30. Niêm Tụng Kệ

02 Tháng Mười Một 201911:48 SA(Xem: 1432)
30. Niêm Tụng Kệ

KhoaHuLuc1
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)

HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________



30. Niêm Tụng Kệ

 

Dịch

 

1. - Cử: Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng vương cung, chưa ra thai mẹ độ người đã xong.

 

Niêm:

 

Gươm báu chưa vung, tướng quân đã lộ.

 

Tụng:

 

Đứa bé không hình chửa rời quê,

Sớm tối đưa người qua bến mê.

Cất bước ngao du không xen cách,

Chẳng cần thuyền gỗ với phao bè.

 

2.- Cử: Thế Tôn mới sanh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất nói: Trên trời dưới đất chỉ ta tôn quí.

 

Niêm:      

 

Một áng mây trắng che cửa động,

Đàn chim về tổ thảy quên đường.

 

Tụng:       

 

Đạt-đa mới giáng Tịnh Vương cung,

Muốn hóa quần sanh tự hiển tung.

Bảy bước đi quanh chỉ trời đất,

Bao người con Phật mất gia phong.

 

3.- Cử: Thế Tôn đưa cành hoa, Ca-diếp mặt rạng rỡ mỉm cười.

 

Niêm:      

 

Vén đứng lông mày để mắt xem,

Tiến lên suy nghĩ cách ngàn non.

 

Tụng:

 

Thế Tôn nắm dựng một cành hoa,

Ca-diếp sáng nay được đến nhà.

Nếu bảo đây là truyền pháp yếu,

Về Nam xe Bắc lối càng xa.

 

4.- Cử: Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời?

 

Niêm:      

 

Trừ người quả thật con ta đó,

Ai kẻ bạo chân vào đường này.

 

Tụng:      

 

Lao quan khó buộc có ai tri,

Ngôn ngữ đều quên không chỗ y.

Chẳng phải trong đời con ngựa giỏi,

Do đâu bất chợt được tiện nghi.

 

5.- Cử: Thế Tôn lên pháp tòa, Văn-thù bạch chúng rằng: Quán kỹ pháp Pháp vương, pháp Pháp vương như thế.

 

Niêm:      

 

Khảy khúc Dương Xuân đàn không dây,

Muôn năm ngàn thuở tiếng nào dứt.

 

Tụng:       

 

Tuy nói câu câu chẳng vết tỳ,

Giấu sừng, đuôi vẫn hiện như ri.

Nào như một ống sáo không lỗ,

Vì anh thổi khúc Thái bình thi.

 

6.- Cử: Vua nước Kế-tân cầm kiếm, bảo Tổ thứ hai mươi bốn (Sư Tử) rằng: Thầy được năm uẩn không chăng? Tổ đáp: Đã được. Vua hỏi: Lìa sanh tử chăng? Tổ đáp: Đã lìa. Vua hỏi: Có thể thí cái đầu cho tôi được không? Tổ đáp: Thân còn không phải của ta, huống nữa là đầu! Vua liền chém. Sữa trắng vọt ra, tay Vua tự rơi.

 

Niêm:      

 

Đem đầu kề gươm bén,

Dường như chém gió xuân.

 

Tụng:      

 

Đao bén chém nước, lửa thổi (ánh) sáng,

Việc này nên biết nào ngại gì.

Báo tin sáng ấy xa khói sóng,

Ai biết riêng có nghĩ suy lành.

 

7.- Cử: Đại sư Đạt-ma đến chùa Thiếu LâmLạc Dương, chín năm ngồi xây mặt vào vách.

 

Niêm:      

 

Để mắt xem, thôi ngủ gật.

 

Tụng:      

 

Chim bằng vỗ cánh đến Nam Minh (Nam Hải),

Nối gót luống công muôn dặm trình.

Đêm trước chỉ tham vui yến tiệc,

Sáng nay bất giác say men nồng.

 

8.- Cử: Nhị Tổ xin Sơ Tổ pháp an tâm. Sơ Tổ bảo: Đem tâm ra ta an cho ông. Nhị Tổ thưa: Con tìm tâm không thể được. Sơ Tổ bảo: Ta an tâm cho ông rồi.

 

Niêm: 

 

Em bé lên ba ôm trống giấy,

Ông già tám chục mặc áo cầu.

 

Tụng:

 

Tâm đã không tâm nói với ai,

Người câm thức mộng mắt tròn xoe.

Lão tăng dối bảo an tâm đấy,

Cười ngất bàng quan chẳng tự hay.

 

9.- Cử: Ngài Văn-thù thấy cô gái nhập định gần Phật, Ngài đến xuất định không được. Phật sai Bồ-tát Võng Minh đến xuất định được.

 

Niêm:  

 

Đứa con oan gia, mất gia phong ta.

 

Tụng:

 

Đều cùng xuất định có sơ thân,

Định ấy nên là chửa chánh chân.

Nếu thật Hóa công không hậu bạc,

Xoay vần xuân đến khắp mọi phần.

 

10.- Cử: Mã Tổ nói: Từ sau loạn Hồ ba mươi năm, chưa từng thiếu tương muối.

 

Niêm:   

 

Dù cho chẳng phạm mảy may,

Vẫn là cầm bánh dính tay.

 

Tụng:

 

Trước kia làm bạn khách rượu trà,

Quán rượu thường nằm bên cạnh nhà.

Giả thử khoe khoang người lanh lợi,

Giữa đường mất áo chịu thôi mà.

 

11.- Cử: Bá Trượng tái tham Mã Tổ, Mã Tổ hét một tiếng. Bá Trượng đại ngộ.

 

Niêm:   

 

Ngàn mũi nhọn, không bằng một nhát mai cùn.

 

Tụng:

 

Ngày trước thiên hạ chẳng chung đồng,

Bốn bên dấy loạn tợ đàn ong.

Mã Tổ một phen vung kiếm bén,

Từ đây đường nẻo tin tức thông.

 

12.- Cử: Một hôm Quốc sư gọi Thị giả ba lần. Thị giả ba lần dạ. Quốc sư nói: Ngỡ là ta phụ ngươi, ngược lại ngươi phụ ta.

 

Niêm:  

 

Như người uống nước, lạnh nóng tự biết.

 

Tụng:

 

Dưới trên xướng họa xứng cùng hai,

Ý ấy so đâu biết ngắn dài.

Nhằm trước phơi bày gan ruột sạch,

Trong đây chỉ hứa tự mình hay.

 

13.- Cử: Đại Qui nói: Câu có câu không như bìm leo cây. Sơ Sơn hỏi: Cây ngã bìm khô câu về chỗ nào? Đại Qui cười to ha hả!

 

Niêm:   

 

Nước chảy ắt về biển, trăng lặn chẳng rời trời.

 

Tụng:

 

Sóng lặng yên rồi, trận gió thâu,

Uổng công hướng ngoại khổ tìm cầu.

Cười nát khối nghi thành trăm mảnh,

Từ đó mới phân đá với châu.

 

14.- Cử: Bá Trượng bảo: Thế nào là pháp không vì người nói? Nam Tuyền đáp: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.

 

Niêm:    

 

Ngàn Thánh tìm dấu y chẳng được, toàn thân ẩn tại đại hư không.

 

Tụng:

 

Trước đây công án không lệch nghiêng,

Đối diện nhìn xem hội được chăng?

Trong ngôi Phật pháp mời chẳng ở,

Đêm về như trước ngủ bờ lau.

 

15.- Cử: Nam Tuyền nói: Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo.

 

Niêm:   

 

Uống cạn huyền vi lý, đường về dưới trăng đi.

 

Tụng:

 

Muôn tiếng lặng yên sao Đẩu dời,

Bầu trời trong suốt chẳng gợn mây.

Nương tựa gậy lê lên gác ngắm,

Yên yên lặng lặng thật thảnh thơi.

 

16.- Cử: Sau khi Lâm Tế khai hóa chỉ dùng gậy hét dạy đồ chúng. Vừa thấy Tăng vào cửa liền hét.

 

Niêm:

 

Mùng năm tháng năm giờ ngọ viết,

Miệng đỏ lưỡi độc tận tiêu trừ.

 

Tụng:

 

Vào nhà liền hét muốn làm chi?

Dẫn được cháu con tỉnh giấc mê.

Chẳng phải sấm xuân vang một tiếng,

Làm sao vỏ hạt được nảy mầm.

 

17.- Cử: Nam Tuyền nói: Tâm bình thường là đạo.

 

Niêm:  

 

Lạnh nói là lạnh, nóng nói là nóng.

 

Tụng:

 

Rìu búa không cần, ngọc trắng tinh,

Đâu do mài giũa để cầu tân.

Đường về chẳng bước nhà vẫn tới,

Trao kẻ đầu non buông thõng tay.

 

18.- Cử: Triệu Châu nói: Mọi người bị mười hai thời sai khiến, Lão tăng sai khiến được mười hai thời.

 

Niêm:    

 

Cậy thế dối người, không nơi căn cứ.

 

Tụng:

 

Lão này hay khiển mười hai thời,

Rồng dữ cọp hung thảy được thuần.

Cần phương chỉ sắt thành vàng thật,

Chẳng để cho người có việc nghe.

 

19.- Cử: Tăng hỏi Lâm Tế: Thế nào là vô vị chân nhân?

 

Lâm Tế đáp: Cục cứt khô.

 

Niêm:

 

Bắn sẻ mất châu, ném chuột nhơ đồ.

 

Tụng:

 

Vô vị chân nhân, cục cứt khô,

Do người Thích tử mất gia phong.

Nhìn xuống xem xem, biết chẳng biết,

Con trâu vào biển dấu vết không.

 

20.- Cử: Triệu Châu nói: Khám phá bà giàNgũ Đài Sơn xong.

 

Niêm:   

 

Ngũ nghịch nghe sấm, chẳng cho bịt tai.

 

Tụng:

 

Khảy móng Đài Sơn hết nói ngoa,

Chẳng phiền bước tới được về nhà.

Can qua chẳng động lòng người phục,

Gươm bén đâu cần ra hộp ngà.

 

21.- Cử: Triệu Châu nói: Phật vàng không độ được lò đúc, Phật gỗ không độ được lửa, Phật đất không độ được nước, Phật thật ngồi trong nhà.

 

Niêm:    

 

Núi là núi nước là nước, Phật ở chỗ nào?

 

Tụng:

 

Trên đồ Võng Xuyên xếp thành hình,

Ngày trước Vương Duy được nổi danh.

Uổng phí mực son nơi khó vẽ,

Trong không trăng sáng cùng gió lành.

 

22.- Cử: Triệu Châu nói: Tôi ở Thanh Châu may một chiếc áo vải nặng bảy cân.

 

Niêm:    

 

Trấn Châu củ cải còn thể được,

Thanh Châu áo vải lại phiền người.

 

Tụng:

 

Một manh áo vải thật lạ thường,

Tùng Thẩm không màng chẳng cất rương.

Trong đây nghĩ nghị chia cân lượng,

Cười ngất nhà đông, Mạnh Bát Lang.

 

23.- Cử: Vị Tăng hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không?

 

Triệu Châu đáp: Không. Tăng lại hỏi, Triệu Châu đáp: Có.

 

Niêm:   

 

Lấy hai so một.

 

Tụng:

 

Hỏi ngay ở trước, đáp có không.

Cho dù ngay đó dứt nhóm ngông.

Một đời tự phụ người tài giỏi,

Thế ấy vẫn là chẳng trượng phu.

 

24.- Cử: Triệu Châu nói: Chỗ có Phật chẳng trụ, chỗ không Phật chạy qua gấp.

 

Niêm:    

 

Nước đến thành ao, roi quất nổi lằn.

 

Tụng:

 

Chỗ Phật có không cả hai quên,

Lời này xem lại chưa được toàn.

Sau rốt cầm hoa nhằm chỉ lại,

Chẳng rời tấc bước đến Tây thiên.

 

25.- Cử: Thủ Sơn đưa trúc bề nói: Bảo là trúc bề tức chạm, chẳng gọi trúc bề tức trái, hãy gọi là cái gì?

 

Niêm:   

 

Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.

 

Tụng:

 

Trúc bề chạm, trái thật khó phân,

Ngay đó rõ ràng nhắc với người.

Tuy vốn đường bằng bụi không dấy,

Một trường bày hiện gai góc đầy.

 

26.- Cử: Tăng hỏi Động Sơn (Thủ Sơ): Thế nào là Phật? Sơn đáp: Trên vách ba cân gai.

 

Niêm:    

 

Gọi một vật lại chẳng trúng.

 

Tụng:

 

Hỏi Phật thế nào, nói đáp anh,

Động Sơn trên vách gai mấy cân.

Tuy nhiên không có phong trần dính,

Cũng vẫn còn đem cảnh chỉ người.

 

27.- Cử: Tăng hỏi Hòa thượng Hiện Tử: Thế nào là ý Tây sang? Hiện Tử đáp: Mâm rượu trước bàn thần.

 

Niêm:    

 

Nếu chẳng phải sư tử con, đâu khỏi chạy theo khối đất lăn.

 

Tụng:

 

Chặt đứt cội nguồn không chỗ nương,

Ở đây nhắc lại để anh tường.

Nếu bảo trước thần là ý Tổ,

Khác nào kẻ gọi khố là quần.

 

28.- Cử: Quốc sư Vô Nghiệp nói: Nếu niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông chưa hết, chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa. Hòa thượng Bạch Vân Đoan nói: Giả sử niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông hết, cũng chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa.

 

Niêm:    

 

Đốt non cần cọp chạy, đập cỏ cốt rắn kinh.

 

Tụng:

 

Lời này xét lại chí khí khinh,

Đập cỏ cốt là bọn rắn kinh.

Nếu người rành lối Trường An ấy,

Buông thõng tay đi khỏi hỏi trình.

 

29.- Cử: Huyền Sa dạy chúng nói: Các bậc Lão túc khắp nơi đều bảo: “Tiếp vật lợi sanh.” Chợt gặp ba hạng người bệnh lại, làm sao tiếp? Người bệnh mù, giơ chùy dựng phất họ chẳng thấy. Người bệnh điếc, nói năng tam-muội họ không nghe. Người bệnh câm, dạy họ nói, nói không được.

 

Niêm:    

 

Khát uống đói ăn, lạnh mặc nóng quạt.

 

Tụng:

 

Buồn thì ủ rũ vui tươi cười,

Mũi dọc mày ngang chẳng khác người.

Đói khát lạnh nồng tùy chỗ được,

Đâu nên bất chợt lại sanh nghi.

 

30.- Cử: Thụy Nham thường gọi: Ông chủ nhân, tỉnh tỉnh đi, về sau chớ bị người lừa gạt.

 

Niêm:    

 

Khóc đến máu tuôn không chỗ dụng,

Chi bằng ngậm miệng qua xuân tàn.

 

Tụng:

 

Thụy Nham thường gọi chủ nhân ông,

Lược giỏi cơ sâu cũng chẳng hùng.

Nếu quả thế gian tướng vô địch,

Đợi gì gươm giáo mới là hưng.

 

31.- Cử: Tam Thánh nói: Tôi gặp người liền ra, ra thì chẳng vì người. Hưng Hóa nói: Tôi gặp người thì chẳng ra, ra thì vì người.

 

Niêm:    

 

Một con rùa mù, nửa cặp trạnh què.

 

Tụng:

 

Gặp khát tức thì uống nước ngay,

Nói ăn bụng đói trọn cả ngày.

Hai bên gươm bén thôi niêm kín,

Khi khác trẻ con miệng họa này.

 

32.- Cử: Nam Tuyền thấy Đặng Ẩn Phong đến, chỉ tịnh bình nói: Tịnh bình là cảnh, ông không được động đến cảnh.

 

Niêm:

 

Nói có, nhằm chỗ nào để.

 

Tụng:

 

Trong gương không nhớp luống tự chùi,

Dụng hết công phu uổng phí thôi.

Lặng lặng im im tùy chỗ thích,

Cơm xong liền đó uống chung trà.

 

33.- Cử: Thạch Đầu nói: Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy thảy chẳng được.

 

Niêm:    

 

Các hạnh vô thường, tất cả đều khổ.

 

Tụng:

 

Câu nói hay khéo đem đến ông,

Tạm làm mây trắng che cửa động.

Dù cho toàn được mười phần đúng,

Vẫn ở giữa đường muôn dặm trông.

 

34.- Cử: Tăng hỏi: Thế nào là cảnh Giáp Sơn? Sơn đáp: Vượn ẵm con về sau núi biếc, chim tha hoa đậu trước non xanh.

 

Niêm:    

 

Cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

 

Tụng:

 

Giáp Sơn cảnh vắng không người đến,

Ngay đó phải nên làm những gì?

Nếu người thật được đôi mắt sáng,

Giờ ngọ mặc tình trống canh ba.

 

35.- Cử: Tăng hỏi Mục Châu: Một hơi thở tụng hết một tạng kinh không? Châu đáp: Có bao nhiêu bánh đem hết lại đây.

 

Niêm:     

 

Buông tay đến nhà, chẳng nhọc tiến bước.

 

Tụng:

 

Một hơi tự khéo tụng tạng kinh,

Chẳng nhọc vạch lá với tìm cành.

Vô biên huyền nghĩa đều hiện rõ,

Hỏi đến Sơn tăng thảy chẳng rành.

 

36.- Cử: Trong hội Lâm Tế, hai vị Thủ tọa nhà Đông nhà Tây gặp nhau đồng thời hét. Tăng hỏi: Lại có chủ khách hay không? Lâm Tế đáp: Chủ khách rõ ràng.

 

Niêm:   

 

Cũng là vượn trắng nói lăng xăng.

 

Tụng:

 

Thánh chúa ngày nay cổ hóa phong,

Bản đồ văn phạm trọn tương đồng.

Vẫn còn xa gần chia bờ cõi,

An dân tế thế đâu (được) kể công.

 

37.- Cử: Huyền Sa nói: Nếu luận việc này, ví như người chủ một thửa ruộng, đến phần ranh giới đã bán cho các ông rồi, chỉ còn cái cây ở trung tâm vẫn thuộc về Lão tăng.

 

Niêm:   

 

Biển cả chẳng nạp tử thi.

 

Tụng:

 

Dù người liễu ngộ ngời ngời tỏ,

Muôn lự đầu tâm hết lăng xăng;

Trong đây còn có tơ hào dấy,

Vào mắt mạt vàng lại xốn xang.

 

38.- Cử: Tăng hỏi Hòa thượng Tư (Hành Tư) về đại ý Phật pháp.

 

Hòa thượng Tư đáp: Ở Lô Lăng giá gạo bao nhiêu?

 

Niêm:

 

Bóng trúc quét thềm trần chẳng dấy,

Vầng trăng xuyên biển nước không tỳ.

 

Tụng:

 

Lời này quả thật bậc anh linh,

Gồm hết căn cơ tiếp hữu tình.

Một hỏi, Lô Lăng gạo giá mấy,

Hoàn toàn trọn chẳng dính đồ trình.

 

39.- Cử: Tăng hỏi Thiền sư Văn-thù: Muôn pháp về một, một về chỗ nào? Văn-thù đáp: Sông Hoàng Hà chín khúc.

 

Niêm:    

 

Nhân khi có trăng đẹp, bất thần qua Thương Châu.

 

Tụng:

 

Hoàng Hà chín khúc vì nêu ra,

Chẳng dính đồ trình tự đến nhà.

Nhiều kẻ ban ngày mở mắt ngóng,

Đâu hay chim trĩ đến Tân La.

 

40.- Cử: Nam Tuyền hỏi Triệu Châu: Ngươi là Sa-di có chủ hay Sa-di không chủ? Triệu Châu đáp: Có chủ. Nam Tuyền hỏi: Thế nào là chủ? Triệu Châu khoanh tay thưa: Hôm nay kính chúc Hòa thượng luôn được muôn phước.

 

Niêm:    

 

Co tay chuyển chùy chẳng đổi gươm,

Người khéo sử dụng đều được tiện.

 

Tụng:

 

Khoanh tay Tùng Thẩm chỉ cho người,

Chẳng kẹt hai bên chủ tự phân.

Đâu phải Hoa Lam Hàn lệnh thuật,

Nào hay khéo nấu rượu Tuân tuần.

 

41.- Cử: Tăng hỏi Mộc Am: Thế nào là việc của Nạp y (tăng sĩ). Mộc Am đáp: Dùi châm chẳng vào.

 

Niêm:   

 

Ngồi yên dứt mảy trần, hư không chẳng lối thông.

 

Tụng:

 

Cầm thì mịn mượt, ấn thì mềm,

Trán sắt đầu đồng đụng chẳng xuyên.

Vốn thật hư không, không gián cách,

Đêm về như cũ hoa quế thu.

 

42.- Cử: Bàng cư sĩ nói: Đây là trường thi Phật, tâm không được đậu về.

 

Niêm:   

 

Tháp nhạn đề tên, không dung giấy trắng.

 

Tụng:

 

Áo may trăm mảnh giày cỏ xuyên,

Thi Phật trong trường đã có tên.

Nếu bảo tâm không đến ứng cử,

Chẳng ăn roi vọt cũng ăn thoi.

 

43.- Cử: Từ Minh hỏi Chân Điểm Hung về đại ý Phật pháp. Chân đáp: Không mây sanh đỉnh núi, có trăng rơi lòng sông. Minh hét, nói: Đầu bạc răng vàng vẫn khởi kiến giải này. Chân rơi lệ, giây lâu nói: Không biết thế nào là đại ý Phật pháp? Minh đáp: Không mây sanh đỉnh núi, có trăng rơi lòng sông. Chân đại ngộ.

 

Niêm:    

 

Người nhân thấy thì gọi là nhân, người trí thấy thì gọi là trí.

 

Tụng:

 

Kia đây đồng khảy một cung đàn,

Cần phải trao cho bạn tri âm.

Không mây, trăng có tuy đồng đấy,

Nào khác núi cao cùng nước sâu.

Chao! Trọn ngày theo hồng trần,

Chẳng biết báu nhà mình.

Ôi! Buông tay không tựa toàn thể hiện,

Lão chài thuyền nhỏ đậu hoa lau.


____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 4895)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1422)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1456)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1328)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1042)
30 Tháng Mười 20208:46 CH(Xem: 36)
Tôi rất ái ngại nhưng đã quyết định bỏ mọi mặc cảm để gửi câu hỏi này đến quý Báo. Chuyện là, tôi không may mắn có được một sự giáo dục tốt, từng bị chửi là mất dạy. Xin hỏi, nếu tôi phát tâm tu học thì Phật pháp có giúp tôi từ một người thiếu giáo dục thành một người tốt hay không? Nếu được thì những lời dạy nào trong Phật pháp
29 Tháng Mười 202011:05 CH(Xem: 86)
Người giác ngộ là người như thế nào? À, đó có thể là người nam hoặc người nữ. Bạn có thể tìm thấy họ trong một tu viện hoặc một ngôi nhà ở ngoại ô, trong rừng hoặc ở trong một thị trấn nhỏ. Nhưng sự thật thì không có nhiều người trong số họ giác ngộ ở những nơi đó như nhiều người thường nghĩ. Không phải vì sự giác ngộ vốn quá
28 Tháng Mười 20208:55 CH(Xem: 152)
Tôi có một người rất thân đang gặp nhiều khó khăn và khổ đau, chị ta không tìm được một lối sống nào cho có hạnh phúc. Tôi tin rằng nếu chị ta bớt dính mắc và bớt quan trọng hóa những ý nghĩ của mình hơn, đời chị sẽ bớt khổ đau. Đây là điều mà tôi học được trong thiền tập. Nhưng tôi nghĩ là chị chưa sẳn sàng để tìm hiểu về
27 Tháng Mười 20209:49 CH(Xem: 147)
Những ngày qua con có nhiều thời gian hơn để thực hành, hiếm khi nào mà sự thu thúc, độc cư lại được hợp thức hóa như vậy, thật là thuận lợi. Con có dịp xem xét lại quá trình thực hành của mình từ đầu đến nay, ghi lại những điểm căn bản trong từng lá thư của Thầy, và tiếp tục thực hành những bài tập đó. Con thấy những điều đó
26 Tháng Mười 202010:55 CH(Xem: 154)
Cuộc đời con tới hôm nay là một thanh niên hơn hai mươi nhưng con đã gặp không biết bao bất hạnh từ nhỏ cho đến lớn, từ thể xác đến tinh thần có nhiều lúc tưởng như muốn tự kết liễu cuộc sống. Thực ra bấy lâu nay dù nghe pháp sư ông con vẫn quay về cảm nhận nhưng con vẫn bức xúc khổ đau vì những tổn thương bất hạnh
25 Tháng Mười 202010:40 SA(Xem: 210)
Kỳ thi ra trường của tôi ở Đại học Cambridge năm 1972 là về đề tài vật lý lý thuyết. Đó là quãng thời gian khó nhọc. Toàn bộ sự nghiệp ăn học ở đại học dồn lại thành một loạt những bài-thi khảo sát. Một là đậu hai là rớt. Kỳ thi của tôi bao gồm một bài thi viết luận ba tiếng đồng hồ liên tục vào buổi sáng và một bài thi sát hạch ba tiếng đồng hồ
24 Tháng Mười 20209:58 CH(Xem: 185)
Tối nay tôi sẽ nói về đề tài “quán hay suy ngẫm, chiêm nghiệm” (contemplation) trong Phật giáo. Làm thế nào để quán chiếu, để chiêm nghiệm, để suy ngẫm về Pháp và làm thế nào để áp dụng những điều này trong sự thực hành. Một trong những lý do tôi muốn nói về điều này là vì mọi người hay hỏi tôi làm sao quán và quán như thế nào
23 Tháng Mười 202010:04 CH(Xem: 230)
Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 8, năm 1965, sau khi học xong khóa hè, tôi chuẩn bị sẽ đi California từ New York bằng xe hơi. Ngày ấy tôi mới 20 tuổi và sang tháng 9 tôi sẽ vào học Đại học Brooklyn. Tôi muốn đến thăm một người bạn. Anh ấy đang ở San Francisco mùa hè ấy. Tôi đã thu xếp để cùng đi với mấy người bạn học. Chúng tôi
22 Tháng Mười 20208:57 CH(Xem: 287)
Bài Kinh ĐẠI NIỆM XỨ (Trường bộ kinh Nikaya) là bài kinh quan trọng cho mọi Phật tử như trong phần mở đầu của bài Kinh, Đức Phật đã dạy: “Này chư tỳ kheo, đây là con đường độc nhất để đem lại sự thanh bình cho chúng sanh, vượt thoát sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh tríchứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ”.
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4895)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 265)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 269)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
19 Tháng Mười 20209:45 CH(Xem: 263)
Cúng vong linh và cúng cô hồn là tập tục, tín niệm dân gian có từ lâu đời, phổ biến trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Cúng vong linh thường thực hiện vào những ngày kỵ giỗ, con cháu soạn mâm cỗ dâng cúng ông bà cha mẹ và những người thân đã mất. Cúng cô hồntrai chủ phát tâm sắm sửa cơm nước lễ vật
18 Tháng Mười 202012:11 CH(Xem: 303)
Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung.
17 Tháng Mười 20206:19 CH(Xem: 340)
Với người hành thiền mong muốn có được tri kiến đúng đắn về năm uẩn qua việc thực hành Pháp Duyên Sanh, cuốn sách này chắc chắn sẽ là một tác phẩm đáng chú ý nhất. Nó cũng là một sự bổ sung rất ý nghĩa cho việc hiểu Pháp Duyên Sanh. U Than Daing, tác giả của cuốn sách, đã hoàn thành một sự giải thích rất rõ ràng và thấu đáo
16 Tháng Mười 20207:35 CH(Xem: 292)
Đúng, khi người tu thấy ra sự sinh diệt, vị ngọt và sự nguy hại của các pháp hữu vi sẽ không còn ham muốn chấp trước bất kỳ điều gì ở đời. Như Bồ-tát Siddhattha xuất gia không bao lâu đã chứng đắc vị ngọt của tất cả thiền định hữu vi hữu ngã nhưng khi đã thấy ra định này chỉ tạo sự dính mắc trong sắc ái, vô sắc ái ngài liền từ bỏ.
15 Tháng Mười 20204:39 CH(Xem: 297)
Thầy đã nhận được thư con và đọc nhiều lần lá thư ấy. Thầy rất thương con! Con cũng giống như thầy ngày xưa khi mới bỡ ngỡ bước chân đi tìm đạo, thật cô đơn và bơ vơ, không biết phải đi về đâu nữa. Khổ nhất là cái cảnh nửa đời nửa đạo như thế. Đời thì vừa chán vừa sợ, mà sợ nhất là những đam mê của nó cùng với phiền não
14 Tháng Mười 20203:07 CH(Xem: 361)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2647)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
14 Tháng Mười 20209:01 SA(Xem: 2085)
Nhiều Phật tử suy nghĩ về giáo pháp quá nhiều mà thực hành rất ít. Thiếu những trải nghiệm như thế nào là giữ giới, và thiếu dữ liệu từ những tầng thiền định sâu (Thiền Na- Jhana), vô tình họ đã bóp méo giáo pháp bằng những mơ tưởng viển vông của chính họ. Bài kinh Udana (Ud1.10), ghi lại lời Phật dạy cho Bāhiya, là một bài kinh ngắn
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1995)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3670)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5223)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 936682)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4895)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2868)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4895)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 265)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 269)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2647)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1725)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1625)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.