07. Ngũ căn ngũ lực - Spiritual Faculties

18 Tháng Mười Hai 20199:47 SA(Xem: 201)
07. Ngũ căn ngũ lực - Spiritual Faculties
ThayBietBayGioODay_A

Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
(To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
Sister Ayya Khema - Việt dịch: Diệu Liên Lý‎ Thu Linh

Nguồn: accesstoinsight.org, thuvienhoasen.org


__________________

07. Ngũ Căn Ngũ Lực[1]

 

   Đức Phật đã thuyết về năm khả năng tâm linh (ngũ căn) mà ta có thể chuyển hóa thành năm quyền lực tâm linh (ngũ lực) nếu ta biết vun trồng, phát triển chúng.  Tất cả chúng ta đều có các khả năng này ở bên trong và phát triển chúng có nghĩa là biến chúng thành mạnh mẽ để chúng trở thành các yếu tố giác ngộ.  Khi nào chúng còn là các khả năng thuần khiết, chúng đều có tiềm năng đưa đến giác ngộ.

 

   Đức Phật đã so sánh chúng với nhóm ngựa, có một con dẫn đầu và hai cặp kéo xe.  Con đầu đàn có thể đi mau hay chậm tùy ý, nhưng hai cặp ngựa kia phải đi theo nhịp độ chung.  Chúng phải bước ngang bằng nhau, nếu có con đi nhanh, con đi chậm thì xe ngựa sẽ lộn nhào.

 

  Khả năng dẫn đầu là niệm.  Ở bất cứ giây phút nào, việc có chánh niệm nhiều hay ít tùy thuộc ở chúng ta.  Chánh niệm là yếu tố tâm linh của từng giây phút này qua giây phút khác, mà ta có thể coi như người quan sát, bác bảo vệ.  Nếu ta lúc nào cũng có người quan sát theo bên mình, thì ta dễ dàng trụ trên con đường đạo hơn.

 

   Cặp ngựa cân bằng thứ nhất là tín và tuệ.  Đức Phật đã đưa ra một ẩn dụ để nói về hai đặc tính này: Ngài so sánh tín tâm như một gã khổng lồ mù được gặp một người tàn tật, nhỏ bé nhưng có đôi mắt cực sáng, được gọi là trí tuệ.  Gã khổng lồ mù, tên Tín Tâm, nói với gã lùn tàn tật, tên Trí Tuệ rằng: “Ta rất mạnh và đi rất nhanh, nhưng ta không thấy bước chân mình.  Bạn nhỏ bé, yếu ớt, nhưng có đôi mắt sáng.  Nếu bạn ngồi lên vai tôi, thì cả hai chúng ta có thể đi rất xa”.  Điều này có nghĩa là tín tâm mà không có trí tuệ, thì dầu nó là một khả năng mạnh mẽ, cũng không tìm được hướng đi đúng.  Ta thường nói: “Lòng tin có thể chuyển núi”, nhưng nếu mù lòa, làm sao nó biết núi nào cần chuyển dời.  Tuy nhiên, nếu đi với trí tuệ, thì năng lượng của chúng càng thêm dồi dào.  Lý do cho một sức mạnh như thế là do tâm và trí đều hòa hợp cùng nhau.  Tâm có trí tuệ và lòng có niềm tin.  Khi tâm và trí được thể nhập vào nhau, không tách biệt, thì uy lực phát triển sẽ lớn hơn nhiều lần, không chỉ như 1+1 = 2.  Mà giống như cấp số nhân của 2.

 

   Tín, lòng tin, một đặc tính của trái tim có giá trị lớn đến như thế vì nó liên kết với tình thương yêu.  Chúng ta chỉ có thể đặt lòng tin vào người hay vật mà ta yêu thương.  Tín cũng liên hệ với sự dốc lòng, không nghĩ đến bản thân và ít tự mãn.  Chúng là những đức tính tâm linh cần thiết và quan trọng.  Nếu chúng ta dốc lòng với một lý tưởng cao cả như Phật-Pháp-Tăng, thì chúng ta đã hiểu rằng có một điều gì đó lớn hơn bản thân mình.

 

   Sự thành tâm mà ta dành cho lý tưởng này được thể hiện qua tình thương yêu, ngưỡng mộ, kính trọng và hàm ân, là những đức tính rất quan trọng và hữu ích cần được phát triển.

 

   Nhưng đức Phật đã dạy rằng lòng tin mù quáng thật vô ích.  Tin mù quáng có nghĩa là tin vào những gì người khác nói mà không có sự tự tìm hiểu, tin vào điều gì đó vì gia đình mình tin vào đó, hay vì nó đã được viết thành sách, vì nó đã được trao truyền từ thầy đến trò, vì nó hợp ý ta, hứa hẹn sự hiển lộ huyền bí hay chỉ vì người nói là một vị thầy khả kính.  Tất cả những lý do vừa nêu không đủ để ta tin theo con đường tâm linh nào đó.  Chớ nên tin vì ai đó đã bảo với bạn như thế!  Nhưng nếu ta có trí tuệ để nghiệm thấy rằng không có niềm tin này thì cuộc đời không đáng sống, thì ta có thể dễ dàng quán xét xem niềm tin và sự tận tụy của ta có chính đáng không.

 

   Thí dụ chúng ta có thể quan sát đế thứ nhất và thứ hai của Tứ Diệu Đế nơi bản thân nhiều lần trong ngày.  Nếu làm được thế, ta sẽ biết ý nghĩa thực sự của chúng, chứ chỉ tin theo thì không ích lợi gì, vì nó sẽ không có gì thay đổi trong tâm và trí của ta.  Chúng ta cũng có thể xét nghiệm về sự vô thường và khổ (bất như ý) trong tất cả mọi chuyện thế gian một cách dễ dàng.  Nhờ đó ta ngày càng có nhiều trí tuệ hơn.

 

   Lòng thành kính không lay chuyển đối với Phật-Pháp-Tăng là một trong những kết quả mà một vị dự-lưu (stream-enterer/sotapanna) đạt được khi vị đó chứng được đạo quả đầu tiên, vì cho đến tận giây phút đó, kiết sử nghi vẫn còn có mặt.  Nếu ta thiết lập được lòng thành kính không lay chuyển nơi bản thân về sự xác thực, sự chân chính trong giáo lý của đức Phật, là ta đã bước một bước tiến quan trọng.  Các đặc tính của tâm trong ta sẽ được khai phóng một cách hữu ích nhất, nhưng trí tuệhiểu biết phải luôn đi cùng. 

 

   Khả năng tư duy của ta dựa trên sự hợp lý, lô-gíc nhưng nó có thể bị nhiễu loạn bởi tình cảm, bởi những phản ứng đối với các cảm xúc.  Phương châm giúp cho sự tăng trưởng là: “Thanh lọc các cảm xúc sẽ mang đến sự suy nghĩ sáng suốt”.  Nếu cảm xúc của ta thanh tịnhthí dụ như trong trạng thái thành kínhhàm ân, kính ngưỡng và tín tâmtư duy của ta sẽ có nhiều khả năng được trong sáng hơn.  Các trạng thái tình cảm bất tịnh thường liên kết với lòng đam mê của muốn hay không muốn, là những thứ cản trở khả năng tư duy của ta.  Chúng ta khó nghĩ suy chín chắn dưới ảnh hưởng của các cảm xúc mãnh liệt.

 

   Nền giáo dục của chúng ta không quan tâm đến điều này, mà cha mẹ cũng ít dạy cho con trẻ, trong khi đức Phật đã dạy về điều đó khá rõ ràng.  Mỗi người đều có hai bán cầu não trái và phải, mà ta coi trái là dương và phải là âm.  Bên trái hay bên dương thì làm chủ phía phải của thân, cũng như ngược lại.  Giống như hai cặp ngựa phải thăng bằng nhau, cả hai bên, trái phải hay âm dương, phải hòa hợp làm một.  Bên trái thường được gắn kết với tư duy lý luậnhợp lý, lô-gíc của ta.  Bên phải lại kết nối với tình cảm, sự quan tâmtình thương yêu, bi mẫn, tất cả các đặc tính về tình cảm.  Mỗi chúng ta đều có cả hai mặt, khả năng tư duy và tình cảm.  Tuy nhiên, rất ít người phát triển cả hai đồng đều.  Do đó chuyến xe đời của họ thường bị lộn nhào.  Quá thiên về tình cảm cũng nguy hiểm như khi thiên hết về lý trí mà không xét đến tình cảm.  Điều đó cũng khiến ta đi lạc hướng.

 

   Ở trường chúng ta được dạy kỹ năng tranh luận.  Thầy cô ra một chủ đề nào đó để học sinh tranh luận với nhau.  Sau đó, lại đổi chiều, bên này lại phải bênh vực cho quan điểm trước đó của bên kia, và ngược lại.  Bất cứ học sinh, sinh viên nào, bất cứ ai cũng có thể làm được.  Vì đó chỉ là tư duy một chiều.  Ai cũng có thể nhanh chóng có ý kiến ngược lại.  Không có chân lý nào trong các ý kiến đó, vì chúng chỉ thuần là tư duy một chiều.  Tuy nhiên, nếu những suy nghĩ này được kết nối với tình cảm thì ta không thể tranh luận với bên đối nghịch được nữa.  Đó là câu chuyện xưa cũ về việc phải ăn xoài mới biết được vị của nó.  Ta được nghe nói nhiều về xoài.  Nó ngon ngọt, mềm thơm, nhưng ta không thể tưởng tưọng ra vị của nó trừ khi ta nếm được cảm giác của xoài trên đầu lưỡi của mình, và đó là kinh nghiệm của cá nhân.  Sau đó ta không cần phải tranh luận với ai rằng xoài ngọt hay không, vì ta đã trải nghiệm chân lý.  Đó là sự khác biệt giữa tư duy đơn thuần và tư duy cộng với sự trải nghiệm.

 

   Người quá thiên về tư duy lý luận phải tập cân bằng lại với cảm xúc, bán cầu phải.  Quá thiên về tư duy đến độ gần như quên mất cảm xúc thì cần phải thực tập nhiều chánh niệm về thọ.  Ngược lại, bán cầu phải thiên về tình cảm.  Có nghĩa là ta dễ bị các cảm xúc của mình chi phối, đưa đến lệch lạc trong tư duy.  Đặc tính của việc tư duy lý luậnđào sâu vào quá trình phát triển của tư tưởng, và khả năng phân tích, không thể có khi tình cảm chiếm ưu thế.  Dĩ nhiên, ở phụ nữ điều thiếu sót này là do lề thói của xã hội gia trưởng, nhưng chính yếu là do ta không phát triển đồng đều khả năng của cả hai bán cầu, vốn thuộc về tất cả chúng ta.

 

   Người thiên về lý luận thường cho là những suy nghĩ của mình thực sự sẽ mang lại các kết quả như mong muốn.  Những người như thế, nếu không được đốc thúc, nhắc nhở thường xuyên, sẽ không cố gắng quan tâm hơn đến tình cảm.  Trái lại, người lúc nào cũng thiên về và phản ứng theo tình cảm sẽ luôn như thế đến nỗi họ không thể làm gì khác, trừ khi đã trải qua quá trình tu tập thiền định họ mới biết có một sự lựa chọn khác.

 

   Nếu ta chỉ sống theo các mối liên hệ và phản ứng theo tình cảm, thì cuộc sống trở nên khá khó khăn.  Những người sống như thế thường cố gắng hủy diệt cảm xúc của họ để thoát ra khỏi bi kịch của họ.  Nhưng giải pháp không nằm ở đó, mà ở sự thanh lọc cảm xúc của mình.  Dĩ nhiên, người thiên về lý trí cũng phải thanh lọc các cảm xúc, nhưng trước khi làm được điều đó họ phải hiểu, ý thức về chúng.  Người thiên về tình cảm và luôn phản ứng theo chúng, cũng phải hiểu về chúng, không phải để hủy diệt mà để khuyến khích các phản ứng thiện.  Khi đã thanh lọc các cảm xúctư duy của ta sẽ không còn bị che mờ bởi bao sự không lường.  Nếu không thực hành như thế, ta chỉ sử dụng phân nửa khả năng của mình.  Đó là điều mà tín và tuệ có thể giúp ta thăng bằng các cảm xúc và tư duy.  Khi có thể vun trồng cả hai, ta sẽ phát triển các khả năng thành quyền lực.  Hòa hợp khả năng tình cảm với tư duy là cốt lõi của sự hòa hợp giữa tín tâm và trí tuệ.

 

   Tâm mạnh mẽ là một tài sản lớn của ta, nhưng chỉ khi nó đi kèm theo các cảm xúc thanh tịnh.  Tín là một cảm xúc thanh tịnh như thế.  Người thường bị tham uế nhiễm dễ phát khởi tín tâm hơn người hay sân hận.  Vì tín phát khởi các cảm giác dễ chịu, là hướng của tham.  Trong trường hợp này, tham là tài sản, dầu về căn bản, nó vẫn thuộc về tính tiêu cực.  Nhưng nếu ta sử dụng nó theo hướng tích cực, đưa nó qua quy trình thanh lọc, hướng ước muốn điều thiện, nó sẽ trở thành siêu thế.

 

   Đầu tiên tham trở thành tín, đưa đến các cảm giác dễ chịu.  Rồi ta có thể sử dụng tính tham này để muốn thiền tập thành công, được quả dự lưu (sotapatti), giải thoát.  Tất cả đều là tham muốn, nhưng chúng đi theo đúng hướng, dùng tham để trị tham.  Đó là phương cách hữu hiệu nhất vì tham chỉ thực sự bị loại trừ bởi vị bất lai (anagami).  Nếu chúng ta sử dụng tham theo cách này, ít nhất là ta theo đuổi cái sẽ mang đến cho ta nhiều lợi lạc nhất, hơn là dục lạc qua các căn.

 

   Con đường của đức Phật được gọi là trung đạo, là con đường ở chính giữa, thăng bằng.  Ta phải cân bằng mọi cực đoan, để chúng trở thành căn bảnlợi ích cho người biết hòa hợp, người sẽ đạt được kết quả mỹ mãn trong tu tập.  Đó là lý do tại sao đức Phật khuyên ta nên thiền quán về sự ô uế của thân.  Người ta thường nói họ không muốn nghĩ là thân họ ô uế, mà nó là một bộ máy vận hành tốt đẹp, đầy hữu ích.  Nhưng thực sự là chúng ta quá coi trọng thân; bám víu vào nó, yêu chiều nó, cố duy trì nó, làm cho nó trẻ, đẹp mãi. Chúng ta chấp vào thân, và coi nó là “ta”.  Thiền quán về thân bất tịnh không phải là để ta nhờm gớm thân, mà chỉ cốt tạo ra sự cân bằng trong việc cảm nhận về thân.  Có thể so sánh điều này với việc đi trên một sợi dây căng; nếu ta nghiêng về bên phải, ta sẽ té, mà nghiêng về bên trái, ta cũng nhào.  Cho nên việc luôn giữ thăng bằng là điều cần thiếtcần phải được mọi người tuân theo.

 

   Nếu tự biết mình thường phản ứng theo tình cảm, chúng ta cần bắt đầu phân tích, mổ xẻ nội tâm.  Đối với người thường sống trong phản ứng theo tình cảm thì rất khó, vì họ không thể thấy xa hơn thế.  Thiền tập sẽ giúp họ nhiều vì sự an tịnh mà thiền phần nào mang đến, sẽ đưa họ sâu vào trong thực tại.  Chúng ta cũng cần một số hiểu biết về bản thânnếu không ta chẳng thể thay đổi được gì.  Suy xét nội tâmquán sát các cảm xúc và tư duy sẽ cho ta đủ hiểu biết về bản thân để đặt nền móng cho một sự chuyển hóa đầy ý nghĩa.

 

   Cặp ngựa thứ hai là năng lượng (tấn) và định.  Năng lượng vật chất không phải là thứ ta cần, mà là năng lượng tâm linh, không liên can gì đến các khả năng của thân.  Ta cần quyết tâm không lay chuyển cho sự tu tập này, để chuyển hóa năng lượng.  Đức Phật đã so sánh chúng sanh với người đội tấm khăn đang cháy.  Thật vậy, nếu ta đang đội một cái khăn cháy, ta sẽ vội vàngdứt khoát vứt nó đi. Sự quyết tâm như thế rất cần để ta tu tập một cách tinh tấn.  Năng lượng này cũng tùy thuộc vào định hướng rõ ràng.  Ta phải biết điều gì là quan trọng hơn cả để không chao đảo giữa các mối liên hệ trong xã hộihoạt động xã hội, sự tu hànhgiải trí và nhiều lựa chọn khác nữa.  Ai cũng có nhiều năng lượng hơn dành cho những thứ họ lựa chọn.  Ta phải rất cẩn thận để không tận dụng hết các năng lượng của mình vào việc tìm kiếm dục lạc qua các căn, chỉ vì ta ham thích chúng.  Ta phải chú tâm đến thực tại là các dục lạc giác quan rất chóng váng đến nỗi không bao giờ chúng cho ta cảm giác hoàn toàn thỏa mãn, trong khi ta đã tận dụng hết năng lượng của mình mà không đạt được bất cứ sự thỏa mãn thực thụ nào.  Như thế là một sự lãng phí năng lượng.

 

   Nếu ta có thể thấy rõ ràng bằng sự chú tâmchánh niệm và quán xét nội tâm, rằng nếu ta đặt năng lượng của mình vào thiền tập và Pháp hành, thì khổ của ta nhờ đó sẽ được giảm mạnh, rằng nếu ta thực sự có một cách sống có thể bao gồm tất cả mọi thứ, thì chắc chắn ta sẽ quay về hướng đó.  Những gì còn lại của cuộc sống hằng ngày sẽ qua đi như thường lệ.  Số đông sử dụng khoảng 98% năng lượng của họ chỉ để sống.  Không vì họ phải làm việc vất vả để mưu sinh, mà chỉ để đảm trách những công việc và bổn phận hằng ngày, để sống.  Nếu năng lượng được sử dụng trong thiền tậpchánh niệm và quán sát, thì các khả năng của tâm sẽ được nhạy bén đến độ những việc vặt vảnh hay trách vụ cần thiết trong cuộc sống, sẽ được thực hiện một cách dễ dàng, trôi chảy.  Chúng ta cần bắt đầu sử dụng năng lượng của mình như thế.  Đó là điều quan trọng bậc nhất.

 

   Nếu năng lượng (tấn) không đi kèm với định, tâm sẽ trở nên bồn chồn, bấn loạn, là điều ta có thể thấy khi hành thiền.  Đôi khi ta không có định, nhưng có rất nhiều năng lượng.  Khi đó, thân và tâm sẽ trở nên loạn động; ta chỉ muốn nhảy dựng lên, chạy đi nơi khác.  Ngược lại, nếu định quá mạnh mà thiếu năng lượng, thì chướng ngại thứ ba sẽ xuất hiện, đó là hôn trầmthụy miên.  Điều đó cũng có thể nhận thấy lúc hành thiền.  Những người dễ đạt định, đôi khi có thể thiếu năng lượng, và hậu quả là tâm định khiến họ buồn ngủ.  Đó là lúc ta nên hành thiền tuệ hơn là thiền chỉ.

 

   Thiền chỉ là định thuần túy, có thể đưa đến hôn trầmthụy miên nếu ta không có đủ năng lượng.  Nhưng thiền tuệ, quán về vô thường, sự sinh diệt của các cảm xúc và tư duy, có thể mang đến cho ta năng lượng cần thiết.  Vì năng lượng của ta chỉ có giới hạn, ta phải sử dụng nó một cách tốt nhất có thể.  Phần đông không nhận thức được rằng năng lượng là tài sản lớn của mình, nên họ tiêu phí nó vào những việc hoàn toàn vô ích.  Khi ta nhận biết rằng năng lượng rất cần thiết cho con đường tâm linh, thì ta sẽ trở nên cẩn thận hơn.  Khi thân già đi, năng lượng thể chất giảm đi, nhưng điều đó không nhất thiết bao gồm năng lượng tinh thần.  Ngược lại khi thân còn trẻ, đầy sức sống, nhiều hoạt động thể lực có thể diễn ra, tâm có thể bị quên lãng.  Ở người lớn tuổi khi các hoạt động thể lực giảm đi, tâm có thể được chăm sóc kỹ hơn, do đó năng lượng tâm có thể tăng lên.

 

   Năng lượng (tấn) và định phải cân bằng, nhất là trong khi hành thiền.  Khi các khả năng này trở nên mạnh mẽ, chúng đưa hành giả vào sâu trong định.  Khi tuệ giác trở nên mạnh mẽ, có nghĩa là ta trải nghiệm được ba đặc tínhvô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta).  Khi tấn trở nên mạnh mẽ, nó cũng thể hiện như tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ và xả.  Chánh niệm trở nên mạnh mẽ khi tất cả bốn niệm xứ (thân, thọ, tâm và pháp) thường được nhớ nghĩ đến.  Để có thể làm chủ được các khả năng này là một lý tưởng nhưng muốn đạt được lý tưởng, ta cần luôn thực hành chúng.  Vì tất cả chúng ta đều có các khả năng nội tại này, không có lý do gì ta không thể thực hành chúng.  Ta sẽ thấy mình trở nên thăng bằng, an lạc hơn, ít vấn đề hơn và có thể giúp người nhiều hơn.  Việc phát triển năm khả năng này phải là mục đích tối thượng trong đời của ta.  Việc cân bằng chúng cần được xem như là sự kết nối giữa tâm và trí.

 


 

[1] Ngũ Căn như năm cánh tay.  Ngũ Lực là sức mạnh của chúng.  Năm lực có được là nhờ năm căn tăng trưởng sinh ra.  Các lực này được duy trì liên tục đưa đến giải thoát.

07. Spiritual Faculties


The Buddha spoke about five spiritual faculties which turn into spiritual powers if we cultivate and develop them. We all have these faculties within and developing them means making them powerful qualities which become factors of enlightenment. As long as they are only faculties, they are potentials for enlightenment.

 

The Buddha compared them to a team of horses with one lead horse and two pairs that are pulling a wagon. The lead horse can go as fast or as slow as it likes, the others have to fall into step with it. The pairs have to be in balance with each other, otherwise if one goes faster than the other, the wagon will topple.

 

The leading faculty is mindfulness. It is up to us how much of it we can find in any given moment. Mindfulness is a moment-to-moment mental factor which can be compared to an observer. If we have an observer with us all the time, it is more likely that we will stay on the path.

 

The first pair that has to be balanced is faith and wisdom. There is an analogy that the Buddha gave for these two qualities: he compared faith to a blind giant who meets up with a small, very sharp-eyed cripple, called wisdom. The blind giant, named faith, says to the small, sharp-eyed cripple named wisdom: "I'm strong and can go very fast, but I can't see where I'm going. You're small and weak, but have sharp eyes. If you will ride on my shoulders, together we could go very far." This tells us that faith without wisdom, while being a strong faculty, is yet unable to find the right direction. We say "faith can move mountains," but being blind, faith doesn't know which mountain needs moving. However coupled with wisdom, there is enormous potential. The reason for such strength, is that heart and mind are brought into harmony. The mind can have wisdom and the heart can have faith. When heart and mind are brought to a point of co-existence, of no separation, the power which develops, is far greater than just 1 + 1 = 2. It is more like 2 to the power of 2.

 

Faith as a quality in the heart has such great value because it is connected with love. We can only have faith in something or someone we love. Faith is also connected to devotion, which is a giving of oneself and a lessening of pride. These are valuable and necessary spiritual qualities. If we are devoted to a high ideal such as Buddha-Dhamma-Sangha, then we have the understanding that there is something greater than ourselves.

 

The devotion we can have for that ideal is manifested in giving our love and admiration, respect and gratitude, which are very important and helpful qualities to develop.

 

But the Buddha taught that blind faith is useless. Blind faith means that one believes what one is told without personal investigation, that one has faith in something that one's family adheres to, or because it has been written down in special books, because it has been transmitted from teacher to disciple, because it is something that one likes anyway, that promises some mystical revelation, or because the teacher is a respected person. All these are no reasons to follow a spiritual path. Do not believe because somebody told you so! But if there is some wisdom in the mind, and without it life would be quite unbearable, we can quite easily investigate whether our faith and devotion are justified.

 

We can for instance, verify the first and second Noble Truths within ourselves many times in a day. If we do that, we know what they mean, only believing them is not very helpful, because it will not make any difference in our hearts and minds. We can check out the impermanence and unsatisfactoriness of all worldly phenomena without much difficulty. Thereby we gradually gain more and more wisdom.

 

The unwavering faith in the Buddha-Dhamma-Sangha is one of the results that a stream-enterer (sotapanna) gains when s/he has the first path moment, because until then the fetter of doubt still exists. If we have established unwavering faith within ourselves in the veracity and exactitude of the Buddha's teachings, we have taken an important step. The heart quality within us will have opened up in a way which will be most helpful, but understanding has to go along. In Pali the one word citta denotes feeling and thinking, but in English we have to distinguish between heart and mind because we consider feeling a heart quality and thinking a mind quality, otherwise, we can't express what we really mean.

 

Our thinking capacity is rationality and logic, which is impaired by our emotionalism, by the reactions to our feelings. The formula for growth is: "purification of emotions brings clarification of thought." If our emotions are pure, as they are for example in devotion, gratitude, respect and faith, our thoughts have a much greater capacity for clarity. The impure emotions connected with passions of either wanting or not wanting, are those which hinder our thinking capacity. We can't think "straight" when we are under the sway of strong emotions.

 

Our education system doesn't take any notice of that, nor do parents teach this to their children, yet the Buddha taught it quite clearly. Each human being has a right and left hemisphere in the brain which we classify as male and female, the right being female, left being male. The left or male side is in charge of the right side of the body and vice versa. Just as the pairs of horses have to balance, both sides, male and female have to attain a harmonious whole. The male side is usually connected to our rationality, logic, linear thinking, understanding. The female side is connected to feelings, nurturing, caring, compassion, love, all the emotional qualities. Each of us has both sides, the emotional and the mental capacity. Very few people develop both equally. Therefore their cart often topples. Emotionalism is just as much a danger as thinking without being in touch with one's feelings. That too can go very much astray.

 

In school we were taught to debate. We were given a subject to debate with another child. When we finished, we changed sides and were asked to hold the opposite view and debate, giving all factors of the other side. Any child can do it, any grown-up can do it. It is just straight-forward thinking. One can have the opposite opinion by the flip of a coin. There is no inherent truth in any opinion, because it's simply linear thinking. However, if these thoughts are connected to our feelings we can no longer debate the opposite side. This is the old story of having to bite into a mango to know its taste. We can be told many things about a mango. It's sweet, delicious, soft, but we cannot imagine its taste unless we get the feeling of the mango on our tongue and have the personal experience. Then we can no longer debate whether the mango is sweet or not, because we have experienced the truth. This is the difference between just thinking or thinking coupled with the experience of feeling.

 

A person who goes too far on the side of rational thinking has to learn to balance with feelings, the female side. Anyone who thinks to the extent where the experience of feelings is hardly known, has to practice much mindfulness of feelings. On the other hand, the female side is often emotionalism. This means we are carried away by our emotions and consequently our thinking is impaired. The quality of logical thinking, of delving into a thought process and being able to analyze, is not possible when the emotions are at the forefront. Of course in women this has a connection to the mores of the patriarchal society, but primarily it is due to the fact of not having developed one's potential for both sides, which is inherent in all of us.

 

The person who is primarily analytical is often under the impression that this will actually bring about all the desired results. Such a person, unless prodded and told often enough, will not try to get in touch with feelings. The one who is always relating and reacting to emotions is so habituated that s/he can no longer do anything else, until shown through the meditative process that there is an alternative.

 

If one lives only in relation and in reaction to one's emotions, life can become quite difficult. People who live like that often try to deaden their emotions as a way out of their dilemma. That's of course not the answer, rather to purify them. Naturally the person who is a thinker also has to purify the emotions, but before such a person can do that, s/he first needs to get in touch with them. The one who lives with emotions and reacts to them all the time, also has to be in touch with them, but not to deaden them, but to encourage wholesome reactions. As the purification of the emotions takes place, thinking will no longer be overshadowed by diffuse uncertainties. Unless we do that, we only use half of our potential. This is what faith and wisdom can mean to us, the emotions and the thinking. When we cultivate both, we develop our faculties into powers. Harmonizing our emotional with our thinking capacities is the essence of harmonizing faith with wisdom.

 

A powerful mind is a great asset, but only in conjunction with purified emotions. Faith is one such purified emotion. Faith is much easier for people whose primary defilement is greed, rather than hate. Faith arouses pleasant feelings, which is greed's direction. In this case, greed is an asset, although basically it is, of course, a negative characteristic. But if we use it in a positive way, we are engaged in a purification process, wanting that which is wholesome, which leads us to the supermundane.

 

First greed opens up into faith, resulting in pleasant feelings. Then we can use greed to want successful meditation, stream-entry (sotapatti), liberation. All are cravings, but they're going in the right direction, of using greed to get rid of greed. That is our best approach because greed is only truly eliminated by the non-returner (anagami). If we use our craving in that manner, we are at least searching for that which will give us the greatest benefit, rather than pleasure through the senses.

 

The Buddha's path is called the middle path, which means a path of balance. We have to balance all extremes, so that they become a useful basis for a harmonious person, whose practice will flourish. This is one reason why the Buddha recommended the meditation on the loathsomeness of the body. People often say they don't want to think of their body as loathsome, it is a good working machine and very useful. But we are actually enamored with our body; we are hanging on to it, loving it, trying to preserve it, keeping it young and beautifying it. We are attached to it and consider it "me." The loathsomeness of the body meditation is not designed to disgust us, but only to create a balance to our identification with our body. We can compare this with walking on a tight-rope; if we balance too far to the right, we fall down, too far on the left, we topple. Constant balancing is necessary, which has to be done by everyone for themselves.

 

If we know ourselves to be reacting to our emotions, we need to start analyzing and inquiring into ourselves. It is difficult for someone who has always lived in reaction to their emotions to see beyond them. The meditation practice helps greatly, because the tranquillity that is bound to arise to some extent is conducive to penetration into reality. We need some self-knowledge, otherwise we can't make any changes. Introspection and attention to one's feelings and thoughts should provide enough insight into ourselves to lay the foundation for a meaningful change.

 

The other pair is energy and concentration. It's not physical energy that's needed, but rather mental energy, which has little to do with the capacities of the body. We need unwavering determination for this practice, which is transformed energy. The Buddha compared us with the man who's wearing a turban that is on fire. Obviously, if a man is wearing a turban that is on fire, he is most anxious to get rid of it. That same kind of determination is needed to practice diligently. Energy is also dependent upon one-pointed direction. We realize what is most important and don't vacillate between social life, social action, practice, entertainment and the many other options open to us. Everybody has more energy for those things they like. We have to be very careful that we don't use up our energy searching for pleasant sense contacts because we like them. We have to be attentive to the fact that pleasant sense contacts are so short-lived they will never give us complete satisfaction, and that we're using up our energy without getting any real fulfillment. So it turns into a waste of our energy.

 

If we see clearly through attention, mindfulness and introspection, that if we put our energy into meditation and practice of Dhamma, our dukkha is greatly reduced thereby, and that we actually have a mode of living which includes everything else, then we will certainly turn in that direction. The rest of daily living happens anyway. Most people use up about 98% of their energy just to stay alive. Not that they have to work so hard to make a living, but just to attend to their daily duties and responsibilities, just to keep going. If our energy is used for meditation, mindfulness and bare attention, the mind faculties sharpen to the point where minor things and duties necessary to stay alive, are done in an easy and harmonious flow. We can start using our energy for that, which is most important.

 

If energy is not coupled with concentration, it becomes restlessness and we can notice that in meditation. Sometimes there is no concentration, yet there is a lot of energy. Then mind and body become restless; we would like to jump up and run away. If concentration is too strong and there is no energy, then the third hindrance arises, namely sloth and torpor. That is also easily noticeable in meditation. People who are used to concentrating and can do it well, may occasionally lack energy, and consequently concentration becomes conducive to sleepiness. That is a time when the meditation should be directed towards insight, rather than calm.

 

Calm meditation which is pure concentration, may result in sleepiness when there is not enough energy. But insight meditation, with attention on impermanence, the constant arising and ceasing of thoughts and feelings, may bring up the energy that is needed. As we only have a limited amount of vigor, we have to use it in the best possible way. Most people do not realize that energy is a great asset and squander it on totally irrelevant activities. When we realize that it is essential for the spiritual path, then we may become more careful with it. As the body gets older, physical energy is reduced, but that does not have to include mind energy. On the contrary. When the body is young and full of vigor a lot of physical activity may take place, and the mind may be neglected. In an older person when body activity becomes less, the mind may receive most of the attention, and mental energy could be increased.

Energy and concentration have to balance, primarily in meditation. When these faculties become powers, they result in the meditative absorptions. When wisdom becomes a power, it means insight into the three characteristics of impermanence (anicca), unsatisfactoriness (dukkha) and corelessness (anatta). When faith turns into a power, then it also manifests as the four immeasurable emotions (brahma vihara): loving kindness (metta), compassion (karuna), sympathetic joy (mudita), equanimity (upekkha). Mindfulness is a power when all four foundations (i.e., mindfulness of body, feeling, volition and thought content) are habitually attended to. To become a master of all of these aspects is an ideal but to practice them is a necessity. And since all of us have these faculties within, there is every reason to cultivate them. One finds oneself a more harmonious and balanced person, with less difficulties, capable of helping others. To develop these five faculties should be a primary object in one's life. The balancing of them needs to be seen as connecting heart with mind. 


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 194)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 340)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 355)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 434)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 604)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 445)
02 Tháng Mười Một 2019(Xem: 554)
30 Tháng Mười 2019(Xem: 603)
23 Tháng Mười 2019(Xem: 690)
19 Tháng Mười 2019(Xem: 924)
22 Tháng Tám 2019(Xem: 700)
24 Tháng Giêng 20207:37 SA(Xem: 96)
Trong tập sách nhỏ này, tôi đã bàn đến hầu hết những gì mọi người đều công nhậngiáo lý tinh yếu và căn bản của đức Phật. Đấy là những thuyết Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Ngũ uẩn, Nghiệp báo, Luân hồi, Duyên khởi, Vô ngã (Anatta), Niệm xứ (Satipatthàna). Dĩ nhiên sẽ có những từ ngữ chắc phải lạ lùng đối với độc giả phương Tây.
23 Tháng Giêng 20207:17 SA(Xem: 144)
Mỗi ngày, hình như ai trong chúng ta cũng có soi gương. Khi soi, chúng ta chỉ thấy mặt mình trong đó, chúng ta có học được bài học gì không? Đời sống của chúng ta luôn là sự tiếp xúc với người, với các sự việc, với vô số vấn đề của đời sống. Chúng ta có trốn chạy, có lựa chọn được không? Những con người, chúng ta từng gặp gỡ,
22 Tháng Giêng 20209:00 SA(Xem: 155)
Kinh Pháp Cú là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh trong Kinh tạng Pali. Đây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Pháp (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời dạy của Đức Phật; Cú (Pada) là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali, "Pada" còn có nghĩa là con đường.
21 Tháng Giêng 20206:30 SA(Xem: 119)
Tăng NiPhật tử là hai bộ phận không thể thiếu một trong Phật giáo, họ đều là đệ tử của Đức Như Lai, không thể lìa nhau mà phải nương tựa vào nhau để làm nền tảng cho sự trường tồn Phật pháp, vững mạnh Giáo hội. Hai bộ phận đệ tử này có vai trò, vị trí khác nhau trong Phật giáo nhưng họ lại có mối quan hệ liên đới lẫn nhau.
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 191)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
19 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 213)
Dòng đời cứ chảy trôi, đông qua xuân đến, đất trời cũng dần thay màu áo mới, mặt nước hồ xuân trong vắt xua tan đi cái rét buốt của mùa đông ưu sầu, ảm đạm. Người người nhà nhà lại háo hức du xuân, hòa mình trong cái không khí hân hoan của đất trời. Theo thường lệ, mỗi năm Ban Văn hóa chùa Hoằng PhápViệt Nam
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 202)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 194)
Khi hơi thở đều đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
16 Tháng Giêng 20207:23 SA(Xem: 194)
Triêu nhan vốn là một loài dây leo bình dị, gần gũi có thể mọc ở khắp mọi nơi. Màu sắc và hình dáng của hoa luôn ở bên cạnh bước chân và cái nhìn của ta. Thế nhưng đôi khi chúng ta quên lãng sự có mặt của nó, có lẽ vì nó quá bình thường. Nhưng sẽ có một lúc nào đó bất chợt, sự hiện diện của hoa bừng sáng trước mắt ta, trong lòng ta
15 Tháng Giêng 20206:38 CH(Xem: 11871)
Những cử chỉ mang tính biểu tượng của bàn tay Đức Phật, được gọi là Thủ Ấn, là những biểu tượng hình ảnhý nghĩa sâu xa: - The symbolic gestures of the hands of Buddha images, called mudras, are picture tools of identification of deeper meaning:
14 Tháng Giêng 20201:11 CH(Xem: 257)
Bankei, con người đã giác ngộ, chia sẻ với chúng ta kinh nghiệm của ngài với tư cách một con người bằng máu thịt và nói lên những lời chân thực từ kinh nghiệm riêng ngài. Lời khuyên của ngài đi thẳng vào tim người, đấy là những lời nhắm thẳng vào con người trước mặt
14 Tháng Giêng 20208:19 SA(Xem: 168)
Trước đây tôi là người không kiên nhẫn, rất dễ bị lay động bởi những gì người khác nói hay làm. Nhưng các em học viên đã mở rộng tầm nhìn của tôi. Tôi nhận thấy rằng người khác có thể có những suy nghĩ mà mình chẳng bao giờ nghĩ đến trước đây. Khi lắng nghe các em, tôi đã trưởng thành thêm nhiều. Tôi nghĩ đó là cách Đức Phật đã dạy bảo tôi,
13 Tháng Giêng 202012:54 CH(Xem: 209)
Khi đã hướng về tâm linh, ta thường nghĩ rằng mình đã bỏ những tính xấu của thế tục lại đằng sau. Nhưng cách suy nghĩ theo thói quen không biến mất; chúng vẫn đi theo ta, phủ trùm con đường tiến đến sự tu tập tâm linh của chúng ta. Vì tất cả chúng ta đều đã được huấn luyện thành những người tiêu dùngtrình độ
11 Tháng Giêng 20204:45 CH(Xem: 276)
Chúng ta đến với cuộc đời bằng một cái tâm, và khi từ bỏ cuộc đời cũng với một cái tâm. Trái tim không còn đập nữa, nhưng tâm vẫn chung thủy bên ta. Những bài pháp, lời giảng dạy yêu thương, câu nhắc nhở chân tình trong quyển sách nhỏ này là món quà, là đôi chút trang điểm cho nội tâm của bạn. Hãy đọc với tâm tình rộng mở,
11 Tháng Giêng 202010:20 SA(Xem: 239)
Người khép cửa giã từ trò chơi giỡn. Đứng bên lề ta len lén ngó qua. Hai mươi năm… tưởng chừng một sát na. Nhìn tóc bạc da nhăn… mà thấy lạ. Đã hết thuở giành ăn la chí choé. Mừng trăng thu cùng bách bộ ngoài đường. Đi bên nhau dàn hàng dưới mù sương. Nghe hạnh phúc mênh mang về tỏa khắp. Đã hết thuở quần chằm, áo vá…
09 Tháng Giêng 202011:25 SA(Xem: 338)
Mấy ông thầy Đại Đăng khi qua Boston phụ dọn dẹp chuẩn bị lễ khánh thành thiền viện Bồ Đề, mặt mũi lem luốc vì xi măng quét tường tô trần, đóng nẹp, nối ống..., quần ống thấp ống cao, áo vạt cao vạt thấp, đã tức cảnh sinh... thơ rằng: - Áo em vạt ngắn vạt dài. Nghiệp em quá nặng bị đày đến đây. - mà cười tươi rói.
09 Tháng Giêng 20209:54 SA(Xem: 208)
Ngoài việc phá rừng khai hoang chúng tôi còn đối mặt với đặc sản nơi đây: Muỗi sốt rét hoành hành! Chúng tôi luân phiên ngã bệnh, luôn phải uống ký ninh ngừa sốt rét, người nào cũng xanh dờn, không khỏe. Các bác sĩ bằng hữu thỉnh thoảng ra thăm, khám sức khỏe cho chúng tôi và nhắc nhở: “Quý vị tranh thủ nhín thời gian đi tắm biển đi!”.
07 Tháng Giêng 20203:57 CH(Xem: 289)
Cái tôi theo tháng ngày qua. Măng non thành cụm tre già dặn hơn. Trong nhà, cuối xóm, đầu thôn. Tôi là số một, tôi "ngon" hơn người. Tôi khóc, không muốn ai cười. Ai thành đạt thấy tôi thời chẳng vui, Tôi nói ngược, chớ nói xuôi. Một khi tôi muốn có trời mới can! Tôi thành cái rốn không gian.
06 Tháng Giêng 202012:02 CH(Xem: 235)
Xuất Gia Balamật - Trong một tiền kiếp khi Đức Phật là Ngài Temiya, Ngài thực hành hạnh Xuất Gia Balamật bằng cách giả làm người ngu độn, không làm được việc gì. Vua cha sai người đánh xe chôn sống Ngài. Temiya biểu hiện một lòng dũng cảm phi thường và sau đó, quyết định sống đời xuất gia.
05 Tháng Giêng 20205:29 CH(Xem: 340)
Tập sách gồm những bài pháp do Ngài Thiền Sư Khippapanno Kim Triệu ban giảng trong khóa thiền thứ 21 Mùa Đông 1986, được tổ chức tại Chùa Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Những bài pháp này vừa có tính cách dẫn giải, khuyến tu cho các thiền sinh, vừa mang chứa những lợi lạc thiết thực đến thân tâm cho tất cả chúng ta.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 340)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1957)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3285)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
24 Tháng Giêng 20207:37 SA(Xem: 96)
Trong tập sách nhỏ này, tôi đã bàn đến hầu hết những gì mọi người đều công nhậngiáo lý tinh yếu và căn bản của đức Phật. Đấy là những thuyết Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Ngũ uẩn, Nghiệp báo, Luân hồi, Duyên khởi, Vô ngã (Anatta), Niệm xứ (Satipatthàna). Dĩ nhiên sẽ có những từ ngữ chắc phải lạ lùng đối với độc giả phương Tây.
22 Tháng Giêng 20209:00 SA(Xem: 155)
Kinh Pháp Cú là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh trong Kinh tạng Pali. Đây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Pháp (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời dạy của Đức Phật; Cú (Pada) là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali, "Pada" còn có nghĩa là con đường.
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 191)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 585)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 1481)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 1154)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất giatại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 997)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 2026)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1782)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,