04. Tứ chánh cần - Supreme Efforts

18 Tháng Mười Hai 20199:47 SA(Xem: 1364)
04. Tứ chánh cần - Supreme Efforts
ThayBietBayGioODay_A

Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
(To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
Sister Ayya Khema - Việt dịch: Diệu Liên Lý‎ Thu Linh

Nguồn: accesstoinsight.org, thuvienhoasen.org


__________________

04. Tứ Chánh Cần

 

  Chúng ta có thể dễ dàng nhận biết tâm đang làm gì.  Nó hồi tưởngphản ứng và thường đầy vọng tưởng cũng như trạng thái.  Những ai không hành thiền sẽ tin vào tất cả những điều ấy.  Ngay chính các thiền giả cũng có thể vẫn tin vào những phản ứng của tâm đối với các duyên khởi bên ngoài, hoặc nghĩ rằng không được coi thường các trạng thái phát khởi trong tâm, rằng bất cứ tâm làm gì là do duyên bên ngoài tác động chứ không phải là phản ứng nội tâm.  Điều này có thể dễ dàng nhận thấy nếu chúng ta quán sát quá trình tư duy của mình không chỉ lúc hành thiền mà cả trong cuộc sống hằng ngày.

 

   Đức Phật đã trao truyền cho ta những lời chỉ dẫn rất xác thực về phương cách để làm thế nào hóa giải bất cứ trạng thái tâm bất thiện nào và thay bằng các tâm thiện xảo.  Chúng có thể được tóm gọn như là “tránh né”, “chế ngự”, “phát huy” và “duy trì”, và được gọi là tứ chánh cần (bốn nỗ lực siêu phàm), mà tôi đã nhắc tới trước đây. Chúng thuộc 37 phẩm trợ đạo, nên phải nằm trong phần tu tập của ta.  Khi thực hành rốt ráo, chúng là một phần trong quy trình giác ngộ.

 

   Có thể bạn cũng đã nghe câu nói “Niết Bàn và Luân hồi ở cùng một chỗ”.  Nói vậy thì không chính xác, vì không có một “chỗ” như thế.  Niết bànsự giải thoátgiác ngộbuông bỏ, và luân hồi (Samsara), là vòng sinh tử, làm sao chúng có thể ở cùng một chỗ?  Nhìn ở một phương diện nào đó thì cho là có thể, vì cả hai đều ở trong tâm của tất cả chúng sanh.  Nhưng mọi người chỉ ý thức về một thứ, đó là cái khiến ta tiếp tục trôi lăn trong vòng sinh tử.  Không chỉ là khi thân này mất đi, được coi là chết hay khi thân tái hiện, được coi là sinh, mà luôn có sinh và tử trong từng giây phút hiện hữu của ta.  Có sự sinh của những tư tưởng thiện và bất thiện, và sự mất đi của chúng.  Có sự sinh của các cảm thọdễ chịu, khó chịu hay trung tính, và sự mất đi của chúng.  Có sự sinh và chết ở thân này trong từng giây phút, chỉ có điều là ta không đủ chánh niệm để nhận ra chúng.

 

   Chúng ta có thể thấy rõ điều đó khi nhìn lại những tấm ảnh của ta chụp 10 hay 20 năm về trước.  Chúng ta hoàn toàn khác với hình ảnh mà ta nhìn thấy trong gương bây giờ.  Nhưng không phải là thân bỗng nhiên thay đổi như thế.  Nó đã thay đổi từng giây phút qua năm tháng, để cuối cùng ta mới nhận ra điều đó.  Nếu tâm chánh niệm hơn thì ta đã nhận ra điều đó từ lâu, vì luôn có sự sinh, sự chết trong thân này, đối với các tư tưởng và cảm thọ cũng thế.  Đó là Samsara (luân hồi), vòng sinh tử trong ta, do lòng tham ái muốn lưu giữ hay tân trang cái mà ta nghĩ là “tôi” này.  Khi giải thoát, lòng tham ái đó chấm dứt, cái gì đã qua, sẽ được cho qua, cái gì đã mất, sẽ để cho mất đi.

 

   Dầu có khả năng được giải thoát, ta không có khả năng nhận ra điều đó, vì ta chỉ quan tâm đến những gì ta đã biết.  Chúng ta dễ tạo thói quen và bám theo thói quen.  Với thời gian thiền tậphành giả trở nên ý thức đến thói quen của tâm với các phản ứng cũ kỹ, sáo mòn đối với các ngoại duyên.  Dầu trong quá khứ ta thấy rằng các phản ứng này chẳng ích lợi gì, nhưng ta vẫn lặp lại do thói quen.  Đối với các cảm thọ cũng thế.  Chúng phát khởi, rồi qua đi, chẳng hơn gì một đám mây đi qua bầu trời, chỉ có thể báo hiệu thời tiết thế nào, chứ chẳng có giá trị lớn lao gì.  Các trạng thái cũng chỉ cho tín hiệu để tâm lập trình, nếu tâm tin vào trạng thái đó.

 

   Tứ chánh cầntrước tiên, là tránh những tư duy bất thiện, uế nhiễm.  Nếu ta có thể nhận ra chúng là bất thiện, thì ta có thể chấp nhận việc phải học một khả năng khác dễ dàng hơn.  Tránh né có nghĩa là ta không để tư tưởng nào đó phát khởi, mà cũng không phản ứng theo trạng thái, hay theo các ngoại duyên.  Nếu ta tự thấy mình hay phản ứng theo thói quen đối với việc gì đó, ta có thể bó buộc phải tránh né những hoàn cảnh như thế, để cuối cùng ta có thể đạt được trí tuệ, biết phải chọn lọc điều gì từ đó.  Khi phản ứng theo duyên hay trạng thái, ta không thể đánh giá nó một cách trung thực, vì các phản ứng đã lấn áp tâm trí.

 

   Tránh né, nói theo Pháp, có nghĩa là tránh tư tưởng bất thiệnthực tế ra, chúng ta có thể phải tránh bất cứ điều gì làm phát khởi các trạng thái tâm đó trong ta.  Tuy nhiên, ta không nên quá cực đoan đến độ tránh né cả những điều nhỏ nhặt nhất, là phương cách mà nhiều người thường sử dụng, dầu không thành công, để thoát khỏi các phản ứng tiêu cực.  Thói quen trốn chạy hoàn cảnh, tạo ra các phản ứng bất thiện trong ta, chứ không mang đến tâm bình an.  Chỉ khi có nguyên do đặc biệt nào đó khiến ta luôn phát khởi các phản ứng tiêu cực, thì ta có thể phải tránh né nó chứ không đổ lỗi cho ai.  Ta chỉ phải thừa nhận là mình chưa đủ bản lãnh để tự chủ trong một số hoàn cảnh nào đó.  Cũng thế, khi hành thiền, ta không thể trách móc cảm giác khó chịu ở thân, mà phải nhận ra rằng ta chưa làm chủ được việc không phản ứng đối với khổ, nên đành phải thay đổi tư thế ngồi thôi.

 

   Cả hai đều giống nhau.  Cái thì thuộc về chuyển động ở thân, cái thì thuộc tâm.  Tất cả chỉ có nghĩa là ta chưa hoàn toàn làm chủ một tình thế nào đó.  Nó khiến ta ý thức rằng vẫn còn nhiều điều ta phải học hỏi về bản thân.  Trách móc, đổ lỗi cho bất cứ thứ gì ở bên ngoài ta đều vô ích, nó chỉ làm xấu thêm tình thế và đổ thêm tư duy bất thiện vào đó.

 

   Để tránh các phản ứng tiêu cực trong tâm, ta phải chú tâm và biết cách vận hành của tâm trước khi buông lời nói năng.  Chúng ta có thể huân tập điều đó trong khi hành thiền.  Tỉnh thức là lực đẩy chính trong thiền tập.  Không ích lợi gì nếu tâm được thanh tịnhan bình mà ta không hoàn toàn biết tâm đạt đượcduy trì và thoát ra khỏi các trạng thái đó bằng cách nào.  Việc huân tập được điều này trong thiền tập, sẽ giúp ta ý thức được tâm hoạt động như thế nào trong cuộc sống hằng ngày, trước khi nó lên tiếng nói những điều như: “Tôi không thể chịu nổi cảnh này” hay “Tôi ghét người đó quá”.  Khi điều đó xảy ra, tức là một trạng thái tâm bất thiện đã thành hình.

 

   Trước khi tâm bị rơi vào chiếc bẫy đó, một cảm giác khó chịu, bức bối có thể được cảm nhận, như báo hiệu rằng một trạng thái tâm bất thiện đang tượng hình, để ta có thể buông bỏ trước khi nó xuất hiện.  Sẽ dễ buông bỏ tâm uế nhiễm trước khi nó xuất hiện, nhưng khó nhận ra nó hơn.  Khi ta nhận thấy một trạng thái tâm đang thành hình mà không cảm thấy có bình anhạnh phúc, thì ta có thể chắc chắn rằng nó là bất thiện.  Ta càng huân tập bản thân để chánh niệm về các trạng thái tâm, ta càng ý thức hơn về sự bất hạnh ta tạo ra cho mình và cho người qua tư duy bất thiện.

 

   Khi không thể tránh được tâm uế nhiễm, ta phải tu tập chế ngự nó.  Do không dễ để ta kịp thời tránh các trạng thái tâm tiêu cực, ta phải biết rõ phương cách chế ngự chúng.  Buông bỏ tâm bất thiện là một hành động tích cực chứ không phải là một phản ứng thụ độngtuy nhiên khó làm điều đó, vì tâm luôn cần phải bám vào điều gì đó.  Trong thiền tập chúng ta cần đối tượng thiền quán, như là hơi thở hay cảm thọ để theo dõi, trước khi tâm có thể trở nên tĩnh lặng, bình an.  Cũng thế, khi cần chế ngự các trạng thái tâm tiêu cực, ta thay chúng bằng tư duy thiện lành thì dễ dàng hơn là cố gắng buông bỏ chúng.

 

   Nếu ta nắm níu các trạng thái tâm tiêu cực thêm bất cứ thời gian nào, chúng sẽ trở nên thân thiết.  Khi sự có mặt của chúng không khiến ta khó chịu thì ta càng lúc càng tin vào chúng, rồi cuối cùng những suy nghĩ kiểu như sau sẽ lộ diện, “Tôi không thích ai chống đối tôi” hay “Sấm sét luôn làm tôi sợ hãi”.  Các câu này cho thấy tính cách không đổi dời của người nói, khiến họ thêm ngã mạn.  Lý do duy nhất khiến những câu nói như thế vận vào tính cách của ta là vì ta bo bo giữ thái độ tiêu cực quá lâu, ta nghĩ là  mình không thể sống thiếu chúng.  Tuy nhiên, chúng chỉ là các trạng thái tâm tiêu cực mà ta có thể và cần chuyển đổi.  Ta càng có thể nhanh chóng chuyển hóa chúng, ta càng dễ tìm được sự bình an cho bản tâm.

 

   Nếu ta thấy không ưa hay đối nghịch với ai đó, ta có thể nghĩ đến điểm tốt của người đó và thay thế tư tưởng tiêu cực với điều gì đó tích cực một cách cụ thể.  Ai cũng có cả hai tính chất, tốt và xấu, nên nếu ta cứ nhìn vào điều xấu, thì ta luôn phải đối mặt với khía cạnh đó, hơn là điều ngược lại.  Đối với một số người, ta khó thay đổi cách nhìn về họ hơn là với người khác.  Tuy nhiên, họ là sự thử thách của ta, nên hãy cố gắng.  Không ai có thể trốn chạy những thử thách trong cuộc sống này.  Cuộc sống là một ‘trung tâm giáo dục thường xuyên’ với nhiều bài thi không được báo trước xảy đến cho ta.  Chúng ta không được báo trước điều gì sẽ xảy đến cho mình, nên lúc nào ta cũng phải ở trong tư thế sẵn sàng.

 

   Khi ta đã huân tập được kỹ năng thay thế và thực hành được, dù chỉ một lần, ta sẽ tự tin vào khả năng của mình.  Không có lý do gì khiến ta không thể lặp lại việc này bất cứ khi nào cần thiết.  Cảm giác nhẹ nhõm mà ta cảm nhận được là cả một nguồn khích lệ mà ta cần có để tiếp tục thực hành.

 

   Khi phải đối mặt với những tình thế mà ta thấy khó làm chủ, ta có thể tự nhắc nhở là mình đang gặp một hoàn cảnh đáng học hỏi.  Việc chế ngự các trạng thái tâm uế nhiễm đòi hỏi ta phải có sức mạnh tinh thần, là điều ta có thể phát triển qua công phu thiền tập.  Nếu ta chưa thể giữ được sự chú tâm ở nơi mình muốn khi hành thiền, thì ta chưa thể chuyển hóa tâm khi ta muốn.  Ta càng phát triển được sự thiện xảo trong thiền tập, thì ta càng thấy dễ dàng “tránh né” hay “chế ngự”.  Tương tự, khi ta có thể thực hành phương cách thay thế trong đời sống hằng ngày là cách ta giúp cho sự hành thiền của mình được dễ dàng hơn.  Khi ta ý thức được rằng tâm không phải là một vật thể rắn chắc, luôn phản ứng theo một cách nào đó, mà nó là một dòng chảy uyển chuyển, có thể thay đổi, có thể trong suốt, sáng chói, thì ta sẽ càng cố gắng hơn để bảo vệ nó khỏi các uế nhiễm.  Tân thiền sinh thường coi đó là một khám phá bất ngờ khi nhận thức rằng tâm không phải là một “lò phản ứng” cứng nhắc, thụ động, mà nó có thể chuyển đổi và tạo ảnh hưởng khi cần.

 

   Để phát huy các trạng thái tâm thiện lành có nghĩa là ta phải cố gắng vun trồng chúng, khi chúng chưa phát khởi.  Nếu tâm đang ở trạng thái trung tính hoặc có chiều hướng cân nhắcphán đoán, chê bai, thương tổn hay ngã mạn, thì ta chủ tâm chuyển tâm theo các khuynh hướng ngược lại để phát khởi các trạng thái tâm thiện.  Ta thừa biết rằng tất cả các trạng thái tiêu cực không đưa đến sự an bìnhhạnh phúc, và hòa hợp cho bản thân.  Ngược lại, khi ta phát khởi được lòng từ, bi mẫn, hoan hỷ và tự tại, thì ta thấy các đức tính này đưa đến sự bình an nội tâm.  Như thế rõ ràng là ta cần luôn cố gắng vun trồng các trạng thái tâm đưa đến sự thoải máian lành.  Phát triển chúng từ sự hiểu biết rằng các trạng thái tâm thiện lành tốt cho ta, là một tuệ giác sâu sắc.  Khi tâm tĩnh lặng, ta nhận ra rằng với bao tình huống xấu ác đang xảy ra trên đời, nếu ta chỉ có phản ứng bất thiện đối với chúng, là ta đã nhân đôi dukkha (khổ).  Phản ứng bất thiện không giúp giải quyết tình huống, mà cũng không ích lợi gì cho ai.

 

   Nếu ta có thể phát triển khả năng nhìn mọi thứ theo hướng tích cực và sử dụng bất cứ điều gì xảy ra trước mắt như một kinh nghiệm học tập, cố gắng duy trì các tâm thiện lành, thì chỉ còn một nỗ lực cuối cùng, được gọi là duy trì trạng thái tâm thiện xảo.  Bất cứ ai chưa đạt được hoàn toàn giác ngộgiải thoát khỏi các khuynh hướng ngủ ngầm sẽ không thể luôn giữ được các trạng thái tích cực, nhưng tâm chánh niệm của ta có thể đủ sắc bén để báo cho ta biết khi ta thất bại.  Đó là sự tỉnh giác mà ta cần có để chuyển đổi.  Khi ta không thể duy trì trạng thái thiện, ta luôn có thể cố gắng lần nữa.  Tuy nhiên, nếu ta bắt đầu tự trách hay đổ lỗi cho người, là ta đang làm tăng thêm một trạng thái tiêu cực thứ hai trong tâm, làm cản trở sự tiến bộ của ta.

 

   Kỹ năng có thể được rèn luyện.  Chúng ta đã học nhiều kỹ năng trong cuộc sống.  Đây là loại kỹ năng đáng được vun trồng, đáng được rèn luyện luôn.  Đây không phải là một đặc tính mà ta hoặc là có hay là không.  Tâm mọi người đều có khả năng phát triển sự thiện lành và buông bỏ điều xấu ác.  Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là từ đây mọi thứ đều tốt đẹptuyệt vời.  Nghĩ thế là không thực tế.  Cái mà ta có thể thực hành là, dầu có bao uế nhiễm bên trong và bên ngoài, thái độ chán ghét chúng không phải là một phản ứng hiệu quả để mang đến an bìnhhạnh phúc.  Tột đỉnh của tất cả các trạng thái tình cảm là sự buông thư, quân bình, đã được phát triển qua thiền tập và dựa trên tuệ giác.  Đó là khí cụ của ta trong cuộc sống hằng ngày để phát triển và duy trì các trạng thái tâm thiện lành.

 

   Việc đè nén hay tự dối bằng cách nghĩ “Tôi phải thế này” hay “Tôi phải thế kia” đều vô ích.  Chỉ cần chánh niệm về những gì đang xảy ra trong tâm và huân tập khả năng chuyển đổi mà tâm ta cần có.  Dần dần tâm sẽ trở nên là một dụng cụ đã được khéo trui rèn, là dụng cụ duy nhất trên vũ trụ có thể giải thoát cho ta khỏi tất cả khổ (dukkha).  Tất cả mọi chúng sanh đều sở hữu dụng cụ đó, và những lời giáo huấn của đức Phật là để dạy ta kỹ năng sử dụng dụng cụ này một cách tốt nhất; là để ta không tin vào các trạng tháiphản ứng của nó đối với các kích thích bên ngoài, nhưng phải theo dõibảo vệ nó và ý thức được tiềm năng có thể hoàn toàn giải thoát của nó.

 

   Nếu ta muốn có một dụng cụ sắc bén, ta cần phải chăm sóc nó theo cách tốt nhất mà ta có thể thực hiện.  Điều này có nghĩa là không để bụi bặm bám tụ, mà phải lau sạch nó càng nhanh càng tốt.  Đối với tâm cũng thế.  Đây có lẽ là kỹ năng khó nhất mà ta phải học, đó là lý do tại sao rất ít người có thể thực hiện, nhưng là thiền giả, là ta đang bước trên con đường chánh đạo để tiến đến đó, bằng cách ý thức rằng không thể tin vào tâm bất chấp tất cả, vì nó đầy vọng tưởng và chóng đổi thay.

 

   Bốn nỗ lực (tứ chánh cần) này được coi là “tối thượng”, không chỉ vì chúng khó tột cùng, mà cũng vì chúng tột cùng hữu ích.  Một vị thiền giả tinh tấn sẽ muốn chuyển hóa cõi người khi vẫn còn mang kiếp người, và những nỗ lực này là thử thách của tất cả chúng ta.  Chúng đã được đức Phật giảng dạy rõ ràng đến độ ta có thể thấy rõ những khó khăn ta phải đối mặt và lý do tại sao ta vẫn còn luẩn quẩn trong luân hồi (Samsara).  Nhưng chúng ta không phải tiếp tục như thế không dừng dứt.  Biết được con đường và cách đi trên đó, ta sẽ có cơ hội để thoát khỏi mọi uế nhiễm.

04. Supreme Efforts

 

We can notice fairly easily what our mind does. It reflects and reacts and it often has fantasies and also moods. Anyone who doesn't meditate will believe in all of that. Even those who do meditate might still believe in the reactions of their own mind to the outer stimuli, or might believe the moods which come into the mind are to be taken seriously, that whatever the mind is doing is due to an outside occurrence and not to an inner reaction. This is easily seen if we watch our thinking process not only in meditation but in daily living.

 

The Buddha gave very exact instructions how to counteract any unskillful mind states and produce skillful ones. They can briefly be expressed as "avoiding," "overcoming," "developing," and "maintaining," and are called the four supreme efforts, which have been briefly mentioned before. They are part of the 37 factors of enlightenment, so must be part of our practice. When perfected they are part of the enlightenment process.

 

You may have heard the expression "Nibbana and Samsara are both in the same place." It is not a true saying, because there is no such "place." But Nibbana, liberation, emancipation, enlightenment, and Samsara, the round of birth and death, how can they be together? In a way they can, because they are both in the mind, in everybody's mind. Except that everyone is only aware of one of them, namely that which makes us continue in the round of birth and death; not only when this body disappears and it is called death or when a body reappears and it is called birth. But there is constant birth and death in our every moment of existence. There is the birth of skillful and unskillful thoughts and the dying away of them. There is the birth of feelings, pleasant, unpleasant or neutral, and the dying away of them. There is the birth of the arising of this body and its dying away moment after moment, except that we are not mindful enough to become aware of that.

 

We can see this quite clearly when we look at a photo of ourselves taken 10 or 20 years ago. We look entirely different from what we see in the mirror now. But it doesn't follow that a body takes a leap of 20 years and then changes itself suddenly. It has changed moment by moment until after a longer time-span, it is finally noticeable to us. With more mindfulness we could have known it all along, because there is constant birth and death in the body, the same as with thoughts and feelings. This is Samsara, the round of birth and death within us, due to our craving to keep or renew what we think is "me." When there is liberation, that craving ceases, whatever dies is left to die.

 

Although we have the potential for liberation, our awareness is not able to reach it, because we are concerned with what we already know. We are habit-formed and habit-prone and every meditator becomes aware of the mind habits with their old and tried reactions to outside triggers. They have not necessarily been useful in the past, but they are still repeated out of habit. The same applies to our moods, which are arising and passing away and have no other significance than a cloud has in the sky, which only denotes the kind of weather there is, without any universal truth to that. Our moods only denote the kind of weather our mind is fabricating, if it believes the mood.

 

The four supreme efforts are, in the first place, the avoiding of unwholesome, unskillful thought processes. If we look at them as unskillful, we can accept the fact of learning a new skill more easily. Avoiding means we do not let certain thoughts arise, neither reactions to moods, nor to outside triggers. If we find ourselves habitually reacting in the same way to the same kind of situation, we may be forced to avoid such situations, so that we can finally gain the insight which needs to be culled from it. While we are reacting to a situation or mood, we can't assess it dispassionately, because our reactions overpowers the mind.

 

Avoiding, in a Dhamma sense, means to avoid the unskillful thought; in a practical sense we may have to avoid whatever arouses such mind states in us. That, however, must not go to the length of running away as the slightest provocation, which is a well known, yet unsuccessful method of getting out of unpleasant reactions. Habitually running away from situations, which create unwholesome reactions in us, will not bring about a peaceful mind. Only if there is one particular trigger, which arouses unskillful responses in us over and over again, we may have to move away from it without blaming anyone. We just realize that we have not yet been able to master ourselves under certain circumstances. Just as we don't blame the unpleasant feeling anywhere in the body, but realize that we haven't mastered our non-reaction to dukkha yet, and therefore must change our posture.

 

It amounts to exactly the same thing. One is a physical move, the other is a mental one. All it means is that we haven't quite mastered a particular situation yet. It brings us to the realization that there is still more to be learned about ourselves. Blaming anything in our outside of ourselves is useless, it only aggravates the situation and adds more unwholesome thinking to it.

 

In order to avoid unskillful reactions in the mind, we have to be attentive and know the way our mind works before we verbalize. We can learn about that in meditation. Awareness is the prime mover in meditation. It isn't viable or useful to have calm and peaceful mind states without being completely aware of how we attained them, remained in them and came out of them. Having learned this through our meditative practice, enables us to realize how our mind works in daily life, before it says anything, such as possibly: "I can't stand this situation" or "I hate this person." When that happens, an unwholesome state has already been established.

 

Before the mind is allowed to fall into this trap, a dense and unpleasant feeling can be noticed, which acts as a warning that an unwholesome mind state is approaching, which can be dropped before it has even established itself. It is much easier to let go before the negativity has taken hold but it is harder to recognize. When we notice that a mind state is approaching which does not seem to be accompanied by peace and happiness, we can be sure it will be unwholesome. The more we train ourselves to be mindful of our mind states, the more we realize the unhappiness we cause ourselves and others through unskillful thinking.

 

When we have not been able to avoid an unwholesome mind, we have to practice to overcome it. Because of the difficulty of becoming aware in time to avoid negativities, we have to be very clear on how to overcome them. Dropping a thought is an action and not a passive reaction, yet it is difficult to do, because the mind needs something to grasp. In meditation we need a subject, such as the breath or the feelings/sensations to hold onto, before the mind can become calm and peaceful. When we want to overcome unskillful mind states, it is easier to substitute with wholesome thinking, than just trying to let go of unwholesomeness.

 

If we entertain the negative mind states for any length of time, they become more and more at home. As they make themselves comfortable, we are more and more inclined to believe them and finally come out with thoughts such as "I always hate people who don't agree with me" or "I always get nervous about thunder." These statements are designed to show one's own unchanging character, giving our ego an extra boost. The only reason these states might have become ingrained in our character is that having entertained negativities for so long, one can no longer imagine to be without them. Yet these are nothing but unskillful mind states, which can and need to be changed. The quicker we substitute, the better it is for our own peace of mind.

 

If we have dislike or rejection concerning a person, we may remember something good about that person and be able to substitute the negative thought with something concretely positive. Everyone is endowed with both qualities, good and evil, and if we pick on the negative, then we will constantly be confronted with that aspect, rather than the opposite. With some people this will be more difficult that with others. They are our tests, so to say. Nobody gets away in this life without such tests. Life is an adult education class with frequent examinations, which are being thrown at us at any time. We are not told in advance, what is in store for us, so we should be prepared all the time.

 

As we learn the skill of substitution and do it successfully once, we gain confidence in our own ability. There is no reason when why we cannot repeat this whenever needed. The relief we feel is all the incentive we need for practice.

 

When we are confronted with situations which we find difficult to handle, we can remember that we are faced with a learning experience. Overcoming unwholesome mind states needs mind power, which we develop through our meditation practice. If we are not yet able to keep our attention in meditation where we want it to be, we will not be able yet to change our mind when we want to do so. The more skill we develop in meditation, the easier it will be for us to either "avoid" or "overcome." By the same token, as we practice substitution in daily living, we assist our meditation. When we realize that our mind is not a solid entity which has to react in certain ways, but is a movable, changeable phenomenon, which can be clear and illuminated, then we will more and more try to protect it from unwholesomeness. It is often a revelation to a new meditator to find out that the mind is not a fixed and believable reactor, but can be influenced and changed at will.

 

To develop wholesome states of mind means that we try to cultivate these, when they have not arisen yet. If the mind is neutrally engaged or has a tendency to weigh, judge and criticize, feel hurt or be ego-centered, we deliberately counteract these tendencies to develop skillful mind states. We acknowledge that all negative states are not conducive to our own happiness, peace and harmony. When we develop loving-kindness, compassion, sympathetic joy and equanimity, we experience that these states are conducive to our own inner well-being. Obviously we will then try again and again to cultivate the mind states which result in personal contentment. Developing them from that understanding alone, that the wholesome states are good for us, is a powerful insight. When our mind is at peace, we realize that while there are innumerable unwholesome situations in the world, if we have an unwholesome reaction to them, that only doubles the dukkha. It will neither relieve the situation, nor be helpful to anyone.

 

If we develop a capacity for seeing the positive and using whatever arises as a learning situation, trying to keep the four supreme emotions, mentioned above, in mind, then there remains only the last effort, namely to maintain skillful mind states. Anyone who has not reached full liberation from all underlying tendencies will not be able to maintain positive states at all times, but our mindfulness can be sharp enough to tell us when we are not succeeding. That is the awareness we need to effect changes. When we are not able to maintain wholesomeness, we can always try again. Should we start blaming ourselves or others, however, we are adding a second negative state of mind and are blocking our progress.

 

A skill can be learned. We have all learned many skills in this life. This is the sort of ability well worth cultivating, more important than proficiencies. This is not a character trait we either possess or lack. Everybody's mind is capable of developing the wholesome and letting go of the unwholesome. But that also doesn't mean that we find everything wonderful and beautiful from now on. That too is not realistic. That which can be practiced is, that although there is unwholesomeness within and without, dislike is not an effective reaction to bring peace and happiness. The pinnacle of all emotional states is equanimity, even-mindedness, which is developed through our meditation practice and based on insight. It is our tool in daily living to develop and maintain wholesome mind states.

 

It is neither useful to suppress nor to pretend by thinking "I ought to be" or "I should be." Only awareness of what is happening in our mind and learning the skill of changing our mind is called for. Eventually our mind will be a finely tuned instrument, the only one in the whole of the universe that can liberate us from all dukkha. All of us have that instrument and the guidelines of the Buddha teach us the skill to use this instrument to the best advantage; not to believe its moods and reactions to outer stimuli, but to watch and protect it and realize its potential for complete liberation.

 

If we want a good tool, we need to look after it in the best possible manner. This means not letting any dirt particles accumulate, but to clean it up as quickly as possible. The same criterion applies to our mind. This is probably the hardest skill to learn, which is the reason so few people do it. but a meditator is on the right path towards just that, by realizing that the mind cannot be believed implicitly, being much too fanciful and fleeting.

 

The four supreme efforts are called "supreme," not only because they are supremely difficult, but also supremely beneficial. A serious meditator wants to transcend the human realm while still in human form and these efforts are our challenge. They are so well explained by the Buddha that we can clearly see the difficulties we are faced with and the reasons why we are still roaming about in Samsara. But we don't have to continue that unendingly. Knowing the path and the way to tread upon it, we have the opportunity to become free of all fetters.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5402)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1724)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1858)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1621)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1314)
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 52)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 115)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 145)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 171)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 214)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 212)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 208)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 193)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 217)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 226)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 273)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 250)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 293)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 263)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 338)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 281)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 285)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 311)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 278)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 288)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2230)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3934)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5573)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 338)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 433)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 438)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 273)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5402)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 504)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 494)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3044)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2057)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng