07. Bốn Núi - Giảng Giải

02 Tháng Mười Một 201911:48 SA(Xem: 1336)
07. Bốn Núi - Giảng Giải

KhoaHuLuc1
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)

HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________



07. Bốn Núi - Giảng Giải

 

Bốn núi này là y cứ trong kinh, ngài Trần Thái Tông diễn tả cho chúng ta dễ hiểu. Trong Hán tạng, kinh Tạp A-hàm bài 1147 có nói về bốn núi. Tạng Pali kinh Tương Ưng Bộ bài 136 (Hòa thượng Minh Châu dịch) cũng nói về bốn núi. Một hôm vua Ba-tư-nặc đi chinh phạt loạn quân ngoài biên giới, đánh thắng kéo quân về đến gần tinh xá của Phật ông dừng quân lại, đích thân đến lễ Phật. Phật hỏi: Đại vương đi đâu về xem có vẻ nhọc nhằn? Vua bạch: Con đi chinh phạt bọn ngoại xâm, vừa chiến thắng trở về. Khi nói nhà Vua hiện ra kiêu khí của người thắng trận. Đức Phật hỏi: Này Đại vương, nếu có người ở phương Đông đến thưa thế này: Tôi thấy một ngọn núi từ phương Đông lăn lần lần về đây, lăn đến đâu nghiền nát cỏ cây người vật ở đó. Lại có một người phương Nam tới cũng tâu: Đại vương, có một ngọn núi ở phương Nam đang lăn về đây, tới đâu nó đều nghiền nát cây cỏ người vật. Lại phương Tây, phương Bắc, mỗi phương có một ngọn núi đang lăn về, lăn đến đâu cây cỏ người vật đều bị nghiền nát. Nếu có người báo bốn ngọn núi đang lăn về, tàn sát cây cỏ, người, vật thì Đại vương sẽ cử đội quân nào để đi chinh phục chúng? Nhà vua bạch: Dầu đội quân có tài trăm trận trăm thắng đi nữa cũng không thể nào chinh phục được bốn núi đó. Phật bảo: Bốn núi đó là sanh, già, bệnh, chết. Dầu cho ai tài giỏi đến đâu, dũng mãnh đến đâu cũng không thắng được, không chinh phục được sanh, già, bệnh, chết mà đều bị chúng nghiền nát. Nghe như thế kiêu khí của nhà Vua không còn nữa. Đó là ý nghĩa bốn núi.

 

Trong chúng ta ai cũng không khỏi bị bốn núi nghiền nát, chúng ta đang thấy nó lăn từ từ gần đến mình. Như hiện nay ba núi sanh, già, bệnh lăn tới tôi rồi, chỉ còn núi thứ tư, núi tử nữa là kết cuộc. Như vậy ai cũng bị bốn núi nghiền nát mà không hay và cũng không ai chống lại được chúng. Thế nên người tu là muốn thoát bốn núi đó, không để chúng nghiền nát. Còn người thế gian bị nó nghiền mãi, sanh ra rồi lại bị nghiền nát, cứ như thế mà muôn đời muôn kiếp không biết bao nhiêu lần khổ đau. Từ ý nghĩa đó ngài Trần Thái Tông làm bài bốn núi.

 

Nguyên là tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có. Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không. Vọng ấy từ không, không hiện vọng, vọng sanh các sắc. Đã trái không sanh không hóa, mải làm có hóa có sanh. Không sanh hóa thì không hóa không sanh, có hóa có sanh nên có sanh có hóa. Hoặc sanh Thánh Hiền ngu trí, hoặc hóa vảy cánh lông sừng. Luôn luôn chìm đắm nơi bến mê, mãi mãi trôi lăn trong biển khổ. Mờ mờ mịt mịt nào biết nào hay, rối rắm lăng xăng chẳng tỉnh chẳng ngộ. Trọn là buông tâm chạy đi, đều không nắm mũi kéo về. Khiến đến qua lại sáu đường, xuống lên bốn núi. Bốn núi là: sanh, già, bệnh, chết. Nay lần lượt trình bày bốn núi để lại đời sau.

 

Mở đầu Ngài diễn tả: “Nguyên là tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có.” Đọc kinh Bát-nhã chúng ta thấy rõ tứ đại không thật, năm ấm cũng không thật, nên nói tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có.

 

“Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không”, tức là do thể không dấy niệm khởi vọng, từ vọng biến thành sắc chất, nên nói sắc chất gốc tự chân không, chớ không phải riêng có. Điều này những nhà khoa học hiện đại dễ tin, vì khi phân tích tột cùng sắc chất, họ thấy là chân không chớ sắc chất không có cái thể riêng. Tóm lại Ngài nói do không khởi sắc, tức là từ không rồi dấy vọng thành sắc, sắc do vọng dấy từ chân không, nên không rời chân không.

 

“Vọng ấy từ không, không hiện vọng, vọng sanh các sắc.” Vọng đó là từ không, không hiện ra vọng, vọng sanh ra các sắc. Nay nói về tâm người tu, trong lúc chúng ta ngồi thiền, nếu không nghĩ gì, lúc đó là không hay là có? Không nghĩ gì thì thấy như không. Vừa dấy niệm là vọng, vọng cấu kết với hình sắc nên nhớ hình này hình kia, nội tâm chúng ta rõ ràng như vậy. Bên ngoài cũng thế, từ vọng hiện ra các hình sắc, nên:

 

“Đã trái không sanh, không hóa”, lý đáng chân không là không sanh không hóa, nhưng vì trái với nó nên “mải làm có hóa có sanh”, nghĩa là sanh hóa liên tục.

 

“Không sanh hóa thì không hóa không sanh, có hóa có sanh nên có sanh có hóa.” Nếu đứng về mặt không sanh không hóa thì đó là thể, không có hóa sanh gì cả. Lục Tổ thấy được thể đó Ngài mới nói “Bản lai vô nhất vật”, không sanh không hóa thì có vật gì? Nay vì theo có hóa có sanh, nên mọi việc đều thành có sanh có hóa.

 

“Hoặc sanh Thánh Hiền ngu trí, hoặc hóa vảy cánh lông sừng.” Sanh hóa là sanh ra người Thánh bậc Hiền, hoặc kẻ trí người ngu sai biệt; hoặc hóa làm chim chóc, tôm cá, trâu bò, các loại.

 

“Luôn luôn chìm đắm nơi bến mê, mãi mãi trôi lăn trong biển khổ”, vì sanh hóa nên cứ chìm đắm mãi nơi bến mê, lăn lộn trong biển khổ không ra khỏi.

 

“Mờ mờ mịt mịt nào biết nào hay, rối rắm lăng xăng chẳng tỉnh chẳng ngộ.” Như vậy chúng ta sống trong mờ mịt lăng xăng, không một phút giây thức tỉnh.

 

“Trọn là buông tâm chạy đi, đều không nắm mũi kéo về.” Buông tâm chạy đi là phóng tâm chạy theo ngoại cảnh, vì phóng tâm chạy đi nên hóa hóa sanh sanh liên miên không dừng. Trái lại nếu biết nắm mũi kéo về thì không sanh không hóa. Chúng ta bắt đầu nắm mũi kéo về được chưa? Cố nắm nhưng nó còn giãy quá. Nếu kéo được thì trở về không sanh không hóa.

 

“Khiến đến qua lại sáu đường”, khi đã sanh hóa thì lăn lộn trong sáu đường, “xuống lên bốn núi” sanh, già, bệnh, chết. Sở dĩ có bốn núi, là vì chúng ta bỏ chân không, chạy theo vọng tưởng, từ vọng tưởng tạo thành sắc thân, rồi lăn lộn trầm luân trong biển khổ.

 

Ngài nói tổng quát kệ bốn núi:

 

Bốn núi cheo leo vạn khóm tùng,

Ngộ xong chẳng có, muôn vật không.

Mừng được ba chân lừa có sẵn,

Cỡi lên thúc mạnh vượt cao phong.

 

Bài kệ nghe như khó hiểu. “Bốn núi cheo leo vạn khóm tùng” là diễn tả sanh, già, bệnh, chết, cheo leo như ngọn núi cao. Tuy thế nếu “ngộ xong chẳng có, muôn vật không”. Nếu ngộ được lý chân không, mới thấy muôn vật là không thật, chỉ từ vọng sanh.

 

“Mừng được ba chân lừa có sẵn” tức là mừng được có sẵn con lừa ba chân.

 

“Cỡi lên thúc mạnh vượt cao phong”, cỡi lừa ba chân chạy thẳng lên ngọn núi cao tuyệt. Có vô lý không? Cỡi lừa bốn chân không biết có chạy nổi lên ngọn núi không, chớ lừa ba chân làm sao chạy được? Vì thế bài kệ này mỗi người hiểu mỗi cách.

 

Con lừa ba chân xuất xứ từ câu chuyện của ngài Dương Kỳ Phương Hội, đệ tử ngài Từ Minh. Sử Trung Hoa ghi rõ, có người tới hỏi ngài Dương Kỳ “thế nào là Phật?” Ngài đáp “Con lừa ba chân chạy tứ tung”. Ngài Trần Thái Tông mượn câu chuyện đó, nói có sẵn lừa ba chân cỡi chạy thẳng lên ngọn núi cao phong. Trong nhà Thiền, nói đến chỗ cứu kính, đó là chỗ vô lý hay phi lý. Tại sao? Vì tất cả lý lẽ chúng ta bàn luậnthế gian đều tương đối, có phải có quấy. Nếu ai nói phải thì cho là hợp lý, nói quấy là phi lý. Nhưng cứu kính tuyệt đối là cái phi lý, tức là cái không suy lường được. Thường người ta nói tu là làm lành, là giúp kẻ khổ, nhưng đối với chỗ cứu kính, tu lại là buông, là bỏ, buông những niệm tưởng lành dữ, bỏ những tâm thiện ác. Lành dữ thiện ác đều buông sạch thì có lý hay phi lý? Từ cái phi lý mới đi đến chỗ cứu kính được, còn nằm trong đối đãi thì chưa đến cứu kính. Con lừa ba chân là chỉ cái phi lý. Đạt được cái phi lý mới lên tận ngọn núi cao phong. Trái lại nếu chưa đạt thì chưa lên được. Đó là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền.

 

NÚI THỨ NHẤT

 

Ngài diễn tả núi thứ nhất, tức là tướng sanh. “Vì sai một niệm nên hiện đa đoan.” Sai một niệm tức là từ thể chân không dấy động, có niệm phát ra thì sanh muôn mối. Thế nên chúng ta tu đến chỗ không còn một niệm mới là hết mầm sanh tử. Nếu còn một niệm là hiện đa đoan, tức là hiện đủ tất cả việc.

 

Từ hiện đa đoan mới lôi thần thức “gá hình hài nơi tinh huyết mẹ cha, nương khí âm dương dưỡng nuôi thai nghén”, do hợp khí âm dương từ đó thai nghén thành hình.

 

“Trong tam tài người đứng giữa.” Trong tam tài thiên địa nhân, người (nhân) ở giữa rất là quan trọng.

 

“Lại hàng chí linh của muôn vật”, lại người là hàng chí linh của muôn vật.

 

“Chẳng luận kẻ trí người ngu đều thuộc bào thai bao bọc.” Dù người ngu hay kẻ trí cũng từ trong bào thai ra.

 

“Hỏi chi một người, trăm họ đều trong lò bễ mà ra.” Lò bễ là của thợ trời, trăm họ cùng ở trong đó ra, không ai ở ngoài được.

 

“Hoặc mặt trời biểu hiện vua thánh giáng sanh, hoặc các sao ứng điềm, tôi hiền xuất hiện.” Người xưa hay nói mẹ nằm mộng thấy nuốt mặt trời, đó là điềm sanh con làm vua, hoặc thấy có vì sao rơi vào bụng thì sau sanh con là hiền thần.

 

“Văn chương quét sạch ngàn quân, võ lược chiến thắng trăm trận.” Dầu cho người văn chương hay quét sạch cả ngàn quân, hoặc võ giỏi đánh thắng trăm trận, cũng không thoát được cuộc sống chết của thế gian.

 

“Trai cậy phong tư ném quả.” Người nam cậy nét đẹp của mình làm thiên hạ mê say. Đây là dẫn câu chuyện xưa ở Trung Hoa, sách Tấn thư nói: Ông Phan Nhạc lúc còn trẻ là người đẹp trai nhất ở thành Lạc Dương. Mỗi khi ra đường các cô gái cầm trái cây ném vào xe ông, đi một vòng về thì xe đầy trái. Như vậy sắc đẹp được tán thưởng nhiều, gọi là trai cậy phong tư ném quả.

 

“Gái khoe sắc đẹp nghiêng thành.” Nguyên ông Lý Diên Niên đời Hán làm một bài ca trong đó có câu: “nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc”, nghĩa là một lần ngoảnh lại làm nghiêng thành, hai lần ngoảnh lại làm nghiêng nước. Đây là tả sắc đẹp tuyệt trần của người nữ.

 

“Đua danh khoe đẹp, tranh lạ đấu trân.” Đấu trân là đem của báu mà so đấu nhau.

 

“Xem ra thảy đều luân hồi, đáo để khó trốn sanh hóa.” Dù đẹp dù tài thế mấy, rốt cuộc cũng luân hồi sanh hóa.

 

“Tướng sanh của người là mùa xuân của năm.” Tướng sanh tương tự như mùa xuân. Mùa xuân rất đẹp, tướng sanh cũng vậy.

 

“Hanh thông đang độ tam dương, muôn vật rực màu tươi tốt.” Tam dương là chỉ mùa xuân có ba tháng thuộc về dương, nên gọi là dương xuân hay tam dương. Mùa xuân muôn vật đều đẹp đẽ tươi tốt, đó là nói theo các nước có bốn mùa, theo miền Nam chúng ta thì không phải vậy. “Một trời trong sáng, nơi nơi liễu thắm hoa hồng, muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh kêu bướm lượn.” Đó là diễn tả cảnh mùa xuân.

 

Kệ rằng:

 

Trời đất nấu nung vạn tượng thành,

Xưa nay không mống cũng không manh.

Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,

Liền trái không sanh nhận có sanh.

Mũi vướng các hương, lưỡi tham vị,

Mắt mờ chúng sắc, tai đắm thanh.

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình.

 

Bài kệ này rất hay, vừa nói giáo lý vừa nhắc nhở chúng ta kiếp luân hồi.

 

Trời đất nấu nung vạn tượng thành,

Xưa nay không mống cũng không manh.

 

Muôn hình tượng trong thế gian do âm dương trời đất mà hiện, trước đó không có manh mối gì.

 

Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,

Liền trái không sanh nhận có sanh.

 

Con người từ vô niệm dấy lên thành hữu niệm, đó là sai lầm, vừa có niệm liền quên mất vô niệm. Vô niệm là không sanh, dấy thành hữu niệm nên nhận có sanh. Vì thế khi chúng ta nhắm mắt vừa có niệm giận liền đi trên đường đau khổ của sân, có niệm tham thì đi đường khổ của tham, nếu niệm tịnh được sanh về cõi tịnh. Trái lại vô niệm thì hết sanh, tức vô sanh, thật là rõ ràng.

 

Mũi vướng các hương lưỡi tham vị,

Mắt mờ chúng sắc tai đắm thanh.

 

Mũi, lưỡi, mắt, tai, bị các trần lôi kéo, nói đủ là sáu trần lôi kéo sáu căn làm chúng ta say mê suốt cả cuộc đời. Vì say mê nên:

 

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình.

 

Buồn làm sao! Cứ làm khách phong trần lang thang trong vòng luân hồi, càng đi càng xa quê hương, đi một đời là xa một dặm, đi trăm ngàn muôn kiếp thì xa trăm ngàn muôn dặm. Nếu chạy theo sáu trầnchấp nhận lang thang làm khách phong trần. Trái lại không dính mắc sáu trần là kẻ xuất trần thượng sĩ. Trong nhà Phật thường tán thán người xuất gia là bậc xuất trần thượng sĩ. Thử hỏi hiện nay chúng ta là kẻ xuất trần hay là khách phong trần? Tùy chúng ta lựa chọn, nhưng chọn rồi là phải thực hành. Hai câu kết này tôi thích nhất:

 

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình.

 

Đi ra là mỗi ngày một xa quê hương. Hình ảnh thật rõ ràng. Tỉ dụ quê hương chúng ta ở Đà Lạt, chỉ đi bộ thôi, mỗi ngày đi bộ xuống miền đông, dù đi dở cũng khoảng mấy mươi cây số. Đi năm này qua năm khác càng đi càng xa tít, quên cả đường về. Trái lại nếu đi chừng năm, ba cây số, giựt mình tỉnh lại, quay trở về thì rất gần. Nếu nhớ quê hương phải trở về sớm, đừng đi nữa!

 

NÚI THỨ HAI

 

Núi thứ hai là diễn tả tướng già.

 

Đọc bài này nghe thật buồn. “Hình dung thay đổi”, rất dễ thấy.

 

“Khí huyết đã suy, dáng gầy tuổi cao, ăn uống hay sặc thường nghẹn.” Đó là diễn tả cảnh già rất cụ thể, nhất là như tôi đây chứng minh điều này rất rõ.

 

“Tóc xanh má đỏ đổi thành tóc bạc da gà.” Ngày trước tóc xanh má đỏ nay đổi thành tóc bạc da gà.

 

“Ngựa trúc áo hoa lại thành gậy cưu xe cói.” Ngựa trúc áo hoa là theo sự tích xưa những đứa bé lấy cành tre làm ngựa chạy giỡn, gọi là ngựa trúc, chúng mặc áo bông gọi là áo hoa. Mặc áo hoa, cỡi ngựa trúc là những trò vui của trẻ con. Nay lại thành gậy cưu xe cói. Ngày xưa ai sống đến tám mươi tuổi được nhà vua tặng cho cây gậy có hình chim cưu vì chim cưu ăn không mắc nghẹn, để chúc người già ăn không nghẹn. Xe cói là dùng rơm hay cỏ lác buộc dưới bánh cho xe chạy êm để người già đi. Gậy cưu xe cói là chỉ tuổi già.

 

“Dẫu rằng mắt sáng như Ly Lâu cũng khó phân rành màu sắc.” Thuở xưa ông Ly Lâu mắt rất sáng, nhìn xa trăm bước vẫn thấy được cây kim hay một hạt nhỏ. Thuở trẻ mắt sáng như sao băng, nhưng khi già nhìn thấy lờ mờ.

 

“Dù cho tai thính như Sư Khoáng cũng khôn nhận rõ âm thanh.” Sư Khoáng ở xa nghe tiếng âm nhạc có thể phân biệt được tai họa hay điềm lành sẽ xảy đến cho người chơi nhạc. Tai thính như Sư Khoáng nhưng đến tuổi già cũng khó phân rành được âm thanh.

 

“Tiều tụy như cây liễu lúc thu về, điêu linh như đóa hoa khi xuân hết”, khi xuân hết, liễu rũ hoa tàn rơi từng cánh.

 

“Bóng chiều vừa ngả non tây, dòng nước sắp chảy về biển đông.” Mặt trời sắp gác núi, nước chảy ra biển đông không trở lại.

 

“Tướng già của người là mùa hạ của năm.” Tướng già dụ như mùa hạ trong năm. Mùa hạ thì:

 

“Trời nóng đá chảy muôn vật đều khô, nắng nóng sôi vàng trăm sông sắp cạn.” Chỉ sự nóng bức của mùa hạ.

 

“Hoa tàn liễu úa, bờ lạch trong vườn há còn lưu giữ. Bướm lượn oanh bay dưới lá đầu cành già sắp tới.” Những gì vui thích tới đây sắp tàn không còn nữa.

 

Kệ rằng:

 

Con người kiếp sống tợ phù âu,

Thọ yểu người trời chớ vọng cầu.

Bóng ngả nương dâu, chiều sắp đến,

Thân như bồ liễu tạm qua thu.

Phan lang thuở nọ còn xanh tóc,

Lữ Vọng ngày nay đã bạc đầu.

Cuồn cuộn việc đời thôi chẳng đoái,

Vầng ô gác núi, nước trôi xuôi.

 

Phù âu là bọt nước, kiếp sống của con người như bọt nước. Thọ là sống lâu, yểu là chết sớm, thọ yểu ở cõi người cõi trời cũng đừng mong cầu. Dầu sanh cõi trời được sống lâu nhưng rồi cũng chết chớ không tránh khỏi.

 

“Bóng ngả nương dâu chiều sắp đến”, bóng mặt trời đã nghiêng về những bờ dâu, chiều sắp đến.

 

“Thân như bồ liễu tạm qua thu.” Thân như cây bồ, cây liễu qua mùa thu thì xơ xác.

 

Phan lang thuở nọ còn xanh tóc,

Lữ Vọng ngày nay đã bạc đầu.

 

Phan lang là Phan Nhạc. Thuở nào tóc xanh đẹp như Phan Nhạc, nay nhìn lại đầu đã bạc như Lữ Vọng. Lữ Vọng tức là Khương Tử Nha, cũng gọi là Thái Công Vọng, hay Lã Thượng hay Lữ Thượng. Lúc chưa gặp Văn Vương ông ngồi câu ở bến Bàn Khê, đầu tóc bạc phơ, sau Văn Vương mời ông ra giúp nước. Con người thuở trẻ đầu xanh khỏe mạnh bao nhiêu, nay đầu bạc yếu đuối bấy nhiêu!

 

Hai câu cuối nghe rất buồn:

 

“Cuồn cuộn việc đời thôi chẳng đoái.” Đoái tức là nhìn lại, nghĩa là mọi việc trên đời cứ trôi qua không nhìn lại, cuối cùng không còn gì nữa.

 

“Vầng ô gác núi nước trôi xuôi.” Mặt trời lặn sau núi, không còn thấy nữa, nước ra biển đông, không biết bao giờ trở lại. Như vậy để thấy việc đời luôn trôi qua, thuở trẻ phô trương sắc tài, tuổi già đến dần dần, tất cả rồi sẽ mất.

 

NÚI THỨ BA

 

Núi thứ ba là tướng bệnh.

 

“Tuổi đã già khọm, bệnh đến cao hoang”, đoạn này diễn tả cảnh già rồi bệnh. Cao hoang là điểm trọng yếu trong lồng ngực. Bệnh đến cao hoang thì khó trị, gọi là bệnh nan y.

 

“Chân tay mỏi mệt, mạch lạc khó thông, trăm lóng rã rời, nóng lạnh chẳng thuận.” Khi bệnh thì trong thân phần nào cũng chống trái nhau không an ổn điều hòa.

 

“Tan mất tánh chân thường, sai lệch nguồn điều sướng.” Tâm tánh người bệnh rối loạn không còn bình thường nữa. Nguồn điều hòa trong cơ thể không còn thông suốt, mà sai lệch đi rồi.

 

“Ngồi đứng khó khăn, co duỗi đau đớn.” Ngồi đứng đều thấy khó, co duỗi nghe đau đớn vì mang thân bệnh.

 

“Mạng dường ngọn đèn trước gió, thân như hòn bọt trên sông.” Mạng sống lúc bệnh giống như ngọn đèn trước gió, cơn gió mạnh thổi đến đèn tắt ngay. Thân bệnh như hòn bọt nổi, chỉ cần một lượn sóng dập vào thì bể nát. Đoạn này diễn tả tướng bệnh của thân.

 

Đây nói về tâm bệnh:

 

“Tâm sanh bóng quỉ lô nhô, mắt thấy không hoa lốm đốm.” Khi bệnh trầm trọng thì tâm thấy những chuyện lăng xăng ma quái. Cho nên người già khi đau sắp chết, con cháu phải trông ngó chăm nom luôn luôn, nếu không thì nói nhảm, mắt thấy hoa đốm trong hư không.

 

“Hình hài gầy yếu, ai là Biển Thước thuốc thang; thân thể hao mòn, nào kẻ Lư Nhân cứu chữa.” Thân hình đã gầy yếu có thầy thuốc nào đại tài như Biển Thước để cứu trị hay không? Theo sử sách Trung Hoa, Biển Thước là thầy thuốc giỏi nhất thời Chiến Quốc, tên là Tần Việt Nhân. Ông học được phương bí truyền của Trường Tang Quân, đem ứng dụng và hốt thuốc giỏi nhất vào thời đó; vì vậy nói đến thầy thuốc giỏi ở Trung Hoa ai cũng biết chỉ có Biển Thước. Lư Nhân là tên khác của Biển Thước.

 

“Bạn bè luống nhọc viếng thăm, anh em uổng sức nâng đỡ.” Vì đau nặng nên bạn bè luống nhọc đến thăm, anh em ra sức bồng đỡ.

 

“Bệnh nặng nhiều tháng chẳng lành, nằm liệt nhiều tuần chưa khỏi.” Bệnh lâu ngày không lành, người bệnh nằm chờ chết, cảnh tượng rất là buồn!

 

“Tướng bệnh của người là mùa thu trong năm. Gặp khi sương lạnh mới rơi, đến lúc cỏ cây đều héo.” Tướng bệnh được ví như mùa thu trong năm. Thu đến sương lạnh rơi, cỏ cây bắt đầu héo vàng.

 

“Rừng rậm sum sê, một trận gió vàng đã lơ thơ; núi biếc non xanh, móc ngọc mới sa liền trơ trọi.” Mùa thu gió tây thổi, lá cây trong rừng đều rụng hết. Mới khi nào núi biếc non xanh, giờ đây sương móc vừa sa, lá cây rơi rụng, cành cây chơ vơ, hòn núi trở thành trơ trọi.

 

Kệ rằng:

 

Âm dương trái vận vốn xoay vần,

Gieo rắc tai ương đến thế nhân.

Đại để có thân thì có bệnh,

Ví bằng không bệnh cũng không thân.

Linh đơn chớ cậy trường sanh thuật,

Lương dược khó mong được sống bền.

Sớm nguyện xa lìa ma cảnh giới,

Xoay tâm về đạo, dưỡng thiên chân.

 

“Âm dương trái vận vốn xoay vần.” Khí âm dương không đúng thời tiết nên khiến có sự xoay vần bất thường.

 

“Gieo rắc tai ương đến thế nhân.” Vì âm dương không điều hòa nên con người phải bệnh hoạn.

 

“Đại để có thân thì có bệnh.” Tất cả người đời có thân đều có bệnh, chớ không riêng ai.

 

“Ví bằng không bệnh cũng không thân.” Chi bằng đừng có bệnh cũng đừng có thân, nghĩa là không có thân thì không có bệnh. Chỉ có thân không tướng tức là Pháp thân mới không bệnh. Còn nhục thân do tứ đại hòa hợp nhất định phải bệnh. Thế nên người tu muốn bỏ nhục thân để sống với Pháp thân không tướng.

 

“Linh đơn chớ cậy trường sanh thuật, lương dược khó mong được sống bền.” Dù có thuật trường sanh cũng không còn, dù có thuốc hay bao nhiêu cũng không sống mãi. Như các vị tiên ngày xưa luyện linh đơn và các thứ thuốc trường sanh, đâu có vị nào sống mãi đến ngày nay, sống dai lắm chỉ đến vài trăm tuổi là nhiều!

 

“Sớm nguyện xa lìa ma cảnh giới.” Nếu biết không thoát được cái chết, thì mỗi người chúng ta phải sớm nguyện xa lìa cảnh giới ma, tức là cảnh giới sáu trần đang lôi kéo chúng ta.

 

“Xoay tâm về đạo dưỡng thiên chân” là xoay tâm trở về với đạo để nuôi dưỡng thiên chân. Thiên chân là cái chân thật không còn sanh diệt, cái đó sẵn có muôn đời, không phải mới tạo nên. Nếu biết xoay tâm về đạo thì thiên chân hiện tiền.

 

NÚI THỨ TƯ

 

Núi thứ tư là tướng chết.

 

“Bệnh càng trầm trọng mạng sắp cáo chung. Tuổi thọ mong hưởng trăm năm, thân thế trở thành giấc mộng.” Bệnh trầm trọng đến giờ sắp ra đi. Khi còn mạnh, ai cũng mong sống đến trăm tuổi, nên thường chúc nhau “Sống lâu trăm tuổi”, nhưng làm sao được. Cơn chết sắp đến, ôn lại cuộc đời, giống như giấc mộng, tất cả những gì mình tạo dựng được, nay chỉ là một giấc mộng thôi.

 

“Thông minh trí tuệ khó trốn ngày đại hạn sắp sang. Sức mạnh oai hùng đâu chống được khi vô thường đã đến.” Dù thông minh trí tuệ đến đâu, tới ngày chết cũng không ai trốn khỏi. Dù anh hùng võ tướng, khi vô thường đến cũng phải bó tay không làm gì hơn.

 

“Thiếp thuận vợ trinh trở thành đau thương đứt ruột; anh nhường em kính vội nên ly biệt suốt đời.” Ở thế gian khi có thê thiếp trinh thuận, đến lúc ra đi lại càng đứt ruột, vì càng thương càng khổ. Nếu vợ chồng bất hòa khi đi lại ít khổ hơn. Còn anh em hòa thuận kính yêu, khi sắp đi lại càng đau đớn vì ly biệt suốt đời. Người chết đi rồi, người sống ở lại thì sao?

 

“Vật mình lăn đất, vỗ trán kêu trời. Tường hoa nhà rộng có làm chi, ngọc đụn vàng kho rồi cũng bỏ.” Người ở lại thì than khóc, đau khổ vô cùng, không sao tả xiết. Người ra đi thì tường hoa nhà rộng, ngọc đụn vàng kho đều bỏ lại, đâu có mang theo vật gì!

 

“Dạ đài mù tối, luống nghe gió bấc vi vu, tuyền hộ then gài, chỉ thấy mây sầu ảm đạm.” Một mình ra đi vào chốn dạ đài, là nơi mù tối, gọi là âm ti, chỉ nghe gió bấc lạnh lẽo thổi vi vu. Tuyền hộ then gài tức là cửa huỳnh tuyền then gài đóng chặt, không cho trở lên nữa, không ai bênh vực tiếp cứu. Lúc đó nhìn đâu cũng chỉ thấy mây sầu ảm đạm, buồn bã làm sao! Vậy mà thế nhân không lo, chỉ nghĩ chuyện sống, không bao giờ nghĩ đến cái chết...

 

“Tướng chết của con ngườimùa đông trong năm.” Tướng chết ví như mùa đông mây sầu ảm đạm.

 

“Càn khôn ứng Thái Tuế tròn vòng.” Càn khôn vũ trụ ứng với sao Thái Tuế, đây là chỉ sao Mộc, xoay quanh mặt trời mười hai năm mới hết một vòng gọi là Thái Tuế. Cũng như con người sống mấy mươi năm rồi tử là một vòng, tử rồi lại sanh giống như sao đi một vòng rồi trở lại vậy.

 

“Nhật nguyệt hướng Huyền Hiều hội tụ.” Huyền Hiều cũng gọi là sao Huyền Hào, ở phương Bắc, gồm một chòm sao như: sao Hư, sao Ngụy, sao Nữ, sao Tú. Sao Hư ở chính bắc, phương Bắc màu huyền nên gọi là Huyền Hiều, hiều còn gọi là hào có nghĩa là hư hao, tức là nói ngôi sao xấu. Thế nên nói: Mặt trời mặt trăng ứng hiện, ngôi sao xấu Huyền Hiều trở về chung hợp. Vì vậy:

 

“Âm tinh cực thịnh, khắp trời mưa tuyết bời bời, dương khí tan dần, nước tám đức đóng băng càng lạnh buốt.” Nước tám đức là bát công đức thủy, tám đức gồm có: Một là đức trong sạch, hai là đức sanh mát, ba là đức ngọt ngào, bốn là đức mềm nhẹ, năm là đức thấm nhuần, sáu là đức an hòa, bảy là đức trừ đói khát, tám là đức nuôi lớn các căn. Câu này nói phần âm cực thịnh nên khắp trời mưa tuyết, khí dương tan dần nên nước tám đức bị đóng băng lạnh buốt.

 

Kệ rằng:

 

Cào đất đùng đùng trận gió hanh,

Lão ngư say tít, chiếc thuyền chành.

Bốn bề mù mịt mây sầm bóng,

Một dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.

Theo lớp hạt mưa bay phấp phới,

Dồn nhau tiếng sét nổ đì đoành.

Giây lâu tan bụi, bên trời tạnh,

Trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?

 

Đây là bài dịch của Ngô Tất Tố rất hay, nhất là câu cuối: “Trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?” Trong bài kệ này chúng ta có thấy nói gì về chết đâu! Chỉ diễn tả hình ảnh tượng trưng một cách bóng bẩy thôi.

 

Cào đất đùng đùng trận gió hanh,

Lão ngư say tít chiếc thuyền chành.

 

Đây nói người sắp chết giống như ngư phủ đang ở ngoài sông thả câu thả lưới xong, nằm ngủ say trên chiếc thuyền con. Bỗng một trận bão to gió mạnh đùng đùng thổi tới, thuyền của ông lắc lư tròng trành. Khi đó lại còn:

 

Bốn bề mù mịt mây sầm bóng,

Một dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.

Theo lớp hạt mưa bay phấp phới,

Dồn nhau tiếng sét nổ đì đoành.

 

Vừa giông bão, vừa sấm sét, mưa ầm ì dồn dập tới, ông ngư phủ một mình trên chiếc thuyền con cảm nhận bao nhiêu nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đây mượn hình ảnh trận bão tố để diễn tả nỗi đau khổ của người sắp chết, bao nhiêu thứ hiểm nguy sợ sệt dồn dập tới, con cháu bên ngoài chỉ biết khóc thôi! Một mình mình chịu, không ai giúp được, không ai thế được cho mình! Giống như lão ngư phủ này một mình trên chiếc thuyền con tròng trành sắp lật úp, mà không ai cứu giúp, cuối cùng thì:

 

Giây lâu tan bụi bên trời tạnh,

Trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?

 

Khi trời tạnh nhìn lại chiếc thuyền ông câu đâu rồi? Nó chìm tận đáy sông, cũng như mặt trăng lặn xuống lòng sông. Hỏi chừng nào gặp lại ông câu? Đêm mấy canh? Tức là bao giờ mới gặp lại? Đây là câu hỏi làm cho mình đau đớn! Khi tắt thở để vào quan tài, khiêng ra đặt dưới mộ rồi, thì từ giã tất cả, không bao giờ gặp lại. Vì thế câu “trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?” làm cho chúng tôi rất đau xótthích thú.

 

Bài kệ này dịch rất hay, nhưng có đôi chữ tôi chưa bằng lòng, tôi dịch lại như sau:

 

Bão táp cuồng phong đất bụi bay,

Lão ngư say tít, chiếc thuyền lay.

Bốn bề mây phủ màu đen kịt,

Một dãy sóng gầm tiếng vang tai.

Sầm sập trận mưa ào ạt đổ,

Ì ầm xe sấm nổ vần xoay.

Tạm thời bụi lắng, chân trời sáng,

Trăng lặn lòng sông, canh mấy ai?

 

Canh mấy rồi, hỏi thử xem ai có thể trả lời giùm!

 

Để kết thúc chúng ta thấy lối diễn tả bốn núi của ngài Trần Thái Tông rất hay, vừa khéo, vừa văn chương, người đọc không chán mà lại thấm nhuần giáo lý. Ngài là một ông vua cai trị muôn dân mà có thì giờ làm những bài nhắc nhở người sau như thế này, thật là một điều hiếm có, rất xứng đáng chúng ta bái phục. Hiện nay trong nhóm Phật tử, người nào làm việc nuôi bảy tám đứa con được no ấm đầy đủ là giỏi lắm rồi, đâu có thì giờ làm việc văn chương giảng dạy như vậy.

 

Qua cái nhìn của ngài Trần Thái Tông về cuộc đời, chúng ta biết rằng không bao giờ ngai vàng và tất cả sự giàu sang sung sướng quyến rũ được Ngài. Nhìn lại chúng ta hiện giờđịa vị nghèo thiếu mà cái gì bỏ cũng không đành. Còn Ngài ở ngai vàng mà không nhiễm, thật là hai bên khác nhau biết bao nhiêu! Ngài là một con người như chúng ta mà gan dạ, nhìn thấu lẽ sanh tử của cuộc đời. Chúng ta cũng là con người mà sao mê muội quá đỗi, không thấy thấu đáo như vậy. Thế nên chúng ta cố gắng bắt chước Ngài để sửa để tu, đó là điều rất cần thiết cho đời mình.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1313)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1334)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1214)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 951)
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 78)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 160)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
19 Tháng Mười 20209:45 CH(Xem: 158)
Cúng vong linh và cúng cô hồn là tập tục, tín niệm dân gian có từ lâu đời, phổ biến trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Cúng vong linh thường thực hiện vào những ngày kỵ giỗ, con cháu soạn mâm cỗ dâng cúng ông bà cha mẹ và những người thân đã mất. Cúng cô hồntrai chủ phát tâm sắm sửa cơm nước lễ vật
18 Tháng Mười 202012:11 CH(Xem: 213)
Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung.
17 Tháng Mười 20206:19 CH(Xem: 212)
Với người hành thiền mong muốn có được tri kiến đúng đắn về năm uẩn qua việc thực hành Pháp Duyên Sanh, cuốn sách này chắc chắn sẽ là một tác phẩm đáng chú ý nhất. Nó cũng là một sự bổ sung rất ý nghĩa cho việc hiểu Pháp Duyên Sanh. U Than Daing, tác giả của cuốn sách, đã hoàn thành một sự giải thích rất rõ ràng và thấu đáo
16 Tháng Mười 20207:35 CH(Xem: 198)
Đúng, khi người tu thấy ra sự sinh diệt, vị ngọt và sự nguy hại của các pháp hữu vi sẽ không còn ham muốn chấp trước bất kỳ điều gì ở đời. Như Bồ-tát Siddhattha xuất gia không bao lâu đã chứng đắc vị ngọt của tất cả thiền định hữu vi hữu ngã nhưng khi đã thấy ra định này chỉ tạo sự dính mắc trong sắc ái, vô sắc ái ngài liền từ bỏ.
15 Tháng Mười 20204:39 CH(Xem: 207)
Thầy đã nhận được thư con và đọc nhiều lần lá thư ấy. Thầy rất thương con! Con cũng giống như thầy ngày xưa khi mới bỡ ngỡ bước chân đi tìm đạo, thật cô đơn và bơ vơ, không biết phải đi về đâu nữa. Khổ nhất là cái cảnh nửa đời nửa đạo như thế. Đời thì vừa chán vừa sợ, mà sợ nhất là những đam mê của nó cùng với phiền não
14 Tháng Mười 20203:07 CH(Xem: 253)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2493)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
14 Tháng Mười 20209:01 SA(Xem: 1951)
Nhiều Phật tử suy nghĩ về giáo pháp quá nhiều mà thực hành rất ít. Thiếu những trải nghiệm như thế nào là giữ giới, và thiếu dữ liệu từ những tầng thiền định sâu (Thiền Na- Jhana), vô tình họ đã bóp méo giáo pháp bằng những mơ tưởng viển vông của chính họ. Bài kinh Udana (Ud1.10), ghi lại lời Phật dạy cho Bāhiya, là một bài kinh ngắn
13 Tháng Mười 20209:53 CH(Xem: 254)
Khi tôi chết, tôi không muốn có những nghi lễ phô trương. Tôi đã viết di chúc dặn dò nếu tôi chết trong vòng năm mươi dặm của Trung tâm Thiền quán Bhavana (West Virginia, Hoa Kỳ), những người trong đạo tràng nên thu xếp hỏa táng thân xác tôi và sau đó, tùy ý xử lý tro cốt. Tôi không quan tâm. Nếu tôi chết ở nơi khác, họ có thể thu xếp
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2735)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
12 Tháng Mười 202010:53 CH(Xem: 267)
Bài học quý ở đây là: thực sự thực hành + nghe pháp để đối chiếu. Chúng ta chưa bao giờ hiểu đúng cả. Chúng ta chưa bao giờ thực hành đúng cả. Chúng ta chỉ đang tiệm cận dần đến cái đúng. Vì vậy đừng chủ quan. Đừng coi nhẹ những hướng dẫn cơ bản. Thỉnh thoảng cần nghe lại và tìm ra lối thoát cho vấn đề của mình trong đó.
11 Tháng Mười 202011:07 CH(Xem: 285)
Thiền là sự nghỉ ngơi trong tỉnh thức, nghỉ ngơi thật sự cả thân lẫn tâm, con không làm điều gì khác ngoài quan sát, vì vậy không nên ép mình hay đặt một mục tiêu nào cần đạt đến hết. Như con nói, nhiều khi chỉ đơn giản đang ngồi và enjoy với việc ngồi, đó là lúc con không ép mình và khi đó mới là lúc hành thiền đúng nhất đấy con ạ.
08 Tháng Mười 20204:08 CH(Xem: 378)
The Buddha-Dhamma is a moral and philosophical system which expounds a unique path of Enlightenment, and is not a subject to be studied from a mere academic standpoint. The Doctrine is certainly to be studied, more to be practised, and above all to be realized by oneself. Mere learning is of no avail without actual practice.
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4148)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
07 Tháng Mười 20204:23 CH(Xem: 272)
Cái “tự nhiên” mọi người hiểu đều là thuận theo ý muốn của phiền não, vì lúc đó nó mạnh nhất. Thuận theo cái động lực đang mạnh nhất trong mình lúc này là “tự nhiên”, nếu thuận theo cái tự nhiên đó thì cả đời thuận theo phiền não. Đó không phải là “thuận pháp”, không phải là tự nhiên đích thực. “Cần phải tự nhiên, không được ép mình”
06 Tháng Mười 20208:47 CH(Xem: 296)
Thưa Thầy, có một điều con cứ băn khoăn mãi không biết có nên chia sẻ với Thầy không? Vì đó là việc cá nhân con, con hiểu rồi dần dần con cũng sẽ chánh niệm và sống trong hiện tại được thôi, nhưng dạo gần đây nó cứ bám đuổi con mãi, ban ngày hay trong giấc mơ. Nó là một phần ký ức tuổi thơ của con, ko làm sao mà con quên
04 Tháng Mười 202011:09 CH(Xem: 346)
Bài tập 1 - Các bước sửa soạn • Giới thiệu: 2 pháp thiền, thiền an chỉ (samatha bhavana) & thiền minh quán (vipassana bhavana) • Mục đích: an tịnh tâm và phát triển tuệ quán • Sửa soạn nơi chốn, thời gian, đều đặn hằng ngày • Tư thế ngồi • Lắng tâm, ghi nhận các giòng tư tưởngghi nhận sự vắng lặng giữa các giòng tư tưởng
03 Tháng Mười 202011:27 CH(Xem: 318)
Không thể phủ nhận là ngồi xem truyền hình thì dễ hơn nhiều. Vậy tại sao ta phải quan tâm đến thiền? Tại sao phải lãng phí thời giannăng lượng, khi ta có thể đi ra ngoài tận hưởng mọi thú vui. Tại sao? Rất đơn giản. Vì chúng tacon người. Và cũng chính vì sự thật đơn giản: bạn là con người; bạn cảm thấy mình phải đón nhận
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1931)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3608)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5131)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2735)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4148)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
02 Tháng Chín 20209:24 CH(Xem: 917)
Đây là cuốn sách sọan dịch từ những bài pháp ngắn mà Hòa thượng Sīlānanda đã giảng trong những khóa thiền ngắn ngày, và dài ngày ở nhiều nơi trên thế giới rất hữu ích cho những người mới hành thiền cũng như đã hành thiền lâu ngày. Người mới hành thiền biết hành thiền đúng theo những lời dạy của Đức Phật. Người hành thiền
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 78)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 160)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2493)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1624)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1546)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 1739)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.