20. Khóa Lễ Sáu Thời Sám Hối - Giảng 2

02 Tháng Mười Một 201911:48 SA(Xem: 1476)
20. Khóa Lễ Sáu Thời Sám Hối - Giảng 2

KhoaHuLuc1
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)

HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________



20. Khóa Lễ Sáu Thời Sám Hối - Giảng 2

 

DÂNG HƯƠNG BUỔI SÁNG

 

Cúi mong, phương Tây mặt trăng vừa lặn, hướng Đông vầng nhật hiện dần. Chiếu phạn họp dòng thanh tịnh, cõi không lễ bậc Thánh Hiền. Mong thấu lòng thành, kính dâng hương báu.

 

Hương này trồng từ rừng giới, tưới bằng nước định, chặt từ vườn tuệ, vót bằng đao giải thoát. Chẳng do sức người rìu búa, hình thế xuất tự thiên nhiên. Đốt lên từ lò báu tri kiến, kết đài mây sáng rỡ. Khi bay khắp chốn ngạt ngào, tan ra đầy trời thơm phức. Vừa lúc rạng đông, thắp hương cúng dường.

 

“Cúi mong, phương Tây mặt trăng vừa lặn, hướng Đông vầng nhật hiện dần” tức là mặt trăng vừa lặn, hướng Đông mặt trời từ từ lên.

 

“Chiếu phạn họp dòng thanh tịnh.” Phạn, chữ Hán là phạn nhưng thường đọc là phạm. Phạm là thanh tịnh. Chư Thiên do tu hạnh thanh tịnh được gọi là Phạm thiên, nên phạm là chỉ hạnh thanh tịnh. Chiếu phạn họp dòng thanh tịnh tức là trên chùa, trước bàn Phật trải chiếu, những người tu trong sạch họp lại, quì trên chiếu bắt đầu lễ Phật dâng hương.

 

“Cõi không lễ bậc Thánh Hiền, mong thấu lòng thành, kính dâng hương báu”: Trong cõi hư không, kính lễ tất cả bậc Thánh Hiềnmười phương, mong thấu suốt được lòng chân thành của mình kính dâng hương quí báu này. Hương báu này là hương gì?

 

“Hương này trồng từ rừng giới, tưới bằng nước định, chặt từ vườn tuệ, vót bằng đao giải thoát”: Hương cúng dường Phậtgiới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương. Vậy hương này không phải là hương thế tục mà là hương do giới, định, tuệ, giải thoát tạo thành.

 

“Chẳng do sức người rìu búa, hình thế xuất tự thiên nhiên, đốt lên từ lò báu tri kiến”: Hương này không phải do rìu búa chặt đem về xay ra rồi kết lại thành hương, hương này là hương sẵn có tự thiên nhiên, thắp lên từ lò báu tri kiến của chính mình.

 

“Kết đài mây sáng rỡ, khi bay khắp chốn ngạt ngào, tan ra đầy trời thơm phức”: Kết những đài mây sáng rỡ bủa khắp các nơi, hương bay đến đâu, mùi thơm đều ngạt ngào, lúc tan ra khắp cả trời đều thơm phức.

 

“Vừa lúc rạng đông thắp hương cúng dường.” Chư Tăng Ni hay Phật tử đốt hương cúng Phật không phải chỉ nặng về hương thế gian, như hương trầm hay các mùi hương khác mà đây là hương giới, định, tuệ, giải thoát, đó là hương quí nhất, không gì sánh được. Hương thế gian thuận theo gió, còn hương giới, định, tuệ, giải thoát, nơi nào cũng đến được nên dâng hương quí báu này cúng Phật.

 

KỆ DÂNG HƯƠNG

 

Trầm thủy, rừng thiền hương sực nức,

Chiên-đàn, vườn tuệ đã vun trồng,

Đao giới vót thành hình non thẳm,

Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.

 

“Trầm thủy, rừng thiền hương sực nức” là hương trầm thủy trồng trong rừng thiền, mùi thơm sực nức. Rừng thiền chỉ cho định.

 

“Chiên-đàn, vườn tuệ đã vun trồng” là mùi thơm cây chiên-đàn trồng trong vườn trí tuệ. Vườn tuệ là chỉ cho tuệ.

 

“Đao giới vót thành hình non thẳm”: dùng giới làm đao vót hương này giống như hình núi cao.

 

“Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng”: hương này là hương định, hương tuệ, hương giới từ tâm phát ra nên cúng dâng Phật mãi mãi không cùng.

 

Trong Khoa Nghi Sám Hối chúng ta dùng bài dâng hương này.

 

KỆ DÂNG HOA

 

Đất tâm mở ra, hoa nở rộn,

Trời có mưa hoa vẫn kém thơm.

Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,

Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

 

“Đất tâm mở ra, hoa nở rộn” tức là đất tâm vừa mở thì thấy hoa nở rộn rã bên ngoài, hoa rộn rã nở từ đất tâm của mình so với trời mưa hoa thì hoa trời thơm không bằng nên nói: “trời có mưa hoa vẫn kém thơm”. Hoa cúng Phật từ nơi tâm quí hơn là hoa trời rải xuống, vì hoa trời vẫn còn là hoa phàm tục nên thơm không bằng hoa từ đất tâm của chúng ta.

 

“Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật”: từng cành hoa, từng đóa hoa dâng cúng Phật.

 

“Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi”: hoa của đất tâm dầu gió nghiệp muôn đời thổi cũng không lay động, không rơi rụng, còn hoa thế gian chỉ vài hôm là rụng hết, đó là điểm đặc biệt.

 

PHÁT NGUYỆN

 

Nguyện mây hương hoa này,

Khắp cả mười phương cõi,

Cúng dường tất cả Phật,

Tôn Pháp, chư Bồ-tát,

Vô lượng chúng Thanh văn

Và tất cả Thánh Hiền.

Vừa rời đài Quang minh,

Qua cõi nước vô biên,

Trong vô biên cõi Phật,

Nhận dùng làm Phật sự.

Xông khắp các chúng sanh,

Đều phát tâm Bồ-đề.

 

Bài phát nguyện này nguyện mây hương hoa của mình dâng cúng sẽ bay khắp cả mười phương cõi, cúng dường tất cả Phật, tất cả Pháp, tất cả Bồ-tát, tất cả chúng Thanh văn và những vị Thánh Hiền. Các ngài vừa rời đài Quang minh qua vô biên cõi nước trong vô biên cõi Phật, nhận dùng hương hoa này để làm Phật sự. Hương hoa này xông khắp các chúng sanh đều phát tâm Bồ-đề. Như vậy hương hoa này nguyện cúng dường tất cả chư Phật, chư Bồ-tát, cả pháp của Phật cho đến hàng Thanh văn Hiền Thánh, nói gọn là cúng dường tất cả Tam Bảo. Lại cũng cúng dường các vị Bồ-tát, từ đài Quang minh của các ngài, hóa thân làm Phật sự khắp vô biên cõi, các ngài nhận hương hoa này để làm Phật sự lợi ích cho chúng sanh. Lại nguyện hương hoa này xông khắp tất cả, chúng sanh nào nghe mùi hương hoa này đều phát tâm Bồ-đề.

 

Tóm lại chúng ta thấy bài nguyện chia làm ba phần:

 

Phần thứ nhất là nguyện cúng dường Tam Bảo.

 

Phần thứ hai là nguyện cúng dường tất cả những vị đi làm Phật sự.

 

Phần thứ ba là nguyện hương hoa này xông ướp cho mọi người đều phát tâm Bồ-đề.

 

TÂU BẠCH

 

Kính bạch mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư, soi đuốc tuệ nơi đường tối, thả thuyền từ trong biển khổ.

 

Trộm nghe canh gà vừa qua, bóng thỏ mới lặn. Khói mù nơi sông núi chớm tan, xe ngựa xa gần đều chuyển động, tiếng mai hoa trên lầu vừa tàn, chén trúc diệp trước song mới tỉnh. Mày liễu thập thò bày nắng sớm, mặt hoa e thẹn đọng sương mai. Gặp khi bừng sáng thương kẻ ngu mê. Trong đêm giấc mộng đã lờ mờ, sáng đến tâm hồn còn rộn rịp. Mắt tai đuổi theo thanh sắc, mũi lưỡi dính mắc vị hương. Nhà lửa hằng cam thiêu đốt, sông ái mải chịu đắm chìm. Mặc dù sáng nay ông thức giấc cũng như người đang ngủ đêm qua. Chẳng lo sanh già bệnh chết đuổi gấp, chỉ chăm vợ con tiền của buộc ràng.

 

Ngài tâu bạch: “Kính bạch mười phương Đại Giác...” Đại Giác là chỉ đức Phật. Hùng Sư là thầy hùng, cũng là Phật. Trước điện thờ Phật thường khắc chữ Đại Hùng bảo điện, tức là điện thờ bậc Đại Hùng. Đức Phật đã thắng bao nhiêu trận giặc mà gọi Ngài là Đại Hùng? Hùng là anh hùng là người thắng giặc ngoài biên cương, còn Phật ngồi im lìm dưới cội bồ-đề sao lại gọi là anh hùng? Đó là một ý nghĩa chúng ta phải hiểu cho tường tận. Trong kinh Pháp Cú đức Phật dạy: “Thắng một vạn quân không bằng thắng chính mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt.” Ngoài mặt trận người thắng một vạn quân đáng gọi là anh hùng chưa? - Là anh hùng. Song đức Phật bảo: Không bằng thắng mình, thắng được mình mới là chiến công oanh liệt nhất. Như vậy thắng người ngoài chưa phải thật anh hùng. Người yếu, chúng ta mạnh thì chúng ta thắng họ, nhưng thắng được chính mình mới thật là anh hùng. Tại sao? Từ xưa biết bao vị anh hùng phải chịu thua nữ sắc hay sự nóng giận của chính họ v.v... Ví dụ như Lữ Bố, một võ tướng ở Trung Hoa, được xem là anh hùng nhưng phải chịu thua sắc đẹp của Điêu Thuyền... nghĩa là không tự thắng được trước sự cám dỗ của nữ sắc. Chỉ có đức Phật, trước bao nhiêu cám dỗ nào tài sắc, nào danh lợi v.v..., Ngài đều thắng hết, đó mới thật là anh hùng.

 

Thế nên đối với người tu, anh hùng là phải thắng mình. Tự thắng mình thiên hạ có thấy không? Hẳn là khó thấy nên không được người đời kể công, không được ghi trong lịch sử, chỉ tự mình biết thôi. Thắng mình, nghe dường như dễ nhưng thật không phải dễ. Vì những ma quân ẩn núp khó thấy, gặp cơ hội liền hiện ra nên chiến thắng rất khó. Bao nhiêu người tu hành đã nghĩ rằng: Từ đây về sau giữ gìn đừng nóng giận, đừng tham lam v.v... nhưng bất chợt có ai nói khích một câu, niệm giận ở đâu đùng đùng kéo đến kềm chế không kịp, thế là thua. Làm kẻ bại trận thì dễ, làm kẻ thắng trận thật gian nan! Lại như bình thường chúng ta tự nhủ phải giữ không để lòng tham dấy động, nhưng khi gặp sự quyến rũ của tài sắc danh lợi, bất chợt lòng tham dấy khởi, thế nên thắng được nó không phải là việc giản đơn.

 

Đối với người tu được đến nơi đến chốn rồi, trong kinh có câu: “xuất gia giả phi tướng tướng chi sở năng vi”, nghĩa là người xuất gia không phải là tướng võ tướng văn có thể làm được. Tại sao? Tướng võ đánh thắng trận về thì được phong chức lại được người tán thưởng v.v... còn thắng ma quân không ai tán thưởng, thắng trong im lìm nên khó khuyến khích chúng ta mạnh mẽ được. Viên tướng cố gắng thành công, khi về được thưởng, được lên chức, như vậy sự cố gắng đó do động cơ tham danh lợi thúc đẩy nên dễ làm. Lại nhiều người thắng người khác là do họ tức giận, họ hận thù nên họ hành động mạnh mẽ. Đó là tham, sân thúc đẩy họ. Người xuất gia thành công là do động cơ thức tỉnh giác ngộ không phải do tham sân. Người tu chỉ do trí tuệ mà thắng giặc ma quân nên việc làm hết sức khó. Tuy quan văn quan võ làm được nhiều điều hay giúp nước an dân, nhưng đối với người học đạo thì chưa bằng. Vì người học đạo phải dùng hết khả năng, trí tuệ để chiến thắng mình, chiến thắng trong âm thầm, chỉ khi thành Phật mới được mọi người hoan hô, chớ còn là phàm Tăng phàm Ni thì chưa được. Vì hôm nay thắng chưa chắc ngày mai lại thắng, thắng trận nào mừng trận ấy chớ chưa phải là toàn thắng, nên không ai hoan hô mà cũng không dám khoe, vì e rằng hôm sau lại thua người ta sẽ cười cho. Như thế Tăng Ni là chiến sĩ trong âm thầm, không ai biết, nhưng nếu làm được điều đó mới gọi là bậc Hùng Sư. Tóm lại lời tâu bạch này mong đức Phật đem đuốc trí tuệ của Ngài soi cho các chúng sanh đang trong đường tối tăm được biết lối ra và cũng cầu xin Ngài thả chiếc thuyền từ bi vào biển khổ cứu độ muôn loài.

 

“Trộm nghe: Canh gà vừa qua, bóng thỏ mới lặn.” Canh gà tức là canh tư. Canh tư vừa qua, mặt trăng mới lặn.

 

“Khói mù nơi sông núi chớm tan, xe ngựa xa gần đều chuyển động”: Khuya khoảng ba giờ sương mù lần lần tan, thức giấc thì nghe xe ngựa ở các nơi bắt đầu chuyển động.

 

“Tiếng mai hoa trên lầu vừa tàn, chén trúc diệp trước song mới tỉnh”: Đây là dùng điển tích. Mai hoa nói đủ là mai hoa thanh lấy từ chữ “Mai hoa dẫn” là tên một ca khúc cổ điển do ống sáo biểu diễn trong khi vui mừng chúc tụng. Ca khúc này nói đủ là “Giang thành mai hoa dẫn”.

 

Trúc diệp là tên một thứ rượu khi nấu có thêm gia vị của lá trúc nên gọi là “trúc diệp tửu”. Nói cho dễ hiểu là tiếng sáo, tiếng nhạc trên lầu vừa tàn, chén rượu trước song mới tỉnh, tức là tiệc tùng vui ca nhạc vừa dứt.

 

“Mày liễu thập thò bày nắng sớm” là chỉ những cây liễu ở trước chùa thập thò bày nắng sớm.

 

“Mặt hoa e thẹn đọng sương mai.” Ngài diễn tả rất nên thơ, các đóa hoa trước sân còn đọng lại những hạt sương buổi sớm.

 

“Gặp khi bừng sáng thương kẻ ngu mê”: Khi mình thức tỉnh mới thương những người còn đang ngu mê.

 

“Trong đêm giấc mộng đã lờ mờ, sáng đến tâm hồn còn rộn rịp”: Trong đêm khuya ngủ mê nằm mộng, những cảnh mộng lờ mờ không rõ, sáng dậy thì tâm hồn còn nhớ, còn hiện ra những cảnh mộng đêm hôm nên tâm hồn còn rộn rịp. Đêm đã mê mà sáng cũng còn đeo đẳng cái mê đó!

 

“Mắt tai đuổi theo thanh sắc, mũi lưỡi dính mắc vị hương.” Khi sáng ra, mắt chúng ta đuổi theo sắc, tai đuổi theo thanh, mũi lưỡi dính mắc hương vị... Như sáng mắt nhìn trước chùa thấy hoa nở thì khen hoa đẹp, thấy hoa tàn thì chê hoa rụng; lại nghe người chung quanh nói chuyện thì đuổi theo thanh; đến chuẩn bị làm bếp thì đuổi theo hương vị. Thế là sáng ra các căn luôn dính mắc các trần.

 

“Nhà lửa hằng cam thiêu đốt”: Chúng ta bị thiêu đốt trong nhà lửa mà cam chịu chớ không chạy ra. Kinh Pháp Hoa nói: “tam giới vô an du như hỏa trạch” là ba cõi không an như trong nhà lửa, nhưng chúng ta không chịu chạy ra, bằng lòng vui chơi trong nhà lửa, khi nào bị đốt cháy sẽ hay.

 

“Sông ái mải chịu đắm chìm”: Thương con rồi đến thương cháu, thương chắt... hết một đời chìm trong sông ái, không ra khỏi.

 

“Mặc dù sáng nay ông thức giấc, cũng như người đang ngủ đêm qua”: Hiện giờ đã sáng rồi, thức dậy đi đây đi kia, làm các việc nhưng vẫn trong mê, không thức tỉnh thì chẳng khác người ngủ mê trong đêm hôm qua.

 

“Chẳng lo sanh già bệnh chết đuổi gấp, chỉ chăm vợ con tiền của buộc ràng.” Sanh già bệnh chết đuổi gấp tới mà cứ lo làm sao có tiền của nhiều, vợ con no ấm không nghĩ gì đến việc tu hành.

 

Các Phật tử, gốc thân chẳng bền, cành mạng khó yên. Mọi người trên đầu đội trời, khó khỏi mắt sáng rơi đất. Một sớm chợt sẩy tay, muôn kiếp thân khó được. Cần phải mau mau gieo giống lành, chớ có khư khư cầu quả ác. Người người sớm tỉnh, mỗi mỗi siêng tu. Chuyên tâm lễ Vô thượng Từ Dung, chạm mắt thấy Đại quang minh tạng.

 

“Các Phật tử, gốc thân chẳng bền, cành mạng khó yên”: Thân là gốc không bền, mạng sống như cành lá, không yên ổn, bền lâu.

 

“Mọi người trên đầu đội trời, khó khỏi mắt sáng rơi đất.” Ai đi đứng đầu cũng đội trời. Mắt sáng rơi đất chữ Hán gọi là nhãn quang lạc địa, chỉ cho cái chết. Toàn câu có nghĩa là đầu đội trời rồi cũng phải chôn dưới đất, không ai tránh khỏi.

 

“Một sớm chợt sẩy tay, muôn kiếp thân người khó được.” Thí dụ một người sáng trèo lên cây cao, lỡ trợt tay rớt xuống thì xong một đời, một phen sẩy tay là đã mất thân mạng rồi, không biết khi nào được thân người nữa.

 

“Cần phải mau mau gieo giống lành, chớ có khư khư cầu quả ác”: Chúng ta cần phải gấp tạo nhân lành, đừng ôm ấp giữ chặt quả ác.

 

“Người người sớm tỉnh, mỗi mỗi siêng tu.” Khuyên mỗi người phải sớm tỉnh để siêng tu hành.

 

“Chuyên tâm lễ Vô thượng Từ Dung”: Từ Dunghình dáng hiền lành của đức Từ Phụ. Từ bi của Phật không ai bì nổi, không ai hơn được nên gọi là Vô thượng. Vô thượng Từ Dung là chỉ đức Phật.

 

“Chạm mắt thấy Đại quang minh tạng”: Lễ Phật rồi trước Phật mình thấy được kho Đại quang minh tức là tâm thể sáng suốt sẵn có của chính mình. Ngoài thì chúng ta lễ Phật, nơi mình thì thấy được nguồn gốc sáng suốt muôn đời của mình.

 

“Đệ tử chúng con kính tưởng thời này lấy làm khóa lễ buổi sáng.” Tâu bạch rồi bắt đầu sám hối.

 

Ngài Trần Thái Tông chia sáu căn, mỗi căn sám hối một thời. Thời sáng là sám hối về mắt.

 

SÁM HỐI TỘI CĂN MẮT

 

Chí tâm sám hối,

Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,

Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.

Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,

Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

 

“Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay.” Danh từ vô thủy trong nhà Phật thường dùng, nghe rất khó hiểu. Vô là không, thủy là trước. Kiếp không trước là kiếp nào? Vì trong nhà Phật không chấp nhận có ban đầu, nhân duyên trùng trùng điệp điệp kết hợp nhau không có mối đầu, nên nói là vô thủy. Như vậy tất cả chúng ta từ vô thủy kiếp tức là không biết bao lâu rồi đến ngày nay.

 

Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo,

Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm.

 

Bỏ quên tâm chân thật của mình nên không biết đạo chân chánh. Ai ai cũng có bản tâm chân thật nhưng quên đi không biết nên mới chạy theo đường ác tạo nghiệp luân hồi. Tất cả chúng ta hiện nay đang sống theo bản tâm hay là sống theo vọng tâm? Chúng ta chỉ sống theo vọng tâm suy tưởng mà quên mất bản tâm. Vọng tâm suy tưởng theo nghiệp hơn thua, được mất, phải quấy v.v... do đó không đi được con đường chánh mà rơi vào ba đường khổ địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Sở dĩ rơi ba đường khổ là do sáu căn lầm lẫn.

 

“Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau”: Nếu không sám hối lỗi trước thì khó tránh khỏi hối hận về sau nên phải thành tâm sám hối.

 

Nghiệp căn mắt là:

Nhân ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh.

 

Nhân ác chúng ta xem kỹ mà nghiệp thiện lại coi khinh. Thí dụ một người lân cận chúng ta có điều xấu, chúng ta nhớ rất kỹ từng chi tiết, có khi còn tô đậm nét thêm, còn điều tốt của họ chúng ta lảng qua không để ý, đó là bệnh của con người đối với điều lành điều tốt thì xem thường, dễ quên, còn đối với điều dữ điều xấu lại chăm chú, nhớ dai. Bệnh đó gốc từ mắt.

 

Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.

 

Hoa giả là tất cả những gì có hình có sắc trên thế gian, đó đều là những tướng vô thường tạm bợ, có rồi mất, không lâu bền, nhưng chúng ta mê đắm trong giả tướng nên lầm nhận hoa giả, chạy theo giả tướng nên quên ngắm trăng thật. Trăng thật là chỉ cho thể chân thật sẵn có nơi con người cũng như ở ngoại cảnh. Nếu thấy rõ muôn pháp đều là duyên hợp, không có pháp nào thật thì chúng ta không đắm mê theo cảnh tức là không nhận lầm hoa giả mà dễ thấy được cái thật của chính mình hay cái thật của ngoại cảnh.

 

Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh giành,

Chợt mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến.

 

Thấy đẹp thì yêu, thấy xấu thì ghét nên tranh cái đẹp, ghét cái xấu, cứ như thế mà yêu ghét nổi dậy cả ngày. Trong một thoáng một chớp, mắt đã sanh ra những mê lầm, nên cái thấy không còn đúng nữa. Khi đã kẹt trong đẹp xấu, hẳn không còn thấy được cái chân thật.

 

Trắng qua xanh lại, tía phải vàng sai.

 

Người nói màu tía đẹp, màu vàng xấu, người nói màu vàng đẹp, màu tía xấu rồi sanh ra cãi nhau. Cứ đem màu này sánh với màu kia, thích màu nào thì khen màu đó đẹp, nếu ai chê thì không bằng lòng.

 

Nhìn lệch các thứ nào khác kẻ mù.

 

Nhìn không đúng lẽ thật nên giống như người mù. Quí vị thấy ngoài đường hay trong chợ nhiều người cãi nhau thật đáng tức cười. Như vào hàng vải, người nói màu vàng đẹp, người nói màu trắng đẹp, người nói màu xanh đẹp v.v... mỗi người thấy mỗi màu đẹp khác nhau nên không ai bằng lòng ai. Vậy màu nào đẹp thật? Chẳng qua là mê chấp thôi. Vì nhìn lệch theo thói quen, không thấy đúng lẽ thật, không thấy đúng chân lý nên chẳng khác kẻ mù.

 

Gặp người sắc đẹp liếc trộm nhìn ngang,

Lòa mắt chưa sanh Bản lai diện mục.

 

Thấy ai đẹp liền nhìn lén, ngó trộm nên mắt lòa đi, quên mất Bản lai diện mục của mình.

 

Thấy ai giàu có, giương mắt mải nhìn,

Gặp kẻ bần cùng lờ đi chẳng đoái.

 

Thấy ai ăn mặc sang trọng thì ngó chăm chỉ, còn ai ăn mặc rách rưới lôi thôi liền ngó lơ, không để ý.

 

Người dưng chết chóc, nước mắt ráo khô,

Thân quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.

 

Quí vị thấy người dưng chết cũng là mất một mạng người, thân thuộc chết cũng là mất một mạng người. Tại sao người dưng chết lại tỉnh, lại dửng dưng, không một chút tỏ ra buồn bã thảm sầu? Trái lại khi thân nhân chết thì đau khổ, khóc rũ rượi? Cả hai đều là người mà một bên xem trọng, một bên xem thường, như thế để thấy chúng ta bị buộc ràng trong chỗ dòng họ thân quyến, mà không có tình thương nhân loại.

 

Hoặc đến Tam Bảo, hoặc vào chùa chiền,

Gần tượng thấy kinh, mắt không thèm ngó.

 

Nhiều người vào chùa thấy tượng thấy kinh không để ý đến.

 

Phòng Tăng điện Phật, gặp gỡ gái trai,

Mắt liếc mày đưa, đam mê sắc dục.

 

Nghĩa là Phật, tượng, kinh đều không để ý, chỉ để ý đến người thôi.

 

Không ngại Hộ pháp, chẳng sợ Long thần,

Trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.

 

Đối với Long thần Hộ pháp, không sợ các ngài quở, cứ mê vui thôi.

 

Những tội như thế vô lượng vô biên,

Đều từ mắt sanh phải sa địa ngục.

 

Tội do mắt nhiều vô lượng vô biên, kể không hết, do mắt mê lầm nên sau khi chết phải rơi vào địa ngục.

 

Trải hằng sa kiếp mới được làm người,

Dù được làm người lại bị mù chột.

 

Trong kinh Phật dạy: Ai tạo nghiệp ác phải đọa địa ngục, nhân đó trả xong rồi còn dư báo, tức là quả báo thừa của quá khứ, khi trở lại làm người như nhân mắt tạo nghiệp thì mắt lại bị mù chột.

 

Nếu không sám hối khó được tiêu trừ,

Nay trước Phật đài thảy đều sám hối.

 

Mắt gây tội rất nhiều nên phải thành tâm sám hối thật tha thiết.

 

CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH

Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật,

Và chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.

Mở rộng tâm từ bi vô lượng,

Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).

 

Bờ kia là bờ giác. Phần khuyến thỉnh này là đem hết lòng thành thỉnh Phật, thỉnh Bồ-tát, thỉnh các vị Tăng Thánh Hiền, vì lòng thương xót tất cả chúng sanh mà độ họ được lên bờ giác.

 

CHÍ TÂM TÙY HỈ

 

Nay con theo Phật sanh hoan hỉ,

Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm.

Thềm thang thập địa nguyện sớm lên,

Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.

 

Chúng ta được niềm vui là do thường gần gũi Tam Bảo, gần gũi Phật, nên ngày đêm luôn thành kính sám hối. Sám hối để cầu điều gì? Nguyện sớm bước lên những nấc thang của hàng Thập địa. Thập địa là chỉ cho Thập địa Bồ-tát, gồm có:

 

      1. Hoan hỉ địa

 

      2. Ly cấu địa

 

      3. Phát quang địa

 

      4. Diệm huệ địa

 

      5. Nan thắng địa

 

      6. Hiện tiền địa

 

      7. Viễn hành địa

 

      8. Bất động địa

 

      9. Thiện huệ địa

 

     10. Pháp vân địa.

 

Nếu tiến thêm hai bước nữa là Đẳng giácDiệu giác. Diệu giác là Phật. Như vậy qua Thập địa thì lên Đẳng giác rồi đến Diệu giácthành Phật nên “thềm thang Thập địa nguyện sớm lên”.

 

“Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.” Chân tâm là tâm thể không bị sanh diệt, tâm thể này sáng suốt, giác ngộ gọi là tâm Bồ-đề.

 

CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG

 

Chúng con hồi tâm nương Thánh chúng,

Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.

Nguyện đem công đức đến quần sanh,

Nương thắng nhân này thành Chánh giác.

 

“Chí tâm hồi hướng” là lòng chân thành hồi hướng của mình.

 

“Chúng con hồi tâm nương Thánh chúng” tức là xoay tâm mình về nương với Thánh chúng.

 

“Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn” là chí thành cúi đầu đảnh lễ đức Phật.

 

“Nguyện đem công đức đến quần sanh”: Tất cả công đức tu hành nguyện đem đến cho tất cả quần sanh.

 

“Nương thắng nhân này thành Chánh giác”: Nương nhân thù thắng này, tức là nhân sám hối mà sau này được thành Chánh giác, nghĩa là thành Phật.

 

Trong bài có những từ ngữ chữ Hán cần giải thích cho quí vị hiểu. Trong bài Nhật Sơ Chúc Hương, câu “Phục dĩ thiềm luân tây một, Long chúc đông sanh”có dùng điển tích.

 

Thiềm luân là vầng thiềm, chỉ cho mặt trăng. Thiềm nói đủ là thiềm thừ là con cóc. Ngày xưa người ta nhìn trong mặt trăng thấy có bóng đen giống con cóc. Truyền thuyết nói rằng: Thuở xưa có chàng Hậu Nghệ xin được thuốc trường sanh của bà Tây Vương Mẫu đem về, nhưng bị vợ là Hằng Nga ăn cắp uống đi rồi trốn lên mặt trăng hóa thành con cóc ở đó. Thế nên người ta nói Hằng Nga ở trên cung trăng và gọi mặt trăng là thiềm luân.

 

Mặt trăng cũng còn gọi là bạch thố hay ngọc thố. Bạch thố là thỏ trắng, ngọc thố là thỏ ngọc. Thiên “Nghĩ thiên vấn” của Phó Hàm có câu: Nguyệt trung hà hữu? Đáp: Bạch thố đảo dược. Nghĩa là trong mặt trăng có gì? Đáp: Có con thỏ trắng giã thuốc, hay cũng nói con thỏ ngọc giã thuốc.

 

Sự tích này ngày nay đã lạc hậu, hẳn là ít ai dùng rồi.

 

Long chúc: chúc là ngọn đuốc, long chúc là ngọn đuốc rồng, chỉ mặt trời. Theo Sơn Hải Kinh nói: Phương Bắc bầu trời có một nước không có ánh sáng mặt trời, có con rồng ngậm lửa phun như cây đuốc cháy sáng.

 

CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN

 

Một nguyện rộng mở sáng chánh kiến,

Hai nguyện lau sạch bụi trần mù,

Ba nguyện nhìn hình không đắm mến,

Bốn nguyện thấy sắc chẳng bận lòng.

Năm nguyện quên đầu cần kíp nhận,

Sáu nguyện mắt tuệ tự tròn đầy,

Bảy nguyện hiện nay sớm tỉnh mộng,

Tám nguyện hằng được sáng xưa nay.

Chín nguyện khi nhìn trừ mắt bệnh,

Mười nguyện chỗ thấy dứt không hoa,

Mười một nguyện trông xa mây chướng cuốn,

Mười hai nguyện chớp mắt nghiệp băng trong.

 

Nguyện thứ nhất là “rộng mở sáng chánh kiến” tức là nguyện sao cho cái thấy của mình luôn luôn đúng không sai chân lý.

 

“Hai nguyện lau sạch bụi trần mù”, nghĩa là tất cả những bụi trần che mờ nay đều lau sạch.

 

“Ba nguyện nhìn hình không đắm mến”, thấy tất cả hình sắc mình không mê, không đắm.

 

“Bốn nguyện thấy sắc chẳng bận lòng”, dầu thấy sắc đẹp lòng vẫn không vướng bận.

 

“Năm nguyện quên đầu cần kíp nhận”, nghĩa là chúng ta đã quên đầu phải mau nhận lại. Nguyện này có sự tích trong kinh Lăng Nghiêm. Một buổi sáng chàng Diễn-nhã-đạt-đa cầm gương soi, nhìn trong gương thấy đầu mặt đẹp đẽ, anh úp gương xuống, không thấy đầu mặt, anh hốt hoảng ôm đầu chạy la: Tôi mất đầu, tôi mất đầu rồi! Đó là mê hay tỉnh? Chúng ta có giống như vậy không? Chúng ta cũng như chàng Diễn-nhã-đạt-đa, khi khởi nghĩ việc này việc kia lăng xăng thì cho là tôi đang nghĩ, tôi đang tính, bất chợt lúc nào quên không nghĩ tính, khi đó nói tôi mất rồi. Nghĩ tính chỉ là cái bóng duyên theo bóng dáng của sáu trần bên ngoài, không phải là thật, nhưng khi thấy nó, tưởng là tâm mình, đến khi mất nó tưởng như mất mình. Như chàng Diễn-nhã-đạt-đa điên là tại sao? Ôm cái thật mà chạy tìm cái giả. Tìm bóng là tìm cái giả. Chúng ta cũng thế, khi tâm không khởi niệm lăng xăng thì cái hiện tiền chân thật đầy đủ mà chúng ta lại quên, cứ cho là tôi đâu mất rồi. Đó là chúng ta chỉ biết cái bóng, cho cái bóng nghĩ lăng xăng là tôi, chớ không biết cái hiện tiền chân thật là tôi. Thế nên nguyện thứ năm này là nguyện từ lâu quên đầu, nay phải cần kíp nhận lại.

 

“Sáu nguyện mắt tuệ tự tròn đầy” là nguyện mắt trí tuệ của mình càng ngày càng tròn đầy.

 

“Bảy nguyện hiện nay sớm tỉnh mộng.” Cuộc sống của chúng ta hiện nay chỉ là một giấc mộng dài mấy mươi năm, nào có gì đâu, phải ráng sớm thức tỉnh, đừng nghĩ đó là thật rồi lầm quên cái chân thật của mình.

 

“Tám nguyện hằng được sáng xưa nay”, nghĩa là nguyện hằng sáng suốt thấy được cái chân thật đã có tự thuở nào đến nay chưa bao giờ thiếu vắng, không bao giờ mất.

 

“Chín nguyện khi nhìn trừ mắt bệnh”, nghĩa là khi nhìn người, vật không bị vô minh, không bị những huyễn hóa che lấp làm cho mắt chúng ta bị mờ đi, không thấy được rõ ràng.

 

“Mười nguyện chỗ thấy dứt không hoa”: nguyện thấy sự vật đúng như thật, không bị hoa đốm lăng xăng che mờ. Hoa đốm là do mắt lòa nên thấy không đúng sự thật.

 

“Mười một nguyện trông xa mây chướng cuốn”: nguyện nhìn ra xa những mây che đều tan mất, mắt mình thấy thông suốt.

 

“Mười hai nguyện chớp mắt nghiệp băng trong”: nguyện trong chớp mắt những nghiệp từ xưa đến nay che đậy đều được trong sạch như băng như tuyết, không còn chút nhơ bợn.

 

KỆ VÔ THƯỜNG BUỔI SỚM

 

Đêm tối vừa rạng sáng,

Ánh dương dần hiện không.

Tóc bạc thầm tới điểm,

Má hồng dần đổi thay.

Chẳng biết tuổi xuân ngắn,

Vẫn tranh nghiệp quả hùng.

Thân như băng gặp nắng,

Mạng tợ đuốc gió đùa.

Chớ mải mê làm khách,

Quay về sớm chiếu soi.

 

“Đêm tối vừa rạng sáng, ánh dương dần hiện không” là diễn tả thời gian trôi qua.

 

“Tóc bạc thầm tới điểm, má hồng dần đổi thay”: Tóc bạc len lén điểm trên đầu mỗi ngày một chút, chợt nhớ lại đầu đã muối tiêu, lâu nữa nhớ lại, đầu đã nhuốm bông lúc nào không hay. Má hồng cũng dần dần thay đổi, ngày xưa mặt hồng hào, nay khô lại, hiện những nếp nhăn.

 

“Chẳng biết tuổi xuân ngắn, vẫn tranh nghiệp quả hùng”: Không biết tuổi xuân ngắn ngủi, chỉ mải tranh nghiệp quả để thành kẻ anh hùng hảo hán, thành kẻ hay người giỏi. Đó chỉ là tạo nghiệp cho nhau.

 

“Thân như băng gặp nắng.” Băng, hay nói dễ hiểu hơn là nước đá. Nước đá để ngoài trời nắng, chỉ một chốc là tan hết. Thân này cũng như vậy, ngày nay đi lại lăng xăng, đến một hôm nào nó cũng tan hoại.

 

“Mạng tợ đuốc gió đùa”: Mạng như ngọn đuốc, gió thổi mạnh một lát sau nó tàn rụi.

 

“Chớ mải mê làm khách”: Đừng mải mê làm khách phong trần rong ruổi trong tam giới lục đạo, lang thang nơi này nơi khác, không chịu trở về.

 

“Quay về sớm chiếu soi”: Quay về chiếu soi lại chính mình. Đó là tinh thần thiền. Thiền là quay lại chiếu soi nơi mình, không chạy theo cảnh; đuổi theo cảnh là làm khách. Biết xoay lại mình tức là tìm ra quê hương, trở về quê hương. Lời nhắc nhở rất rõ ràng nên mỗi khi đọc tụng chúng ta phải nhớ để ráng tu.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 4857)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1391)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1418)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1285)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1012)
26 Tháng Mười 202010:55 CH(Xem: 34)
Cuộc đời con tới hôm nay là một thanh niên hơn hai mươi nhưng con đã gặp không biết bao bất hạnh từ nhỏ cho đến lớn, từ thể xác đến tinh thần có nhiều lúc tưởng như muốn tự kết liễu cuộc sống. Thực ra bấy lâu nay dù nghe pháp sư ông con vẫn quay về cảm nhận nhưng con vẫn bức xúc khổ đau vì những tổn thương bất hạnh
25 Tháng Mười 202010:40 SA(Xem: 149)
Kỳ thi ra trường của tôi ở Đại học Cambridge năm 1972 là về đề tài vật lý lý thuyết. Đó là quãng thời gian khó nhọc. Toàn bộ sự nghiệp ăn học ở đại học dồn lại thành một loạt những bài-thi khảo sát. Một là đậu hai là rớt. Kỳ thi của tôi bao gồm một bài thi viết luận ba tiếng đồng hồ liên tục vào buổi sáng và một bài thi sát hạch ba tiếng đồng hồ
24 Tháng Mười 20209:58 CH(Xem: 146)
Tối nay tôi sẽ nói về đề tài “quán hay suy ngẫm, chiêm nghiệm” (contemplation) trong Phật giáo. Làm thế nào để quán chiếu, để chiêm nghiệm, để suy ngẫm về Pháp và làm thế nào để áp dụng những điều này trong sự thực hành. Một trong những lý do tôi muốn nói về điều này là vì mọi người hay hỏi tôi làm sao quán và quán như thế nào
23 Tháng Mười 202010:04 CH(Xem: 181)
Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 8, năm 1965, sau khi học xong khóa hè, tôi chuẩn bị sẽ đi California từ New York bằng xe hơi. Ngày ấy tôi mới 20 tuổi và sang tháng 9 tôi sẽ vào học Đại học Brooklyn. Tôi muốn đến thăm một người bạn. Anh ấy đang ở San Francisco mùa hè ấy. Tôi đã thu xếp để cùng đi với mấy người bạn học. Chúng tôi
22 Tháng Mười 20208:57 CH(Xem: 218)
Bài Kinh ĐẠI NIỆM XỨ (Trường bộ kinh Nikaya) là bài kinh quan trọng cho mọi Phật tử như trong phần mở đầu của bài Kinh, Đức Phật đã dạy: “Này chư tỳ kheo, đây là con đường độc nhất để đem lại sự thanh bình cho chúng sanh, vượt thoát sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh tríchứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ”.
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4857)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 223)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 237)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
19 Tháng Mười 20209:45 CH(Xem: 222)
Cúng vong linh và cúng cô hồn là tập tục, tín niệm dân gian có từ lâu đời, phổ biến trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Cúng vong linh thường thực hiện vào những ngày kỵ giỗ, con cháu soạn mâm cỗ dâng cúng ông bà cha mẹ và những người thân đã mất. Cúng cô hồntrai chủ phát tâm sắm sửa cơm nước lễ vật
18 Tháng Mười 202012:11 CH(Xem: 273)
Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung.
17 Tháng Mười 20206:19 CH(Xem: 299)
Với người hành thiền mong muốn có được tri kiến đúng đắn về năm uẩn qua việc thực hành Pháp Duyên Sanh, cuốn sách này chắc chắn sẽ là một tác phẩm đáng chú ý nhất. Nó cũng là một sự bổ sung rất ý nghĩa cho việc hiểu Pháp Duyên Sanh. U Than Daing, tác giả của cuốn sách, đã hoàn thành một sự giải thích rất rõ ràng và thấu đáo
16 Tháng Mười 20207:35 CH(Xem: 263)
Đúng, khi người tu thấy ra sự sinh diệt, vị ngọt và sự nguy hại của các pháp hữu vi sẽ không còn ham muốn chấp trước bất kỳ điều gì ở đời. Như Bồ-tát Siddhattha xuất gia không bao lâu đã chứng đắc vị ngọt của tất cả thiền định hữu vi hữu ngã nhưng khi đã thấy ra định này chỉ tạo sự dính mắc trong sắc ái, vô sắc ái ngài liền từ bỏ.
15 Tháng Mười 20204:39 CH(Xem: 257)
Thầy đã nhận được thư con và đọc nhiều lần lá thư ấy. Thầy rất thương con! Con cũng giống như thầy ngày xưa khi mới bỡ ngỡ bước chân đi tìm đạo, thật cô đơn và bơ vơ, không biết phải đi về đâu nữa. Khổ nhất là cái cảnh nửa đời nửa đạo như thế. Đời thì vừa chán vừa sợ, mà sợ nhất là những đam mê của nó cùng với phiền não
14 Tháng Mười 20203:07 CH(Xem: 326)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2587)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
14 Tháng Mười 20209:01 SA(Xem: 2053)
Nhiều Phật tử suy nghĩ về giáo pháp quá nhiều mà thực hành rất ít. Thiếu những trải nghiệm như thế nào là giữ giới, và thiếu dữ liệu từ những tầng thiền định sâu (Thiền Na- Jhana), vô tình họ đã bóp méo giáo pháp bằng những mơ tưởng viển vông của chính họ. Bài kinh Udana (Ud1.10), ghi lại lời Phật dạy cho Bāhiya, là một bài kinh ngắn
13 Tháng Mười 20209:53 CH(Xem: 309)
Khi tôi chết, tôi không muốn có những nghi lễ phô trương. Tôi đã viết di chúc dặn dò nếu tôi chết trong vòng năm mươi dặm của Trung tâm Thiền quán Bhavana (West Virginia, Hoa Kỳ), những người trong đạo tràng nên thu xếp hỏa táng thân xác tôi và sau đó, tùy ý xử lý tro cốt. Tôi không quan tâm. Nếu tôi chết ở nơi khác, họ có thể thu xếp
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2839)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
12 Tháng Mười 202010:53 CH(Xem: 340)
Bài học quý ở đây là: thực sự thực hành + nghe pháp để đối chiếu. Chúng ta chưa bao giờ hiểu đúng cả. Chúng ta chưa bao giờ thực hành đúng cả. Chúng ta chỉ đang tiệm cận dần đến cái đúng. Vì vậy đừng chủ quan. Đừng coi nhẹ những hướng dẫn cơ bản. Thỉnh thoảng cần nghe lại và tìm ra lối thoát cho vấn đề của mình trong đó.
11 Tháng Mười 202011:07 CH(Xem: 357)
Thiền là sự nghỉ ngơi trong tỉnh thức, nghỉ ngơi thật sự cả thân lẫn tâm, con không làm điều gì khác ngoài quan sát, vì vậy không nên ép mình hay đặt một mục tiêu nào cần đạt đến hết. Như con nói, nhiều khi chỉ đơn giản đang ngồi và enjoy với việc ngồi, đó là lúc con không ép mình và khi đó mới là lúc hành thiền đúng nhất đấy con ạ.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1972)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3651)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5199)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4857)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2839)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4254)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4857)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 223)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 237)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2587)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1691)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1605)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.