06. Nghiệp - Kamma is Intention

18 Tháng Mười Hai 20199:47 SA(Xem: 1297)
06. Nghiệp - Kamma is Intention
ThayBietBayGioODay_A

Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
(To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
Sister Ayya Khema - Việt dịch: Diệu Liên Lý‎ Thu Linh

Nguồn: accesstoinsight.org, thuvienhoasen.org


__________________

06. Nghiệp

   Nếu muốn hiểu đúng về nghiệp và tái sinh, ta phải quán sát chúng trong ánh sáng của vô ngã.  Chúng phản ánh vô ngã khá sống độngtuy nhiên phần đông thường không màng chi đến điều đó, mà thản nhiên nói về nghiệp “của tôi”, sự tái sinh “của tôi”.  Nhất là sự tái sinh “của tôi”, thật vô cùng kỳ quặc.  Họ muốn nói về kiếp trước hay kiếp tương lai?  Bạn có nghĩ nó sẽ lại là “tôi” nữa không?  Thật ra, ta không có nhiều lựa chọn khi sử dụng ngôn ngữ hằng ngàytuy nhiên điều nói ra cũng phát xuất từ quá trình tư duy của ta.

 

   Người ta thường hỏi, nếu không phải là “tôi” thì cái gì đã tái sinh?  Nghiệp như những hệ quả còn sót lại trong tâm thức tái sinh đã được sinh trở lại, nhưng chắc chắn là nó không có dáng hình hay hành động giống như người mà ta biết, không cùng tên, có thể không cùng giới tính, có thể không phải là người.  Nó không có liên hệ gì khác hơn là nghiệp.  Vì ta có thể thấy rõ ràng rằng con người tái sinh chỉ kết nối với kiếp sống trước qua nghiệp trong thức tái sinh, ta cũng có thể thấy rõ ràng như thế rằng nghiệp là vô ngã, không có danh tánh.  Khi ta nói về nghiệp “của tôi”, đó thực sự là một chu trình không có tự tánh.  Nghiệp không phải là tội và hinh phạt, dầu nó có vẻ là như thế, và là quan niệm được nhận định rộng rãi.   Nhiều quan điểm mà chúng ta bám chặt vào đã ăn sâu vào tâm thức đến nỗi rất khó để ta chấp nhận điều gì quá khác biệt.

 

   Thực sự ra nghiệp chỉ có nghĩa là hành động.  Vào thời đức Phật còn tại thế, ở Ấn Độ người ta đã hiểu như thế.  Để thức tỉnh người nghe về nghiệp thực sự là gì, đức Phật đã nói: “Nghiệp, này các tỷ kheo, ta bảo là sự chủ tâm".  Đầu tiên nghiệp phát khởi trong tâm, rồi chuyển ra thành lời, thành hành động. Đức Phật đã cho nghiệp một định nghĩa mới, vì nó thường bị hiểu lầm, bị coi đó là tiền định.

 

   Có nhiều vị thầy vào thời đức Phật cũng đã dạy như thế, nhưng đức Phật bác bỏ điều này, xem đó là tà kiến, là quan điểm sai lầm, dễ đưa đến các quả bất thiệnTuy nhiênquan điểm xem nghiệp như là tiền định vẫn còn phổ biển vào thời này cũng như ở thời đức Phật còn tại thế.  Nó thường được phát biểu như sau: "Đó là nghiệp của tôi.  Tôi không thể làm được gì".  Đó là niềm tin dại khờ nhất mà ta có thể chấp vào, vì ta đã đặt trọng trách của việc chủ tâm vào điều mơ hồ nào đó mà ta cũng chẳng rõ.  Nói cách khác, ta không muốn chịu trách nhiệm cho hành động của chính mình, là điều sai lầm thường xảy ra.

 

   Khó gặp được người có trách nhiệm hơn là vô trách nhiệm.    Phần đông nếu không thành công trong cuộc đời, họ không muốn chịu trách nhiệm cho việc đó.  Từ sự bất hạnh của mình, họ đã nảy sinh ý nghĩ về một số phận đã được định sẵn.  “Tôi có thể làm gì được chứ?  Đâu phải lỗi tại tôi, là do nghiệp của tôi mà ra".  Vậy những gì công phu tu tập có thể mang đến đều vô nghĩa?  Đức Phật đã nói: "Nếu đúng là như thế, thì đâu cần sống có giới hạnh, cũng không cần phải được giác ngộ".   Đó là tà kiến mà ta trước hết phải nhanh chóng gạt bỏ ra khỏi sự suy nghĩ của mình, nếu ta muốn trau dồi đời sống tâm linh.

 

   Nghiệp là chủ tâm, và sự chủ tâm là ở hiện tại, có nghĩa là nghiệp đang được tạo ra ngay bây giờ, trong từng giây phút tỉnh thức của ta.  Tuy nhiên khi hai người thực hiện cùng một hành động, quả của hành động của họ có thể không giống nhau.  Đây là điều đức Phật đã nhấn mạnh.  Vì nghiệp không thuộc tự ngã, nên nó chỉ tuỳ thuộc vào dòng chảy của các sự kiện, và chính chúng tự tạo ra quả nghiệp.  Đó là vấn đề của nhân và quả.  Tất cả chỉ có vậy, do đó đôi khi giáo lý của đức Phật được gọi là giáo lý về nhân quả.

 

  Đôi khi ta biết những người rất hiền từ, đến một con ruồi họ cũng không nỡ làm hại, vậy mà họ toàn gặp những bất hạnh.  Trong khi có những người rất khó thương, nhưng mọi điều may mắn đều xảy ra cho họ.  Sao lại có thể như thế?  Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào sự tích lũy các nghiệp tốt hay xấu, giờ chúng trổ quả trong tâm tục sinh của họ. Đức Phật đã đưa ra một ẩn dụ như sau:  "Nếu ta bỏ một muỗng muối vào ly nước, thì ly nước đó không còn uống được nữa.  Nhưng nếu ta bỏ muỗng muối đó xuống sông Hằng thì nước sông chẳng có gì thay đổi".  Do đó nếu ta tạo nhiều nghiệp xấu mà chỉ có một ly nghiệp tốt; kết quả sẽ thảm hại biết bao.  Nhưng nếu ta có cả sông nghiệp tốt để hỗ trợ bản thân, thì quả xấu sẽ chẳng lớn lao gì.  Ví thế ta không thể so sánh nghiệp quả của con người với nhau vì ta không biết về quá khứ của họ.

 

   Tâm thức tích lũytương tục mà ta mang theo từ kiếp này sang kiếp khác chắc chắn có ảnh hưởng đến kiếp sống này, nhất là nơi chốn ta sinh ra, trong hoàn cảnh nào, trong gia đình nào. Đức Phật đã cho ta một ẩn dụ như sau: "Nếu có một đàn bò bị nhốt trong chuồng, khi cửa chuồng mở ra, con mạnh nhất sẽ ra trước.  Nếu không có con bò nào như thế, thì con đầu đàn sẽ ra trước; nếu không có con nào như thế thì con gần cửa nhất sẽ ra trước.  Nếu không có con nào như thế, thì tất cả sẽ cố chen ra cửa cùng một lúc".  Ẩn dụ này mô tả những giây phút cuối của tâm thức trước khi chết.  Vì cái chết có thể xảy ra cho bất cứ ai không kể tuổi tác, cho nên việc chuẩn bị cho cái chết ngay bây giờ là một điều khôn ngoan.

 

   Ý nghĩ sau cùng lúc hấp hối sẽ ảnh hưởng đến thức tái sinh để đưa ta đến nơi ta sẽ tái sinh.  Ta có thể so sánh điều đó với việc trước khi đi ngủ, ta nghĩ là sẽ thức dậy lúc bốn giờ sáng hôm sau.  Phần đông chúng ta có thể dễ dàng thức đúng như thế.  Và ý nghĩ cuối cùng trước khi ngủ trở thành ý nghĩ đầu tiên khi thức dậy.  Khi chết cũng giống như thế, chỉ khác là khi tái sinh ta sẽ có một thân mới, khác với thân hiện tại.  Phần đông sẽ tái sinh lai với thân người, trừ khi nghiệp ác của họ quá lớn, khiến họ không thể trở lại thành người.  Dầu ai cũng muốn được tái sinh vào cõi chư thiên, nhưng phần đông có lẽ đều trở lai kiếp người.

 

   Ý nghĩ cuối cùng trước khi chết thường liên quan đến trải nghiệm gì nổi trội nhất trong kiếp sống này.  Thí dụ nếu ta giết người thì đó sẽ là một ký ức hằn sâu trong tâm, và có thể là điều ta nhớ đến trước lúc ra đi.  Hoặc nếu ta có công đức xây chùa, tu viện thì đó cũng có thể là một ký ức mãnh liệt.  Hoặc việc ta luôn biết giữ gìn giới hạnh cũng có thể là ý nghĩ cuối cùng ở giờ phút lâm chung.  Tóm lại, bất cứ điều gì mãnh liệt nhất trong tâm thì điều đó dễ phát khởi lên nhất.  Nếu không thì những gì ta thường nghĩ đến sẽ xảy ra.  Thí dụ nếu ta thường bực bộisân si, thì điều đó sẽ hiện ra trong tâm.  Trái lại, nếu ta có lòng thương yêutừ bi, hay giúp đỡ người khác thì những ý nghĩ đó sẽ xuất hiện.

 

   Nếu không có thói quen suy nghĩ gì đặc biệt, thì điều gì xảy đến ở các cửa giác quan vào lúc lâm chung sẽ lãnh phần ưu tiên.  Giác quan cuối cùng ra đi là thính giác.  Do đó, phần đông các tôn giáo đều có những bài kinh tụng, hát tụng do các vị sư hay các tu sĩ thực hiện để giúp người sắp ra đi có những ý nghĩ cuối cùng hướng thiện.  Nếu các tâm hành trước phút lâm chung thiện lành thì sự tái sinh sẽ được tốt đẹp.  Điều đó không có nghĩa là các nghiệp quả khác sẽ biến mất.  Nó chỉ có nghĩa là những gì bộc phát ở giờ phút lâm chung sẽ có một số ảnh hưởng đến sự tái sinh của ta.  Do đó những tư tưởng cuối cùng trước khi lâm chung vô cùng quan trọng.

 

   Nếu bạn là người rất rộng lượng, đó có thể là ý nghĩ cuối cùng của bạn.  Do đó, việc nhắc nhở cho người sắp ra đi về những điều thiện lành họ đã làm trước đây được coi là vô cùng ích lợi.   Thí dụ như sự rộng rãi của họ; việc họ đã nuôi dạy con cái thành đạt; lòng tử tế, vân vân, vì người thế tục thường hay có những ăn nănhối tiếc trước lúc ra đi.  Chỉ mới gần đây người ta mới nhận thức rằng chết cũng là một phần quan trọng trong cuộc sống, dầu người Tầy phương không tin vào tái sinh.  Ai cũng quá sốt sắngquan tâm đến sự có mặt của em bé mới sinh, vì em bé đó sẽ ở bên họ một thời gian dài và sẽ là một thành viên quan trọng trong gia đình.  Nhưng ít ai để ý đến giây phút cận tử, vì theo họ, khi người chết rồi thì xong, chấm dứt.  Giờ người ta hiểu rằng đó không phải là cách đối xử tốt đẹp đối với người ra đi.  Hiện nay ở Tây phương cũng có nhiều bệnh viện dành cho những người bị bệnh chờ chết hay người sắp chết.  Ở đó người ta chú tâm nhiều đến các trạng thái tâm, để làm giảm bớt hay diệt trừ sự sợ hãilo âu trước cái chết.  Rất ít người ở Tây phương tin vào tái sinh, dẫu thế, chết cũng được coi là việc rất quan trọng.

 

   Một yếu tố nữa cũng làm ảnh hưởng đến kinh nghiệm cận tử của chúng ta.  Đó là hiện nay chúng ta khá tiến bộ về kỹ thuât, nên trong một số trương hợp, người đã chết lâm sàn, có thể hồi sinh nhờ vào các phương tiện tối tân trong các bệnh viện ở phương Tây.  Có người đã nói với các bác sĩ về sự trải nghiệm “cái chết” của họ.  Một số bác sĩ, nhất là bác sĩ Moody[1], đã viết về các hiện tưọng này.  Nét nổi bật của các câu chuyện kể, là các khía cạnh quan trọng gần như giống hệt nhau.  Thêm một ghi nhận về trạng thái vô ngã (anatta).  Tất cả, không ngoại trừ ai, đều rất tự tại với “cái chết” của mình, và hầu như không muốn trở lại trần thế.  Có người tỉnh lại tỏ thái độ giận dữ với bác sĩ vì đã sử dụng phương tiện tân tiến trong việc thiết lập lại dòng sinh tục cho họ.

 

   Tất cả các trải nghiệm đều liên quan đến một luồng ánh sáng rực rỡ, chứa đựng tâm hoàn toàn tỉnh thức, nhưng thiếu thân.  Mọi người đều có thể thấy chính thân họ đang ở trên giường bệnh, rồi tiến tới luồng ánh sáng đó, trong lúc hoàn toàn ý thức đến những gì đang xảy ra, kể cả việc quan sát các bác sĩ đang làm việc.  Sau đó họ tự rời khỏi bệnh viện để tiến vào một không gian của hạnh phúc, tĩnh lặng và an lạc.  Có người còn nhắc đến những người họ gặp gỡ.  Phần đông tả về một người đặc biệt là ‘nguồn sáng’.  Trong các câu chuyện kể không có biểu tượng của bất cứ tôn giáo nào nhưng chúng rất giống nhau, một số hoàn toàn trùng lặp.  Khi những cuốn sách như thế được nhiều người biết đến thì giây phút cận tử mới được coi là quan trọng.

 

   Trong năm điều mà đức Phật dạy ta phải quán tưởng hằng ngày là ai cũng phải chết.  Đức Phật thuyết về giây phút cận tử là vô cùng quan trọng, do đó ta cần phải suy gẫm về chúng ngay bây giờ, chứ đợi đến khi gần chết thì quá muộn.  Những suy nghĩ thiện lành của ta đều liên quan đến các tâm từ, bi, hỷ, xả.  Nếu ta khởi phát các tâm này ngay bây giờ, để tạo thành thói quen thì ta có thể mang chúng theo đến tận giờ lâm chung.  Như thế, ta không những có thể chắc chắn về một sự tái sinh tốt đẹp, mà chí ít cũng được sự an bìnhhạnh phúc ngay trong kiếp sống này.  Điều đó giúp ta dễ có điều kiện tu tập trở lại.  Nếu ta sinh ra trong một gia đình quá nghèo khó, không đủ ăn, thì khó thể có cơ hội ngồi xuống hành thiền, vì trong gia đình nghèo, ai cũng phải lao động cật lực để kiếm sống.  Hoặc nếu ta tái sinh trong một xã hội mà thiền không hiện hữu, thì cũng khó để ta tiếp tục thực hành.  Do đó, nếu ta đợi đến lúc già, lúc sắp chết để suy nghĩ đúng đắn, là quá dại khờ.  Suy nghĩ đúng đắn bao gồm việc biết tâm hành của mình, qua chánh niệm và chú tâm.

 

   Sự có mặt của ta trên trái đất này rất ngắn ngủi –ngay cả 70 năm cũng không phải là dài lâu—nên ta có thể nghĩ về mình như là một vị khách được mời đến để biểu diễn, lúc nào cũng chờ đợi được cổ vũ.  Dĩ nhiên điều đó sẽ khiến cuộc sống thêm khó khăn.  Đầu tiên là ta cảm giác sợ sân khấu.  Không biết mình có diễn xuất tốt hay không?  Có được vỗ tay tán thưởng không?  Nếu không, ta sẽ cảm thấy vô cùng thất vọng.  Biết mình chỉ là người khách diễn tuồng trên trái đất này là suy nghĩ chân chính, nhưng chờ đợi được vỗ tay tán thưởng là một tà kiến.  Nếu ta tự biết mình đã cố gắng với tất cả khả năng, ta không phải đợi ai tán thưởng.  Ta luôn có chủ tâm đúng đắn.  Đó mới là điều đáng kể nhất, vì sự chủ tâm hướng đến điều thiện liên quan không chỉ đến bản thân mà cả người chung quanh.  Bớt quan tâm đến bản thân sẽ giúp ta có thể quan tâm đến người.

 

   Chúng ta không được xao lãng việc học Pháp và thực hành thiền, vì chỉ khi bản thân ta đã tiến bộ đến một mức độ nào đó, ta mới có thể giúp đỡ người khác, nếu không là ta đã hành động trong vô minh, sẽ đem lại những kết quả không tốt.

 

   Nếu ta quá quan tâm đến sự tái sinh sắp tới của mình, thì ta thực sự đang sống trong mộng.  Vì người đang tạo ra nghiệp hiện tại không phải là người sẽ lãnh quả.  Sự kết nối duy nhất chỉ là những gì còn sót lại của nghiệp, là quả của nghiệp (vipaka).  Ngay cả sự nối kết này cũng rất mong manh vì ta có thể phá vỡ các mắt xích.  Nếu ai đó đã tạo nhiều nghiệp xấu nhưng trong kiếp tái sinh lại tạo nhiều nghiệp tốt hơn, thì các quả xấu có thể không bao giờ tựu thành trái, ngược lại cũng thế.

 

   Thí dụ như Angulimala đã giết 999 mạng người mà vẫn có thể trở thành A-la-hán, vì ông đã được trở thành đệ tử của Phật, được sống trong tu viện của đức Phật, nơi mà nghiệp xấu của ông không có cơ hội trổ quả.  Tuy nhiên, ngài Mahamoggallana, dầu đã là một A-la-hán, vẫn bị kẻ cướp giết và tán xương ngài ra tro, do nghiệp xấu trong quá khứ.  Chúng ta khó thể thiết lập một thống kê tương ưng giữa nghiệp thiện với các tình huống có thể xảy ra, vì ta không có quyền hạn gì đối với người sẽ kế thừa nghiệp mà ta đã làm trong kiếp sống này.  Nhưng hiện tại làm việc thiện, sẽ mang đến kết quả ngay, đó là hạnh phúc và niềm vui trong tâm, và thường cũng là hạnh phúc cho người.  Nếu ta có thể mang hạnh phúc đến cho người, thì đó cũng là nhân để ta được có niềm vui.

 

   Không ích lợi gì để nghĩ về nghiệp trong quá khứ hay nghiệp sẽ tạo trong đời sống tương lai.  Không ai biết được gì về kiếp sống tới, hay nhớ được gì từ kiếp đã qua.  Vậy thì lo lắng về chúng để làm gì?  Chỉ có giây phút này, ngay đây, là quan trọng.  Quá khứ thì giống như một giấc mộng và tương lai thì chưa tới.  Khi tương lai thực sự xảy ra, thì nó luôn là hiện tại.  Ngày mai sẽ không bao giờ đến; khi nó đến, nó được gọi là hôm nay.  Ta không thể sống trong tương lai hay quá khứ.  Ta chỉ có thể sống ngay trong giây phút này.  Nếu ta thực sự chú tâm đến từng giây phút một, ta sẽ có thể hành thiền tốt.  Ta sẽ không nghi ngờ gì về vô thường (anicca).  Thực ra ta còn có thể nhìn thấy điều đó thật rõ ràng, nhờ vậy ta có thể buông bỏ tất cả mọi bám víu, chấp chứa.

 

   Chúng ta có thể quán chiếu như thế này: “Tôi có sử dụng mỗi giây phút sống một cách tốt nhất không?”  Nếu đã tạo ra nghiệp xấu trong quá khứ, ta có thể nhanh chóng thực hiện một số việc thiện.  Đó có thể là điều đáng giá duy nhất mà quá khứ có thể mang đến cho ta.  Nếu khôngtính chất nhanh chóng, hiệu quả của vô thường sẽ khiến ta tách rời khỏi các ý nghĩlời nói và hành động một cách nhanh chóng đến nỗi ta không thể nhớ chúng, nói gì đến chuyện giữ chúng lại.

 

   Vậy mà ta lại cố giữ người khác lại, chấp vào sự suy nghĩquan điểm và ý kiến của ta; chúng ta bám víu vào thân này, vào các thân hànhtâm hành sai lạc, và cố biến chúng thành thường hằng.  Điều đó là không tưởng, không thể thực hiện, vì chỉ có từng giây phút này.  Với đồng hồ kỹ thuật số, ta có thể dễ dàng thấy từng giây phút đến rồi đi như thế nào.  Thử quan sát đồng hồ trong năm phút để cảm nhận rằng năm phút giây quý báu của cuộc đời bạn đã qua đi.  Quá khứ bị lãng quên, chỉ trừ một vài sự kiện nổi bật, bằng không nó đã qua mất rồi.  Điều đó cho ta thấy rõ ràng rằng chúng ta chỉ là những dòng chảy, không có thực thể. Do nhận xét sai lầm về thực tại một cách hoàn toàn vô căn cứ, ta cho là nó có thực thể và sống dựa vào đó.  Giống như nhà hát tuồng, một sáng tạo của chúng ta, nơi các nghệ sĩ vận xiêm áo, nói lời thoại và tin rằng đó là cuộc sống thực.  Chúng ta muốn nhà hát mãi sáng đèn, nhưng không thể được, vì mỗi người đều có nỗi khổ không thể diệt trừ bằng sự bất cần hay vô minh.  Ta chỉ có thể làm điều đó bằng cách thay đổi quan điểmý thức.

 

   Sự tạo nghiệp phát khởi từ trong tâm.  Các tâm hành tạo ra nghiệp của ta.  Nếu không thể làm chủ tâm, ta khó tránh khỏi việc tạo ra các nghiệp xấu.  Tâm luôn có nguy cơ nghĩ đến những điều bất thiện.  Các trạng thái tâm tiêu cực không thể kể xiết: “Tôi không thích, không thể chịu đựng nổi; tôi sợ, tôi chán…”.  Tất cả đều là những trạng thái của tâm sân.  “Tôi muốn mua, muốn giữ, muốn làm mới”, cũng là nghiệp xấu, liên quan đến tâm tham.  Tất cả đều từ tâm phát khởi.

 

   Rất ít người chịu quan sát tâm.  Họ nghĩ rằng điều đó khó làm, khá mệt.  Nhưng tạo ra nghiệp xấu còn mệt mỏi hơn, vì quả sẽ nặng nề, khó chịu.  Rất ít người có được sự sôi nổi bên trong, dấu hiệu của niềm vui tự thân.  Đa số nản lòng do tâm tiêu cực gây ra, chứ không phải do hoàn cảnh bên ngoài.  Hãy quan sát tâm bạn.  Hãy đoan chắc rằng bạn luôn thực hành tứ chánh cần.  Đó là điều tốt nhất mà bạn có thể làm cho bản thân, để đạt được nghiệp lành.

 

   Từ ý phát sinh ra lời nói và hành động.  Ta không thể nói mà không có nghĩ trước, không thể hành động mà không có rắp tâm để làm điều đó.  Dầu đôi khi dường như ta nói hay hành động một cách bản năng đến nỗi ta không ý thức rằng ý nghĩ đó đã chạy qua đầu.  Nhưng như thế không có nghĩa là chúng không có mặt trong tâm trước.  Nó chỉ có nghĩa là ta thiếu chánh niệm và hiểu biết rõ ràng.  Tâm là tài sản quý báu nhất mà ta được sở hữu.  Không có vàng bạcchâu báu nào có thể so sánh với nó, vì tâm chứa đựng hạt giống giác ngộ.  Nếu ta không sử dụng nó đúng mục đích là ta đã dại khờ đem chôn châu báu dưới đất đen.  Tuy nhiênchúng sanh thường làm thế, chính vì họ không được khuyên bảo ngược lại.

 

   Khi nhận thức được rằng ta sở hữu tâm châu báu quý giá này, ta sẽ gìn giữ để nó không bị trầy rụa, lấm láp, đạp dẫm, làm mất sự sáng chói của nó.  Ngược lại ta gìn giữ sao cho nó mãi được thanh khiết, chiếu sáng để tạo ra các nghiệp thiện lành.  Đức Phật dạy rằng, hành động không phải là yếu tố quan trọng nhất, mà chính là sự chủ tâm đằng sau đó.  Ngay cả sự độ lượng cũng có thể phát xuất từ một động lực xấu.  Thí dụ, nếu chủ tâm làm việc thiện để tích lũy công đức cho tương lai, thì điều đó khá ích kỷ.  Nếu hành động đó được thực hiện vì lòng bi mẫn đối với những người thiếu thốn, thì mới là lý tưởng.  Tuy nhiên, dầu có hành động với chủ tâm không thiện lành, thì bố thí vẫn tốt hơn là không.  Vẫn có nghiệp lành trong hành động đó, vì người bố thí đã buông bỏ vật sở hữu của mình.

 

   Người bảo vệ tâm cho ta, người đảm bảo rằng tất cả mọi việc ta làm đều với chủ tâm tốt đẹp, là chi thứ hai[2] trong Bát Chánh Đạo, kim chỉ nam của ta.  Nghiệp được tạo ra tùy vào tâm, và tâm thanh tịnh tùy vào thiền định.  Nếu chúng ta hành thiền đều đặntinh tấndần dần ta sẽ nhìn thấy những gì diễn ra trong tâm một cách rõ ràng.  Một số người hoàn toàn mãn nguyện nếu chỉ đạt được chút an lạc, dẫu thế đó cũng đã là một sự thuận lợi và tiến bộ.  Nếu ta quan sát được tâm khi thiền tập, ta cũng sẽ tập được cách quan sát tâm trong đời sống hằng ngày.  Rồi thì ta sẽ có nhiều cơ hội để tạo ra các nghiệp thiện lành.

 

   Nếu ta đã nhàm chán với cái vòng luẩn quẩn của được, mất, khen, chê, thành công, thất bại, hạnh phúc và khổ đau (tám pháp thế gian), thì ta cần phải hạ quyết tâm nỗ lực buông bỏ tham áibám víu.  Nỗ lực này được thiền tập hỗ trợ, nhưng không chỉ có thế.  Thiền là phương tiện để giúp ta có khả năng loại trừ các chủng tử tham, sân trong ta.  Quy trình thiền tập đem lại cho tâm sự sáng suốt để nhận ra các hạt giống này trong ta, để ta có thể có cách đối trị chúng.

 

   Bổn phận của chúng ta trong kiếp sống này với tư cách là một  chúng sanh có đầy đủ giác quan, thân không khiếm khuyết, có duyên lành được nghe chánh Pháp, là bảo vệ tâm và chứng nghiệm được chân tánh của tâm là thuần khiếtchói sángnhu nhuyến.  Với tâm như thế ta có thể tiến sâu vào đạo, nơi ta sẽ thấy không có ai làm chủ tâm này.

 


 

[1] Raymond A. Moody, Jr. 1944, triết giatâm lý học, bác sĩtác giả nhiều sách nổi tiếng về cuộc sống sau khi chết.  Như: Life After Life (Cuộc Sống Tiếp Nối); Saved By The Light (Ánh Sáng Cứu Rỗi), vân vân.

 

[2] Chánh Tư Duy

06. Kamma is Intention

 

If we want to understand kamma and rebirth correctly, we have to see them in the light of non-self. They proclaim non-self quite vividly and yet most people usually don't take that into consideration at all, but talk about "my" kamma and "my" rebirth. Especially "my" rebirth, which is absurd. Do they mean the last one or future one? Do we think it will be "me" again? However in ordinary language we have little choice, yet the spoken word has evolved out of our thinking processes.

 

People often ask what is reborn, if it isn't "me"? Kamma as a residual effect in the rebirth consciousness is reborn, but it certainly doesn't look or act like the one we know, doesn't have the same name, may not have the same form or sex, may not even be human. It has no other connection than kamma. Since we can see quite clearly that the one who is reborn only connects through kamma in the rebirth consciousness with a previous life, we can see just as clearly that kamma is impersonal, without identity. While we talk about "my" kamma, it's really an impersonal process. It is not crime and punishment, although it may appear like that, and is one of the most commonly held views. Many of our entrenched views are so deeply ingrained that it becomes extremely difficult to understand anything radically different.

 

Kamma, actually, just means action. In the India of the Buddha, that's how it was understood. In order to make people aware of what it really implies, the Buddha said: "Kamma, oh monks, I declare, is intention," which arises first in our thoughts, then generates speech and action. This was the new interpretation that the Buddha gave to kamma, because it was largely misunderstood and used as predetermined destiny. There were teachers in his day that taught it that way, which was denounced by the Buddha as wrong view, misleading and liable to have unwholesome results. This view of pre-determined destiny is just as rampant today as it was at the Buddha's time. It is often voiced like this: "There's nothing I can do about it, it's my kamma." This is the greatest folly one can adhere to, because it puts the onus of one's own intentions on some nebulous previous person whom one doesn't even know. In other words, one doesn't take responsibility for one's own actions, which is a very common failing.

 

It is harder to find a person who does take responsibility than to find one who doesn't. Most people don't want to take responsibility for themselves, if they can just manage to stay alive. From that difficulty arises the idea of pre-determined destiny. "What can I do, it's not my fault, it's my kamma." That takes away all possibility for practicing the Dhamma. The Buddha said: "If that were so, the holy life would not be possible, nor would it be feasible to become enlightened." This is the first wrong view that one has to quickly eliminate from one's thinking process, if one wants to practice a spiritual discipline.

 

Kamma is intention, and intention is now, which means kamma is being made now, in every waking moment. However when two people make the same kamma, they do not get the same results. This is another point the Buddha emphasized. Since kamma is impersonal, it is strictly concerned with a flow of events which are creating results by themselves. It's a matter of cause and effect. That's all there is, and the Buddha's teaching is sometimes called the teaching of cause and effect.

 

Sometimes we see people who are very nice, they would not hurt a fly, and yet a lot of misfortune befalls them. Or others who are difficult and unfriendly, but everything always seems to go right for them. How is it possible? It depends entirely upon their accumulations of good or bad kamma that have resulted in their particular mind continuum. The Buddha gave the following simile: "If one puts a teaspoon of salt in a cup of water, that cup becomes undrinkable. If one puts a teaspoon of salt in the Ganges River, it doesn't make the slightest difference to the river, the water remains exactly the same." If one makes bad kamma and has only a cupful of good kamma; the results will be disastrous. If one has a river full of good kamma to support one, the results will be negligible. Therefore, we can never compare the results that people have, because we don't know their past histories.

 

The residual mind continuum that we bring with us certainly has a bearing on this life, particularly on where we are born, under what circumstances and in what sort of family. The Buddha gave a simile for that: "If there is a herd of cows locked in a barn, and the barn door is opened, the cow that is the strongest will go out first. If there isn't one like that, then the one who is the habitual leader will go out first; if there is no habitual leader then the one nearest the door will go out first. If there is none like that, they will all try to go out at the same time" This depicts the mind moments at death. Since death is imminent for everyone no matter what their age, it is skillful to be ready for it now.

 

The last thought moment at death is the one that impels the rebirth consciousness to its next destination. We can compare that to going to sleep at night and our last thought moment is that we will wake up at four o'clock in the morning. Most people can easily do that. The last thought moment becomes the first one upon waking. Dying is exactly the same, except that the body that wakes up is a new one, and looks different now. It is likely that it will be a human being again, unless one has behaved too badly for such a rebirth. Even though people often wish for rebirth in a deva realm, most people probably return as human beings.

 

The last thought moment is the one that connects with the strongest experience in this life time. If, for instance, one has murdered a person, that would be a very strong memory and could be the last thought moment. If one has built a monastery or temple that may be a very strong though formation. Or, if one has always kept one's moral conduct intact, that may be the last thought moment. Whatever is the strongest in one's mind, that is most likely to arise.

 

Otherwise one's habitual thinking takes over. If one has usually been dissatisfied or angry, then that will be in the mind. If one has had much living-kindness, compassion and helpfulness toward others, those thoughts will arise.

 

If there is no particular thinking habit, then that which comes nearest the sense doors at death takes precedence. The last sense to go is hearing. It is very common, therefore, in most religions that some devotional words are chanted by monks or priests which may help to have a good last thought moment. If these last mental formations are wholesome, one's rebirth will be favorable. That doesn't mean that the rest of the kamma resultants disappear. It only means that the impulsion that arises at death takes a certain direction. Therefore the last thought moments are of crucial importance.

 

If one has been a very generous person, that can be a last thought. It is therefore considered extremely beneficial to remind a dying person of all the good things they have done in this life, such as their generosity, bringing up their children well, their kindness, because ordinary worldlings are apt to have regrets and self-blame. It has in recent years been recognized that dying is a very important part of living, even though in the West many people do not believe in rebirth. Everyone pays a lot of attention to a baby being born, because that baby is going to be around for a long time, and will be an important member of the family. But few have paid sufficient attention to the death moment, because after all that person is gone, finished. but it is now understood that this is not a wholesome way of treating a human being and in the West there are many hospitals for terminally ill and dying people, where great attention is paid to their mind states, to reduce or eliminate fear and anxiety. Yet, hardly anyone there believes in rebirth, but even without that, death is considered very important.

 

Another factor has entered into our death experience. We are now technologically advanced enough, so that in some instances, people who were clinically dead, could be brought back to life, using new methods that are available in Western hospitals. A number of these people talked to their doctors about their "death" experiences. Some doctors, particularly Dr. Moody, wrote about these phenomena. An outstanding feature of the stories told, is the fact that they were practically identical in their important aspects. This gives us another clue to non-self (anatta). All of them, without fail, were extremely pleased with their "death" and reluctant to come back. One woke up extremely angry at the doctor for being instrumental in re-establishing the life continuum.

 

The experiences were all connected with a very bright light, containing total awareness of the mind, but lacking a body. Each person was able to see his/her own body in the hospital bed and wandered off towards the bright light, quite aware of these occurrences, including watching the doctor at work. Then, removing themselves from the hospital and entering an area of bliss, happiness and great peace, some of them talked about beings they met. Most of them described one particular being which was "light." None of the descriptions had any religious symbolism in them but all of them were similar, some identical. With such books becoming more widely known the death moment has gained its rightful importance.

 

In the five daily recollections the Buddha asks us to remember that we are of the nature to die. At other times he talks about the fact that the last thought moment is extremely important and consequently it is essential to get one's thoughts in order now. On one's deathbed it's too late. The wholesome aspects of our thoughts are always connected with loving kindness, compassion, generosity and equanimity. If we arouse those in our minds now, as a habitual way of thinking, we can carry that with us to our deathbed. We are then assured not only of a favorable rebirth, at the very least, but also of harmony during our lifetime. This will make it possible for us to easily practice the Dhamma again. If we are born into a very poor family where nobody has enough to eat, it will be very difficult to sit down in meditation, because in a poor family everybody has to work to survive. If we are reborn in a society where meditation is unknown, it will be very difficult to continue our practice. It is not wise, therefore, to wait till old age and death, but rather get our thinking process in order now. This entails knowing our thought-formation, through mindfulness and attention.

 

Our appearance here is very short-lived — even 70 years is not very long — so we can think of ourselves as a guest performer, always waiting for applause. Naturally that makes life pretty difficult. First one has stage fright. Is one going to perform properly? Having given the performance, will the applause be following? If one doesn't get it, one feels devastated. Being a guest performer on this planet is a skillful way of thinking, but waiting for the applause is wrong view. If we know that we're being the best we can with all our faculties, we don't have to wait for somebody else's approval. We can have right intention again and again. That's what matters most, because intention towards goodness concerns both oneself and others. Less self-concern frees us to embrace others.

 

We must not decline in Dhamma and meditation practice, of course, because only if we have developed ourselves to some extent, can we help others, otherwise we act in ignorance, which will not bring good results.

 

If we are concerned with our next rebirth, we are really living in a dream. The person who is making the kamma now is not the one who's going to reap the results. The only connection will be the kammic residue, the result (vipaka). Even this connection is very tenuous, because we can break the chain. If a person has made a lot of bad kamma and in the next rebirth makes much good kamma, the bad resultants may never fruit, and vice versa.

 

The case in point is Angulimala, who killed 999 people and yet became an arahant, because he came to be in a monastery under the Buddha where his bad kamma didn't get a chance to fruit. However, Mahamoggallana, already an arahant, was killed by robbers and his bones pulverized, due to past kamma. We cannot establish a credit account of good kamma against all eventualities, because we have no jurisdiction over the person who will inherit the kamma that we made in this life. But making good kamma now, brings immediate results, happiness and contentment in the mind, and usually some happiness for others also. If one is able to give happiness to others, there is again a cause for joy for oneself.

 

It's useless to think about kamma made in a past life, or to be made in a future life. None of us will know anything about the next life, nor do we remember anything from our last life. Why worry about these then? Only this moment, right now, is important. The past is like a dream and the future is yet to come. When the future actually happens, it's always the present. Tomorrow never comes; when it does, it's called today. One cannot live in the future nor in the past. One can only live this single moment. If we really paid attention to every single moment, we would meditate well. We would also have no doubt about impermanence (anicca). In fact we would see it so clearly, we could let go of our attachments, our clinging.

 

We could consider thus: "Have I used every moment to the best advantage?" If we have made some bad kamma in the past, we can resolve to quickly perform some good action. That's the only value the past can provide. Otherwise the most effective and compelling aspect of impermanence is that we are moving away from thought, speech and action so quickly, that we cannot even remember them, never mind hold on to them.

 

Yet we're trying to hold on to other people, to our ideas, views and opinions; we hang on to this body, to physical manifestation and mental aberrations and try to make them solid. It's impossible and cannot be done, there's only each moment. We can easily see in digital clocks how each moment comes and goes. Just watch a clock for five minutes, and realize five precious moments of your live are gone. The past is actually forgotten, except some highlights, but otherwise it has disappeared. That shows us with clarity that we are a flowing phenomenon without any substance. We're putting a substance into it, out of an ignorant appraisal of totally untrue reality, in which we are living. It is like a theater, something we have made up ourselves, where people wear costumes and say their lines and believe this to be real life. We want to keep the theater going, but that is not possible and so everybody has dukkha, which cannot be eliminated through non-knowing or indifference, but only through a change of awareness and view.

 

Kamma-making is initially in the mind. Our mental formations make our kamma. Unless we become master of our mind, we cannot escape from making bad kamma. The mind is constantly in danger of thinking something unwholesome. The negativities in the mind are innumerable: "I don't like it, can't stand it; I'm afraid, it's boring..." All are negativities concerned with anger. "I want to get it, keep it, renew it," are also bad kamma, connected with greed. All arise in the mind.

 

Very few people watch their mind. They believe it to be difficult and tiring. But it's much more tiring to make bad kamma, because the results are heavy and unpleasant. Very few people have that inner buoyancy which denotes independent joy. Most people are bogged down by their mind's negativities, not by outer circumstances. Watching one's own mind and making sure that one practices the four supreme efforts is the most beneficial thing one can do for oneself, and secures good kamma.

 

Out of our thoughts arise speech and action. We can't talk without having thought it first, and we can't act without having made up our mind to do so. Although people speak and act so impulsively that they are not aware that a thought has gone ahead, that doesn't mean there was none. It just means that mindfulness and clear comprehension were lacking. Our mind is the most precious asset we have. No jewel can compare with it, because the mind contains the seed of enlightenment. Unless we use it properly, we're foolishly burying a jewel in the dirt. People often do so, primarily because they have had no training otherwise.

 

When we recognize that we have this most precious jewel of a mind, we will guard it from being scratched, bumped and dirtied, losing its luster and brilliance, but rather make sure that it remains pure and luminous and thereby make good kamma. The action itself, the Buddha said, is not of the foremost importance, it's the intention behind it. Even generosity can be extended from a wrong motivation. If the intention is to store up some merit for the future, that's rather selfish. If it's done out of compassion for those who have less, that is the ideal way. Yet, even with wrong motivation, it's still better to be generous than not. There's good kamma in it, because one has let go of something that one owns.

 

The guard we keep on our mind will assure that whatever we do is done with right intention, the second step on the Noble Eightfold Path, which is our guideline. Kamma making depends on the mind, and the mind's purity depends on meditation. If we meditate diligently and regularly, eventually we will see with clarity what goes on in our mind. Some people are satisfied with gaining a little peace, but even that is already an advantage and growth aspect. If we watch the mind in meditation, we will learn to watch the mind also in daily living. Then we have a very good chance of making good kamma.

 

If we become tired of the ever-recurring cycle of loss and gain, praise and blame, fame and ill-fame, happiness and unhappiness (the eight worldly dhammas), we need to make a determined effort to shed clinging and craving. This effort has meditation as its base, but that's not all. Meditation is a means for gaining access to the ability to rid oneself of the tendencies of greed and hate. The meditative process gives the mind the clarity to see these tendencies within oneself, so that one can do something about them.

 

Our duty in this life as human beings with senses and bodies intact, and able to hear the true Dhamma, is to guard our mind and experience its original nature, which is purity, luminosity, pliability. Such a mind can reach the depth of the teaching, where we find nobody that owns the mind.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5314)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1651)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1803)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1574)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1271)
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 61)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 113)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 116)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 156)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 163)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 191)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 198)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 217)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 212)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 287)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 232)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 260)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 270)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 257)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 256)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 558)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 293)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 353)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 382)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
05 Tháng Mười Một 20208:12 CH(Xem: 306)
Tất cả chúng ta đều nghĩ đến và chăm lo sức khỏe của mình, chỉ ít hay nhiều tùy theo mình còn trẻ hay già yếu và ốm đau. Thế nhưng sức khỏe không phải chỉ thuộc lãnh vực thân xác mà còn liên quan đến lãnh vực tâm thần. Như vậy thì tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng có giữ một vị trí hay vai trò nào đối với mối quan tâm
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2186)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3876)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5497)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 287)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 353)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 382)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 191)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5314)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 443)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 454)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2960)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1982)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng