05. Khai mở tâm thức - Expansion in Consciousness

18 Tháng Mười Hai 20199:47 SA(Xem: 182)
05. Khai mở tâm thức - Expansion in Consciousness
ThayBietBayGioODay_A

Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
(To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
Sister Ayya Khema - Việt dịch: Diệu Liên Lý‎ Thu Linh

Nguồn: accesstoinsight.org, thuvienhoasen.org


__________________

05. Khai Mở Tâm Thức

 

   Chúng ta có khả năng chuyển đổi thân, thì đối với tâm cũng thế.  Thân có thể thay đổi như khi ta ăn ít hơn để giảm ký, hay ăn nhiều hơn để tăng trọng lượng; uống nhiều rượu thì hại gan, hút thuốc nhiều thì hại phổi.  Ta có thể tập thể dục để có bắp thịt, hay luyện tập để chạy nhanh hơn, nhảy cao hơn, hay tập dợt để có thể đánh tennis hay đá cầu.  Thân có thể làm được nhiều thứ mà một người bình thường không biết mình có thể làm được vì họ không được tập luyện.  Thí dụchúng ta biết có những người có thể nhảy hai hay ba lần cao hơn bình thường, hay chạy nhanh gấp mười lần người khác.  Thật vậy, nhiều người có thể làm những điều phi thường với cơ thể họ.  Tương tự, cũng có những người có thể sử dụng tâm họ trong những cách dường như rất kỳ diệu, mà thật ra tất cả đều do tập luyện.

 

   Thiền là cách rèn luyện duy nhất dành cho tâm. Muốn huấn luyện thân phải có những kỷ luật về thân.  Tâm cũng cần những kỷ luật về tâm, như thực hành thiền.

 

   Trước hết ta cần chuyển hoá tâm từ những suy nghĩ bất thiện thành thiện.  Cũng giống như người muốn trở thành vận động viên phải bắt đầu bằng việc rèn luyện cơ thể, ta cũng cần phải làm thế với  việc rèn tâm.  Đầu tiên chúng ta giải quyết những điều bình thường, sau đó mới đến những điều cao xa hơn.  Việc quán tưởng về cái chết của bản thân sẽ giúp chúng ta nhận thức rằng tất cả những gì đang xảy ra, sẽ sớm chấm dứt, vì tất cả chúng ta sẽ chết đi.  Dầu chúng ta không thể biết chính xác ngày giờ, điều đó chắc chắn sẽ xảy ra.  Khi luôn quán tưởng về cái chết trong tâm, những gì xảy ra quanh ta không quan trọng mấy nữa, vì tất cả chỉ quan trọng trong một thời gian rất giới hạn.

 

   Chúng ta có thể thấy rằng chỉ việc tạo nghiệp mới quan trọng, do đó hãy làm những điều tốt nhất mà ta có thể làm trong từng ngày, từng giây phút.  Giúp đỡ người khác trở thành ưu tiên.  Không có gì có thể thay thế điều đó.  Tha nhân có thể được lợi ích nhờ tài năng hay sở hữu của ta vì ta không thể giữ hay mang chúng theo mình.  Tốt hơn hết là ta cho đi tất cả càng sớm càng tốt.

 

   Một trong những định luật của vũ trụ là bạn càng cho ra nhiều, thì bạn được vô nhiều hơn.  Dầu đó là luật nhân quả, nhưng có mấy ai tin điều đó.  Đó là lý do tại sao ai cũng cố gắng kiếm nhiều tiền hơn và sở hữu nhiều thứ hơn nữa.  Nếu ta tin và sống dựa vào nhân quả, thì chẳng bao lâu ta sẽ khám phá ra sự thật.  Tuy nhiên điều đó chỉ hiệu nhiệm nếu việc bố thí được làm với tâm trong sạch.  Chúng ta có thể chia sẻ thời gian, sự quan tâm, chăm sóc vì lợi ích của kẻ khác.  Chúng ta cũng được lợi ích ngay, đó là hạnh phúc trong lòng, khi ta thấy được niềm vui mà ta đã tạo ra cho người.  Đây có thể là niềm hạnh phúc duy nhất ta có thể tìm thấy trên cõi đời này mà nó không nhanh chóng qua đi, vì chúng ta có thể hồi tưởng lại việc thiện và niềm hạnh phúc của riêng mình.

 

   Nếu chúng ta thực sự tin rằng cái chết lơ lửng trên đầu, không chỉ bằng lời nói, thì thái độ của chúng ta đối với người và sự việc sẽ hoàn toàn thay đổi.  Chúng ta sẽ không còn như trước nữa:  Con người mà chúng ta từng là, cho đến bây giờ không mang đến cho ta sự hài lòngbình an và hạnh phúc trọn vẹn.  Chẳng thà là ta trở nên một con người khác, với cái nhìn mới mẻ.  Chúng ta sẽ không còn cố gắng để duy trì thứ gì dài lâu, vì ta biết tính chất tạm bợ của việc ta làm.  Do đó không có gì còn quan trọng nữa.

 

   Có thể so sánh với việc ta mời bạn bè đến nhà dùng cơm.  Chúng ta lo lắngquan tâm không biết các món ăn có vừa miệng khách, họ có thoải mái không và có gì sơ sót chăng.  Nhà cửa phải sạch bóng cho khách.  Khi có khách, chúng ta rất quan tâm, lo cho khách có đầy đủ những thứ họ cần.  Sau đó chúng ta lại quan tâm không biết họ có thích nhà ta không, có thoải mái ở đó không, có nói lại với những người bạn khác rằng bữa tiệc đó thật vui.  Đó là các thái độ của ta vì ta sở hữu chỗ đó, vì ta là chủ.  Nếu ta là khách, ta chẳng quan tâm đến món ăn vì đó là việc của chủ nhà.  Ta chẳng quan tâm xem mọi thứ có chỉnh chu không vì đó không phải là nhà của ta.

 

   Thân này không phải là nhà của ta, dầu ta có sống bao lâu trong đó.  Nó chỉ là một chỗ tạm bợ, không đáng quan tâm.  Không có gì thuộc về ta, ta chỉ là khách ở đây.  Có thể ta chỉ có mặt một tuần hay một năm nữa, hay mười, hai mươi năm nữa.  Nhưng chỉ làm thân khách, thì mọi sự diễn ra thế nào có quan trọng gì đâu?  Điều duy nhất ta có thể làm khi là khách trong nhà ai đó, là cố gắng hoà nhã, làm lợi ích cho những người ở quanh ta.  Mọi thứ còn lại đều hoàn toàn vô nghĩanếu không thần thức ta sẽ dính mắc lại nơi phố thị.

 

   Hơn nữa, chẳng phải là việc nâng cao tâm thức và tỉnh giác tới mức độ ta có thể nhìn xa hơn những mối bận tâm trước mắt mới là điều quan trọng sao?  Lúc nào cũng là những việc giống nhau: thức dậyđiểm tâm, vệ sinh, thay đồ, nghĩ ngợi, lên kế hoạch, nấu ăn, mua sắm, trò chuyện, đi làm, đi ngủ, rồi lại thức dậy... Cứ thế lặp đi, lặp lại.  Vậy có đáng cho một kiếp người?  Tất cả chúng ta đều cố gắng tìm điều gì đó trong những sinh hoạt hằng ngày có thể mang đến niềm vui cho mình.  Nhưng không có gì lâu bền, hơn nữa moi thứ đều liên quan đến việc ta phải hướng ra ngoài để tìm thứ gì đó.  Nếu mỗi buổi sáng ta đều nhớ là cái chết chắc chắn sẽ đến, nhưng giờ ta có thêm một ngày để sống, thì lòng biết ơn và ý chí có thể phát khởi để giúp ta làm điều gì đó ích lợi trong ngày.

 

   Điều quán tưởng thứ hai của ta có thể là về việc làm thế nào để chuyển hoá tâm từ sân hậntổn thươngbất hạnh, sang những điều ngược lại.  Việc nhớ đi, nhớ lại sẽ giúp ta dần dần thay đổi được tâm.  Ta không thể thay đổi thân qua đêm, để trở thành vận động viên, thì tâm cũng không thể chuyển đổi ngay lập tức.  Nhưng nếu ta không liên tục rèn luyện nó, thì nó sẽ mãi giống như xưa, không thể đưa ta đến một cuộc sống hài hoà, hạnh phúc.  Phần đông đều thấy cuộc sống đầy bất hạnhlo âu và sợ hãi.  Sợ hãi là một bản chất của con người, do ảo tưởng về ngã tạo nên. Ta sợ rằng cái ngã của mình sẽ bị hủy diệt, xoá bỏ.

 

   Ý muốn chuyển hoá tâm sẽ giúp ta có thể sống một cách có ý nghĩa mỗi ngày, là sự khác biệt giữa còn sống và thực sự sống.  Chúng ta sẽ có thể làm ít nhất một việc mỗi ngày, hoặc là thúc đẩy sự phát triển tâm linh cho bản thân, hoặc quan tâm, làm lợi ích cho người, tốt nữa là cả hai. Nếu ngày này qua ngày khác, ta đều sống có ý nghĩa, thì rốt cục ta sẽ có một cuộc sống có ý nghĩa.  Nếu không ta sẽ có một cuộc sống vị kỷ, không bao giờ biết thỏa mãn.  Nếu ta quên nghĩ đến những ham muốn hay ghét bỏ của bản thân, mà chỉ quan tâm đến sự phát triển tâm linh và đem lại hữu ích cho người, thì cái khổ (dukkha) của ta giảm đáng kể.  Nó sẽ đi đến chỗ mà nó chỉ còn là một tính chất tiềm ẩn trong tất cả mọi hiện hữu, chứ không còn là cái khổ, hay bất hạnh riêng của cá nhân.  Khi nào ta còn đau khổbất hạnh, thì cuộc sống của ta không có ích lợi gì. Khổ sở, đau đớn, than khóc không có nghĩa là ta rất nhạy cảm, mà đúng ra là ta không thể tìm ra giải pháp cho vấn đề.

 

   Chúng ta dành bao nhiêu thời gian để mua thực phẩm, nấu nướng, ăn uống, sau đó dọn dẹp, rồi lại lo nghĩ cho bữa ăn kế tiếp.  Hai mươi phút quán tưởng xem ta nên sống thế nào, sẽ không tiêu tốn nhiều thời gian của ta. Dĩ nhiên, ta cũng có thể dành nhiều thời gian hơn cho việc quán tưởng này, là phương cách giúp tâm có một hướng đi mới.  Không có sự rèn luyện, tâm sẽ ù lì, thiếu thiện xảo, nhưng khi ta chỉ cho tâm hướng đi mới, thì sau đó ta sẽ học được cách bảo vệ hạnh phúc của riêng minh.  Điều này không liên hệ với việc ta có được điều ta muốn hay loại bỏ được điều ta không mong muốn.  Đó chỉ là sự thiện xảo của tâm khi nhận biết điều gì là lợi ích và mang lại hạnh phúc.

 

   Phương hướng mới này, phát khởi từ quán tưởng, có thể đem ứng dụng vào trong hành động.  Chúng ta thực sự có thể làm gì?  Mọi người chúng ta đã nghe quá nhiều những mỹ từ, nhưng chỉ nói suông không thôi thì chẳng lợi ích gì.  Phải nhận thức rằng những lời này cần đi kèm theo hành động nơi thân hay tâm.  Đức Phật nhắc nhở ta rằng nếu ta nghe Pháp mà có lòng tin vào chân lý đó, thì trước tiên ta phải nhớ lý thuyết.  Sau đó ta phải xét xem mình có thể thực hiện được những gì mà bài Pháp đòi hỏi ta phải làm.

 

   Nếu ta quán niệm để giải thoát khỏi sân hận, ta có thể hồi tưởng lại quyết chí đó nhiều lần.  Bước kế tiếp là: Làm sao ta thực hiện điều đó?  Trong cuộc sống hằng ngày, ta phải để ý xem sân hận có phát khởi, nếu có, ta phải thay thế nó với tình thương và lòng bi mẫn.  Đó là cách huấn luyện tâm.  Lúc đó tâm không còn cảm thấy quá nặng nề, quá chấp chặt vào các thành kiến vì ta biết rằng chuyển hóa là điều có thể xảy ra.  Khi tâm cảm thấy nhẹ nhàng, trong sáng hơn, nó có thể khai mở.  Ứng dụng giáo lý của Đức Phật giúp tâm tỉnh giác, nên các hoạt động bình thườnghằng ngày không còn quá quan trọng.  Chúng chỉ cần thiết để giúp thân sinh động và tâm biết đến những sự phát triển trên nhiều phương diện ở thế gian.

 

   Từ đó phát khởi sự nhận thức rằng nếu chúng ta đã có thể thay đổi tâm đến dường ấy, thì có thể còn có nhiều điều trên vũ trụ này mà ta chưa thể thấy với tâm bình thường.  Từ đó ta có thể quyết chí đạt đến những điều siêu phàm.  Cũng giống như với vận động viên, việc giữ thăng bằng, kỷ luật và sức mạnh của thân là điều có thể, thì tâm cũng có thể làm như thế.  Đức Phật đã nói về sự tỉnh giác sâu xa do kết quả của việc hành thiền đúng đắnliên tục.  Chánh định có nghĩa là sự chuyển đổi của tâm thức vì lúc đó ta không còn kết nối với cái biết bình thườngtương đối.  Khi đã có thể chuyển đổi đường hướng của tâm, chúng ta không còn chìm đắm trong những vấn đề tầm thường, mà biết rằng còn có nhiều thứ hơn thế nữa?

 

   Vì đã được rèn luyện, làm tăng thêm sức mạnh, khéo thăng bằng nên tâm có thể thể hiện ý thức, sự tỉnh giác dường như khá đặc biệt, nhưng đó chỉ là kết quả của quá trình rèn luyện.  Có nghĩa là ta đã thoát khỏi sự sáo mòn của tâm.  Nếu ta cứ lái xe trên một con đường trơn ướt, thì vết xe lún ngày càng sâu hơn, cuối cùng có ngày xe sẽ bị dính chặt vào đó.  Đó cũng giống như các phản ứng theo thói quen trong đời sống hằng ngày của ta.  Công phu hành thiền sẽ kéo chúng ta ra khỏi những vũng lầy đó vì tâm giờ có các định hướng mới.  Thiền tập và hành động theo đó tạo nên con đường mới trong cuộc sống của chúng ta, trong khi các vũng lầy cũ bị ta bỏ lại phía sau...  Đó là những phản ứng đối với các duyên khởi của nghe, thấy, nếm, ngửi, xúc chạm và tưởng.  Thật uổng phí nếu ta để kiếp làm người quý báu này để chỉ làm kẻ phản ứng (reactor).  Trái lại làm người chủ động (creator)  thì ích lợi hơn, có nghĩa là suy nghĩ, nói năng và hành động có tính toán.

 

   Dần dần ta có thể không cần đến đối tượng thiền quán. Nó chỉ là chìa khoá, hay cái móc để treo tâm lên đó, để nó không chạy theo việc thế gian.  Khi định đã phát khởi, thì cũng giống như chiếc chìa khoá đã tìm được ổ khoá, và ta đã mở được cửa vào. Khi mở cửa Chánh định, ta thấy được ngôi nhà với tám phòng, là tám tầng thiền định (jhanas).  Đã vào được phòng thứ nhất, thì không có lý do gì, với sự thiền tập, ý chí và tinh tấn, ta không thể dần dần đi vào được tất cả.  Lúc ấy tâm thức sẽ buông bỏ mọi quá trình suy tưởng trước kia và chuyển qua trạng thái trải nghiệm sự việc.

 

   Điều đầu tiên xảy ra khi định phát khởi là một cảm giác tự tại.  Đáng tiếc là có quan niệm sai lầm cho rằng các tầng thiền định không thể đạt được mà cũng không cần thiết.  Quan niệm đó trái ngược lại với giáo lý của Đức Phật.  Bất cứ lời dạy nào của Ngài về con đường đi đến giải thoát luôn bao gồm các tầng thiền định (samma-samadhi).  Đó là tám bước trong Bát Thánh Đạo.  Cũng sai lầm khi tin rằng không thể đạt được chánh định.  Những hành giả này cần được hỗ trợ và tư vấn để phát triển nỗ lực.  Thiền tập phải bao gồm các tầng thiền định vì chúng là sự khai mở của tâm thức đưa đến một thế giới hoàn toàn khác với những gì ta từng biết qua.

 

   Trạng thái tâm phát khởi qua các tầng thiền định giúp ta có thể sống mỗi ngày với ý thức được gì là quan trọng, gì là không.  Thí dụ, đã nhìn thấy ta có thể trồng cây to, không ai còn tin rằng cây luôn nhỏ, dầu các cây trong vườn nhà ta nhỏ xíu, vì đất xấu.  Nếu ta đã nhìn thấy những cây đại thụ, ta biết rằng chúng hiện hữu, và ta có thể cố gắng tìm nơi có thể trồng chúng.  Các trạng thái tâm cũng thế.  Đã nhìn thấy khả năng khai mở tâm thức, ta không còn tin rằng chỉ có tâm thức bình thường hiện hữu, hay chỉ có hơi thở là đối tượng thiền quán duy nhất.

 

   Hơi thở là chiếc móc để ta treo tâm lên đó, để ta có thể mở cánh cửa đến với thiền chân chánh.  Đã mở được cánh cửa, ta trải nghiệm được thân tự tạithể hiện qua nhiều cách khác nhau.  Có thể là một cảm giác nhẹ nhàng hay mãnh liệt, nhưng nó gắn với cảm giác dễ chịu.  Đức Phật đã nói về sự dễ chịu đó như sau: "Đây là lạc mà ta cho phép mình được hưởng thụ".  Trừ khi ta trải nghiệm được niềm vui của trạng thái thiền định, là điều hoàn toàn không tùy thuộc vào các điều kiện bên ngoài, và ta cuối cùng có thể nói: "Thế gian với bao quyến rũ tầm thường không còn làm bận lòng ta", và tâm nhàm chán sẽ phát sinh.  Nếu không, tại sao người ta lại phải từ bỏ cái đôi khi cũng mang lại khoái lạc cho họ, nếu họ không có gì khác ngoài những thứ đó?  Làm sao người ta có thể làm điều đó?  Khó thể buông bỏ tất cả những lạc thú mà thế gian có thể mang đến cho ta, nếu ta không có gì để thay thế chúng.  Đó là lý do đầu tiên tại sao trong giáo lý của Đức Phật các tầng thiền định chiếm vị thế quan trọng.  Ta sẽ không thể buông bỏ khi vẫn còn nghĩ rằng với thân này và các giác quan này ta có thể đạt được điều mình kiếm tìm, có tên gọi là hạnh phúc.

 

   Đức Phật khuyến khích ta tìm hạnh phúc, nhưng ta phải tìm đúng hướng.  Ngài cho rằng ta có khả năng bảo vệ hạnh phúc của riêng mình.  Ngay giây phút đầu tiên khi đạt được sự thoải mái nơi thân lúc hành thiền cũng đã minh họa cho sự thật là có điều gì đó bên trong chúng ta đem lại hỷ lạchạnh phúc.  Sự tự tại nơi thân cũng khơi lên ý thích sự dễ chịu đó để giữ ta ngồi lại gối thiền.  Dầu đó cũng là một cảm giác nơi thân, nhưng nó không phải là cảm giác mà ta thường biết đến.  Nó khác vì nó phát xuất từ nguồn khác.  Những cảm giác vật lý dễ chịu quen thuộc đến từ sự xúc chạm, còn cảm giác này đến từ thiền định.  Rõ ràng là vì có nguồn gốc khác nhau, các kết quả cũng khác nhau.  Sự xúc chạm thì thô, định thì vi tế.  Do đó cảm giác đến từ thiền cũng có đặc tính tâm linh vi tế hơn là cảm giác dễ chịu đến từ sự xúc chạm.  Đã biết rõ ràng rằng điều kiện duy nhất cần thiết để được hạnh phúc là thiền định, thì ta sẽ kiềm chế những sự chạy đuổi, tìm kiếm đối tượng thích hợp, món ngon, thời tiết tốt, tiền tài, và không phung phí năng lượng tâm linh cho những thứ này.  Do đó, đây là bước đầu tiên cần thiết để tiến tới sự nhàm chán.

 

   Giờ chúng ta đang bước vào các trạng thái tâm vượt lên trên những vấn đề thế tục hằng ngày...  Tất cả chúng ta đều biết đến cái tâm hay gắn với những điều bình thường.  Tâm đó lo lắng về đủ mọi thứ chuyện, bồn chồn, toan tính, hy vọng, nhớ tưởng, mơ mộng, ưa, ghét và phản ứng.  Đó là một tâm bận rộn.  Có thể đây là lần đầu tiên ta làm quen với một tâm không có những đặc tính này. Sự thư thái thoải mái không có những suy tưởng bám theo, đó là một trải nghiệm.  Cuối cùng ta nhận ra rằng loại suy tưởng mà ta quen thuộc không mang đến cho ta những kết quả mà ta mong muốn.  Nó chỉ có ích trong việc giúp ta lập ý nguyện hành thiền.  Chúng ta biết, ngay ở bước đầu tiên đó, rằng cuộc sống thế gian không thể mang đến cho ta những gì mà thiền có thể.  Hạnh phúc không tùy thuộc vào những điều kiện bên ngoài mang đến sự thỏa mãn hơn bất kỳ thứ gì có thể tìm thấy trên thế gian này.  Chúng ta cũng được thấy là tâm có khả năng khai mở vào một tâm thức khác mà ta chưa từng biết qua, do đó ta có được kinh nghiệm tự chứng về việc thiền là phương tiện cho vấn đề giải phóng tâm linh.

 

   Do đã có được cảm giác dễ chịu này, niềm hỷ lạc nội tâm sẽ phát khởi.  Điều này tạo cho thiền giả niềm tin rằng con đường đến “vô ngã” là con đường của hỷ lạc chứ không phải khổ đau.  Từ đó phản ứng bản năng chống lại “vô ngã” sẽ giảm đi đáng kể.  Nhiều người không thể chấp nhận ý nghĩ rằng họ “không là ai cả”, ngay cả khi họ hiểu điều đó bằng tri thức.  Nhưng khi đã có thể trải nghiệm được hai đặc tính đầu tiên của thiền, ta sẽ nhận thức rõ ràng rằng điều đó chỉ có thể khi “cái ngã” luôn suy tư, được tạm thời dẹp qua một bên.  Vì khi cái ngã hoạt động, nó lập tức thốt lên, “Ồ, thật tuyệt vời”, và ngay lập tức ta không còn định tĩnh.  Nó phải có mặt và trải nghiệm ở nơi không có gì nói “Tôi đang trải nghiệm”.  Sự giải thích và tìm hiểu về những gì ta đã trải nghiệm có thể thực hiện sau.

 

   Đó là sự nhận thức rõ ràng rằng, không có “cái ngã”, niềm hỷ lạc nội tâm sẽ lớn và sâu sắc hơn nhiều so với bất cứ hạnh phúc nào mà ta đã biết ở thế gian.  Do đó sự quyết tâm để thực sự nắm bắt những điều dạy của đức Phật sẽ thành quả.  Cho đến lúc đó, đa số chúng ta chỉ chọn một vài khía cạnh của Pháp, mà ta đã được nghe qua, và nghĩ rằng vậy là đủ.  Có thể đó là sự cúng dườngtán tụnglễ hội, làm điều thiện, hay giữ giới, tất cả đều tốt, nhưng thực tại của giáo lý là một bức tranh ghép vĩ đại, nơi tất cả những mảnh ghép khác nhau sẽ tụ lại thành một tổng thể khổng lồ, bao gồm tất cả.  Mà tâm điểm là “vô ngã” (anatta).  Nếu ta chỉ sử dụng một vài mảnh ghép này, ta sẽ chẳng bao giờ có được bức tranh toàn cảnh.  Nhưng có khả năng hành thiền mang lại sự khác biệt lớn lao trong phương cách ta tiến đến với cái tổng thể của giáo lý, nó trùm phủ cả thân và tâm, và thay đổi hoàn toàn người hành theo đó. 

 

   Chúng ta phải dựa vào khả năng hành thiền của mình trên từng ngày.  Ta không thể hy vọng là mỗi khi ngồi xuống, ta sẽ thành công, nếu ta chỉ lo nghĩ chuyện thế gian, và nếu như ta không cố gắng giảm bớt sân, ganh, ghen tỵ, tham, chống đối trong cuộc sống hằng ngày.  Nếu ta sử dụng chánh niệmtỉnh giác rõ ràng và lắng lòng dục, là ta có nền tảng để hành thiền.  Khi chúng ta thực hành đem thiền vào công việc hằng ngày, ta sẽ thấy sự thay đổi dần dần trong ta, giống như một vận động viên đang trong thời kỳ luyện tập.  Tâm sẽ trở nên mạnh mẽ, và hướng đến những vấn đề quan trọng trong cuộc sống.  Nó không bị xao động bởi bất cứ điều gì xảy ra.

 

   Nếu mỗi ngày ta đều dành thời gian quán niệm, hành thiền và không quên chánh niệm, ta sẽ có một bắt đầu tốt đẹp cho việc khai mở tâm thức. Dần dà vũ trụ và bản thân chúng ta sẽ chuyển đổidựa trên sự thay đổi quan điểm của ta.  Có câu nói trong thiền là: “Lúc đầu núi là núi, sau đó núi không còn là núi, rồi cuối cùng núi lại là núi”.  Đầu tiên ta nhìn thấy mọi thứ với cái thực tại tương đối của chúng; mỗi người là một cá nhân riêng lẻ, mỗi cây là một loại khác nhau, mọi thứ phần nào đều có tầm quan trọng trong cuộc sống của ta.  Rồi khi bắt đầu tu hành, bỗng nhiên ta thấy ra một thực tại khác, toàn cầu và rộng mở.  Ta trở nên rất chú tâm vào việc hành thiền của mình, không còn để ý nhiều đến những gì xảy ra quanh ta.  Ta cảm nhận được sự khai mở, thăng hoa của tâm thức, biết rằng các phản ứng hằng ngày của ta không quan trọng.  Có lúc ta chỉ chú tâm đến thiền, và dường như sống trong một thực tại khác.  Nhưng cuối cùng, ta lại trở về ngay nơi ta từng có mặt, làm tất cả mọi thứ như trước kia, nhưng không còn để chúng lay động lòng mình.  Núi lại chỉ là núi.  Mọi thứ lại trở về với bản chất bình thường như xưa, chỉ có điều là chúng không còn cá biệt hay quan trọng nữa.

 

   Trong kinh Điều Lành Lớn (Maha-Mangala Sutta), một vị A-la-hán được mô tả như là: “… dù bị ảnh hưởng bởi những hoàn cảnh thế tục, tâm vị ấy không hề lay động”.  Bậc Giác Ngộ dầu sống trong thế tục, hành động như mọi người khác, cũng ăn, ngủ, tắm giặt, trò chuyện với người, nhưng tâm Ngài không lay động.  Tâm đó luôn mát mẻ và bình an.

05. Expansion in Consciousness

 

Just as we're capable of changing the body at will, the same applies to the mind. Changing the body can occur when we eat less and get thin, eat more and get fat, drink too much alcohol and spoil our liver, smoke too much and sicken our lungs. We can exercise to get muscles, or train to run fast or jump high, or to become very efficient at tennis or cricket. The body is able to do many things which ordinary people usually cannot do, because they haven't trained for that. We know, for example, of people who can jump two or three times further than is common, or run ten times faster than anyone else. We may have seen people doing stunts with their bodies, which look miraculous. There are also people who can use their minds in seemingly miraculous ways, which are really just due to training.

 

Meditation is the only training there is for the mind. Physical training is usually connected with physical discipline. The mind needs mental discipline, practice in meditation.

 

First we can change our mind from unwholesome to wholesome thinking. Just like a person who wants to be an athlete has to start at the beginning of body training, the same needs to be done for mind training. First we cope with the ordinary, later with the extraordinary. The recollection of our own death brings us the realization that all that is happening will be finished very soon, because all of us are going to die. Even though we may not know the exact date, it is guaranteed to happen. With the death contemplation in mind, it doesn't matter so much any more what goes on around us, since all is only important for a very limited time.

 

We may be able to see that only our kamma-making matters, doing the best we can every single day, every single moment. Helping others takes pride of place. There is no substitute for that. Someone else can benefit from our skills and possessions since we cannot keep them and cannot take them with us. We might as well give all away as quickly as possible.

 

One of the laws of the universe is the more one gives away, the more one gets. Nobody believes it, that's why everyone is trying to make more money and own more things, yet it is a law of cause and effect. If we would believe it and act accordingly we would soon find out. However it will only be effective if the giving is done in purity. We can give our time, our caring, our concern for others' well-being. We have the immediate benefit of happiness in our own heart, when we see the joy we have given to someone else. This is about the only satisfaction we can expect in this life which is of a nature that does not disappear quickly, because we can recollect the deed and our own happiness.

 

If we really believe in our impending death, not just use the words, our attitude towards people and situations changes completely. We are no longer the same person then. The one we have been until now hasn't brought us complete satisfaction, contentment and peacefulness. We might as well become a different person, with a new outlook. We no longer try to make anything last, because we know the temporary nature of our involvement. Consequently nothing has the same significance anymore.

 

It could be compared to inviting people to our home for a meal. We are worried and anxious whether the food will taste just right, whether all the comforts are there and nothing missing. The house should be immaculate for the guests. While they're visiting we are extremely concerned that they're getting everything they could possibly want. Afterwards we are concerned whether they like it at our house, were happy there, are going to tell other friends that it was a pleasant visit. These are our attitudes because we own the place. If we are a guest we don't care what food is being served, because that's up to the hostess. We don't worry whether everything is in apple-pie order because it's not our house.

 

This body is not our house, no matter how long we live. It's a temporary arrangement of no significance. Nothing belongs to us, we're guests here. Maybe we'll be present for another week or year, or ten or twenty years. But being a guest, what can it matter how everything works? The only thing we can do when we are guest in someone's house, is trying to be pleasant and helpful to the people we're with. All else is totally insignificant, otherwise our consciousness will remain in the marketplace.

 

Doesn't it only matter to elevate our consciousness and awareness to where we can see beyond our immediate concerns? There is always the same thing going on: getting up, eating breakfast, washing, dressing, thinking and planning, cooking, buying things, talking to people, going to work, going to bed, getting up... over and over again. Is that enough for a lifetime? All of us are trying to find something within that daily grind which will give us joy. But nothing lasts and moreover all are connected with reaching out to get something. If we were to remember each morning that death is certain, but now have another day to live, gratitude and determination can arise to do something useful with that day.

 

Our second recollection may concern how to change our mind from enmity, hurtfulness and unhappiness, to their opposites. Repeated remembering makes it possible to change the mind gradually. The body doesn't change overnight, to become athletic, and neither does the mind change instantly. But if we don't continually train it, it's just going to stay the same it has always been, which is not conductive to a harmonious and peaceful life. Most people find a lot of unpleasantness, anxiety and fear in their lives. Fear is a human condition, based on our ego delusion. We are afraid that our ego will be destroyed and annihilated.

 

This willingness to change our mind should make it possible to live each day meaningfully, which is the difference between just being alive and living. We would do at least one thing each day, which either entails spiritual growth for ourselves or helpfulness and consideration for others, preferably both. If we add one meaningful day to the next, we wind up with a meaningful life. Otherwise we have an egocentric life, which can never be satisfying. If we forget about our own desires and rejections and are just concerned with spiritual growth and eventual emancipation, and being helpful to other people, then our dukkha is greatly reduced. It reaches a point where it is only the underlying movement in all of existence and no longer personal suffering and unhappiness. As long as we suffer and are unhappy, our lives are not very useful. Having grief, pain and lamentation does not mean we are very sensitive, but rather that we haven't been able to find a solution.

 

We spend hours and hours, buying food, preparing it, eating it, washing up afterwards, and thinking about the next meal. Twenty minutes of recollection on how we should live, should not be taxing our time. Naturally, we can also spend much more time on such contemplations, which are a way to give the mind a new direction. Without training, the mind is heavy and not very skillful, but when we give the mind a new direction, then we learn to protect our own happiness. This is not connected with getting what we want and getting rid of what we don't want. It's a skill in the mind to realize what is helpful and happiness producing.

 

This new direction, which arises from contemplation can be put into action. What can we actually do? We have all heard far too many words which sound right, but words alone won't accomplish anything. There has to be an underlying realization that these words require mental or physical action. The Buddha mentioned that if we hear a Dhamma discourse and have confidence in its truth, first we must remember the words. Then we can see whether we are able to do what is required of us.

 

If we contemplate to be free of enmity, we can recollect such a determination again and again. Now comes the next step: How can we actualize that? When going about our daily life we have to be very attentive whether any enmity is arising, and if so, to substitute with love and compassion. That is the training of the mind. The mind doesn't feel so burdened then, so bogged down in its own pre-determined course because we realize change is possible. When the mind feels lighter and clearer, it can expand. Activating the teachings of the Buddha changes the awareness of the mind, so that the everyday, ordinary activities are no longer so significant. They are seen to be necessary to keep the body alive and the mind interested in the manifold proliferations that exist in the world.

 

The realization arises that if we have been able to change our mind even that much, there may be more to the universe than we have ever been able to touch upon with the ordinary mind. The determination may come to make the mind extraordinary. Just as in an athlete, enormous feats of balance, discipline and strength of the body are possible, just so it is feasible for the mind. The Buddha talked about expanded awareness as a result of proper concentration, time and time again. Right concentration means a change of consciousness because we are then not connected to the usual, relative knowing.

 

Being able to change our mind's direction, we are no longer so enmeshed in the ordinary affairs, but know that there must be more. Through having been disciplined, strengthened and balanced, a mind can perform feats of mental awareness which seem quite extraordinary, but are just a result of training. It means getting out of the mental rut. If we have a wet driveway and drive a truck over it time and time again, the ruts get deeper and deeper and in the end the truck may be stuck fast. Such are our habitual responses that we have in our everyday affairs. Practicing meditation lifts us out of those ruts because the mind gets a new dimension. Contemplation and resulting action make a new pathway in our lives, where the old ruts are left behind... Those were a constant reaction to our sense stimuli, of hearing, seeing, smelling, tasting, touching and thinking. It's a great pity to use a good human life just to be a reactor. It is much more useful and helpful to become an actor, which means deliberate thinking, saying and doing.

 

It is possible to eventually have the kind of concentration where the meditation subject is no longer needed. The meditation subject is nothing but a key, or we can also call it a hook to hang the mind on, so that it will not attend to worldly affairs. When concentration has arisen, it can be likened to the key having finally found the keyhole and the door being unlocked. When we unlock the door of true samadhi we find a house with eight rooms, which are the eight meditative absorptions (jhanas). Having been able to enter the first room, there is no reason why, with practice, determination and diligence, we cannot gradually enter into all of them. Here the mind actually lets go of the thinking process as we know it and reverts to a state of experiencing.

 

The first thing that happens when concentration has come together is a sense of well being. Unfortunately there is a mistaken view prevalent that the meditative absorptions are neither possible nor necessary. This view is contrary to the Buddha's teaching. Any instructions he has ever given for the pathway to liberation always included the meditative absorptions. They are the eight steps on the noble eightfold path (samma-samadhi). It is also incorrect to believe that it is no longer possible to attain true concentration; many people do so without even realizing it, and need support and direction to further their efforts. Meditation needs to include the meditative absorptions because they are the expansion of consciousness providing access to a totally different universe than we have ever realized.

 

The mental states that arise through the meditative absorptions make it possible to live one's daily life with a sense of what is significant and what is not. Having seen, for instance, that it is possible to grow large trees, one no longer believes that trees are always small, even though the trees in one's own backyard may be tiny, because the soil is poor. If one has seen large trees, one knows they exist, and one may even try to find a place where they grow. The same applies to our mental states. Having seen the possibility of expanded consciousness, one no longer believes that ordinary consciousness is all there is, or that the breath is all there is to meditation.

 

The breathe is the hook that we hang the mind on, so that we can open the door to true meditation. Having opened the door, we experience physical well-being, manifesting in many different ways. It may be a strong or a mild sensation, but it is always connected with a pleasant feeling. Of that pleasure the Buddha said: "This is a pleasure I will allow myself." Unless one experiences the joy of the meditative state, which is independent of the world, one will never resign from the world, but will continue to see the world as one's home. Only when one realizes that the joy in the meditative state is independent of all worldly conditions, will one finally be able to say: "The world and its manifold attractions are not interesting any more" so that dispassion will set in. Otherwise why should one resign from that which occasionally does give pleasure and joy, if one has nothing else? How can one do that? It is impossible to let go of all the joys and pleasures which the world offers, if one has nothing to replace them. This is the first reason why in the Buddha's teaching the meditative absorptions are of the essence. We can't let go when we are still under the impression that with this body and these senses we can get what we're looking for, namely happiness.

 

The Buddha encourages us to look for happiness, but we need to look in the right place. He said we would be able to protect our own happiness. Even the very first instance of gaining physical pleasure in meditation already illuminates the fact that something inside ourselves gives joy and happiness. The physical well-being also arouses pleasurable interest which helps to keep us on the meditation pillow. Although it is a physical sensation, it is not the same sort of feeling that we are familiar with. It is different because it has arisen from a different source. Ordinary pleasant physical feelings come from touch contact. This one comes from concentration. Obviously, having different causes, they must also be different in their results. Touch is gross, concentration is subtle. Therefore the meditative feeling has a more subtle spiritual quality than the pleasant feeling one can get through touch. Knowing clearly that the only condition necessary for happiness is concentration, we will refrain from our usual pursuits of seeking pleasant people, tasty food, better weather, more wealth and not squander our mental energy on those. This is, therefore, a necessary first step towards emancipation.

 

We are now entering mind states that go beyond the everyday, worldly affairs... We all know the mind that is connected with ordinary matters. Such a mind worries about all sorts of things, is anxious, has plans, memories, hopes, dreams, likes, dislikes and reactions. It's a very busy mind. For the first time we may become acquainted with a mind which doesn't contain all these aspects. Pleasurable well-being has no thinking attached to it, it's an experience. Here we finally realize that the kind of thinking we're aware of will not give us the results we had hoped for. It is just good enough to project a willingness to meditate. We learn, even from that very first step, that the world cannot do for us what concentration can do. Happiness independent of outer conditions is far more satisfying than anything to be found in the world. We are also shown that the mind has the ability to expand into a different consciousness with which we had no previous contact, so that we gain first-hand experience of the fact that meditation is the means for spiritual emancipation.

 

Because of having had this pleasurable feeling, an inner joy arises. This gives the meditator the assurance that the pathway towards "non-self" is a pathway of joy and not of dukkha. Thereby the natural resistance to "non-self" is greatly lessened. Most people resist the idea that they are "nobody," even after they have understood it intellectually. But being able to experience these first two aspects of meditation, gives a clear indication that this is only possible when the "self," which is always thinking, is temporarily buried. Because when the self is active, it immediately says "Oh, isn't that nice," and the concentration is finished. It has to be and experience where nothing says "I am experiencing." The explanation and understanding of what one has experienced comes later.

 

This is a clear realization that, without "self," the inner joy is a much greater and more profound nature than any happiness one has known in this life. Therefore the determination to really come to grips with the Buddha's teachings will come to fruition. Until then, most people pick out a few aspects of the Dhamma, which they've heard about, and think that is sufficient. It may devotion, chanting, festivals, doing good works, moral behavior, all of which is fine, but the reality of the teaching is a great mosaic in which all these different pieces fall together into one huge, all encompassing whole. And the central core is "non-self" (anatta). If we use only a few of these mosaic pieces we will never get the whole picture. But being able to meditate makes a great deal of difference in one's approach to that whole conglomerate of teaching, which encompasses body and mind and completely changes the person who practices like that.

 

We have to base our meditative ability on our daily practice. We cannot hope to sit down and meditate successfully, if all we can think about are worldly affairs, and if we do not try to reduce anger, envy, jealousy, pride, greed, hate, rejection in daily life. If we use mindfulness, clear comprehension and a calming of sensual desires, we have a foundation for meditation. As we practice in everyday affairs in conjunction with meditation, we see a slow and gradual change, as if an athlete has been training. The mind becomes strong and attends to the important issues in life. It doesn't get thrown about by everything that happens.

 

If we can give some time for contemplation and meditation each day and not forget mindfulness, we have a very good beginning for an expansion of consciousness. Eventually the universe and we ourselves look quite different, based on our changed viewpoint. There is a Zen saying: "First the mountain is a mountain, then the mountain is no longer a mountain and in the end, the mountain is a mountain again." First we see everything in its relative reality; every person is a different individual, every tree is a particular kind, everything has some significance to our own lives. Then we start practicing, and suddenly we see everything in its relative reality; every person is a different individual, every tree is a particular kind, everything has some significance to our own lives. Then we start practicing, and suddenly we see a different reality, which is universal and expansive. We become very involved with our own meditation and do not pay much attention to what is going on around us. We see an expansion and elevation of our consciousness, know that our everyday reactions are not important. For a while, we may pay attention to just that and to living in a different reality. In the end, we come right back to where we were, doing all the same things as before, but no longer being touched by them. A mountain is just a mountain again. Everything returns to the same ordinary aspect it used to have, except it's no longer significant, or separate.

 

A description of an arahant in the Discourse on Blessings (Maha-mangala Sutta) is: "...although touched by worldly circumstance, never the mind is wavering." The Enlightened One is touched by worldly circumstances, he acts like everybody else, he eats, sleeps, washes and talks to people, but the mind does not waver. The mind stays cool and peaceful at all times.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 190)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 324)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 347)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 426)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 577)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 436)
02 Tháng Mười Một 2019(Xem: 546)
30 Tháng Mười 2019(Xem: 596)
23 Tháng Mười 2019(Xem: 684)
19 Tháng Mười 2019(Xem: 904)
22 Tháng Tám 2019(Xem: 693)
21 Tháng Giêng 20206:30 SA(Xem: 62)
Tăng NiPhật tử là hai bộ phận không thể thiếu một trong Phật giáo, họ đều là đệ tử của Đức Như Lai, không thể lìa nhau mà phải nương tựa vào nhau để làm nền tảng cho sự trường tồn Phật pháp, vững mạnh Giáo hội. Hai bộ phận đệ tử này có vai trò, vị trí khác nhau trong Phật giáo nhưng họ lại có mối quan hệ liên đới lẫn nhau.
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 156)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
19 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 201)
Dòng đời cứ chảy trôi, đông qua xuân đến, đất trời cũng dần thay màu áo mới, mặt nước hồ xuân trong vắt xua tan đi cái rét buốt của mùa đông ưu sầu, ảm đạm. Người người nhà nhà lại háo hức du xuân, hòa mình trong cái không khí hân hoan của đất trời. Theo thường lệ, mỗi năm Ban Văn hóa chùa Hoằng PhápViệt Nam
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 187)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 184)
Khi hơi thở đều đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
16 Tháng Giêng 20207:23 SA(Xem: 190)
Triêu nhan vốn là một loài dây leo bình dị, gần gũi có thể mọc ở khắp mọi nơi. Màu sắc và hình dáng của hoa luôn ở bên cạnh bước chân và cái nhìn của ta. Thế nhưng đôi khi chúng ta quên lãng sự có mặt của nó, có lẽ vì nó quá bình thường. Nhưng sẽ có một lúc nào đó bất chợt, sự hiện diện của hoa bừng sáng trước mắt ta, trong lòng ta
15 Tháng Giêng 20206:38 CH(Xem: 11849)
Những cử chỉ mang tính biểu tượng của bàn tay Đức Phật, được gọi là Thủ Ấn, là những biểu tượng hình ảnhý nghĩa sâu xa: - The symbolic gestures of the hands of Buddha images, called mudras, are picture tools of identification of deeper meaning:
14 Tháng Giêng 20201:11 CH(Xem: 249)
Bankei, con người đã giác ngộ, chia sẻ với chúng ta kinh nghiệm của ngài với tư cách một con người bằng máu thịt và nói lên những lời chân thực từ kinh nghiệm riêng ngài. Lời khuyên của ngài đi thẳng vào tim người, đấy là những lời nhắm thẳng vào con người trước mặt
14 Tháng Giêng 20208:19 SA(Xem: 156)
Trước đây tôi là người không kiên nhẫn, rất dễ bị lay động bởi những gì người khác nói hay làm. Nhưng các em học viên đã mở rộng tầm nhìn của tôi. Tôi nhận thấy rằng người khác có thể có những suy nghĩ mà mình chẳng bao giờ nghĩ đến trước đây. Khi lắng nghe các em, tôi đã trưởng thành thêm nhiều. Tôi nghĩ đó là cách Đức Phật đã dạy bảo tôi,
13 Tháng Giêng 202012:54 CH(Xem: 191)
Khi đã hướng về tâm linh, ta thường nghĩ rằng mình đã bỏ những tính xấu của thế tục lại đằng sau. Nhưng cách suy nghĩ theo thói quen không biến mất; chúng vẫn đi theo ta, phủ trùm con đường tiến đến sự tu tập tâm linh của chúng ta. Vì tất cả chúng ta đều đã được huấn luyện thành những người tiêu dùngtrình độ
11 Tháng Giêng 20204:45 CH(Xem: 245)
Chúng ta đến với cuộc đời bằng một cái tâm, và khi từ bỏ cuộc đời cũng với một cái tâm. Trái tim không còn đập nữa, nhưng tâm vẫn chung thủy bên ta. Những bài pháp, lời giảng dạy yêu thương, câu nhắc nhở chân tình trong quyển sách nhỏ này là món quà, là đôi chút trang điểm cho nội tâm của bạn. Hãy đọc với tâm tình rộng mở,
11 Tháng Giêng 202010:20 SA(Xem: 225)
Người khép cửa giã từ trò chơi giỡn. Đứng bên lề ta len lén ngó qua. Hai mươi năm… tưởng chừng một sát na. Nhìn tóc bạc da nhăn… mà thấy lạ. Đã hết thuở giành ăn la chí choé. Mừng trăng thu cùng bách bộ ngoài đường. Đi bên nhau dàn hàng dưới mù sương. Nghe hạnh phúc mênh mang về tỏa khắp. Đã hết thuở quần chằm, áo vá…
09 Tháng Giêng 202011:25 SA(Xem: 324)
Mấy ông thầy Đại Đăng khi qua Boston phụ dọn dẹp chuẩn bị lễ khánh thành thiền viện Bồ Đề, mặt mũi lem luốc vì xi măng quét tường tô trần, đóng nẹp, nối ống..., quần ống thấp ống cao, áo vạt cao vạt thấp, đã tức cảnh sinh... thơ rằng: - Áo em vạt ngắn vạt dài. Nghiệp em quá nặng bị đày đến đây. - mà cười tươi rói.
09 Tháng Giêng 20209:54 SA(Xem: 197)
Ngoài việc phá rừng khai hoang chúng tôi còn đối mặt với đặc sản nơi đây: Muỗi sốt rét hoành hành! Chúng tôi luân phiên ngã bệnh, luôn phải uống ký ninh ngừa sốt rét, người nào cũng xanh dờn, không khỏe. Các bác sĩ bằng hữu thỉnh thoảng ra thăm, khám sức khỏe cho chúng tôi và nhắc nhở: “Quý vị tranh thủ nhín thời gian đi tắm biển đi!”.
07 Tháng Giêng 20203:57 CH(Xem: 278)
Cái tôi theo tháng ngày qua. Măng non thành cụm tre già dặn hơn. Trong nhà, cuối xóm, đầu thôn. Tôi là số một, tôi "ngon" hơn người. Tôi khóc, không muốn ai cười. Ai thành đạt thấy tôi thời chẳng vui, Tôi nói ngược, chớ nói xuôi. Một khi tôi muốn có trời mới can! Tôi thành cái rốn không gian.
06 Tháng Giêng 202012:02 CH(Xem: 222)
Xuất Gia Balamật - Trong một tiền kiếp khi Đức Phật là Ngài Temiya, Ngài thực hành hạnh Xuất Gia Balamật bằng cách giả làm người ngu độn, không làm được việc gì. Vua cha sai người đánh xe chôn sống Ngài. Temiya biểu hiện một lòng dũng cảm phi thường và sau đó, quyết định sống đời xuất gia.
05 Tháng Giêng 20205:29 CH(Xem: 324)
Tập sách gồm những bài pháp do Ngài Thiền Sư Khippapanno Kim Triệu ban giảng trong khóa thiền thứ 21 Mùa Đông 1986, được tổ chức tại Chùa Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Những bài pháp này vừa có tính cách dẫn giải, khuyến tu cho các thiền sinh, vừa mang chứa những lợi lạc thiết thực đến thân tâm cho tất cả chúng ta.
04 Tháng Giêng 202011:29 SA(Xem: 286)
Từ cung trời Đâu-suất, Bồ-tát được Phạm thiênTứ Thiên vương thỉnh mời tái sinh xuống thế. Khi Hoàng hậu Maha Ma-da, mẹ của Đức Phật, thụ thai, bà nằm mộng thấy một voi trắng từ một ngọn núi vàng bạc mang một đóa hoa sen đến dâng cho bà. Đản Sanh: Vào đêm trăng tròn tháng tư, năm 625 trước Tây lịch,
03 Tháng Giêng 20209:19 CH(Xem: 249)
Bài phát biểu của Ajahn Brahm trình bày một luận điểm vững chắc về việc truyền đại giới Tỳ-kheo-ni trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, được hổ trợ bằng những tham khảo trích dẫn từ lời dạy của Đức Phật và những qui định trong Luật Tạng về việc điều hành sinh hoạt Giáo đoàn Phật giáo.
02 Tháng Giêng 20207:25 CH(Xem: 283)
Thế nên trong một số chùa ở trong nam vẫn thường có chuyện một số Phật tử lâu năm thành ra “công thần”, muốn tỏ quyền hành với mọi người, muốn tham gia “tổ chức”, “sắp xếp”, “điều hành”, “nhắc nhở”… thiếu nước muốn làm trụ trì chùa nữa thôi. Những người đó là những người lăng xăng nhất, phiền não nhất, càng lâu càng ngã mạn
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 330)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1925)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3271)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 156)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 187)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20207:43 CH(Xem: 828650)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 578)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 1473)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 1133)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất giatại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 986)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 2006)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1755)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,