03. Chánh niệm tỉnh giác - Awake and Aware

18 Tháng Mười Hai 20199:47 SA(Xem: 151)
03. Chánh niệm tỉnh giác - Awake and Aware
ThayBietBayGioODay_A

Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
(To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
Sister Ayya Khema - Việt dịch: Diệu Liên Lý‎ Thu Linh

Nguồn: accesstoinsight.org, thuvienhoasen.org


__________________

03. Chánh Niệm Tỉnh Giác 

 

   Vấn đề quan trọng là ta phải trải nghiệm chứ không tin suông.  Để làm được thế, chúng ta phải chú tâm.  Trong bài kinh Kalama nổi tiếng, thường được nhắc đến, đức Phật đã đề ra mười điều mà ta không nên dựa vào để chọn người thầy hay để đi theo con đường tâm linh nào đó.  Tất cả đều có liên quan đến một hệ thống niềm tin dựa vào truyền thống hay vào các cổ thư.  Không tin dựa vào những điều đó, nhưng ta phải tự tìm ra sự thật là điều đức Phật thường nhấn mạnh.  Nếu không làm thế, ta sẽ khó có được cái thấy nội tại, là bước đầu tiên đưa ta đến con đường đạo.

 

   Cái thấy nội tại là một kinh nghiệm được thực chứng.  Không có nó, tuệ giác không thể phát sinh.  Điều đó đúng đối với những vấn đề bình thường trong cuộc sống, cũng như sự hiểu biết sâu sắc về giáo lý của đức Phật.  Thí dụ, có ai đó không vừa lòng với ta, nếu ta không tìm hiểu tại sao, thì sự hiểu lầm giữa ta và người đó sẽ không bao giờ chấm dứt.  Ta cần phải nhận thức rằng hẳn mình đã nói hay làm gì đó khiến người kia phật lòng.  Đây chỉ là vấn đề nhỏ nhưng nó cũng cho thấy ta cần có sự hiểu biết về kinh nghiệm của mình.

 

   Nếu ta nghĩ rằng những điều đó xảy ra ở bên ngoài, không dính dáng tới ta, thì ta không thể thay đổi cách hành xử của mình.  Pháp hành có nghĩa là không ngừng chuyển hóa bản thân để đạt đến chỗ hoàn hảo.  Nếu ta không thể chuyển đổi thì hóa ra công lao hoằng pháp của đức Phật là vô ích sao?

 

   Nếu ta không hoàn toàn chú tâm đến từng chi tiết, ta sẽ chẳng bao giờ chuyển hóa đến chỗ tuyệt đối.  Chú tâm đến chi tiết là cốt lõi của chánh niệm.  Tuy nhiên, phần đông không được hướng dẫn hoặc không thực sự thực hành chánh niệm.  Hiểu biết qua sách vở là một chuyện, thực hành lại là chuyện khác.  Chánh niệm là cốt lõi của trí tuệ, vì không có chánh niệm ta sẽ không thể nhìn thấu suốt vấn đề gì.

 

   Theo dõi hơi thở có nghĩa là “biết chính xác”.  Chánh niệm không phán đoánphân biệtvẽ vời.  Chánh niệm biết khi nào tâm định, khi nào tâm phóng dật và khi nào nó trở nên bình an.  Sự chánh niệm hoàn hảo biết điều gì đang xảy ra trong từng giây phút.

 

   Khi ta chú tâm đến các cảm xúcchỉ quan sát chứ không phản ứng lại với chúng, là ta đang hành niệm thứ hai của tứ niệm xứ,  vedananupassana (niệm thọ).  Khi ta biết mình đang suy tưởngcittanupassana (niệm tâm) và khi ta biết nội dung suy tưởng, đó là dhammanupassana (niệm pháp).  Nếu không chú tâm, ta không thực sự tỉnh thức.  Ta cần luôn thực tập sự chú tâm rõ ràng vào các đối tưọng này.

 

   Khi hành thiền tâm có thể trở nên an định.  Nếu có cảm giác an bình, ta phải biết điều đó rõ ràng.  Nếu không thể nhận thức điều gì đang xảy ra, ta không thể tiến xa hơn, vì ta không biết mình đang ở đâu.  Một chi tiết quan trọng của việc hành thiền là biết chính xác điều gì đang xảy ra, và có thể mô tả lại điều đó sau khi nó xảy ra.  Điều mô tả là kinh nghiệm đã được nếm trải.  Nó tự động xảy theo sau sự việc. Điều này đúng đối với bất cứ trạng thái tâm nào hay bất cứ cảm xúc nào.  Pháp là các trải nghiệm của đức Phật được mô tả lại.  Nếu ta không thể làm thế đối với chính những trải nghiệm của bản thân, là ta sống trong một hệ thống tín ngưỡng có thể khiến tâm ta mờ mịt.  Trong khi thiền là để làm cho tâm sắc bén.  Tâm chánh niệm là chiếc búa đã được mài, với lưỡi bén, mỏng, nhọn, có thể cắt xuyên qua tất cả mọi vọng tưởng của ta.  Khi ngồi thiền, ta có thể biết các chướng ngại trong tâm: như là tâm ù lì không biết việc gì đang xảy ra, hay tâm mê, tâm phóng dật, tâm sân không muốn vâng lời.  Đó là chánh niệm về tâm pháp.

 

   Như mọi chúng sanh khác, tâm ta thường phóng dật, luôn tìm cách tránh khổ và mong cầu hạnh phúc.  Điều này thật khó thay đổi.  Nếu ta quán sát thấy mình đang chống lại cái khổ, tìm kiếm điều dễ chịu, ta phải biết đó chỉ là cách hành xử theo thói quen bình thường.  Đó là cách vận hành của thế giới này, là cách nền kinh tế này hoạt động.  Nhưng bạn có thấy ai thực sự hạnh phúc trong đó không?  Đó là một cuộc phiêu lưu vô vọngchắc chắn thất bại, vậy mà tất cả mọi người vẫn còn cố gắng chạy theo.  Tất cả đều đã cố gắng đủ lâu rồi, giờ ta có thể buông bỏít nhất là trong thời gian ngồi thiền.  Ta có thể thoát khổ (dukkha), nhưng không phải bằng cách loại bỏ các cảm thọ khó chịu, mà chỉ bằng cách loại bỏ các phản ứng đối với chúng.    Đây là cửa chính để bước vào con đường tâm linh.  Nếu ta không hiểu rõ điều này, thì mọi thứ đều thất bại.  Chúng ta sẽ không thoát khỏi sự khó chịu của việc ngồi lâu, của muỗi mòng, hay của bất cứ khổ thọ nào mà ta gặp phải.  Tất cả đều do tâm tạo, do tâm phản ứng lại.  Dukkha (Khổ) sẽ biến mất khi các phản ứng của ta biến mất.

 

   Trừ khi ta biết chính mình là người tạo ra cái khổ cho mình, thì khó thể nào ta thấy Pháp.  Chúng ta bắt đầu biết tu khi không còn đổ lỗi cho hoàn cảnhtha nhânthể chế chính trị, kinh tế hay thời tiết.  Chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy các phản ứng của bản thân.  Dĩ nhiên các phản ứng này không phải tất cả đều khả ái, thiện lành ngay.  Phải cần có thời gian.  Nhưng ít nhất ta có thể bắt đầu làm gì đó cho bản thân.

 

   Chánh niệm không chỉ cần có mặt trong khi ta hành thiền, mà cả lúc ta hoạt động, cảm nhận hay nghĩ suy trong đời sống hằng ngày.  Khi thức, chánh niệm phải là đối tượng chính yếu của ta.  Ta phải tự biết mình.  Chỉ khi đó ta mới mong có một ngày hiểu được thế giới.  Vũ trụ chính là thân và tâm này.  Khi ta biết được thân và tâm này là gì, ta sẽ biết về vũ trụ và những chân lý tiềm ẩn trong đó.  Tất cả rõ ràng đều giống nhau, nhưng ta phải biết nó là gì.

 

   Khi rời khỏi chiếu thiền, ta phải tỉnh thức nơi mắt nhìn, thân chuyển động, nơi tất cả những gì ta đang làm.  Tại sao?  Trước hết, điều đó giúp ta không nghĩ ác, không tưởng điều bất thiện.  Nó giúp cho việc hành thiền của ta dễ dàng hơn.  Tâm cần được kiểm soát, không được để nó chạy loanh quanh.  Tâm bình thường, không rèn luyện giống như một con bò hoang dại thả rông trong vườn nhà.  Chỉ trong chớp mắt là nó sẽ phá tan hoang khu vườn.  Tâm của ta cũng thế.  Nó cũng làm cho thế giới ta sống trở nên một bãi chiến trường.  Không cần phải đọc báo ta mới biết những điều đó.  Chúng có mặt ở khắp nơi, ngay từ tâm ta mà ra.  Tất cả chúng ta đều ở trong đó, trừ các bậc giác ngộ.  Tâm hoang dại không thể thiền.  Ta phải bắt nó đứng lại, kiểm soát, ngăn chặn nó.  Mỗi khi nó phóng chạy, ta dùng chánh niệm để bắt nó quay về, giống như huấn luyện con ngựa hoang, nếu không, nó không làm lợi ích gì cho ai cả.  Nhưng khi đã được thuần hóa, huấn luyện, ngựa sẽ rất hữu ích.  Điều này cũng đúng với tâm biết bao!

 

   Chánh niệm về thân có nghĩa là ta biết tất cả mọi chuyển động nơi thân.  Khi quán sát bản thân, ta sẽ thấy có tâm và thân.  Tâm ra lệnh, và thân tuân hành.  Ta cũng nhận thấy rằng đôi khi thân không thể vâng lời tâm vì nó yếu đuối.  Đây là cửa đầu tiên để vào thiền tuệ, khi biết rằng có thân, tâm và tâm thì quan trọng hơn.  Cái khác biệt giữa người có tu tập và người không là sự thực chứng.

 

   Chánh niệm về các chuyển động của thân cũng liên quan tới các đối tưọng chánh niệm khác.  Thí dụ, nếu ta đang lo nghĩ đến tương lai thì ta không còn để ý đến thân nữa; thay vào đó ta có thể chú tâm đến quá trình tư duy.  Ta biết mình đang nghĩ suy, đang tạo nghiệp.  Các tư tưởng là tâm hành, cũng như nghiệp hành.  Chúng ta là chủ nhân của nghiệp của mình.  Chúng ta suy nghĩ như thế nào thì chúng ta sẽ là thế ấy.  Đó là một quá trình tự nhiên, không liên quan đến một chủ thể đặc biệt nào.

 

   Sau đó chúng ta có thể bắt đầu ý thức đến nội dung tư tưởng của mình, có nghĩa là ta biết chúng thiện hay ác.  Ta có thể tập buông bỏ bất cứ suy nghĩ tiêu cực nào và thay thế nó bằng cái khác.  Ngay đó ta có thể khởi tâm thiền, mà không tách rời khỏi các hoạt động bên ngoài.  Khi đang chú tâm đến hơi thở trong thiền, một ý nghĩ xen ngang, ta tập buông suy nghĩtrở về với hơi thở.  Ta có thể sử dụng quy cách đó trong đời sống hằng ngày để buông những suy nghĩ bất thiện.  Lúc đó ta thay thế bằng ý nghĩ thiện, giống như khi đang hành thiền ta thay thế bằng hơi thở.

 

   Chánh niệm về quá trình tư duy được đức Phật gọi là “bốn nỗ lực cao thượng” (hay bốn tinh tấn ba-la-mật)[1].   Chúng là cốt lõi trong quá trình thanh tịnh.  Con đường tâm linh là con đường thanh tịnhxoay quanh chánh niệm.  Phật dạy rằng, “Chỉ có một cách để thanh tịnh hóa chúng sanhchế ngự khổ, giải thoát khỏi đau buồn, ưu não, than van, để bước vào con đường cao thượng, để đạt được Niết bàn, đó là chánh niệm”.  Sự thanh tịnh hóa không chỉ mang lại tâm an bình cho cá nhân, góp phần vào hòa bình thế giới, mà còn giúp ta hành thiền.

 

   Niềm hy vọng rằng ta chỉ cần ngồi xuống gối thiền, theo dõi hơi thở, rồi tâm trở nên định, là huyễn hoặc.  Ta phải trang bị tâm để hành thiền.  Do đó, ta phải thực hành bốn tinh tấn ba-la-mật này, không chỉ trong lúc hành thiền, mà cả trong cuộc sống hằng ngày.  Nhờ đó ta sẽ đạt được an tịnh nội tâm là điều mà ai cũng hoài vọng, nhưng có mấy ai tìm được.

 

   Tinh tấn đầu tiên là không để cho tư tưởng bất thiện chưa phát khởiphát khởi.  Muốn làm được điều này chánh niệm phải thật sắc bén.  Một tư tưởng chưa phát khởi, nhưng có thể tạo nên những làn sóng đi phía trước.  Để biết được rằng chúng không mang đến lợi ích gì, ta cần nhiều chú tâm và công phu tu tập.  Tinh tấn thứ hai, không để một tư tưởng bất thiện đã phát khởi, được duy trì, có thể được thực hiện bởi bất cứ ai có thiện chí, nếu người đó biết là không có ai khác để đổ lỗi ngoài mình.  Ý nghĩ bất thiện không phải do ngoại vật kích động, mà hoàn toàn do các uế nhiễm từ bản thân.

 

   Tinh tấn thứ ba là khiến cho tư tưởng thiện, chưa phát khởi, được phát khởi.  Có nghĩa là chúng ta phải liên tục quán sát tâm, khuyến khích những ý nghĩ tích cực, thiện lành khi chúng chưa có mặt, ngay cả trong những hoàn cảnh khó xử nhất.

 

   Cuối cùngtinh tấn thứ tư là làm cho tư tưởng thiện, đã phát khởi, được duy trì.  Trong khi hành thiền, điều đó liên quan đến đề mục thiền quán của ta.  Nhưng trong cuộc sống hằng ngày, đó là phản ứng của tâm.  Nếu ta có chút cảm nhận đối với bản thân, ta có thể cảm thấy bấn loạn bên trong khi tư tưởng bất thiện phát khởicảm giác của sự chống đối.  Tư tưởng bất thiện luôn ở trong tâm ta trong quá nhiều năm tháng, đến nỗi chúng đã trở thành những phần không thể thiếu trong quá trình tư duy của ta.  Cần phải có chánh niệm và quyết tâm ta mới buông bỏ được chúng.

 

   Khi hành thiền, ta trở nên ý thức rằng các tư tưởng bất thiện của mình không do ai hay hoàn cảnh bên ngoài tạo ra.  Do đó tâm ta thêm vững mạnh để có thể buông những gì ta không cần, hoặc thay thế bằng những điều hữu ích.  Bốn tinh tấn ba-la-mật này là bốn căn bản của chánh niệm liên quan đến nội dung tư tưởng của ta (niệm Pháp).  Nếu tất cả mọi người trên thế giới này đều thực hành điều này thì thế giới này đáng sống hơn nhiều.

 

   Trạng thái nội tâm của ta được biểu hiện qua cảm xúcphát khởi khi có sự xúc chạm của các giác quan.  Suy tư cũng là một sự xúc chạm giác quan.  Ý nghĩ bất thiện sinh ra các cảm thọ bất thiện, như là khó chịu, bực bội.  Thấy, nghe, nếm, ngửi, xúc chạm là năm ngoại giác quan.  Tư duy là giác quan bên trong.  Tất cả khi xúc chạm, đều tạo ra cảm giác.  Kia là mắt và đối tượng của mắt.  Khi cả hai đều tốt đẹpnhãn thức phát sinh và kết quả là cái thấy: Nhãn căn, nhãn trần và nhãn thức tụ hội.  Khi ta biết đó là cách bản thể này, mà ta gọi là “tôi”, hoạt độngchúng ta có thể dừng lại những chương trình đã được cài đặt sẵn trong tâm, luôn luôn phản ứng cùng một cung cách.  Bởi thế không khó đoán người ta sẽ phản ứng như thế nào đối với một sự kích động quen thuộc nào đó, vì chương trình cài sẵn của họ chưa được thay đổi.  Để dừng chương trình đó lại, trước hết ta phải biết có một chương trình, và nó bao gồm những gì.

 

   Thí dụ, với nhĩ căn, là ống tai; rồi có âm thanh.  Khi nhĩ thức phát khởi, vì cả căn và trần đều có mặt, ta có cái nghe, và từ cái nghe, cảm xúc phát khởi.  Tai chỉ có thể nghe âm thanh, mắt chỉ có thể thấy màu sắc, hình thể.  Còn tâm làm tất cả những thêm thắtgiải thích.  Mỗi người lại có sự giải thích khác nhau, nên không ai thấy hay nghe bất cứ điều gì giống nhau.  Thí dụ, khi một người nam thấy một phụ nữ, có sắc vóc, tâm anh ta nghĩ, “Cô ta đẹp quá, mình phải lấy cô ta mới được”.  Khi tôi nhìn, cũng người phụ nữ đó, tôi hoàn toàn không có bất cứ ý nghĩ gì giống như thế.  Vậy mà mọi người đều cố gắng để thuyết phục người khác rằng cái họ thấy, họ nghe là đúng nhất.  Nhưng vì thường họ không thể thuyết phục người khác, nên họ bắt đầu bắn, giết người khác.

 

   Suy nghĩ cũng là một xúc chạm của giác quan.  Ta có ý căn và tưởng.  Tâm thức phát sinh, tiếp xúc với ý nghĩ và tư duy bắt đầu.  Từ đó cảm xúc phát khởi.  Nếu ta nghĩ mình thương yêu mọi chúng sanh, thì dầu ta có thực sự làm được hay không, chắc chắn ta cũng có một cảm giác ấm áp, dễ chịu phát sinh từ ý nghĩ đó.  Tương tự, nếu ta thấy ghét ai đó, thì ta có cảm giác lạnh lùngxa cách.  Sau đó là phản ứng đối với cảm giác, hoặc là muốn/ước ao hay không muốn/xua đẩy.  Khi chú tâm quán sát bản thânchúng ta có thể trải nghiệm điều đó thật rõ ràng.  Chính phản ứng đối với cảm xúc là cửa ngỏ để vào tính nhị nguyên và khổ lần nữa.  Nhưng đồng thời nó cũng chỉ cho ta cửa ra khỏi mọi phiền não.  Nếu một lần nào đó ta không phản ứng, nhưng biết rõ cảm giác chỉ là cảm giác, nếu ta có thể làm được như thế, thì chánh niệm đã được thiết lập.  Ta cũng khởi lòng tin là ta có thể làm được như thế lần nữa, và đang thực sự thực hành thanh tịnh hóa tâm linh.  Đó là một sự thuyết phục nội tại quan trọng.  Đức Phật dạy rằng, chúng ta cần cả hai, học và hành.  Văn (học) giúp ta biết Phật dạy những gì.  Nhưng nếu ta không thực hành thì ta giống như con vẹt hay giả đạo đức, nói những điều mình không có chút kinh nghiệm tự chứng nào.

 

   Qua sự thực hành chánh niệm, ta trở nên ý thức đến các cảm xúc phát khởi khi có sự xúc chạm của các giác quan.  Cảm xúc lúc nào cũng có mặt, ta cần nhận diện chúng để có thể chuyển hóa cách sống theo bản năng thành cách sống có chủ đích của một con người.  Theo bản năng, ta luôn là người phản ứngthụ động.  Có chủ đích, ta trở thành người chủ động.

 

   Có lẽ bài học quan trọng nhất ta cần học là duy trì chánh niệm trong tất cả mọi hoạt động hằng ngày.  Ta có thể thực hành điều đó dầu ở bất cứ đâu: tại nhà, ở chợ, nơi làm việc, lúc viết thư, điện thoại, bất cứ làm gì, bất cứ lúc nào.  Thiền cho ta động lực, giúp ta tỉnh thức để tháo gỡ mọi chướng ngại ẩn tiềm trong các quan điểm của mình.  Ta không thể thấy cái tổng thể, chỉ thấy từng bộ phận.  Ta thấy những gì quanh ta, nhưng không thể thấy xa hơn nữa.  Với chánh niệm, dường như có cánh cửa mở, khi mọi thứ đều có chỗ nhất định và đều liên kết với nhau.  Ta buông bỏ được cảm giác về sự quan trọng của một cái ngã được thổi phồng, và có thể liên kết nhiều hơn với tất cả mọi hiện tướng.  Tất cả những thứ này vẫn còn là thứ phẩm, là vấn đề bên lề.  Chánh niệm thực sự nghĩa là biết.  Khi ta biết và thực sự trải nghiệm cái biết đó, dần dần bản thân ta có thể chứng nghiệm được Tứ Diệu Đế.  Lúc đó công việc của ta hoàn mãn.

 

   Một trong những yếu tố của chánh niệm là khả năng đạt được nhất tâm.  Ta không phóng dật hay mù mờ, mà có thể giữ tâm ở vị trí của nó.  Chúng ta phải ý thức rằng các chướng ngại của tâm là bi kịch của con người, không phải bi kịch của cá nhân nào.  Sự hiểu biết này giúp ta chịu đựng một cách nhẫn nại và chuyển hóa dần dần.

 


 

[1]    Bốn Tinh Tấn Ba-la-mật (padhana) hay Tứ Chánh Cần là:

  1. Tránh các trạng thái tâm bất thiện
  2. Chế ngự các trạng thái tâm bất thiện
  3. Phát triển các trạng thái tâm thiện
  4. Duy trì các trạng thái tâm thiện

03. Awake and Aware

 

It is important to experience and not to believe. In order to do that, we have to pay attention. In the famous and often quoted Kalama Sutta, the Buddha gives ten points which are not suitable as criteria to follow a teacher or a spiritual path. All of them have to do with a belief system because of traditional lineage or because of sacred books. Not to believe but to find out for ourselves is the often repeated injunction of the Buddha. Unless we do that, we cannot have an inner vision, which is the first step that takes us on to the noble path.

 

An inner vision is an understood experience. Without that, insight cannot arise. That holds true for small matters in daily life, just as it holds true for the deepest and most profound understanding of the Buddha's teaching. If for instance somebody is not pleased with us and we don't understand why, we shall have that same disharmony happen to us over and over again. We need to realize that we may have said or done something to cause that displeasure. This is a small matter showing the need for understanding an experience.

 

If we think these happenings are something outside of ourselves, we can't change our attitudes. Practicing Dhamma means constantly changing ourselves to reach out towards the sublime. If change were not possible, the Buddha would have given a lifetime of teaching in vain.

 

Unless we pay total attention to every detail we'll never change towards the sublime. Attention to detail is the core of mindfulness. Most people lack the practice and also the instructions to be truly mindful. It's one thing to read about it, but an entirely different matter to do it. Mindfulness is the essence of understanding, because without it there is no seeing into the heart of any phenomena.

 

Watching the breath means "knowing exactly." Mindfulness is not judgmental, nor discriminating, nor telling stories. Mindfulness knows when there is concentration and when there isn't when the mind wanders off and when the mind becomes peaceful. Perfect mindfulness knows every moment that is occurring.

 

When we pay attention to our feelings and do not react to them but only observe, then we're using the second foundation of mindfulness, vedananupassana (mindfulness of feeling). When we know we're thinking, it's cittanupassana (mindfulness of thought) and when we know what the content of the thought is, it's dhammanupassana (mindfulness of mind objects). If we're not paying attention, we're not really awake. We need to practice clear attention to any one of these at all times.

 

It is possible that in meditation the mind becomes concentrated. If there is a feeling of peacefulness, one has to know that quite clearly. Without realizing what is happening, one cannot go further, because one doesn't know where one is at. This is an important detail of meditation, knowing exactly what's happening and being able to verbalize it after the occurrence. The verbalization is the understood experience, and occurs naturally after the experience. This holds true for any mind-state and for any feeling. The Dhamma is the Buddha's verbalized experience. Unless we can do that with our own experiences, we are left with a belief system, which can dull the mind. But meditation is to sharpen the mind. The mindful mind is a sharpened axe, with a sharp and finely honed blade which can cut through all our illusions. When we sit in meditation, we can get to know the disturbances of our own mind: such as the dull mind that doesn't know what's going on, or the sleepy mind, the distracted or the resisting mind, that doesn't want to obey. That is mindfulness of mind objects.

 

Like most human beings, we have a distracted mind, geared so much towards trying to resist the unpleasant and crave the pleasant, that this pattern is very difficult to change. If we find ourselves resisting the unpleasant, seeking the pleasant, we just know that this is a normal habit pattern. This is how this little spaceship earth operates, and how our economy works. Do you know anybody who's blissfully happy because of it? It is an impossible venture, it is a guaranteed failure, yet everybody is still trying. We have all been trying long enough, we can give it up, at least for the time we're meditation. However it is possible to get rid of dukkha, but not by eliminating the unpleasant sensations, only by getting rid of our reaction to them. This is the most important primary entrance into the spiritual path. Unless this is perfectly understood, the rest will not fall into place. We won't get rid of the unpleasantness of sitting, or of mosquitoes, or of anything unpleasant we may encounter. All is mind-made and therefore mind-reacted. Dukkha disappears when our reactions disappear.

 

Unless we know that we are the creators of our own dukkha, Dhamma remains a mystery. We start practicing when we no longer blame our surroundings, other people, the political situation, the economy or the weather. We see only our own reactions. Naturally our reactions aren't immediately going to be all favorable and wholesome. That will take a while. But at least we can start doing something about ourselves.

 

Mindfulness needs to be used not only in our meditation practice, but also every time we move, feel or think in our daily life. While awake, mindfulness has to be our primary objective. One has to come to terms with oneself. Only then will the world make sense one day. The universe is this mind and body. We find out what this mind and body are all about, and we will know the universe and its underlying truth. All is distinctively the same, but we have to know what it is.

 

When we come out of meditation, we should be aware of opening our eyes, moving our body, of everything we are doing. Why? First of all, it will keep us from thinking unwholesome, negative thoughts. It facilitates meditation. The mind needs to be kept in check and not allowed to run wild. The ordinary, unpracticed mind is like a wild bull running around in a garden. It can make a mess of the garden in no time. That's what our minds are doing. They're making an awful mess of this world we live in. We don't even have to read the newspapers to know about it. It's to be seen everywhere, and comes from our own minds. All of us are included, except the enlightened ones. A wild mind can't meditate. It has to be caught, kept in check, and a halter put on. Every time it runs away, we bring it back with mindfulness, like training a wild horse which in its wild state cannot benefit anyone. If the horse is tamed and trained it can be extremely useful. How much more this is true of the mind!

 

Mindfulness of the body means that we know the movements of all parts. As we watch ourselves, we will see that there is mind and body. The mind giving the orders, the body following suit. We can recognize too that sometimes the body can't obey because it is weak. This is our first entrance into insight, realizing there are mind and body and the mind being the more important one. The difference between a trained and an untrained person is the understood experience.

 

Mindfulness which extends to the body movements extends to the other aspects of mindfulness as well. If, for instance, we are thinking about the future we are no longer paying attention to the body; instead we can pay attention to the thought process. We know that we are thinking, and are making kamma. The thoughts are the mental formations, as well as the kamma formations. We are the owners of our kamma. Whatever we think, that we will be. It's an impersonal process which has nothing to do with any particular entity.

 

Then we can become aware of the content of our thoughts, which means knowing whether it is wholesome or not. We can learn to drop any negative thinking and replace it. This is where our meditation training comes in, which is not divorced from outer activities. When we pay attention to the breath in meditation and a thought intervenes, we learn to let go of the thought and come back to the breath. The same procedure is used in daily life to let go of unwholesome thoughts. We substitute at that time with a wholesome thought, just as we substitute with the breath in meditation.

 

Mindfulness of the thinking process is what the Buddha Named the "four supreme efforts."[1] They constitute the heart of the purification process. The spiritual path is the path of purification and hinges on mindfulness. "There's only one way for the purification of beings, for the overcoming of dukkha, for the final elimination of pain, grief and lamentation, for entering the noble path, for realizing Nibbana, that's mindfulness." (Words of the Buddha). To practice the purification process is necessary not only for one's own peace of mind, for adding to the peace in the world, but also in order to be able to meditate.

 

The hope that one might sit down on a pillow, watch the breath and become concentrated, is a myth. One has to have the mind in proper shape for it. Therefore, we must practice these four supreme efforts not only while we are meditating, but in every-day life. We will gain inner peace which everybody is looking for and very few people ever find.

 

The first effort is not to let an unwholesome thought arise which has not yet arisen. The requires sharp mindfulness. A thought which has not yet arisen creates waves ahead of it. To realize that these waves are boding no good, needs much attention and practice. The second effort, not to continue an unwholesome thought which has already arisen, can be done by anyone of good will, if it is understood that there is nobody else to blame. Unwholesome thinking is not due to outer triggers, but results strictly from our own defilements.

 

The third step is to make a wholesome thought arise which has not yet arisen. This means that we continually watch over our mind and encourage positive, wholesome thoughts where none are present even under the most trying circumstances.

 

Finally, to make a wholesome thought, which has already arisen, continue. In the meditation practice, this concerns our meditation subject. But in daily life it means our mind's reaction. If we have some sensitivity towards ourselves, we can feel that there is a disturbance within when unwholesome thinking arises, a feeling of resistance. Unwholesome thoughts have been thought of so often for so many years, that they have become part and parcel of our thinking process. It takes mindfulness and determination to let go.

 

In meditation we become aware that our unwholesome thoughts are not caused by someone or something external. Then we gain the power of mind to drop what we don't want, to keep and substitute with what is useful for us. These four supreme efforts are the fourth foundation of mindfulness concerned with the contents of our thoughts. If everybody in the world were practicing this, it would be a better world to live in.

 

Our inner being manifests in feeling, which arises through our sense contacts. Thinking is also a sense contact. Unwholesome thinking produces unpleasant feelings, such as being ill at ease, or unhappy. Seeing, hearing, tasting, touching, smelling are the five outer senses. Thinking is the inner one. All of them make contact and produce a feeling. There is the eye and the eye object. When both are in good condition, the eye consciousness arises and seeing results. The sense base, the sense object and the sense consciousness meet. When we know how this being, which we call "me," operates, we can stop the pre-programmed print-out, that's always answering the same way. It is quite possible to predict how a person will react to any given stimulus, because we have a program which has never been interrupted yet. To discontinue it, we first have to know that there is a program and what it consists of.

 

For instance, we have the hearing base, which is the ear drum; then there is sound. When the hearing consciousness arises, because both base and object are present, hearing results and from that a feeling arises. The ear can only hear sound, the eye can only see form and color. The mind does all the explaining. Everybody has a slightly different explanation, so that nobody sees or hears anything alike. When one man sees a woman, and sees her form and color, the mind says "isn't she beautiful, I must marry her." When I see that same woman, I don't think anything like that. Yet everyone tries to convince the people around them that what they themselves are seeing and hearing is correct. Because they often can't convince others, they start shooting or persecuting them.

 

Thinking is also a sense contact. There is the brain base and there are ideas. The mind consciousness arises, contacting the idea and thinking starts. From that a feeling results. If we think we love every being, whether we actually can do it or not, we certainly get a warm pleasant feeling from the thought. By the same token, if we think we hate a person, we get a cold and distant feeling. Now comes the reaction to the feeling, which is either wanting/craving or not wanting/rejecting. By being attentive to ourselves, we can experience that quite clearly. The reaction to the feeling is our renewed entry into duality and dukkha. At the same time it provides us with the doorway out of all difficulties. If for once we don't react, but know a feeling just as a feeling, if we can do that, mindfulness has been established. We also gain the confidence that we can do it again, and are actually practicing spiritual purification. That is an important inner conviction. The Buddha said we need both, study and practice. It helps us to know something of what the Buddha taught. But if we don't practice, then we are only parrots or hypocrites, proclaiming something we have no personal experience with.

 

Through our practice of mindfulness we become aware of the feelings which arise when we make sense contacts. Feelings happen all the time and need to be recognized so that we can change our instinctive way of living to a deliberate way of being alive. Instinctively we are a constant reactor. Deliberately we become an actor.

 

Probably the most important lesson we can learn is to keep our mindfulness going in our every-day activities. We can practice wherever we are, at home, marketing, in the office, writing letters, telephoning, any time at all. The meditation itself gives us the impetus, showing how awareness removes the obstacles inherent in our viewpoints. We cannot see the whole, only parts. We see what is around us, but we never see beyond that. With mindfulness comes an opening, where everything seems to fall into place and has an interconnection. We lose our exaggerated sense of self-importance, and can unite more with all manifestations. All these are still side issues. Mindfulness means knowing. As we know and really experience, we can prove, eventually, the four noble truths to ourselves. Then our work is completed.

 

Mindfulness has, as one of its factors, the ability to be one pointed. We do not become foggy or distracted, but can keep the mind in its place. We have to realize that mind obstructions are a human calamity and not a personal one. This understanding helps us to patiently endure and gradually change.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 143)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 314)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 333)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 379)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 482)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 390)
02 Tháng Mười Một 2019(Xem: 522)
30 Tháng Mười 2019(Xem: 566)
23 Tháng Mười 2019(Xem: 656)
19 Tháng Mười 2019(Xem: 866)
22 Tháng Tám 2019(Xem: 679)
18 Tháng Giêng 202011:35 SA(Xem: 42)
Dòng đời cứ chảy trôi, đông qua xuân đến, đất trời cũng dần thay màu áo mới, mặt nước hồ xuân trong vắt xua tan đi cái rét buốt của mùa đông ưu sầu, ảm đạm. Người người nhà nhà lại háo hức du xuân, hòa mình trong cái không khí hân hoan của đất trời. Theo thường lệ, mỗi năm Ban Văn hóa chùa Hoằng PhápViệt Nam
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 42)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 130)
Khi hơi thở đều đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
16 Tháng Giêng 20207:23 SA(Xem: 143)
Triêu nhan vốn là một loài dây leo bình dị, gần gũi có thể mọc ở khắp mọi nơi. Màu sắc và hình dáng của hoa luôn ở bên cạnh bước chân và cái nhìn của ta. Thế nhưng đôi khi chúng ta quên lãng sự có mặt của nó, có lẽ vì nó quá bình thường. Nhưng sẽ có một lúc nào đó bất chợt, sự hiện diện của hoa bừng sáng trước mắt ta, trong lòng ta
15 Tháng Giêng 20206:38 CH(Xem: 11814)
Những cử chỉ mang tính biểu tượng của bàn tay Đức Phật, được gọi là Thủ Ấn, là những biểu tượng hình ảnhý nghĩa sâu xa: - The symbolic gestures of the hands of Buddha images, called mudras, are picture tools of identification of deeper meaning:
14 Tháng Giêng 20201:11 CH(Xem: 217)
Bankei, con người đã giác ngộ, chia sẻ với chúng ta kinh nghiệm của ngài với tư cách một con người bằng máu thịt và nói lên những lời chân thực từ kinh nghiệm riêng ngài. Lời khuyên của ngài đi thẳng vào tim người, đấy là những lời nhắm thẳng vào con người trước mặt
14 Tháng Giêng 20208:19 SA(Xem: 119)
Trước đây tôi là người không kiên nhẫn, rất dễ bị lay động bởi những gì người khác nói hay làm. Nhưng các em học viên đã mở rộng tầm nhìn của tôi. Tôi nhận thấy rằng người khác có thể có những suy nghĩ mà mình chẳng bao giờ nghĩ đến trước đây. Khi lắng nghe các em, tôi đã trưởng thành thêm nhiều. Tôi nghĩ đó là cách Đức Phật đã dạy bảo tôi,
13 Tháng Giêng 202012:54 CH(Xem: 153)
Khi đã hướng về tâm linh, ta thường nghĩ rằng mình đã bỏ những tính xấu của thế tục lại đằng sau. Nhưng cách suy nghĩ theo thói quen không biến mất; chúng vẫn đi theo ta, phủ trùm con đường tiến đến sự tu tập tâm linh của chúng ta. Vì tất cả chúng ta đều đã được huấn luyện thành những người tiêu dùngtrình độ
11 Tháng Giêng 20204:45 CH(Xem: 215)
Chúng ta đến với cuộc đời bằng một cái tâm, và khi từ bỏ cuộc đời cũng với một cái tâm. Trái tim không còn đập nữa, nhưng tâm vẫn chung thủy bên ta. Những bài pháp, lời giảng dạy yêu thương, câu nhắc nhở chân tình trong quyển sách nhỏ này là món quà, là đôi chút trang điểm cho nội tâm của bạn. Hãy đọc với tâm tình rộng mở,
11 Tháng Giêng 202010:20 SA(Xem: 200)
Người khép cửa giã từ trò chơi giỡn. Đứng bên lề ta len lén ngó qua. Hai mươi năm… tưởng chừng một sát na. Nhìn tóc bạc da nhăn… mà thấy lạ. Đã hết thuở giành ăn la chí choé. Mừng trăng thu cùng bách bộ ngoài đường. Đi bên nhau dàn hàng dưới mù sương. Nghe hạnh phúc mênh mang về tỏa khắp. Đã hết thuở quần chằm, áo vá…
09 Tháng Giêng 202011:25 SA(Xem: 293)
Mấy ông thầy Đại Đăng khi qua Boston phụ dọn dẹp chuẩn bị lễ khánh thành thiền viện Bồ Đề, mặt mũi lem luốc vì xi măng quét tường tô trần, đóng nẹp, nối ống..., quần ống thấp ống cao, áo vạt cao vạt thấp, đã tức cảnh sinh... thơ rằng: - Áo em vạt ngắn vạt dài. Nghiệp em quá nặng bị đày đến đây. - mà cười tươi rói.
09 Tháng Giêng 20209:54 SA(Xem: 178)
Ngoài việc phá rừng khai hoang chúng tôi còn đối mặt với đặc sản nơi đây: Muỗi sốt rét hoành hành! Chúng tôi luân phiên ngã bệnh, luôn phải uống ký ninh ngừa sốt rét, người nào cũng xanh dờn, không khỏe. Các bác sĩ bằng hữu thỉnh thoảng ra thăm, khám sức khỏe cho chúng tôi và nhắc nhở: “Quý vị tranh thủ nhín thời gian đi tắm biển đi!”.
07 Tháng Giêng 20203:57 CH(Xem: 258)
Cái tôi theo tháng ngày qua. Măng non thành cụm tre già dặn hơn. Trong nhà, cuối xóm, đầu thôn. Tôi là số một, tôi "ngon" hơn người. Tôi khóc, không muốn ai cười. Ai thành đạt thấy tôi thời chẳng vui, Tôi nói ngược, chớ nói xuôi. Một khi tôi muốn có trời mới can! Tôi thành cái rốn không gian.
06 Tháng Giêng 202012:02 CH(Xem: 204)
Xuất Gia Balamật - Trong một tiền kiếp khi Đức Phật là Ngài Temiya, Ngài thực hành hạnh Xuất Gia Balamật bằng cách giả làm người ngu độn, không làm được việc gì. Vua cha sai người đánh xe chôn sống Ngài. Temiya biểu hiện một lòng dũng cảm phi thường và sau đó, quyết định sống đời xuất gia.
05 Tháng Giêng 20205:29 CH(Xem: 314)
Tập sách gồm những bài pháp do Ngài Thiền Sư Khippapanno Kim Triệu ban giảng trong khóa thiền thứ 21 Mùa Đông 1986, được tổ chức tại Chùa Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Những bài pháp này vừa có tính cách dẫn giải, khuyến tu cho các thiền sinh, vừa mang chứa những lợi lạc thiết thực đến thân tâm cho tất cả chúng ta.
04 Tháng Giêng 202011:29 SA(Xem: 273)
Từ cung trời Đâu-suất, Bồ-tát được Phạm thiênTứ Thiên vương thỉnh mời tái sinh xuống thế. Khi Hoàng hậu Maha Ma-da, mẹ của Đức Phật, thụ thai, bà nằm mộng thấy một voi trắng từ một ngọn núi vàng bạc mang một đóa hoa sen đến dâng cho bà. Đản Sanh: Vào đêm trăng tròn tháng tư, năm 625 trước Tây lịch,
03 Tháng Giêng 20209:19 CH(Xem: 230)
Bài phát biểu của Ajahn Brahm trình bày một luận điểm vững chắc về việc truyền đại giới Tỳ-kheo-ni trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, được hổ trợ bằng những tham khảo trích dẫn từ lời dạy của Đức Phật và những qui định trong Luật Tạng về việc điều hành sinh hoạt Giáo đoàn Phật giáo.
02 Tháng Giêng 20207:25 CH(Xem: 264)
Thế nên trong một số chùa ở trong nam vẫn thường có chuyện một số Phật tử lâu năm thành ra “công thần”, muốn tỏ quyền hành với mọi người, muốn tham gia “tổ chức”, “sắp xếp”, “điều hành”, “nhắc nhở”… thiếu nước muốn làm trụ trì chùa nữa thôi. Những người đó là những người lăng xăng nhất, phiền não nhất, càng lâu càng ngã mạn
31 Tháng Mười Hai 20197:43 CH(Xem: 299)
Ở phương Tây những năm gần đây, vô số giấy mực đã được dùng để viết về Đức Phật (Buddha) và Giáo Pháp (Dhamma) của Ngài, hai Ngôi Báu đầu tiên của đạo Phật, nhưng quá ít được viết về Ngôi Báu thứ ba, là Tăng già (Sangha). Ngay đến ý nghĩa của chữ Tăng già cũng từng là một đề tài tranh luận, khi mà đối với những ai
30 Tháng Mười Hai 20192:04 CH(Xem: 264)
Thiền sư Thái Ajahn Brahm chỉ ra con đường từ chánh niệm đến các trạng thái định sâu qua mười sáu bước quán niệm hơi thở. Ajahn Brahm là một thiền sư Thái, tu học dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Ajahn Chah và hiện nay là viện chủ tu viện Bodhiyana ở Serpentine, Úc. Đây là bài tóm tắt cuốn sách sắp phát hành của thầy:
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 311)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1903)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3236)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 42)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20207:43 CH(Xem: 827733)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
17 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 130)
Khi hơi thở đều đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 565)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 1443)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 1096)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất giatại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 959)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 1972)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1719)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,