Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại - (To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks

18 Tháng Mười Hai 20199:33 SA(Xem: 2398)
Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại - (To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
ThayBietBayGioODay_A

Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
(To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
Sister Ayya Khema - Việt dịch: Diệu Liên Lý‎ Thu Linh

Nguồn: accesstoinsight.org, thuvienhoasen.org


__________________


MỤC LỤC


01. Tâm thiền
02. Phương tiện thiện xảo
03. Chánh niệm tỉnh giác
04. Tứ chánh cần
05. Khai mở tâm thức
06. Nghiệp
07. Ngũ căn ngũ lực
08. Các bước trên con đường đạo
09. Các phẩm trợ đạo
10. Hãy tận dụng thời gian sống mỗi ngày

 


CONTENTS

01. The Meditative Mind
02. Skillful Means
03. Awake and Aware
04. Supreme Efforts
05. Expansion in Consciousness
06. Kamma is Intention
07. Spiritual Faculties
08. Steps on the Way
09. Pathways to Power
10. Making the Most of each Day

__________________

Tủ Sách Đạo Phật Ngày Nay
Ni sư AYYA KHEMA
THẤY BIẾT: BÂY GIỜ & Ở ĐÂY
Chuyển ngữ từ bản tiếng Anh: To Be Seen Here & Now
Việt dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Nhà xuất bản Phương Đông 2016

 __________________

 

LỜI NGƯỜI DỊCH

 

Duyên lành lại theo gió đưa đến tôi với quyển “To Be Seen: Here and Now” của Ni sư Ayya Khema. Lúc đầu do hiểu lầm đây là quyển sách cuối cùng được dịch ra tiếng Anh của Ni sư: Visible Here and Now(1), mà tôi hằng khấn nguyện có đủ tâm trí để dịch, sau khi đã dịch năm quyển sách đầu tiên: Vô Ngã Vô Ưu, Ốc Đảo Tự Thân, Khi nào Chim Sắt Bay, Hãy Đến để thấy, và Tôi Là Ai, nên tôi vội vã bắt tay vào việc.

 

Nhưng sau hai chương đầu tôi nhận ra điều ngộ nhận của mình. Đây là quyển sách tập hợp mười bài Pháp thoại mà Ni sư đã giảng trong một khóa tu tại Trung tâm Đào tạo Tu sĩ Pelmadulla, ở Tích Lan, năm 1989. Tuy nhiên nhận thấy các bài Pháp này vẫn đầy hữu ích cho mình, nên tôi nghĩ cố dịch hết cho người khác đọc cũng không phải là việc làm vô ích.

 

Quyển Being Nobody, Going Nowhere (Vô NgãVô Ưu), của Ni sư Ayya Khema mà tôi được phước duyên chuyển ngữ, đã được tái bản nhiều lần, dưới nhiều hình thức (chính quy hay đạo văn) cũng đã nói lên được sự hấp dẫndễ hiểu, dễ thấm của các bài giảng của Ni sư. Có một số đề tài cũng đã được giảng, viết trong các quyển sách khác của Ni sư, nhưng có đọc thêm nhiều lần nữa chắc ta vẫn thấy có cái để mình suy gẫm, để mình rà soát lại mình. Tôi đã dịch quyển sách này với tâm nguyện như thế. Mong bạn đọc cũng chấp nhận nó như thế.

 

Dầu cố gắng đến mấy, sự hiểu biết của tôi vẫn luôn vô cùng hạn hẹp, nhất là với các trải nghiệm riêng của Ni sư. Do đó có những đoạn tôi dịch theo như chúng được viết, chưa hẳn đã nắm bắt được những điều Ni sư nhắn gửi. Vì thế, nếu có nhiều sơ suất trong sách là do sự kém cõi của cá nhân người dịch, hoàn toàn không do định ý của Ni sư. Mong giác linh Ni sư cũng như bạn đọc niệm tình tha thứ và chỉ bảo thêm cho. Xin cảm niệm công đức của Ni sư Ayya Khema vì đã để lại cho chúng con những bài Pháp thoại đầy ý nghĩa, giúp chúng con thêm phương tiện để hiểu Pháp Phật thâm sâu.

 

Nguyện cho Phật pháp mãi trường tồn trên thế gian. Nguyện cho chúng con ngày càng tiến sâu vào Pháp hầu được giảm bớt khổ đau và dần đạt được trí tuệ giải thoát.

 

Nay kính,
Tháng 9/2016
Diệu Liên Lý Thu Linh - Ltl3107@yahoo.com

 

 __________________

 

LỜI MỞ ĐẦU
 

Các khóa thiền là thời gian để ta suy xét nội tâm. Vì các thời khóa thường diễn ra trong im lặng, ngoại trừ thời gian dành cho Pháp thoại hay vấn đáp, tâm càng lúc càng trở nên chánh niệm, định tĩnh. Điều này càng thúc đẩy ta nghe thêm Pháp, để chân lý trong những lời dạy của đức Phật có thể được lưu giữ trong tâm trí ta dài lâu.

 

Bạn đọc thân mến, khi mở sách ra, có thể bạn hãy nghĩ mình đang tham dự một khóa tu thiền, nơi không có gì quan trọng hơn là sự trong sáng, thiện lành của tâm bạn. Có nghĩa là hãy để tất cả mọi lo toan hằng ngày sang một bên và chuyên chú vào sự tự do tuyệt vời mà giáo lý và sự thực hành theo lời Phật dạy có thể mang đến cho ta. Mong là quý vị có thể tìm thấy niềm vui trong những trang sách kế tiếp và tìm thấy đôi điều hữu ích trong đó.

 

__________________ 

 

LỜI TRI ÂN

 

Xin tri ân tất cả những ai đã tham dự khóa tu thiền vào tháng 11, 1987 tại Trung tâm Đào tạo Tu sĩ Pelmadulla, tại huyện Ratnapura, Tích Lan. Những người đã giúp ghi lại các bài Pháp thoại trong suốt khóa thiền. Do nghĩ rằng người khác cũng có thể được lợi ích, nên họ đã hỗ trợ, sách tấn chúng tôi để quyển sách này giờ đây đã thành hình.

 

Tôi không chỉ cảm ơn họ về sự giúp đỡ trong quyển sách này, mà quan trọng hơn là sự có mặt của họ ở khóa tu, tạo cơ hội cho tôi có những bài nói chuyện này.

 

Tôi đặc biệt hàm ân Lasanda Kurukulasuriya, người đã hết lònghết sức đánh máy đi, đánh máy lại bản thảo sách này.

 

Xin cảm ơn tiến sĩ Ariyaratne trong Phong trào Sarvodaya Shramadana đã giúp đỡ chúng tôi về phương tiện di chuyển và cho chúng tôi được sử dụng các phòng ốc tại Trung tâm, là một công đức đáng ghi nhận khác trong nhiều hoạt động nhân đạo của họ.

 

Cuối cùng là người bạn, người sư tỉ của tôi, Ayya Nyanasiri (HelenWilder) đã trau chuốt lại quyển sách cũng như cho tôi nhiều lời khuyên vô giá, mà không có chúng, tôi đã chẳng phát hành được quyển sách nào.

 

Mong là các công đức của Pháp thí này mang đến nhiều lợi ích cho tất cả.

Tỳ kheo Ni Ayya Khema
Parappuduwa Nuns Island,
Dodanduwa,
Sri Lanka.
31 tháng 12, 1989

 

__________________ 

 

VỀ TÁC GIẢ

 

AYYA KHEMA (1923-1997) sinh ra trong một gia đình người Do Thái tại Bá Linh. Năm 15 tuổi, bà trốn khỏi Đức sang Tô Cách Lan, cùng với 200 trẻ em khác. Sau đó được đoàn tụ với cha mẹ tại Trung Hoa. Khi chiến tranh thứ hai bùng nổ, bà và gia đình bị đưa vào các trại giam tù binh của Nhật.

 

Bà đã sống một cuộc đời nhiều biến động trong thế tục – lập gia đình, có con cái ở Mỹ, và những cuộc phiêu lưu đến Nam Mỹ, Á châu và Úc châu - nhưng sau đó, bà dốc lòng hướng đến một đời sống tâm linh vào những năm bà bốn mươi. Năm 1979 bà được thọ giới làm nữ tu sĩ Phật giáo theo truyền thống Nguyên thủy, với pháp hiệu Khema, có nghĩa là “an toàn và chắc chắn”, (Ayya có nghĩa là Sư cô).

 

Ayya Khema đã góp công lớn vào việc gầy dựng lại ni đoàn Phật giáo. Tại Tích LanNi sư đã thiết lập Trung tâm Nữ Phật tử Quốc tế và Đảo Parappuduwa dành cho ni chúng và các nữ cư sĩ. Vào năm 1987 Ni sư phối hợp tổ chức một hội thảo về Ni đoàn Phật giáo Quốc tế lần đầu tiên, mà kết quả là ni đoàn Sakyadhita, một tổ chức nữ Phật giáo quốc tế được thành hình.

 

Ni sư đã viết hơn 20 đầu sách về thiền và Phật giáo bằng tiếng Anh và Đức, tác phẩm nổi tiếng nhất của Ni sư là Being Nobody, Going Nowhere (Vô Ngã Vô Ưu), đã được giải thưởng Christmas Humphreys (Christmas Humphreys Memorial Award). Các tác phẩm của Ni sư đều thể hiện được sự nhận thức sâu xa trong thực hành, sự lợi ích của thiền tập, và lời kêu gọi đơn giản hóa cuộc sống hàng ngày của chúng ta, cũng như thanh tịnh hóa thân tâm bằng cách ứng dụng những lời dạy của Đức Phật vào cuộc sống.

 

Bên cạnh việc thành lập Wat Buddha Dhamma (Ngôi Nhà Phật Pháp) ở Úc, một lâm viên theo truyền thống Nguyên thủyNi sư còn đỡ đầu cho Buddha-Haus (Ngôi Nhà Phật) ở Đức, nơi Ni sư viên tịch vào năm 1997.

 

(To Be Seen) Here and Now

Ten Dhamma Talks

by

Sister Ayya Khema

© 1994

 __________________


Appreciation 

Those who attended the meditation retreat in November 1987 at Pelmadulla Bhikkhu Training Centre, Ratnapura District, Sri Lanka, Have made it possible to print these Dhamma talks given during the retreat. They felt that others too could benefit from them and supported and encouraged this project so that it has now come to fruit.

Not only am I thankful for their help with this book, but also most appreciative of their presence at the retreat, which enabled me to give these talks.

Special gratitude is offered to Lasanda Kurukulasuriya, who selflessly and lovingly typed and re-typed the manuscript.

The Sarvodaya Shramadana Movement through their President Dr. Ariyaratne kindly provided us with transport and offered the use of the Centre premises, which was another meritorious service in the long list of their humanitarian efforts.

As always, my friend and Dhamma sister Ayya Nyanasiri (Helen Wilder) has given the last polish and much invaluable advice, without which I would probably never have published any books at all.

May the merits of this Gift of Dhamma bring much benefit to all.

Sister Ayya Khema
Parappuduwa Nuns Island,
Dodanduwa,
Sri Lanka.
December 31st, 1989

 

 __________________


Preface 

Meditation retreats are a time for introspection. Because they are held in silence, except for Dhamma talks and questions, the mind becomes more and more used to mindfulness and concentration. This gives added impetus to the hearing of Dhamma, so that the truth of the Buddha's teaching can leave a lasting impression.

When you open this book, dear reader, may be you could imagine being in a meditation retreat, where nothing else matters except the clarity and wholesomeness of your own mind. This means leaving all daily preoccupations aside and focusing strictly on the wonderful freedom the Buddha's teaching and practice can provide. May you enjoy the following pages and find something useful in them.

Sister Ayya Khema

 
__________________


Glossary 

The following Pali words encompass concepts and levels of ideas for which there are no adequate synonyms in English. The explanations of these terms have been adapted from the Buddhist Dictionary by Nyanatiloka Mahathera.

Anagami: The "non-returner" is a noble disciple on the 3rd stage of holiness.

Anatta: "No-self," non-ego, egolessness, impersonality; "neither within the bodily and mental phenomena of existence, nor outside of them can be found anything that in the ultimate sense could be regarded as a self-existing real ego-identity, soul or any other abiding substance."

Anicca: "Impermanence," a basic feature of all conditioned phenomena, be they material or mental, coarse or subtle, one's own or external.

Anusaya: The seven "proclivities," inclinations or tendencies.

Arahat/arahant: The Holy One. Through the extinction of all cankers, he reaches already in this very life the deliverance of the mind, the deliverance through wisdom, which is free from cankers, and which he himself has understood and realized.

Ariya: Noble Ones. Noble Persons.

Avijja: Ignorance, nescience, unknowing, synonymous with delusion, is the primary root of all evil and suffering in the world, veiling man's mental eyes and preventing him from seeing the true nature of things.

Bhavaraga: Craving for continued existence; one of the seven tendencies.

Citta-viveka: Mental detachment, the inner detachment from sensuous things.

Devas: Heavenly Beings, deities, celestials are beings who live in happy worlds, but are not freed from the cycle of existence.

Dhamma: The liberating law discovered and proclaimed by the Buddha, summed up in the Four Noble Truths.

Ditthi: View, belief, speculative opinion. If not qualified by "right," it mostly refers to wrong and evil view or opinion.

Dukkha: (1) In common usage: "pain," painful feeling, which may be bodily or mental. (2) In Buddhist usage as, e.g., in the Four Noble Truths: suffering, ill, the unsatisfactory nature and general insecurity of all conditioned phenomena.

Jhana: Meditative absorptions. Tranquillity meditation.

Kalyanamitta: Noble or good friend is called a senior monk who is the mentor and friend of his pupil wishing for his welfare and concerned with his progress, guiding his meditation; in particular the meditation teacher.

Kamma/Karma: "Action" denotes the wholesome and unwholesome volitions and their concomitant mental factors, causing rebirth and shaping the character of beings and thereby their destiny. The term does not signify the result of actions and most certainly not the deterministic fate of man.

Kammatthana: lit.: "working-ground" (i.e., for meditation) is the term for subjects of meditation.

Kaya-viveka: Bodily detachment, i.e., abiding in solitude free from alluring sensuous objects.

Khandha: The five "groups," are called the five aspects in which the Buddha has summed up all the physical and mental phenomena of existence, and which appear to the ordinary man as his ego or personality, to wit: body, feeling, perception, mental formations and consciousness.

Lokiya: "Mundane," are all those states of consciousness and mental factors arising in the worldling, as well as in the noble one, which are not associated with the supermundane.

Lokuttara: "Supermundane," is a term for the four paths and four fruitions.

Magga-phala: Path and fruit. First arises the path-consciousness, immediately followed by "fruition," a moment of supermundane awareness.

Mana: Conceit, pride, one of the ten fetters binding to existence, also one of the underlying tendencies.

Mara: The Buddhist "tempter" figure, the personification of evil and passions, of the totality of worldly existence and of death.

Metta: Loving-kindness, one of the four sublime emotions (brahma-vihara)

Nibbana: lit. "Extinction," to cease blowing, to become extinguished. Nibbana constitutes the highest and ultimate goal of all Buddhist aspirations, i.e., absolute extinction of that life-affirming will manifested as greed, hate and delusion and clinging to existence, thereby the absolute deliverance from all future rebirth.

Nivarana: "Hindrances," five qualities which are obstacles to the mind and blind our mental vision, and obstruct concentration, to wit: sensual desire, ill-will, sloth and torpor, restlessness and worry, and skeptical doubt.

Papañca: "Proliferation," lit. "expansion, diffuseness," detailed exposition, development, manifoldness, multiplicity, differentiation.

Paticcasamuppada: "Dependent Origination" is the doctrine of the conditionality of all physical and psychical phenomena.

Puthujjana: lit. "one of the many folk," worldling, ordinary man, anyone still possessed of all the ten fetters binding to the round of rebirths.

Sacca: Truth, such as the "Four Noble Truths."

Sakadagami: The once-returner, having shed the five lower fetters, reappears in the higher world to reach Nibbana.

Sakkaya-ditthi: Personality-belief is the first of the ten fetters and is abandoned at stream-entry.

Samatha: Tranquillity, serenity, is a synonym of samadhi (concentration).

Samsara: Round of rebirth, lit, "perpetual wandering," is a name by which is designated the sea of life ever restlessly heaving up and down.

Sangha: lit. Congregation, is the name for the community of monks and nuns. As the third of the Three Gems and the Three Refuges, it applies to the community of the Noble Ones.

Samvega: "The sources of emotion," or a sense of urgency.

Sankhara: Most general usage: formation. mental formations and kamma formations. Sometimes: bodily functions or mental functions. Also: anything formed.

Silabbataparamasa: Attachment to mere rules and rituals is the third fetter and one of the four kinds of clinging. It disappears on attaining to stream-entry.

Sotapatti: Stream-entry, the first attainment of becoming a noble one.

Vicikiccha: Skeptical doubt is one of the five mental hindrances and one of the three fetters, which disappears forever at stream-entry.

Vipassana: Insight into the truth of the impermanence, suffering and impersonality of all corporal and mental phenomena of existence.

Yatha-bhuta ñana-dassana: The knowledge and vision according to reality, is one of eighteen chief kinds of insight.

__________________


Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
1_PDFThayBietBayGioVaODay.pdf (Nguyên Tập)


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5353)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1694)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1841)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1596)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1290)
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 113)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 151)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 179)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 171)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 159)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 196)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 182)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 234)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 222)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 255)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 222)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 307)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 244)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 269)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 285)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 264)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 270)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 594)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 305)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 377)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2209)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3910)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5542)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 307)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 377)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 407)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 234)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5353)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 470)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 469)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3006)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2008)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng