00. Giới Thiệu

28 Tháng Mười Một 20198:28 CH(Xem: 2129)
00. Giới Thiệu

TinhThuc_A
Tỉnh Thức (Awareness Itself)
Ajaan Fuang Jotiko
Chuyển ngữ từ Thái sang Anh: Tỳ Khưu Thanissaro
Chuyển Ngữ từ Anh sang Việt: Diệu Liên Lý Thu Linh
Nguồn: thuvienhoasen.org

 

____________________


00. GIỚI THIỆU

 

Ajaan Fuang Jotiko, thầy tôi, sinh năm 1915 trong một gia đình nông dân nghèo tại tỉnh Chanthaburi, gần biên giới Campuchia về phía Đông Nam Thái Lan.  Mồ côi ở tuổi mười một, ông được các chùa nuôi dưỡng, và được thọ giới xuất gia năm ông vừa hai mươi tuổi.  Tuy nhiên, khi bắt đầu học giới luật ở tu viện, sư nhận ra rằng các vị sư ở đó không thực sự nghiêm túc trong việc thực hành các lời Phật dạy.  Vì thế sư ao ước tìm được một vị thầy có thể giáo huấn sư đúng theo những gì sư đã được đọc.

 

Vào năm tu học thứ hai, cơ may đó đã đến khi ngài Ajaan Lee Dhammadharo, một thành viên của truyền thống tu khổ hạnh trong rừng -do ngài Ajaan Mun Bhuridatto tạo dựng- đến thăm chùa với ý định xây thiền viện trong một nghĩa trang cổ, giáp với Chanthaburi.  Chọn tu học theo thiền sư Ajaan Lee, sư thọ lại giới theo hệ phái đó và về trú nơi thiền viện mới.

 

Từ đó trở đi, trừ một vài ngoại lệ, sư luôn an cư mùa mưa dưới sự hướng dẫn của sư phụ Ajaan Lee cho đến khi vị này mất năm 1961.  Một trong những ngoại lệ là thời gian năm năm trong thế chiến thứ II, sư một mình hành thiền trong các rừng thuộc miền bắc Thái Lan.

 

Lần khác nữa là thời gian sáu năm -trong những năm đầu của 1950- khi thiền sư Ajaan Lee giao trách nhiệm cho Ajaan Fuang trông coi thiền viện Chanthaburi để ngài đi du hành đến nhiều vùng ở Thái Lan, chuẩn bị tìm chỗ cư ngụ tại Bangkok.  Năm 1957, khi ngài Ajaan Lee đã xây dựng được Wat Asokaram, một thiền viện mới tại Bangkok, Ajaan Fuang lại theo sư phụ về đó, để giúp chăm sóc công trình được coi là một công trình lớn cuối cùng trong cuộc đời thiền sư Ajaan Lee.

 

Sau khi thiền sư Ajaan Lee viên tịch, đáng lý ra Ajaan Fuang sẽ làm trụ trì của Wat Asokaram.  Nhưng lúc đó, tu viện này đã phát triển thành một cộng đồng lớn, phức tạp không dễ quản lý, nên sư không muốn nhận vị trí đó.  Vì thế năm 1965, khi ngài Tăng thống của Thái Lan, tại trú xứ Wat Makut Kasatriyaram (Ngôi chùa Vương Miện Vua) ở Bangkok, mời sư đến an cư mùa mưa ở đó, để hướng dẫn ngài hay bất cứ tu sĩ nào thích học thiền, sư vui vẻ nhận lời.

 

Ajaan Fuang trải qua ba mùa an cư tại Wat Makut, còn vào các mùa khô, sư du hành về vùng quê để sống độc cưMặc dầu sư rất tôn trọng ngài Tăng thống với tư cách cá nhân, nhưng sư cảm thấy chán nản với những trò chính trị mà sư chứng kiến ở các cấp lãnh đạo tâm linh, nên sư bắt đầu tìm đường thoát ra.

 

Năm 1968, một tín nữ tên Khun Nai Sombuun Ryangrit cúng cho ngài Tăng thống đất để xây một tu viện nhỏ trong vùng núi gần bờ biển của tỉnh Rayong, không xa Chanthaburi mấy.  Ajaan Fuang xung phong đi trông coi tu viện này, Wat Dhammasathit, cho đến khi một vị trụ trì chính thức được chọn.  Tuy nhiên, tu viện này ở trong một khu rất nghèo, dân cư không mấy hoan nghênh ý tưởng có một tu viện chuyên tu thiền trong vùng đất của mình.  Vì thế không tu sĩ nào muốn nhận làm trụ trì tu viện.  Do đó, Ajaan Fuang tự nhận làm trụ trì của Wat Dhammasathit, không lâu trước khi ngài Tăng thống mất trong một tai nạn xe hơi năm 1971.

 

Lần đầu tiên tôi được gặp thiền sư Ajaan Fuang là vào tháng Tư năm 1974.  Lúc đó, Wat Dhammasathit xem giống như một trại hè đã xuống cấp: có ba nhà sư sống trong ba cái thất nhỏ, một chái nhỏ là nơi các vị thọ thực, một nhà bếp vừa đủ chỗ cho vài ba tu nữ, và một ngôi điện gỗ nhỏ trên đỉnh đồi –là nơi ở của tôi – nơi có biển ở về hướng nam.  Miếng đất cúng dường, trước đó đã trải qua một đám cháy, thiêu rụi tất cả cây cối, và các sườn đồi phủ đầy cỏ lau.  Cháy rừng hằng năm vẫn xảy ra trong khu vực, khiến cây cối không thể mọc cao, dầu vùng núi phía trên tu viện phủ đầy cây rừng nhiệt đới rậm rạp.

 

Mặc các điều kiện khó khăn này, Ajaan Fuang dường như có đôi mắt sáng, một trí tuệ tuyệt vời giúp sư chuyển hóa mọi thứ chung quanh –một nội tâm bình lặng, hạnh phúcvững chãi mà tôi luôn ngưỡng vọng.  Sau vài tháng hành thiền dưới sự hướng dẫn của sư, tôi trở về Mỹ, sau đó trở lại Thái Lan vào mùa thu năm 1976 để xuất gia và bắt đầu tu tập rốt ráo dưới sự chỉ dạy của sư.

 

Trong thời gian tôi vắng mặt, Ajaan Fuang đã gầy dựng được một nhóm cư sĩ thiền sinh tuy nhỏ nhưng rất thành tâm.  Đầu năm 1976, vị trụ trì mới của Wat Makut đã mời Ajaan Fuang trở lại để tổ chức các khóa tu thiền thường xuyên.  Cả cuộc đời còn lại –cho đến khi mất năm 1986- Ajaan Fuang chia đều thời gian cho việc đi lại giữa Bangkok và Rayong.  Phần lớn các đệ tử của sư thuộc tầng lớp trí thức tại Bangkok.  Họ thiền tập để tìm sức mạnh tâm linhđiểm tựa trong môi trường xã hội tân tiến với những áp lực chóng mặt của Thái Lan.

 

Năm đầu tiên khi tôi trở lại Rayong, tu viện Dhammasathit là một nơi tách biệt và im ắng đến khó tưởng, với chỉ một nhóm tu sĩ và gần như không có khách vãng lai.  Các vụ cháy rừng đã được kiềm chế, một khu rừng mới đang phát triển.  Tuy nhiên, vào mùa thu năm 1979, không khí yên tĩnh bắt đầu biến mất khi việc xây dựng tháp trên ngọn đồi được triển khai.  Vì tháp được xây dựng gần như hoàn toàn do công sức đóng góp, nên có nhiều thành phần tham gia –tu sĩ, cư sĩ từ Bangkok, và dân trong làng.

 

Lúc đầu tôi không thích vì nếp sống bình lặng của tu viện bị xáo trộn, nhưng tôi bắt đầu nhận thấy có điều gì rất thú vị xảy ra:  Những người có thể không bao giờ nghĩ đến việc tu thiền lại vui vẻ góp sức xây dựng vào cuối tuần; những lúc nghỉ tay, khi các thiền sinh theo Ajaan Fuang đi hành thiền, thì những người mới này cũng tham gia, rồi chẳng bao lâu họ cũng trở thành các thiền sinh thường xuyên.  Nhờ đó, tôi bắt đầu biết đến bài học quan trọng về phương cách hành thiền trong những điều kiện không như ý.  Ajaan Fuang bảo với tôi rằng dầu bản thân sư cũng không thích công việc xây dựng, nhưng có những người sư cần giúp, và đây là cách duy nhất để sư có thể tiếp cận họ.  Ngay sau khi ngôi tháp hoàn thành vào năm 1982, công trình lại tiếp tục với việc xây một tượng Phật lớn đặt nền trên gian phòng nơi thường dùng làm lễ xuất gia, và cứ thế, khi công việc làm tượng tiến triển, càng ngày càng có nhiều tình nguyện viên tham gia hành thiền.

 

Trong những năm cuối đời, sức khỏe của Ajaan Fuang trở nên tồi tệ.  Một bệnh nhiễm da nhẹ của Ajaan Fuang xảy ra trong thời gian sư ở Wat Makut, phát triển thành bệnh vảy nến nặng, và không có thuốc gì –Tây, Thái hay Trung- có thể chữa trị được.  Tuy vậy, sư vẫn duy trì thời khóa biểu dày đặc, dầu sư ít khi thuyết giảng cho đám đông thính giảTrái lại, sư thích dạy cho từng cá nhân riêng lẻ.  Cách sư hay làm để giúp người bắt đầu hứng thú với việc tu thiềnthiền tập chung với họ, hướng dẫn họ qua những khó khăn bước đầu, sau đó để họ càng lúc càng tự hành một mình, và sư lại quay sang giúp các thiền sinh mới khác.  Ngay cả khi bệnh vảy nến của sư trở nên trầm trọng, sư vẫn dành thời gian để dạy đệ tử một cách riêng lẻ.  Kết quả là, các đệ tử của sư –dầu khá ít so với con số đệ tử của sư phụ Ajaan Lee và các vị thiền sư nổi tiếng khác- trung thành sâu sắc với sư.

 

Tháng Năm, 1986, chỉ vài ngày sau khi tượng Phật hoàn thành, nhưng trước khi phòng thọ giới xuất gia hoàn thành, Ajaan Fuang bay qua Hong Kong để viếng một đệ tử vừa gầy dựng được một trung tâm thiền tại đó.  Bỗng nhiên, vào sáng ngày 14, tháng Năm, khi đang ngồi thiền, sư bị đột quỵ.  Người đệ tử gọi xe cấp cứu ngay khi nhận biết điều gì đang xảy ra, nhưng Ajaan Fuang đã tắt thở khi vừa đến bệnh viện.

 

Vì trước đó vài năm, Ajaan Fuang đã yêu cầu không hỏa táng xác sư, nên người ta bắt đầu kế hoạch xây cho sư một tòa tháp.  Tôi được giao trách nhiệm biên soạn tiểu sử và ghi lại các băng ghi âm thuyết pháp nào có thể sử dụng được để phát hành nhằm tưởng nhớ sư.  Tôi khám phá ra, với sự ngỡ ngàng, là tôi biết về cuộc đời Ajaan Fuang nhiều hơn bất cứ ai khác.  Những người sư từng có thời chung sống hồi tuổi trẻ hoặc đã chết hoặc già quá nên không còn nhớ gì nữa.  Bỗng dưng các giai thoại mà sư đã kể cho tôi nghe trong năm đầu tiên khi tôi quay trở lại với sư –về thời tuổi trẻ và những năm tháng sống với sư phụ Ajaan Lee- trở nên cốt lõi trong phần tiểu sử của sư.  Thật đáng tiếc khi nghĩ đến bao nhiêu điều có thể tôi đã thiếu sót, vì khả năng thông thạo tiếng Thái và sự hiểu biết về văn hóa Thái của tôi vẫn còn hạn chế.

 

Càng đáng buồn hơn khi biết rằng những lời dạy của Ajaan Fuang để lại cho hậu thế quá ít ỏi.  Thông thường, sư không cho phép ghi âm các bài giảng, vì sư cho rằng những lời dạy đó chỉ dành cho những người biết lắng nghe để có thể thực hành ngay tại chỗ, tức thì, và chúng có thể không phù hợp cho người khác ở giai đoạn khác trong sự thực hành của họ.  Một vài băng ghi âm có được là từ các bài nói chuyện đơn giản, nhằm giới thiệu với khách vãng lai lần đầu tiên đến thiền viện cúng dường theo nhóm hoặc những người mới bắt đầu tu thiền.  Các đề mục thâm sâu hơn hoàn toàn không được ghi âm.

 

Vì thế sau khi in bộ sách để tưởng nhớ Ajaan Fuang, tôi tự bắt tay vào công trình của riêng mình.  Tôi viết xuống tất cả những gì tôi có thể nhớ về các lời dạy của sư, phỏng vấn các đệ tử khác về các đề tài tương tự.  Các cuộc phỏng vấn kéo dài hơn hai năm và đòi hỏi nhiều công phu biên tập để rút ra những giáo huấn có thể hữu ích cho mọi người, nói chung, và có thể in thành sách.  Kết quả là chúng tôi có một quyển sách mỏng với tựa đề, The Language of the Heart (Ngôn Ngữ Của Trái Tim -NNCTT).  Rồi, không lâu trước khi tôi trở về Mỹ để giúp thành lập một tu việnCalifornia, một cuộn băng ghi âm khác của Ajaan Fuang đã được tìm thấy.  Một bài giảng qua đó sư đã nói những điều sâu xa hơn cho một trong những đệ tử của sư.  Tôi đã viết lại theo băng ghi âm và sắp xếp để in trong một tập sách mỏng có tựa đề, Transcendent Discernment  (Trí Tuệ Siêu Việt-TTSV).

 

Quyển sách mà bạn đang cầm trong tay được trích từ ba quyển sách trên.  Phần lớn là từ quyển The Language of the Heart (NNCTT), dầu tôi đã cắt bớt một phần sách vì chúng chỉ liên quan đến những sự việc thuộc văn hóa Thái, hoặc vì cách chơi chữ hay nói bóng trong ngôn ngữ Thái không thể dịch sang ngôn ngữ khác.  Ajaan Fuang thích chơi chữ - tính khôi hài của sư là một trong những thứ thu hút tôi đến với sư trước tiên- và rất nhiều những câu nói đáng nhớ của sư là thuộc dạng này.  Tiếc thay, phần lớn các đoạn văn này đánh mất ý nghĩa đó trong dịch thuật, và việc phải giải thích chúng sẽ nhanh chóng trở nên quá tỉ mỉ, nên tôi đã lược bỏ gần như tất cả, trừ một số ít –thí dụ như chuyện “rác”- (litter) là một thí dụ về cách sư chơi chữ.

 

Bên cạnh các phần trong The Language of the Heart (NNCTT), tôi thêm vào gần như toàn bộ Transcendent Discernment (TTSV) cùng với những phần nổi bật trong tập kỷ yếu.  Không phải tất cả là dịch thẳng từ các sách trên, ở một số chỗ tôi phải kể lại các giai thoại để chúng dễ hiểu hơn đối với các độc giả ngoài Thái Lan.  Tuy nhiên, tôi rất cẩn trọng xuyên suốt quyển sách để dịch thông điệp của Ajaan Fuang chính xác nhất trong khả năng của tôi.

 

Trong quá trình tổng hợp quyển sách này, tôi đã có cơ hội để hồi tưởng lại quan hệ thầy trò ở Thái, và các cách đối xử của Ajaan Fuang với các đệ tử của mình, cư sĩ hay tu sĩ.  Sư đã tạo một môi trường cởi mở, thân thiệntôn trọng qua đó các đệ tử có thể thảo luận với sư về những vấn đề đặc biệt trong đời sống tại gia hay xuất gia của họ, mà không cảm thấy mình là bệnh nhân hay khách hàng, mà chỉ như là với một đồng loại; người có thể hướng họ đến một điểm tựa bền vững trong cuộc đời.  Từ khi trở về đây (Mỹ), buồn thay tôi thấy thiếu vắng sự quan hệ giữa thầy trò như thế.  Tôi mong rằng khi Phật giáo đã trụ vững ở đây, mối quan hệ đó cũng sẽ được phát triển, để mang lại lợi ích tinh thầntâm linh cho cả xã hội.

 

Một số người Thái có lần hỏi tôi thấy điều gì đáng ngưỡng mộ nhất ở Ajaan Fuang.  Họ mong là tôi sẽ nói đến khả năng có thể đọc được tư tưởng người khác hay các năng lực siêu nhiênMặc dầu có những điều như thế - việc sư biết tâm tôi quá diệu kỳ- tôi nói với họ là chính sự tử tế và nhân bản của sư khiến tôi ngưỡng mộ nhất:  Suốt những năm bên nhau, sư chẳng bao giờ làm gì khiến tôi cảm thấy mình là người Tây phương hay rằng sư là người Thái.  Chúng tôi luôn đối thoại một cách trực tiếp, bình đẳng giữa con người với nhau, bất kể sự khác biệt về văn hóa.  Tôi biết rằng nhiều đệ tử khác của sư, dầu không nói ra như thế, họ vẫn cảm nhận những đức tính đó ở sư.

 

Tôi gửi quyển sách này đến độc giả như một cách chia sẻ những gì tôi đã được học từ Ajaan Fuang, và riêng dành, với lòng tôn kính sâu xa nhất, để tưởng nhớ đến sư.  Có lần sư nói với tôi rằng nếu không nhờ sư phụ Ajaan Lee, sư sẽ chẳng bao giờ nhìn ra được sự huy hoàng của cuộc sống.  Tôi cũng mang cái ơn đó đối với sư.

Thanissaro Bhikkhu (Geoffrey DeGraff)                          

Thiền Viện Metta Forest Valley Center, CA 92082-1409

 

Ghi Chú:  Trong bản dịch mới này, tôi (tỳ kheo Thanissaro) đã thêm phần có tựa là “Công Đức” (Merit).  Phần này trong bản in đầu tiên năm 1993 không có.

 

____________________

 

 

Vài nét về Thiền Viện Metta Forest Valley Center:

 

Thiền viện “Metta Forest Monastery là một tu viện thiền trong rừng của truyền thống tu viện trong rừng ở Thái Lan. Được thành lập vào năm 1990 bởi Ajaan Suwat Suvaco, ngày nay được đặt dưới sự chỉ đạo của Thiền sư Thanissaro Bhikkhu (Ajaan Geoff) với tư cáchtrụ trìthiền sư từ năm 1993. Hiện tại có tám nhà sư người Mỹ và một nhà sư Thái Lan đang cư trú.

 

Tu viện nằm bên ngoài Valley Center of California ở cuối con đường trong một vườn bơ được bao quanh bởi những ngọn núi và nhà nguyện của miền bắc Hạt San Diego. Là một thiền viện, với mục đích chính tạo cho nam nhân có cơ hội xuất gia làm Tỳ kheo để thực hành Pháp và Luật Vinaya do Đức Phật dạy cách đây hơn 2.500 năm.

 

Cư sĩ cũng được chào đón tại Tu viện để thực hành giáo lý của Đức Phật.

 

Tu viện mở cửa hàng ngày, quanh năm cho những người muốn đến thăm. Không cần thiết phải gọi trước xin phép. Muốn biết thêm chi tiết xin truy cập trang mạng: monastery etiquette.



____________________





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 7194)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 2963)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 3559)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 2812)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 2378)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 1448)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 1425)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 1124)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 1297)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 1342)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 1240)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 1411)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 1289)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 1581)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 1864)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 1518)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 1901)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 1436)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 1457)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 1294)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 1424)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 1455)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 1367)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 1339)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 1194)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3086)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 4839)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6526)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 1890)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 1850)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 1754)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1713)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 7194)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1507)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1573)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 4465)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 3384)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng