chỗ cứu kính, đó là chỗ vô lý hay phi lý. Tại sao? Vì tất cả lý lẽ chúng ta bàn luậnthế gian đều tương đối, có phải có quấy. Nếu ai nói phải thì cho là hợp lý, nói quấy là phi lý. Nhưng cứu kính tuyệt đối là cái phi lý, tức là cái không suy lường được. Thường người ta nói tu là làm lành, là giúp kẻ khổ, nhưng đối với chỗ cứu kính, tu lại là buông, là bỏ, buông những niệm tưởng lành dữ, bỏ những tâm thiện ác. Lành dữ thiện ác đều buông sạch thì có lý hay phi lý? Từ cái phi lý mới đi đến chỗ cứu kính được, còn nằm trong đối đãi thì chưa đến cứu kính. Con lừa ba chân là chỉ cái phi lý. Đạt được cái phi lý mới lên tận ngọn núi cao phong. Trái lại nếu chưa đạt thì chưa lên được. Đó là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền.

 

NÚI THỨ NHẤT

 

Ngài diễn tả núi thứ nhất, tức là tướng sanh. “Vì sai một niệm nên hiện đa đoan.” Sai một niệm tức là từ thể chân không dấy động, có niệm phát ra thì sanh muôn mối. Thế nên chúng ta tu đến chỗ không còn một niệm mới là hết mầm sanh tử. Nếu còn một niệm là hiện đa đoan, tức là hiện đủ tất cả việc.

 

Từ hiện đa đoan mới lôi thần thức “gá hình hài nơi tinh huyết mẹ cha, nương khí âm dương dưỡng nuôi thai nghén”, do hợp khí âm dương từ đó thai nghén thành hình.

 

“Trong tam tài người đứng giữa.” Trong tam tài thiên địa nhân, người (nhân) ở giữa rất là quan trọng.

 

“Lại hàng chí linh của muôn vật”, lại người là hàng chí linh của muôn vật.

 

“Chẳng luận kẻ trí người ngu đều thuộc bào thai bao bọc.” Dù người ngu hay kẻ trí cũng từ trong bào thai ra.

 

“Hỏi chi một người, trăm họ đều trong lò bễ mà ra.” Lò bễ là của thợ trời, trăm họ cùng ở trong đó ra, không ai ở ngoài được.

 

“Hoặc mặt trời biểu hiện vua thánh giáng sanh, hoặc các sao ứng điềm, tôi hiền xuất hiện.” Người xưa hay nói mẹ nằm mộng thấy nuốt mặt trời, đó là điềm sanh con làm vua, hoặc thấy có vì sao rơi vào bụng thì sau sanh con là hiền thần.

 

“Văn chương quét sạch ngàn quân, võ lược chiến thắng trăm trận.” Dầu cho người văn chương hay quét sạch cả ngàn quân, hoặc võ giỏi đánh thắng trăm trận, cũng không thoát được cuộc sống chết của thế gian.

 

“Trai cậy phong tư ném quả.” Người nam cậy nét đẹp của mình làm thiên hạ mê say. Đây là dẫn câu chuyện xưa ở Trung Hoa, sách Tấn thư nói: Ông Phan Nhạc lúc còn trẻ là người đẹp trai nhất ở thành Lạc Dương. Mỗi khi ra đường các cô gái cầm trái cây ném vào xe ông, đi một vòng về thì xe đầy trái. Như vậy sắc đẹp được tán thưởng nhiều, gọi là trai cậy phong tư ném quả.

 

“Gái khoe sắc đẹp nghiêng thành.” Nguyên ông Lý Diên Niên đời Hán làm một bài ca trong đó có câu: “nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc”, nghĩa là một lần ngoảnh lại làm nghiêng thành, hai lần ngoảnh lại làm nghiêng nước. Đây là tả sắc đẹp tuyệt trần của người nữ.

 

“Đua danh khoe đẹp, tranh lạ đấu trân.” Đấu trân là đem của báu mà so đấu nhau.

 

“Xem ra thảy đều luân hồi, đáo để khó trốn sanh hóa.” Dù đẹp dù tài thế mấy, rốt cuộc cũng luân hồi sanh hóa.

 

“Tướng sanh của người là mùa xuân của năm.” Tướng sanh tương tự như mùa xuân. Mùa xuân rất đẹp, tướng sanh cũng vậy.

 

“Hanh thông đang độ tam dương, muôn vật rực màu tươi tốt.” Tam dương là chỉ mùa xuân có ba tháng thuộc về dương, nên gọi là dương xuân hay tam dương. Mùa xuân muôn vật đều đẹp đẽ tươi tốt, đó là nói theo các nước có bốn mùa, theo miền Nam chúng ta thì không phải vậy. “Một trời trong sáng, nơi nơi liễu thắm hoa hồng, muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh kêu bướm lượn.” Đó là diễn tả cảnh mùa xuân.

 

Kệ rằng:

 

Trời đất nấu nung vạn tượng thành,

Xưa nay không mống cũng không manh.

Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,

Liền trái không sanh nhận có sanh.

Mũi vướng các hương, lưỡi tham vị,

Mắt mờ chúng sắc, tai đắm thanh.

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình.

 

Bài kệ này rất hay, vừa nói giáo lý vừa nhắc nhở chúng ta kiếp luân hồi.

 

Trời đất nấu nung vạn tượng thành,

Xưa nay không mống cũng không manh.

 

Muôn hình tượng trong thế gian do âm dương trời đất mà hiện, trước đó không có manh mối gì.

 

Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,

Liền trái không sanh nhận có sanh.

 

Con người từ vô niệm dấy lên thành hữu niệm, đó là sai lầm, vừa có niệm liền quên mất vô niệm. Vô niệm là không sanh, dấy thành hữu niệm nên nhận có sanh. Vì thế khi chúng ta nhắm mắt vừa có niệm giận liền đi trên đường đau khổ của sân, có niệm tham thì đi đường khổ của tham, nếu niệm tịnh được sanh về cõi tịnh. Trái lại vô niệm thì hết sanh, tức vô sanh, thật là rõ ràng.

 

Mũi vướng các hương lưỡi tham vị,

Mắt mờ chúng sắc tai đắm thanh.

 

Mũi, lưỡi, mắt, tai, bị các trần lôi kéo, nói đủ là sáu trần lôi kéo sáu căn làm chúng ta say mê suốt cả cuộc đời. Vì say mê nên:

 

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình.

 

Buồn làm sao! Cứ làm khách phong trần lang thang trong vòng luân hồi, càng đi càng xa quê hương, đi một đời là xa một dặm, đi trăm ngàn muôn kiếp thì xa trăm ngàn muôn dặm. Nếu chạy theo sáu trầnchấp nhận lang thang làm khách phong trần. Trái lại không dính mắc sáu trần là kẻ xuất trần thượng sĩ. Trong nhà Phật thường tán thán người xuất gia là bậc xuất trần thượng sĩ. Thử hỏi hiện nay chúng ta là kẻ xuất trần hay là khách phong trần? Tùy chúng ta lựa chọn, nhưng chọn rồi là phải thực hành. Hai câu kết này tôi thích nhất:

 

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình.

 

Đi ra là mỗi ngày một xa quê hương. Hình ảnh thật rõ ràng. Tỉ dụ quê hương chúng ta ở Đà Lạt, chỉ đi bộ thôi, mỗi ngày đi bộ xuống miền đông, dù đi dở cũng khoảng mấy mươi cây số. Đi năm này qua năm khác càng đi càng xa tít, quên cả đường về. Trái lại nếu đi chừng năm, ba cây số, giựt mình tỉnh lại, quay trở về thì rất gần. Nếu nhớ quê hương phải trở về sớm, đừng đi nữa!

 

NÚI THỨ HAI

 

Núi thứ hai là diễn tả tướng già.

 

Đọc bài này nghe thật buồn. “Hình dung thay đổi”, rất dễ thấy.

 

“Khí huyết đã suy, dáng gầy tuổi cao, ăn uống hay sặc thường nghẹn.” Đó là diễn tả cảnh già rất cụ thể, nhất là như tôi đây chứng minh điều này rất rõ.

 

“Tóc xanh má đỏ đổi thành tóc bạc da gà.” Ngày trước tóc xanh má đỏ nay đổi thành tóc bạc da gà.

 

“Ngựa trúc áo hoa lại thành gậy cưu xe cói.” Ngựa trúc áo hoa là theo sự tích xưa những đứa bé lấy cành tre làm ngựa chạy giỡn, gọi là ngựa trúc, chúng mặc áo bông gọi là áo hoa. Mặc áo hoa, cỡi ngựa trúc là những trò vui của trẻ con. Nay lại thành gậy cưu xe cói. Ngày xưa ai sống đến tám mươi tuổi được nhà vua tặng cho cây gậy có hình chim cưu vì chim cưu ăn không mắc nghẹn, để chúc người già ăn không nghẹn. Xe cói là dùng rơm hay cỏ lác buộc dưới bánh cho xe chạy êm để người già đi. Gậy cưu xe cói là chỉ tuổi già.

 

“Dẫu rằng mắt sáng như Ly Lâu cũng khó phân rành màu sắc.” Thuở xưa ông Ly Lâu mắt rất sáng, nhìn xa trăm bước vẫn thấy được cây kim hay một hạt nhỏ. Thuở trẻ mắt sáng như sao băng, nhưng khi già nhìn thấy lờ mờ.

 

“Dù cho tai thính như Sư Khoáng cũng khôn nhận rõ âm thanh.” Sư Khoáng ở xa nghe tiếng âm nhạc có thể phân biệt được tai họa hay điềm lành sẽ xảy đến cho người chơi nhạc. Tai thính như Sư Khoáng nhưng đến tuổi già cũng khó phân rành được âm thanh.

 

“Tiều tụy như cây liễu lúc thu về, điêu linh như đóa hoa khi xuân hết”, khi xuân hết, liễu rũ hoa tàn rơi từng cánh.

 

“Bóng chiều vừa ngả non tây, dòng nước sắp chảy về biển đông.” Mặt trời sắp gác núi, nước chảy ra biển đông không trở lại.

 

“Tướng già của người là mùa hạ của năm.” Tướng già dụ như mùa hạ trong năm. Mùa hạ thì:

 

“Trời nóng đá chảy muôn vật đều khô, nắng nóng sôi vàng trăm sông sắp cạn.” Chỉ sự nóng bức của mùa hạ.

 

“Hoa tàn liễu úa, bờ lạch trong vườn há còn lưu giữ. Bướm lượn oanh bay dưới lá đầu cành già sắp tới.” Những gì vui thích tới đây sắp tàn không còn nữa.

 

Kệ rằng:

 

Con người kiếp sống tợ phù âu,

Thọ yểu người trời chớ vọng cầu.

Bóng ngả nương dâu, chiều sắp đến,

Thân như bồ liễu tạm qua thu.

Phan lang thuở nọ còn xanh tóc,

Lữ Vọng ngày nay đã bạc đầu.

Cuồn cuộn việc đời thôi chẳng đoái,

Vầng ô gác núi, nước trôi xuôi.

 

Phù âu là bọt nước, kiếp sống của con người như bọt nước. Thọ là sống lâu, yểu là chết sớm, thọ yểu ở cõi người cõi trời cũng đừng mong cầu. Dầu sanh cõi trời được sống lâu nhưng rồi cũng chết chớ không tránh khỏi.

 

“Bóng ngả nương dâu chiều sắp đến”, bóng mặt trời đã nghiêng về những bờ dâu, chiều sắp đến.

 

“Thân như bồ liễu tạm qua thu.” Thân như cây bồ, cây liễu qua mùa thu thì xơ xác.

 

Phan lang thuở nọ còn xanh tóc,

Lữ Vọng ngày nay đã bạc đầu.

 

Phan lang là Phan Nhạc. Thuở nào tóc xanh đẹp như Phan Nhạc, nay nhìn lại đầu đã bạc như Lữ Vọng. Lữ Vọng tức là Khương Tử Nha, cũng gọi là Thái Công Vọng, hay Lã Thượng hay Lữ Thượng. Lúc chưa gặp Văn Vương ông ngồi câu ở bến Bàn Khê, đầu tóc bạc phơ, sau Văn Vương mời ông ra giúp nước. Con người thuở trẻ đầu xanh khỏe mạnh bao nhiêu, nay đầu bạc yếu đuối bấy nhiêu!

 

Hai câu cuối nghe rất buồn:

 

“Cuồn cuộn việc đời thôi chẳng đoái.” Đoái tức là nhìn lại, nghĩa là mọi việc trên đời cứ trôi qua không nhìn lại, cuối cùng không còn gì nữa.

 

“Vầng ô gác núi nước trôi xuôi.” Mặt trời lặn sau núi, không còn thấy nữa, nước ra biển đông, không biết bao giờ trở lại. Như vậy để thấy việc đời luôn trôi qua, thuở trẻ phô trương sắc tài, tuổi già đến dần dần, tất cả rồi sẽ mất.

 

NÚI THỨ BA

 

Núi thứ ba là tướng bệnh.

 

“Tuổi đã già khọm, bệnh đến cao hoang”, đoạn này diễn tả cảnh già rồi bệnh. Cao hoang là điểm trọng yếu trong lồng ngực. Bệnh đến cao hoang thì khó trị, gọi là bệnh nan y.

 

“Chân tay mỏi mệt, mạch lạc khó thông, trăm lóng rã rời, nóng lạnh chẳng thuận.” Khi bệnh thì trong thân phần nào cũng chống trái nhau không an ổn điều hòa.

 

“Tan mất tánh chân thường, sai lệch nguồn điều sướng.” Tâm tánh người bệnh rối loạn không còn bình thường nữa. Nguồn điều hòa trong cơ thể không còn thông suốt, mà sai lệch đi rồi.

 

“Ngồi đứng khó khăn, co duỗi đau đớn.” Ngồi đứng đều thấy khó, co duỗi nghe đau đớn vì mang thân bệnh.

 

“Mạng dường ngọn đèn trước gió, thân như hòn bọt trên sông.” Mạng sống lúc bệnh giống như ngọn đèn trước gió, cơn gió mạnh thổi đến đèn tắt ngay. Thân bệnh như hòn bọt nổi, chỉ cần một lượn sóng dập vào thì bể nát. Đoạn này diễn tả tướng bệnh của thân.

 

Đây nói về tâm bệnh:

 

“Tâm sanh bóng quỉ lô nhô, mắt thấy không hoa lốm đốm.” Khi bệnh trầm trọng thì tâm thấy những chuyện lăng xăng ma quái. Cho nên người già khi đau sắp chết, con cháu phải trông ngó chăm nom luôn luôn, nếu không thì nói nhảm, mắt thấy hoa đốm trong hư không.

 

“Hình hài gầy yếu, ai là Biển Thước thuốc thang; thân thể hao mòn, nào kẻ Lư Nhân cứu chữa.” Thân hình đã gầy yếu có thầy thuốc nào đại tài như Biển Thước để cứu trị hay không? Theo sử sách Trung Hoa, Biển Thước là thầy thuốc giỏi nhất thời Chiến Quốc, tên là Tần Việt Nhân. Ông học được phương bí truyền của Trường Tang Quân, đem ứng dụng và hốt thuốc giỏi nhất vào thời đó; vì vậy nói đến thầy thuốc giỏi ở Trung Hoa ai cũng biết chỉ có Biển Thước. Lư Nhân là tên khác của Biển Thước.

 

“Bạn bè luống nhọc viếng thăm, anh em uổng sức nâng đỡ.” Vì đau nặng nên bạn bè luống nhọc đến thăm, anh em ra sức bồng đỡ.

 

“Bệnh nặng nhiều tháng chẳng lành, nằm liệt nhiều tuần chưa khỏi.” Bệnh lâu ngày không lành, người bệnh nằm chờ chết, cảnh tượng rất là buồn!

 

“Tướng bệnh của người là mùa thu trong năm. Gặp khi sương lạnh mới rơi, đến lúc cỏ cây đều héo.” Tướng bệnh được ví như mùa thu trong năm. Thu đến sương lạnh rơi, cỏ cây bắt đầu héo vàng.

 

“Rừng rậm sum sê, một trận gió vàng đã lơ thơ; núi biếc non xanh, móc ngọc mới sa liền trơ trọi.” Mùa thu gió tây thổi, lá cây trong rừng đều rụng hết. Mới khi nào núi biếc non xanh, giờ đây sương móc vừa sa, lá cây rơi rụng, cành cây chơ vơ, hòn núi trở thành trơ trọi.

 

Kệ rằng:

 

Âm dương trái vận vốn xoay vần,

Gieo rắc tai ương đến thế nhân.

Đại để có thân thì có bệnh,

Ví bằng không bệnh cũng không thân.

Linh đơn chớ cậy trường sanh thuật,

Lương dược khó mong được sống bền.

Sớm nguyện xa lìa ma cảnh giới,

Xoay tâm về đạo, dưỡng thiên chân.

 

“Âm dương trái vận vốn xoay vần.” Khí âm dương không đúng thời tiết nên khiến có sự xoay vần bất thường.

 

“Gieo rắc tai ương đến thế nhân.” Vì âm dương không điều hòa nên con người phải bệnh hoạn.

 

“Đại để có thân thì có bệnh.” Tất cả người đời có thân đều có bệnh, chớ không riêng ai.

 

“Ví bằng không bệnh cũng không thân.” Chi bằng đừng có bệnh cũng đừng có thân, nghĩa là không có thân thì không có bệnh. Chỉ có thân không tướng tức là Pháp thân mới không bệnh. Còn nhục thân do tứ đại hòa hợp nhất định phải bệnh. Thế nên người tu muốn bỏ nhục thân để sống với Pháp thân không tướng.

 

“Linh đơn chớ cậy trường sanh thuật, lương dược khó mong được sống bền.” Dù có thuật trường sanh cũng không còn, dù có thuốc hay bao nhiêu cũng không sống mãi. Như các vị tiên ngày xưa luyện linh đơn và các thứ thuốc trường sanh, đâu có vị nào sống mãi đến ngày nay, sống dai lắm chỉ đến vài trăm tuổi là nhiều!

 

“Sớm nguyện xa lìa ma cảnh giới.” Nếu biết không thoát được cái chết, thì mỗi người chúng ta phải sớm nguyện xa lìa cảnh giới ma, tức là cảnh giới sáu trần đang lôi kéo chúng ta.

 

“Xoay tâm về đạo dưỡng thiên chân” là xoay tâm trở về với đạo để nuôi dưỡng thiên chân. Thiên chân là cái chân thật không còn sanh diệt, cái đó sẵn có muôn đời, không phải mới tạo nên. Nếu biết xoay tâm về đạo thì thiên chân hiện tiền.

 

NÚI THỨ TƯ

 

Núi thứ tư là tướng chết.

 

“Bệnh càng trầm trọng mạng sắp cáo chung. Tuổi thọ mong hưởng trăm năm, thân thế trở thành giấc mộng.” Bệnh trầm trọng đến giờ sắp ra đi. Khi còn mạnh, ai cũng mong sống đến trăm tuổi, nên thường chúc nhau “Sống lâu trăm tuổi”, nhưng làm sao được. Cơn chết sắp đến, ôn lại cuộc đời, giống như giấc mộng, tất cả những gì mình tạo dựng được, nay chỉ là một giấc mộng thôi.

 

“Thông minh trí tuệ khó trốn ngày đại hạn sắp sang. Sức mạnh oai hùng đâu chống được khi vô thường đã đến.” Dù thông minh trí tuệ đến đâu, tới ngày chết cũng không ai trốn khỏi. Dù anh hùng võ tướng, khi vô thường đến cũng phải bó tay không làm gì hơn.

 

“Thiếp thuận vợ trinh trở thành đau thương đứt ruột; anh nhường em kính vội nên ly biệt suốt đời.” Ở thế gian khi có thê thiếp trinh thuận, đến lúc ra đi lại càng đứt ruột, vì càng thương càng khổ. Nếu vợ chồng bất hòa khi đi lại ít khổ hơn. Còn anh em hòa thuận kính yêu, khi sắp đi lại càng đau đớn vì ly biệt suốt đời. Người chết đi rồi, người sống ở lại thì sao?

 

“Vật mình lăn đất, vỗ trán kêu trời. Tường hoa nhà rộng có làm chi, ngọc đụn vàng kho rồi cũng bỏ.” Người ở lại thì than khóc, đau khổ vô cùng, không sao tả xiết. Người ra đi thì tường hoa nhà rộng, ngọc đụn vàng kho đều bỏ lại, đâu có mang theo vật gì!

 

“Dạ đài mù tối, luống nghe gió bấc vi vu, tuyền hộ then gài, chỉ thấy mây sầu ảm đạm.” Một mình ra đi vào chốn dạ đài, là nơi mù tối, gọi là âm ti, chỉ nghe gió bấc lạnh lẽo thổi vi vu. Tuyền hộ then gài tức là cửa huỳnh tuyền then gài đóng chặt, không cho trở lên nữa, không ai bênh vực tiếp cứu. Lúc đó nhìn đâu cũng chỉ thấy mây sầu ảm đạm, buồn bã làm sao! Vậy mà thế nhân không lo, chỉ nghĩ chuyện sống, không bao giờ nghĩ đến cái chết...

 

“Tướng chết của con ngườimùa đông trong năm.” Tướng chết ví như mùa đông mây sầu ảm đạm.

 

“Càn khôn ứng Thái Tuế tròn vòng.” Càn khôn vũ trụ ứng với sao Thái Tuế, đây là chỉ sao Mộc, xoay quanh mặt trời mười hai năm mới hết một vòng gọi là Thái Tuế. Cũng như con người sống mấy mươi năm rồi tử là một vòng, tử rồi lại sanh giống như sao đi một vòng rồi trở lại vậy.

 

“Nhật nguyệt hướng Huyền Hiều hội tụ.” Huyền Hiều cũng gọi là sao Huyền Hào, ở phương Bắc, gồm một chòm sao như: sao Hư, sao Ngụy, sao Nữ, sao Tú. Sao Hư ở chính bắc, phương Bắc màu huyền nên gọi là Huyền Hiều, hiều còn gọi là hào có nghĩa là hư hao, tức là nói ngôi sao xấu. Thế nên nói: Mặt trời mặt trăng ứng hiện, ngôi sao xấu Huyền Hiều trở về chung hợp. Vì vậy:

 

“Âm tinh cực thịnh, khắp trời mưa tuyết bời bời, dương khí tan dần, nước tám đức đóng băng càng lạnh buốt.” Nước tám đức là bát công đức thủy, tám đức gồm có: Một là đức trong sạch, hai là đức sanh mát, ba là đức ngọt ngào, bốn là đức mềm nhẹ, năm là đức thấm nhuần, sáu là đức an hòa, bảy là đức trừ đói khát, tám là đức nuôi lớn các căn. Câu này nói phần âm cực thịnh nên khắp trời mưa tuyết, khí dương tan dần nên nước tám đức bị đóng băng lạnh buốt.

 

Kệ rằng:

 

Cào đất đùng đùng trận gió hanh,

Lão ngư say tít, chiếc thuyền chành.

Bốn bề mù mịt mây sầm bóng,

Một dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.

Theo lớp hạt mưa bay phấp phới,

Dồn nhau tiếng sét nổ đì đoành.

Giây lâu tan bụi, bên trời tạnh,

Trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?

 

Đây là bài dịch của Ngô Tất Tố rất hay, nhất là câu cuối: “Trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?” Trong bài kệ này chúng ta có thấy nói gì về chết đâu! Chỉ diễn tả hình ảnh tượng trưng một cách bóng bẩy thôi.

 

Cào đất đùng đùng trận gió hanh,

Lão ngư say tít chiếc thuyền chành.

 

Đây nói người sắp chết giống như ngư phủ đang ở ngoài sông thả câu thả lưới xong, nằm ngủ say trên chiếc thuyền con. Bỗng một trận bão to gió mạnh đùng đùng thổi tới, thuyền của ông lắc lư tròng trành. Khi đó lại còn:

 

Bốn bề mù mịt mây sầm bóng,

Một dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.

Theo lớp hạt mưa bay phấp phới,

Dồn nhau tiếng sét nổ đì đoành.

 

Vừa giông bão, vừa sấm sét, mưa ầm ì dồn dập tới, ông ngư phủ một mình trên chiếc thuyền con cảm nhận bao nhiêu nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đây mượn hình ảnh trận bão tố để diễn tả nỗi đau khổ của người sắp chết, bao nhiêu thứ hiểm nguy sợ sệt dồn dập tới, con cháu bên ngoài chỉ biết khóc thôi! Một mình mình chịu, không ai giúp được, không ai thế được cho mình! Giống như lão ngư phủ này một mình trên chiếc thuyền con tròng trành sắp lật úp, mà không ai cứu giúp, cuối cùng thì:

 

Giây lâu tan bụi bên trời tạnh,

Trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?

 

Khi trời tạnh nhìn lại chiếc thuyền ông câu đâu rồi? Nó chìm tận đáy sông, cũng như mặt trăng lặn xuống lòng sông. Hỏi chừng nào gặp lại ông câu? Đêm mấy canh? Tức là bao giờ mới gặp lại? Đây là câu hỏi làm cho mình đau đớn! Khi tắt thở để vào quan tài, khiêng ra đặt dưới mộ rồi, thì từ giã tất cả, không bao giờ gặp lại. Vì thế câu “trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?” làm cho chúng tôi rất đau xótthích thú.

 

Bài kệ này dịch rất hay, nhưng có đôi chữ tôi chưa bằng lòng, tôi dịch lại như sau:

 

Bão táp cuồng phong đất bụi bay,

Lão ngư say tít, chiếc thuyền lay.

Bốn bề mây phủ màu đen kịt,

Một dãy sóng gầm tiếng vang tai.

Sầm sập trận mưa ào ạt đổ,

Ì ầm xe sấm nổ vần xoay.

Tạm thời bụi lắng, chân trời sáng,

Trăng lặn lòng sông, canh mấy ai?

 

Canh mấy rồi, hỏi thử xem ai có thể trả lời giùm!

 

Để kết thúc chúng ta thấy lối diễn tả bốn núi của ngài Trần Thái Tông rất hay, vừa khéo, vừa văn chương, người đọc không chán mà lại thấm nhuần giáo lý. Ngài là một ông vua cai trị muôn dân mà có thì giờ làm những bài nhắc nhở người sau như thế này, thật là một điều hiếm có, rất xứng đáng chúng ta bái phục. Hiện nay trong nhóm Phật tử, người nào làm việc nuôi bảy tám đứa con được no ấm đầy đủ là giỏi lắm rồi, đâu có thì giờ làm việc văn chương giảng dạy như vậy.

 

Qua cái nhìn của ngài Trần Thái Tông về cuộc đời, chúng ta biết rằng không bao giờ ngai vàng và tất cả sự giàu sang sung sướng quyến rũ được Ngài. Nhìn lại chúng ta hiện giờđịa vị nghèo thiếu mà cái gì bỏ cũng không đành. Còn Ngài ở ngai vàng mà không nhiễm, thật là hai bên khác nhau biết bao nhiêu! Ngài là một con người như chúng ta mà gan dạ, nhìn thấu lẽ sanh tử của cuộc đời. Chúng ta cũng là con người mà sao mê muội quá đỗi, không thấy thấu đáo như vậy. Thế nên chúng ta cố gắng bắt chước Ngài để sửa để tu, đó là điều rất cần thiết cho đời mình.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 7193)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 2963)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 3559)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 2812)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 2378)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 1448)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 1425)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 1124)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 1297)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 1342)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 1239)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 1411)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 1289)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 1581)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 1864)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 1518)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 1901)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 1436)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 1457)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 1294)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 1424)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 1455)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 1367)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 1339)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 1194)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3086)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 4839)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6526)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 1890)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 1850)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 1754)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1713)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 7193)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1507)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1573)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 4465)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 3384)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng