13. Tu Chứng

28 Tháng Mười Một 20198:28 CH(Xem: 2294)
13. Tu Chứng

TinhThuc_A
Tỉnh Thức (Awareness Itself)
Ajaan Fuang Jotiko
Chuyển ngữ từ Thái sang Anh: Tỳ Khưu Thanissaro
Chuyển Ngữ từ Anh sang Việt: Diệu Liên Lý Thu Linh
Nguồn: thuvienhoasen.org

 

____________________


13. TU CHỨNG

 

Bài pháp thoại này được ghi âm lại từ bài giảng của thiền sư Ajaan Fuang cho một trong các đệ tử của ngài, khi người này gặp bế tắc trong pháp tu của mình.

 

   Một khi tâm đã trụ vững chãi vào hơi thở, ta mới cố gắng để tách biệt tâm ra khỏi đối tượng của nó –khỏi chính hơi thở đó.  Hãy chú tâm vào điều này:  Hơi thở là một yếu tố, một phần của yếu tố gió.  Ý thức đến hơi thở lại là chuyện khác.  Nên ở đây ta có hai thứ đi với nhau.  Khi ta có thể tách biệt chúng –qua sự nhận thức rằng bản chất thật sự của hơi thở chỉ là một thành tố - thì tâm có thể tự tại.  Suy cho cùng, hơi thở không phải là ta, mà ta cũng không phải là hơi thở.  Khi ta có thể tách biệt sự vật theo cách này, tâm sẽ mạnh lên.  Nó sẽ không bị trói buộc vào hơi thở, và cảm nhận được mọi trạng thái của hơi thở.  Khi chánh niệm đã tràn đầy, tâm sẽ ý thức được mọi trạng thái của hơi thở, và có thể tự tách biệt ra khỏi các trạng thái đó.

 

Nếu như khi đang quán niệm như thế, tâm trở nên vững mạnh, chánh niệm sắc bén, đó là khi tuệ giác có thể phát sinh.  Tuệ giác phát khởi vào lúc đó, giúp ta biết rằng mình thực sự buông xảTuy nhiên, nếu chánh niệm vẫn còn yếu, ta không thể buông.  Chỉ khi chánh niệm thực sự nổi bật thì nó và tuệ mới phát khởi cùng nhau.

 

Đây là cái mà ta phải luôn quán niệm bất cứ khi nào có cơ hội.  Khi ta có thể tách biệt tâm ra khỏi các đối tượng, nó sẽ được giải phóng khỏi các ràng buộc.  Do đó, hãy trụ vững chánh niệm ngay trong tâm.  Hãy để nó chú tâm ngay đó, rồi quán sát hơi thở và cái biết về hơi thở.  Hãy quán sát càng nhiều càng tốt, dần dần ta sẽ thấy chúng tách biệt nhau.  Khi đó ta sẽ có cơ hội để quán sát sâu hơn vào bên trong.  Một khi ta đã quán sát được yếu tố này, ta sẽ có thể áp dụng phương cách này đến với tất cả mọi thứ khác.

 

Khi quán sát hơi thở, ta sẽ thấy rằng nó không phải là chúng sanh, là con người –thì có gì để bám víu vào?  Ta không thể bám vào đó như cái ngã của mình, đơn giản vì nó có đường đi riêng của nó.  Khi quán sát hơi thở, ta thấy nó không có thân –không đầu, không chân tay, không có bất cứ thứ gì.  Khi nhận thấy như thế, ta sẽ có thể buông xả nó, đúng như cách nó thực sự là.

 

Kinh điển dạy, 'Cago patinissaggo mutti analayo': Khi tách rời hơi thở, ta tháo gỡ mọi quan tâm về nó.  Ta không còn coi nó là nơi trú ngụ của mình nữa – vì nó không phải là của ta.  Ta buông để nó đi theo bản chất tự nhiên của nó.  Ta trả nó lại.  Nó có gì, ta trả lại cho thiên nhiên.  Tất cả mọi yếu tố -đất, nước, gió, lửa và hư không- ta trả về cho thiên nhiên.  Ta để chúng trở lại với bản thể của chúng.  Khi quán sát tất cả năm yếu tố này, ta thấy chúng không phải là một chúng sanh, không phải con người, không phải ‘ta’, không phải ‘họ’.  Ta để tất cả trở về với bản thể đầu tiên của chúng.

 

Điều này khiến ta nghĩ, cái gì là cái biết về năm yếu tố này.  Hiện giờ, nó đang biết gì?  Hãy hướng năng lực quán sát của ta vào yếu tố biết này, với chỉ riêng mình nó, không còn gì khác nữa.  Quán sát nó để thấy cái gì là cái gì, và đó cũng là khi một mức độ  tri giác khác sẽ phát khởi.

 

Nếu ta muốn có được cái tri giác để buông tất cả theo đúng với bản chất nguyên thủy của chúng, thì ta phải có sự nhận thức đặc biệt phát khởi với pháp hành xả.  Nếu khôngnhận thức này, tâm buông xả của ta chỉ là cái tưởng, cái danh hiệu chế định bình thường mỗi ngày.  Là trí tuệ thế tục.  Nhưng khi sự nhận thức này phát khởi trong pháp hành xả -ngay khi ta buông, kết quả sẽ quay ngay lại với ta, để kiểm chứng, để bảo đảm cái gì đã xảy ra thực sự là như thế: ta biết. Ta đã buông.  Rồi ta sẽ trải nghiệm sự thuần khiết bên trong ta.

 

Đây được gọi là trí tuệ siêu thế.  Khi nhận thức phát khởi bên trong ta, để kiểm chứng ta đã thấy gì, ta đã làm gì, đó gọi là trí tuệ siêu thế.  Khi nào nhận thức này không phát khởi, trí tuệ của ta vẫn chỉ là thế tục.  Vì thế cứ tiếp tục quán sát sự việc cho đến khi tất cả mọi điều kiện đều chín muồi.  Khi đó, ta không cần phải làm thêm gì nữa, vì trí tuệ siêu thế hoàn toàn thẩm thấu mọi thứ ngay giây phút chúng vừa phát sinh.  Nó không giống trí tuệ thế tục chút nào.

 

Như thế con đường chúng ta đí, là quán sát, là tìm hiểu sự việc.  Hãy luôn chú tâm quán sát, điều nghiên cho đến khi đạt đến chỉ tiêu mình đã đề ra.  Khi tâm đã đạt đến điểm đó, nó tự biết buông.  Đó là khi tâm đạt đến sự trọn vẹn –Pháp bên trong tâm đã được tròn đầy –thế là nó buông xả.  Một khi nó buông, kết quả sẽ hiện ra ngay.

 

Vì thế, hãy tiếp tục thực hành.  Không có gì phải sợ.  Ta sẽ đạt được kết quả, không nghi ngờ gì về điều đó.  Ta sẽ đạt kết quả trên suốt chặng đường.  Giống như ngay bây giờ, khi đang ngồi thiền ở đây.  Ta biết là hơi thở và tâm đang hòa hợp với nhau.  Đó là kết quả của việc thực hành.  Dầu chưa đi đến cuối đường, ta cũng đạt được cảm giác dễ chịu, thoải mái trong việc hành thiền.  Tâm nhịp nhàng theo từng hơi thở vào ra.  Khi nào tâm và hơi thở còn chưa tách rời khỏi nhau, chúng phải nâng đỡ nhau tiến tới.  Tâm giúp hơi thở, và hơi thở giúp tâm cho đến khi chúng hoàn toàn hiểu biết nhau.  Khi tâm đã thấu hiểu hoàn toàn, nó có thể buông xả.  Khi nó biết, nó buông.  Khi nào nó còn chưa thực sự biết, nó không thể thực sự buông.

 

Điều này có nghĩa là ta phải gắn với hơi thở, bỏ thời gian với nó, để dần dần hiểu được nó.  Khi tâm ngày càng thấu hiểu, nó sẽ có thể tháo gỡ sự bám víu vào thân, thọ, tưởng, hành và thức.  Các quan niệm -tự xác chứng- xem các thứ này là cái ngã- sẽ tan rã.  Đó là con đường đi đến giải thoát.  Ngay khi trí tuệ siêu thế phát sinh, ta sẽ được giải thoát.  Ta sẽ có thể tháo gỡ mọi trói buộc từ các sự thật chế định của cuộc sống như: người, ta, ngã, đàn ông, đàn bà, chúng ta, chúng nó, vân vân.

 

Nhưng khi nào ta còn chưa thể buông, ta vẫn phải tùy thuộc vào chúng.  Chúng là điểm tựa, chứ không phải là nơi nương trú.  Chỉ là ta và chúng dựa vào nhau, giúp nhau tu tiến, để ta có thể tiến bộ trên con đường đạo.  Ta không thể bỏ rơi chúng, vì chúng là con đường để ta thực hành.  Khi nào ta còn tu tập, ta sẽ không rơi lại chỗ cũ.  Nhưng ngay khi ta xao lãng việc thực hành, ta sẽ lập tức trượt về phía sau.  Ta sẽ rơi vào cạm bẫy của nghi hoặc, tự hỏi không biết Pháp có chân thực hay không.

  

Ta phải tiếp tục làm người quán sát tâm: sự tỉnh thức.  Không phải là tâm không tỉnh thứcĐặc tính căn bản của tâm là tỉnh thức.  Hãy quán sát nó.  Nó nhận biết mọi thứ - nhận biết, nhưng chưa thể buông các tưởng, các mặc định mà nó cho là đúng, là chân thực.  Vì thế ta phải quán sát nó.  Chú tâm đến nó cho đến khi tâm và đối tượng của tâm có thể tách rời nhau.  Cứ tiếp tục.  Nếu ta kiên trì như thế, không buông lơi, tâm nghi hoặc sẽ dần dần phai nhạt, phai nhạt, cho đến khi ta có thể đạt đến sự nương trú thực sự bên trong ta; sự tỉnh thức căn bản được gọi là buddha, cái thấy rõ ràng xuyên thấu mọi sự vật.  Đó là khi Phật, Pháp và Tăng xuất hiện bên trong ta như là nơi nương trú cuối cùng.

 

Đó là khi ta biết điều gì thực sự ở bên trong, điều gì thực sự không có mặt, điều gì thực sự là điểm tựa và điều gì thực sự là nơi nương trú của ta.  Ta sẽ có thể phân biệt các thứ này.

 

Những gì ở bên ngoài chỉ là các điểm tựa.  Giống như thân: nó là một điểm tựa.  Trong giây phút ngắn ngủi khi các thành tố của đất, nước, gió và lửa tụ họp cùng nhau, ta có thể tựa vào thân.  Nhưng đối với nơi nương trú thực sự, như ta đã biết:  Đó chính là sự tỉnh thức cơ bản, trong tâm ta.  Tâm ý thức đến hơi thở là sự nương trú ở một thứ bậc.  Khi nó tách rời khỏi hơi thở, là một thứ bậc nương trú khác.  Còn sự nương trú thực sự của ta –buddha – đó là ý thức nằm sâu hơn bên trong.  Một khi nhận thức được điều này, ta biết sự thật chỉ có thế.  Nó là tối thượng tự thân.  Nó biết tất cả chung quanh rõ ràng, thấu đáo.  Đó là chỗ nương trú thực sự bên trong ta.

 

Còn đối với những thứ bên ngoài, chúng chỉ là sự hỗ trợ tạm thời, những thứ ta chỉ tùy thuộc vào một lúc thôi, giống như cái nạng.  Khi nào còn hơi thở để giữ chúng sinh tồn, ta còn sử dụng đến chúng.  Khi không còn hơi thở, thì chấm dứt mọi vấn đề.  Các yếu tố vật lý tách rời và không còn phụ thuộc vào nhau, nên tâm trở về với nơi nương trú thực sự của nó.  Và đó là ở đâu? Cái tri giác Phật-đà (Buddha) ở đâu?  Khi ta luyện tâm để nó chính là nơi nương trú tự thân, thì lúc đó trong trái tim quán chiếu không còn có nỗi ưu phiền nào nữa.

 

Chính Đức Phật cũng đi tìm sự nương trú này.  Ngài đã dạy tất cả các đệ tử của ngài nương trú nơi bản thân, vì ta chỉ có thể dựa vào người khác trong một thời gian ngắn.  Người khác chỉ hướng cho ta con đường.  Nhưng nếu ta muốn những gì thực sự tốt và chân thật trong cuộc sống, ta phải tự dựa vào bản thân –tự tu, tự huân tập, nghĩa là tùy thuộc vào bản thân trong mọi hoàn cảnhĐau khổ là do chính bạn.  Hạnh phúc cũng từ bạn mà ra.  Giống như khi ăn:  Nếu ta không ăn, thì làm sao no?  Nếu ta để người khác ăn giùm, làm sao ta có thể no?  Nếu ta muốn no, chính ta phải tự ăn.  Với sự tu hành cũng thế.

 

Ta không thể để bản thân bám víu vào những thứ ở bên ngoài.  Sự vật ở bên ngoài ta không chắc chắnVô thường.  Không thể dựa vào.  Chúng thay đổi theo từng hơi thở vào ra.  Điều này đúng cho tất cả mọi người, không chỉ riêng ta.  Nếu ta không chia tay với người khi còn sống, thì ta cũng phải chia tay lúc chết.  Ta chia tay mọi thứ trong từng hơi thở vào ra.  Ta không thể đặt ý nghĩa cuộc đời mình vào những thứ này –mà ta cũng không cần làm thế.  Ta chỉ cần nói với bản thân rằng đây là cách thế gian vận hành.  Không có gì bền vững trên thế gian này.  Dẫu ta không muốn thế, nhưng sự vật có tính cách riêng của chúng.  Chúng không nằm dưới quyền kiểm soát của ai cả.

 

Điều đó không chỉ đúng với sự vật ở bên ngoài, mà cả với những gì bên trong ta.  Ta muốn thân sống hoài, không muốn nó chết, nhưng nó vẫn chết.  Ta không muốn nó đổi thay, nhưng nó luôn thay đổi.

 

Đó là lý do tại sao ta phải giữ cho tâm hoàn thiện để nó có thể nương trú vào bản thân, đúng theo các nguyên tắc thiện xảoĐức Phật đã dạy.  Và ta cũng không cần phải nghi hoặc về con đường thực hành, vì tất cả mọi đức tính ta cần để tiến tu đã có mặt sẵn trong ta.  Tất cả mọi thứ xấu và tốt đều có mặt trong ta.  Ta đã biết con đường nào thiện, và con đường nào u tối, nên tất cả những gì ta phải làm là huấn luyện tâm đi theo con đường thiện.  Hãy dừng lại và tự quán xét ngay lúc này:  Bạn có đang đi đúng đường?  Điều gì sai, đừng bám víu nữa.  Hãy buông nó.  Quá khứ, tương lai hay bất cứ gì, hãy buông, chỉ giữ lại hiện tại.  Hãy giữ tâm luôn cởi mở, tự tại trong hiện tại, sau đó bắt đầu quán sát.

 

Ta đã biết sự vật bên ngoài không thuộc về ta, nhưng ở bên trong có nhiều cấp độ ta phải quán xét.  Nhiều tầng mức ta phải quán sát.  Ngay cả tâm cũng không thực sự là của ta.  Vẫn còn những thứ uế nhiễm, vô thường trong đó.  Đôi khi nó muốn làm điều này, lúc muốn làm điều khác, nó không thực sự thuộc về ta.  Nên đừng quá bám víu vào nó.

 

Vấn đề lớn là việc thiết lập tư tưởng.  Đôi khi ta có thiện ý, đôi khi ác ý, ta biết rõ điều đó.  Ta không muốn nghĩ như thế, nhưng chúng vẫn tiếp tục hiện ra trong tâm, ngoài ý muốn của ta.  Vì thế ta phải coi chúng không thuộc về ta.  Quán xét chúng.  Không có gì đáng để dựa vào chúng.  Chúng không kéo dài.  Chúng là những sự kiện vô ngã, nên hãy để chúng đi theo bản tính tự nhiên của chúng.

 

Vậy thì có gì trường tồn, vững chắc, đáng tin cậy và chân thật?  Hãy tiếp tục tìm kiếm.  Đặt chánh niệm trên hơi thở, và tự hỏi mình ngay tại đấy.  Dần dần ta sẽ thấy được điều gì ở bên trong ta.  Bất cứ khi nào tâm có nghi hoặc hay các vấn đề trong việc thực hành, quay về chú tâm vào hơi thở, và hỏi tâm ngay tại đấy, rồi tri kiến sẽ phát khởi, để giải tỏa tà kiến của ta và giúp ta vượt qua trạng thái bế tắc của mình.

 

Nhưng ngay cả sự hiểu biết này cũng luôn biến đổi, khổ và vô ngã.  Sabbe dhamma anatta: Đức Phật đã nói, mọi thứ sinh khởi đều vô thườngvô ngã.  Ngay cả những sự hiểu biết phát khởi trong tâm ta cũng vô thường.  Đôi khi chúng phát khởi, đôi khi không.  Nên đừng quá bám víu vào chúng.  Khi chúng phát khởi, hãy nhận biết điều đó, rồi thì để chúng đi theo con đường của chúng.  Hãy để các quan điểm của mình là chánh kiến: có nghĩa là, chỉ vừa đúng, không đi quá đà.  Nếu ta quá đà theo chúng, bám chặt theo chúng, rồi chúng có thể đưa ta đi sai đường, do ta đã không còn ý thức mình đang làm gì.

 

Nói tóm lại, càng chánh niệm trong tu tập, càng tốt.  Khi tâm chánh niệm càng lúc càng thêm vững chãi, càng lúc càng thiện xảo, nó sẽ trở thành siêu thếTrí tuệ siêu thếchúng ta đã nhắc đến ở trên, phát khởi từ năng lực của chánh niệm khi nó trở nên ngày càng tròn đầy.

 

Vì thế hãy tiếp tục huân tập tâm chánh niệm cho đến khi nó trở thành đại chánh niệm.  Hãy cố gắng để giữ cho nó luôn có mặt, kiên định và chủ tâm, cho đến khi ta thấy tất cả mọi thứ như chúng là.  Đó là cách giúp ta tiến bộ trên đường học Phật.



____________________





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 7107)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 2905)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 3500)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 2763)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 2337)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 1388)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 1364)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 1077)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 1236)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 1295)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 1191)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 1356)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 1246)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 1538)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 1811)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 1455)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 1846)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 1386)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 1395)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 1223)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 1386)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 1412)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 1335)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 1293)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 1154)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3044)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 4803)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6497)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 1815)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 1766)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 1696)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1656)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 7107)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1445)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1502)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 4397)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 3323)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng