13. Tu Chứng

28 Tháng Mười Một 20198:28 CH(Xem: 1368)
13. Tu Chứng

TinhThuc_A
Tỉnh Thức (Awareness Itself)
Ajaan Fuang Jotiko
Chuyển ngữ từ Thái sang Anh: Tỳ Khưu Thanissaro
Chuyển Ngữ từ Anh sang Việt: Diệu Liên Lý Thu Linh
Nguồn: thuvienhoasen.org

 

____________________


13. TU CHỨNG

 

Bài pháp thoại này được ghi âm lại từ bài giảng của thiền sư Ajaan Fuang cho một trong các đệ tử của ngài, khi người này gặp bế tắc trong pháp tu của mình.

 

   Một khi tâm đã trụ vững chãi vào hơi thở, ta mới cố gắng để tách biệt tâm ra khỏi đối tượng của nó –khỏi chính hơi thở đó.  Hãy chú tâm vào điều này:  Hơi thở là một yếu tố, một phần của yếu tố gió.  Ý thức đến hơi thở lại là chuyện khác.  Nên ở đây ta có hai thứ đi với nhau.  Khi ta có thể tách biệt chúng –qua sự nhận thức rằng bản chất thật sự của hơi thở chỉ là một thành tố - thì tâm có thể tự tại.  Suy cho cùng, hơi thở không phải là ta, mà ta cũng không phải là hơi thở.  Khi ta có thể tách biệt sự vật theo cách này, tâm sẽ mạnh lên.  Nó sẽ không bị trói buộc vào hơi thở, và cảm nhận được mọi trạng thái của hơi thở.  Khi chánh niệm đã tràn đầy, tâm sẽ ý thức được mọi trạng thái của hơi thở, và có thể tự tách biệt ra khỏi các trạng thái đó.

 

Nếu như khi đang quán niệm như thế, tâm trở nên vững mạnh, chánh niệm sắc bén, đó là khi tuệ giác có thể phát sinh.  Tuệ giác phát khởi vào lúc đó, giúp ta biết rằng mình thực sự buông xảTuy nhiên, nếu chánh niệm vẫn còn yếu, ta không thể buông.  Chỉ khi chánh niệm thực sự nổi bật thì nó và tuệ mới phát khởi cùng nhau.

 

Đây là cái mà ta phải luôn quán niệm bất cứ khi nào có cơ hội.  Khi ta có thể tách biệt tâm ra khỏi các đối tượng, nó sẽ được giải phóng khỏi các ràng buộc.  Do đó, hãy trụ vững chánh niệm ngay trong tâm.  Hãy để nó chú tâm ngay đó, rồi quán sát hơi thở và cái biết về hơi thở.  Hãy quán sát càng nhiều càng tốt, dần dần ta sẽ thấy chúng tách biệt nhau.  Khi đó ta sẽ có cơ hội để quán sát sâu hơn vào bên trong.  Một khi ta đã quán sát được yếu tố này, ta sẽ có thể áp dụng phương cách này đến với tất cả mọi thứ khác.

 

Khi quán sát hơi thở, ta sẽ thấy rằng nó không phải là chúng sanh, là con người –thì có gì để bám víu vào?  Ta không thể bám vào đó như cái ngã của mình, đơn giản vì nó có đường đi riêng của nó.  Khi quán sát hơi thở, ta thấy nó không có thân –không đầu, không chân tay, không có bất cứ thứ gì.  Khi nhận thấy như thế, ta sẽ có thể buông xả nó, đúng như cách nó thực sự là.

 

Kinh điển dạy, 'Cago patinissaggo mutti analayo': Khi tách rời hơi thở, ta tháo gỡ mọi quan tâm về nó.  Ta không còn coi nó là nơi trú ngụ của mình nữa – vì nó không phải là của ta.  Ta buông để nó đi theo bản chất tự nhiên của nó.  Ta trả nó lại.  Nó có gì, ta trả lại cho thiên nhiên.  Tất cả mọi yếu tố -đất, nước, gió, lửa và hư không- ta trả về cho thiên nhiên.  Ta để chúng trở lại với bản thể của chúng.  Khi quán sát tất cả năm yếu tố này, ta thấy chúng không phải là một chúng sanh, không phải con người, không phải ‘ta’, không phải ‘họ’.  Ta để tất cả trở về với bản thể đầu tiên của chúng.

 

Điều này khiến ta nghĩ, cái gì là cái biết về năm yếu tố này.  Hiện giờ, nó đang biết gì?  Hãy hướng năng lực quán sát của ta vào yếu tố biết này, với chỉ riêng mình nó, không còn gì khác nữa.  Quán sát nó để thấy cái gì là cái gì, và đó cũng là khi một mức độ  tri giác khác sẽ phát khởi.

 

Nếu ta muốn có được cái tri giác để buông tất cả theo đúng với bản chất nguyên thủy của chúng, thì ta phải có sự nhận thức đặc biệt phát khởi với pháp hành xả.  Nếu khôngnhận thức này, tâm buông xả của ta chỉ là cái tưởng, cái danh hiệu chế định bình thường mỗi ngày.  Là trí tuệ thế tục.  Nhưng khi sự nhận thức này phát khởi trong pháp hành xả -ngay khi ta buông, kết quả sẽ quay ngay lại với ta, để kiểm chứng, để bảo đảm cái gì đã xảy ra thực sự là như thế: ta biết. Ta đã buông.  Rồi ta sẽ trải nghiệm sự thuần khiết bên trong ta.

 

Đây được gọi là trí tuệ siêu thế.  Khi nhận thức phát khởi bên trong ta, để kiểm chứng ta đã thấy gì, ta đã làm gì, đó gọi là trí tuệ siêu thế.  Khi nào nhận thức này không phát khởi, trí tuệ của ta vẫn chỉ là thế tục.  Vì thế cứ tiếp tục quán sát sự việc cho đến khi tất cả mọi điều kiện đều chín muồi.  Khi đó, ta không cần phải làm thêm gì nữa, vì trí tuệ siêu thế hoàn toàn thẩm thấu mọi thứ ngay giây phút chúng vừa phát sinh.  Nó không giống trí tuệ thế tục chút nào.

 

Như thế con đường chúng ta đí, là quán sát, là tìm hiểu sự việc.  Hãy luôn chú tâm quán sát, điều nghiên cho đến khi đạt đến chỉ tiêu mình đã đề ra.  Khi tâm đã đạt đến điểm đó, nó tự biết buông.  Đó là khi tâm đạt đến sự trọn vẹn –Pháp bên trong tâm đã được tròn đầy –thế là nó buông xả.  Một khi nó buông, kết quả sẽ hiện ra ngay.

 

Vì thế, hãy tiếp tục thực hành.  Không có gì phải sợ.  Ta sẽ đạt được kết quả, không nghi ngờ gì về điều đó.  Ta sẽ đạt kết quả trên suốt chặng đường.  Giống như ngay bây giờ, khi đang ngồi thiền ở đây.  Ta biết là hơi thở và tâm đang hòa hợp với nhau.  Đó là kết quả của việc thực hành.  Dầu chưa đi đến cuối đường, ta cũng đạt được cảm giác dễ chịu, thoải mái trong việc hành thiền.  Tâm nhịp nhàng theo từng hơi thở vào ra.  Khi nào tâm và hơi thở còn chưa tách rời khỏi nhau, chúng phải nâng đỡ nhau tiến tới.  Tâm giúp hơi thở, và hơi thở giúp tâm cho đến khi chúng hoàn toàn hiểu biết nhau.  Khi tâm đã thấu hiểu hoàn toàn, nó có thể buông xả.  Khi nó biết, nó buông.  Khi nào nó còn chưa thực sự biết, nó không thể thực sự buông.

 

Điều này có nghĩa là ta phải gắn với hơi thở, bỏ thời gian với nó, để dần dần hiểu được nó.  Khi tâm ngày càng thấu hiểu, nó sẽ có thể tháo gỡ sự bám víu vào thân, thọ, tưởng, hành và thức.  Các quan niệm -tự xác chứng- xem các thứ này là cái ngã- sẽ tan rã.  Đó là con đường đi đến giải thoát.  Ngay khi trí tuệ siêu thế phát sinh, ta sẽ được giải thoát.  Ta sẽ có thể tháo gỡ mọi trói buộc từ các sự thật chế định của cuộc sống như: người, ta, ngã, đàn ông, đàn bà, chúng ta, chúng nó, vân vân.

 

Nhưng khi nào ta còn chưa thể buông, ta vẫn phải tùy thuộc vào chúng.  Chúng là điểm tựa, chứ không phải là nơi nương trú.  Chỉ là ta và chúng dựa vào nhau, giúp nhau tu tiến, để ta có thể tiến bộ trên con đường đạo.  Ta không thể bỏ rơi chúng, vì chúng là con đường để ta thực hành.  Khi nào ta còn tu tập, ta sẽ không rơi lại chỗ cũ.  Nhưng ngay khi ta xao lãng việc thực hành, ta sẽ lập tức trượt về phía sau.  Ta sẽ rơi vào cạm bẫy của nghi hoặc, tự hỏi không biết Pháp có chân thực hay không.

  

Ta phải tiếp tục làm người quán sát tâm: sự tỉnh thức.  Không phải là tâm không tỉnh thứcĐặc tính căn bản của tâm là tỉnh thức.  Hãy quán sát nó.  Nó nhận biết mọi thứ - nhận biết, nhưng chưa thể buông các tưởng, các mặc định mà nó cho là đúng, là chân thực.  Vì thế ta phải quán sát nó.  Chú tâm đến nó cho đến khi tâm và đối tượng của tâm có thể tách rời nhau.  Cứ tiếp tục.  Nếu ta kiên trì như thế, không buông lơi, tâm nghi hoặc sẽ dần dần phai nhạt, phai nhạt, cho đến khi ta có thể đạt đến sự nương trú thực sự bên trong ta; sự tỉnh thức căn bản được gọi là buddha, cái thấy rõ ràng xuyên thấu mọi sự vật.  Đó là khi Phật, Pháp và Tăng xuất hiện bên trong ta như là nơi nương trú cuối cùng.

 

Đó là khi ta biết điều gì thực sự ở bên trong, điều gì thực sự không có mặt, điều gì thực sự là điểm tựa và điều gì thực sự là nơi nương trú của ta.  Ta sẽ có thể phân biệt các thứ này.

 

Những gì ở bên ngoài chỉ là các điểm tựa.  Giống như thân: nó là một điểm tựa.  Trong giây phút ngắn ngủi khi các thành tố của đất, nước, gió và lửa tụ họp cùng nhau, ta có thể tựa vào thân.  Nhưng đối với nơi nương trú thực sự, như ta đã biết:  Đó chính là sự tỉnh thức cơ bản, trong tâm ta.  Tâm ý thức đến hơi thở là sự nương trú ở một thứ bậc.  Khi nó tách rời khỏi hơi thở, là một thứ bậc nương trú khác.  Còn sự nương trú thực sự của ta –buddha – đó là ý thức nằm sâu hơn bên trong.  Một khi nhận thức được điều này, ta biết sự thật chỉ có thế.  Nó là tối thượng tự thân.  Nó biết tất cả chung quanh rõ ràng, thấu đáo.  Đó là chỗ nương trú thực sự bên trong ta.

 

Còn đối với những thứ bên ngoài, chúng chỉ là sự hỗ trợ tạm thời, những thứ ta chỉ tùy thuộc vào một lúc thôi, giống như cái nạng.  Khi nào còn hơi thở để giữ chúng sinh tồn, ta còn sử dụng đến chúng.  Khi không còn hơi thở, thì chấm dứt mọi vấn đề.  Các yếu tố vật lý tách rời và không còn phụ thuộc vào nhau, nên tâm trở về với nơi nương trú thực sự của nó.  Và đó là ở đâu? Cái tri giác Phật-đà (Buddha) ở đâu?  Khi ta luyện tâm để nó chính là nơi nương trú tự thân, thì lúc đó trong trái tim quán chiếu không còn có nỗi ưu phiền nào nữa.

 

Chính Đức Phật cũng đi tìm sự nương trú này.  Ngài đã dạy tất cả các đệ tử của ngài nương trú nơi bản thân, vì ta chỉ có thể dựa vào người khác trong một thời gian ngắn.  Người khác chỉ hướng cho ta con đường.  Nhưng nếu ta muốn những gì thực sự tốt và chân thật trong cuộc sống, ta phải tự dựa vào bản thân –tự tu, tự huân tập, nghĩa là tùy thuộc vào bản thân trong mọi hoàn cảnhĐau khổ là do chính bạn.  Hạnh phúc cũng từ bạn mà ra.  Giống như khi ăn:  Nếu ta không ăn, thì làm sao no?  Nếu ta để người khác ăn giùm, làm sao ta có thể no?  Nếu ta muốn no, chính ta phải tự ăn.  Với sự tu hành cũng thế.

 

Ta không thể để bản thân bám víu vào những thứ ở bên ngoài.  Sự vật ở bên ngoài ta không chắc chắnVô thường.  Không thể dựa vào.  Chúng thay đổi theo từng hơi thở vào ra.  Điều này đúng cho tất cả mọi người, không chỉ riêng ta.  Nếu ta không chia tay với người khi còn sống, thì ta cũng phải chia tay lúc chết.  Ta chia tay mọi thứ trong từng hơi thở vào ra.  Ta không thể đặt ý nghĩa cuộc đời mình vào những thứ này –mà ta cũng không cần làm thế.  Ta chỉ cần nói với bản thân rằng đây là cách thế gian vận hành.  Không có gì bền vững trên thế gian này.  Dẫu ta không muốn thế, nhưng sự vật có tính cách riêng của chúng.  Chúng không nằm dưới quyền kiểm soát của ai cả.

 

Điều đó không chỉ đúng với sự vật ở bên ngoài, mà cả với những gì bên trong ta.  Ta muốn thân sống hoài, không muốn nó chết, nhưng nó vẫn chết.  Ta không muốn nó đổi thay, nhưng nó luôn thay đổi.

 

Đó là lý do tại sao ta phải giữ cho tâm hoàn thiện để nó có thể nương trú vào bản thân, đúng theo các nguyên tắc thiện xảoĐức Phật đã dạy.  Và ta cũng không cần phải nghi hoặc về con đường thực hành, vì tất cả mọi đức tính ta cần để tiến tu đã có mặt sẵn trong ta.  Tất cả mọi thứ xấu và tốt đều có mặt trong ta.  Ta đã biết con đường nào thiện, và con đường nào u tối, nên tất cả những gì ta phải làm là huấn luyện tâm đi theo con đường thiện.  Hãy dừng lại và tự quán xét ngay lúc này:  Bạn có đang đi đúng đường?  Điều gì sai, đừng bám víu nữa.  Hãy buông nó.  Quá khứ, tương lai hay bất cứ gì, hãy buông, chỉ giữ lại hiện tại.  Hãy giữ tâm luôn cởi mở, tự tại trong hiện tại, sau đó bắt đầu quán sát.

 

Ta đã biết sự vật bên ngoài không thuộc về ta, nhưng ở bên trong có nhiều cấp độ ta phải quán xét.  Nhiều tầng mức ta phải quán sát.  Ngay cả tâm cũng không thực sự là của ta.  Vẫn còn những thứ uế nhiễm, vô thường trong đó.  Đôi khi nó muốn làm điều này, lúc muốn làm điều khác, nó không thực sự thuộc về ta.  Nên đừng quá bám víu vào nó.

 

Vấn đề lớn là việc thiết lập tư tưởng.  Đôi khi ta có thiện ý, đôi khi ác ý, ta biết rõ điều đó.  Ta không muốn nghĩ như thế, nhưng chúng vẫn tiếp tục hiện ra trong tâm, ngoài ý muốn của ta.  Vì thế ta phải coi chúng không thuộc về ta.  Quán xét chúng.  Không có gì đáng để dựa vào chúng.  Chúng không kéo dài.  Chúng là những sự kiện vô ngã, nên hãy để chúng đi theo bản tính tự nhiên của chúng.

 

Vậy thì có gì trường tồn, vững chắc, đáng tin cậy và chân thật?  Hãy tiếp tục tìm kiếm.  Đặt chánh niệm trên hơi thở, và tự hỏi mình ngay tại đấy.  Dần dần ta sẽ thấy được điều gì ở bên trong ta.  Bất cứ khi nào tâm có nghi hoặc hay các vấn đề trong việc thực hành, quay về chú tâm vào hơi thở, và hỏi tâm ngay tại đấy, rồi tri kiến sẽ phát khởi, để giải tỏa tà kiến của ta và giúp ta vượt qua trạng thái bế tắc của mình.

 

Nhưng ngay cả sự hiểu biết này cũng luôn biến đổi, khổ và vô ngã.  Sabbe dhamma anatta: Đức Phật đã nói, mọi thứ sinh khởi đều vô thườngvô ngã.  Ngay cả những sự hiểu biết phát khởi trong tâm ta cũng vô thường.  Đôi khi chúng phát khởi, đôi khi không.  Nên đừng quá bám víu vào chúng.  Khi chúng phát khởi, hãy nhận biết điều đó, rồi thì để chúng đi theo con đường của chúng.  Hãy để các quan điểm của mình là chánh kiến: có nghĩa là, chỉ vừa đúng, không đi quá đà.  Nếu ta quá đà theo chúng, bám chặt theo chúng, rồi chúng có thể đưa ta đi sai đường, do ta đã không còn ý thức mình đang làm gì.

 

Nói tóm lại, càng chánh niệm trong tu tập, càng tốt.  Khi tâm chánh niệm càng lúc càng thêm vững chãi, càng lúc càng thiện xảo, nó sẽ trở thành siêu thếTrí tuệ siêu thếchúng ta đã nhắc đến ở trên, phát khởi từ năng lực của chánh niệm khi nó trở nên ngày càng tròn đầy.

 

Vì thế hãy tiếp tục huân tập tâm chánh niệm cho đến khi nó trở thành đại chánh niệm.  Hãy cố gắng để giữ cho nó luôn có mặt, kiên định và chủ tâm, cho đến khi ta thấy tất cả mọi thứ như chúng là.  Đó là cách giúp ta tiến bộ trên đường học Phật.



____________________





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 4816)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1355)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1377)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1262)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 988)
25 Tháng Mười 202010:40 SA(Xem: 41)
Kỳ thi ra trường của tôi ở Đại học Cambridge năm 1972 là về đề tài vật lý lý thuyết. Đó là quãng thời gian khó nhọc. Toàn bộ sự nghiệp ăn học ở đại học dồn lại thành một loạt những bài-thi khảo sát. Một là đậu hai là rớt. Kỳ thi của tôi bao gồm một bài thi viết luận ba tiếng đồng hồ liên tục vào buổi sáng và một bài thi sát hạch ba tiếng đồng hồ
24 Tháng Mười 20209:58 CH(Xem: 70)
Tối nay tôi sẽ nói về đề tài “quán hay suy ngẫm, chiêm nghiệm” (contemplation) trong Phật giáo. Làm thế nào để quán chiếu, để chiêm nghiệm, để suy ngẫm về Pháp và làm thế nào để áp dụng những điều này trong sự thực hành. Một trong những lý do tôi muốn nói về điều này là vì mọi người hay hỏi tôi làm sao quán và quán như thế nào
23 Tháng Mười 202010:04 CH(Xem: 141)
Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 8, năm 1965, sau khi học xong khóa hè, tôi chuẩn bị sẽ đi California từ New York bằng xe hơi. Ngày ấy tôi mới 20 tuổi và sang tháng 9 tôi sẽ vào học Đại học Brooklyn. Tôi muốn đến thăm một người bạn. Anh ấy đang ở San Francisco mùa hè ấy. Tôi đã thu xếp để cùng đi với mấy người bạn học. Chúng tôi
22 Tháng Mười 20208:57 CH(Xem: 192)
Bài Kinh ĐẠI NIỆM XỨ (Trường bộ kinh Nikaya) là bài kinh quan trọng cho mọi Phật tử như trong phần mở đầu của bài Kinh, Đức Phật đã dạy: “Này chư tỳ kheo, đây là con đường độc nhất để đem lại sự thanh bình cho chúng sanh, vượt thoát sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh tríchứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ”.
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4816)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 204)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 219)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
19 Tháng Mười 20209:45 CH(Xem: 199)
Cúng vong linh và cúng cô hồn là tập tục, tín niệm dân gian có từ lâu đời, phổ biến trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Cúng vong linh thường thực hiện vào những ngày kỵ giỗ, con cháu soạn mâm cỗ dâng cúng ông bà cha mẹ và những người thân đã mất. Cúng cô hồntrai chủ phát tâm sắm sửa cơm nước lễ vật
18 Tháng Mười 202012:11 CH(Xem: 248)
Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung.
17 Tháng Mười 20206:19 CH(Xem: 260)
Với người hành thiền mong muốn có được tri kiến đúng đắn về năm uẩn qua việc thực hành Pháp Duyên Sanh, cuốn sách này chắc chắn sẽ là một tác phẩm đáng chú ý nhất. Nó cũng là một sự bổ sung rất ý nghĩa cho việc hiểu Pháp Duyên Sanh. U Than Daing, tác giả của cuốn sách, đã hoàn thành một sự giải thích rất rõ ràng và thấu đáo
16 Tháng Mười 20207:35 CH(Xem: 230)
Đúng, khi người tu thấy ra sự sinh diệt, vị ngọt và sự nguy hại của các pháp hữu vi sẽ không còn ham muốn chấp trước bất kỳ điều gì ở đời. Như Bồ-tát Siddhattha xuất gia không bao lâu đã chứng đắc vị ngọt của tất cả thiền định hữu vi hữu ngã nhưng khi đã thấy ra định này chỉ tạo sự dính mắc trong sắc ái, vô sắc ái ngài liền từ bỏ.
15 Tháng Mười 20204:39 CH(Xem: 231)
Thầy đã nhận được thư con và đọc nhiều lần lá thư ấy. Thầy rất thương con! Con cũng giống như thầy ngày xưa khi mới bỡ ngỡ bước chân đi tìm đạo, thật cô đơn và bơ vơ, không biết phải đi về đâu nữa. Khổ nhất là cái cảnh nửa đời nửa đạo như thế. Đời thì vừa chán vừa sợ, mà sợ nhất là những đam mê của nó cùng với phiền não
14 Tháng Mười 20203:07 CH(Xem: 308)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2549)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
14 Tháng Mười 20209:01 SA(Xem: 2023)
Nhiều Phật tử suy nghĩ về giáo pháp quá nhiều mà thực hành rất ít. Thiếu những trải nghiệm như thế nào là giữ giới, và thiếu dữ liệu từ những tầng thiền định sâu (Thiền Na- Jhana), vô tình họ đã bóp méo giáo pháp bằng những mơ tưởng viển vông của chính họ. Bài kinh Udana (Ud1.10), ghi lại lời Phật dạy cho Bāhiya, là một bài kinh ngắn
13 Tháng Mười 20209:53 CH(Xem: 289)
Khi tôi chết, tôi không muốn có những nghi lễ phô trương. Tôi đã viết di chúc dặn dò nếu tôi chết trong vòng năm mươi dặm của Trung tâm Thiền quán Bhavana (West Virginia, Hoa Kỳ), những người trong đạo tràng nên thu xếp hỏa táng thân xác tôi và sau đó, tùy ý xử lý tro cốt. Tôi không quan tâm. Nếu tôi chết ở nơi khác, họ có thể thu xếp
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2801)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
12 Tháng Mười 202010:53 CH(Xem: 303)
Bài học quý ở đây là: thực sự thực hành + nghe pháp để đối chiếu. Chúng ta chưa bao giờ hiểu đúng cả. Chúng ta chưa bao giờ thực hành đúng cả. Chúng ta chỉ đang tiệm cận dần đến cái đúng. Vì vậy đừng chủ quan. Đừng coi nhẹ những hướng dẫn cơ bản. Thỉnh thoảng cần nghe lại và tìm ra lối thoát cho vấn đề của mình trong đó.
11 Tháng Mười 202011:07 CH(Xem: 317)
Thiền là sự nghỉ ngơi trong tỉnh thức, nghỉ ngơi thật sự cả thân lẫn tâm, con không làm điều gì khác ngoài quan sát, vì vậy không nên ép mình hay đặt một mục tiêu nào cần đạt đến hết. Như con nói, nhiều khi chỉ đơn giản đang ngồi và enjoy với việc ngồi, đó là lúc con không ép mình và khi đó mới là lúc hành thiền đúng nhất đấy con ạ.
08 Tháng Mười 20204:08 CH(Xem: 414)
The Buddha-Dhamma is a moral and philosophical system which expounds a unique path of Enlightenment, and is not a subject to be studied from a mere academic standpoint. The Doctrine is certainly to be studied, more to be practised, and above all to be realized by oneself. Mere learning is of no avail without actual practice.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1965)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3630)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5154)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4816)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2801)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4209)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4816)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 204)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 219)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2549)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1659)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1582)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.